1. Trang chủ
  2. » Ôn thi đại học

Công tác phục vụ bạn đọc khiếm thị tại thư viện thành phố Hà Nội

62 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu có liên quan đến bạn đọc khiếm thị trong 6 năm trở lại đây chỉ có duy nhất một đề tài : “Tìm hiểu hoạt động của một số phòng đọc sách tiêu biểu dành cho người khiếm thị ở Hà[r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN

-

NGUYỄN DIỆP HÀ

CÔNG TÁC PHỤC VỤ BẠN ĐỌC KHIẾM THỊ

TẠI THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH THÔNG TIN – THƯ VIỆN

HỆ ĐÀO TẠO: CHÍNH QUY KHOÁ HỌC: QH – 2005 – X NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS VŨ VĂN NHẬT

HÀ NỘI, 2009

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn PGS.TS Vũ Văn Nhật đã tận tình hướng dẫn thực hiện khóa luận này từ những bước đầu tiên, xin chân thành cảm ơn các Thày Cô giáo Khoa Thông tin - Thư viện đã chỉ bảo, giúp đỡ để quá trình nghiên cứu của tôi được thuận lợi

Qua luận văn này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ, nhân viên tại những cơ sở tôi đã đến khảo sát là Thư viện Thành phố Hà Nội và Hội Người

Mù Thành phố Hà Nội, đã động viên và giúp đỡ tôi hết sức nhiệt tình trong suốt quá trình nghiên cứu

Rất mong nhận được sự quan tâm, ý kiến bổ sung để đề tài của tôi phát huy được hiệu quả, đóng góp thiết thực vào công tác nghiên cứu của Ngành Thông tin - Thư viện cũng như công tác xã hội

Hà Nội, tháng 5 năm 2009

Người nghiên cứu Nguyễn Diệp Hà

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu Khoá luận này do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Văn Nhật cùng những người đã nêu trong lời cảm ơn

Những thông tin trong công trình mà tôi đã nghiên cứu là sát với thực tế, thực hiện đúng các nguyên tắc của nghiên cứu khoa học và chưa từng được công bố bởi ai khác bằng bất cứ hình thức phổ biến nào

Hà Nội, Tháng 5 năm 2009

Người nghiên cứu Nguyễn Diệp Hà

Trang 4

TVHN: Thư viện Hà Nội (47 Bà Triệu)

* Ghi chú: Cụm từ “Thư viện Hà Nội” nêu trong Khóa luận chỉ dùng cho

Thư viện Hà Nội cơ sở 1 tại 47 Bà Triệu, không bao gồm Thư viện Tỉnh Hà Tây cũ

TVHN2: Thư viện Hà Nội cơ sở 2 (Thư viện tỉnh Hà Tây cũ - Số 02 Đường Quang Trung - Hà Đông)

TVKHTH: Thư viện Khoa học Tổng hợp (Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh)

TVTPHN: Thư viện Thành phố Hà Nội

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

1 Tính cấp thiết của đề tài 7

2 Mục đích và Nhiệm vụ nghiên cứu 8

3 Tình hình nghiên cứu của đề tài 8

4 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu của đề tài 9

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn 11

7 Cấu trúc Khóa luận 12

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 13

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Thư viện Hà Nội 13

1.2 Chức năng và nhiệm vụ 16

1.2.1 Chức năng 16

1.2.2 Nhiệm vụ 16

1.3 Cơ cấu tổ chức 17

1.4 Cán bộ thư viện 18

1.5 Vốn tài liệu 18

1.6 Cơ sở vật chất kỹ thuật 19

1.7 Kết quả công tác 20

1.7.1 Công tác phục vụ bạn đọc 20

1.7.2 Công tác bổ sung - biên mục 21

1.7.3 Công tác tuyên truyền giới thiệu sách báo 22

1.7.4 Công tác địa chí 22

1.7.5 Công tác xây dựng và phát triển mạng lưới thư viện cơ sở 22

Trang 6

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỤC VỤ BẠN ĐỌC

KHIẾM THỊ TẠI THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 24

2.1 Đặc điểm của người khiếm thị tại Việt Nam nói chung và Hà Nội

nói riêng 24

2.2 Nhu cầu tin và tình hình tiếp cận thông tin của người khiếm thị 25

2.3 Tình hình đáp ứng nhu cầu tin cho người khiếm thị 27

2.3.1 Tình hình đáp ứng nhu cầu tin cho người khiếm thị trên thế giới 27

2.3.2 Tình hình đáp ứng nhu cầu tin cho người khiếm thị tại Việt Nam nói chung và tại Hà Nội nói riêng 30

2.4 Cơ cấu nguồn lực thông tin phục vụ người khiếm thị tại Thư viện

Hà Nội 38

2.4.1 Nguồn lực thông tin truyền thống 39

2.4.2 Nguồn lực thông tin điện tử 43

2.5 Hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật, ngân sách phục vụ bạn đọc khiếm thị 46 2.6 Công tác phục vụ bạn đọc 51

2.6.1 Phục vụ tại Thư viện 51

2.6.2 Phục vụ lưu động 52

2.6.3 Tổ chức giới thiệu sách 52

2.7 Các hoạt động phát triển Thư viện dành cho người khiếm thị tại

Thư viện Hà Nội 53

CHƯƠNG 3: MỘT VÀI NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ

NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BẠN ĐỌC KHIẾM THỊ

TẠI THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 55

3.1 Kết quả đạt được 55

3.2 Những mặt tồn tại 56

3.3 Một vài kiến nghị 57

KẾT LUẬN 59

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cộng đồng người khiếm thị (viết tắt: NKT) nước ta hiện nay chiếm tỷ lệ trên 1% dân số Họ đều là những người thiệt thòi về thể chất, mất đi giác quan quý giá nhất, NKT gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, trong việc thu nhận thông tin, nhưng không ít trong số họ đã cống hiến sức mình làm giàu đẹp cho đất nước Nhằm giảm bớt khó khăn, bù đắp thiệt thòi cho họ, việc chăm lo mọi mặt, đặc biệt là đời sống văn hóa, tinh thần cho NKT, đảm bảo quyền và sự bình đẳng trong cống hiến và hưởng thụ các dịch vụ văn hóa công - trong đó có lĩnh vực sách báo và thư viện - luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Tại Điều 6

khoản 4 Pháp lệnh Thư viện đã khẳng định: “Người khiếm thị được tạo điều kiện

sử dụng tài liệu thư viện bằng chữ nổi hoặc các vật mang tin đặc biệt” Tại Điều

2 khoản 4 Nghị định số 72/2002/NĐ-CP ngày 06/08/2002 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện đã cụ thể trách nhiệm của các thư viện

công cộng: “Thư viện công cộng có trách nhiệm phối hợp với Hội Người mù xây dựng bộ phận sách báo bằng chữ nổi và các dạng tài liệu đặc biệt khác phục vụ cho người khiếm thị”

Hiện nay, việc đáp ứng nhu cầu tiếp thu thông tin, kiến thức của NKT còn rất hạn chế NKT ở Việt Nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng đang rất cần sự giúp đỡ, hỗ trợ để họ được tiếp cận với các nguồn sách báo, thông tin, kiến thức phục vụ, nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần cho bản thân, góp ích cho gia đình và xã hội Việc truyền bá tri thức cho những NKT là điều cần thiết và cần được quan tâm đúng đắn của các cơ quan thông tin - thư viện, đặc biệt là TVTPHN - Thư viện Thủ đô

Chính vì vậy, với tinh thần cầu thị và những đòi hỏi cấp bách được đặt ra cho NKT, tôi lựa chọn đề tài “Công tác phục vụ bạn đọc khiếm thị tại Thư viện Thành phố Hà Nội” làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp của mình

Trang 8

2 Mục đích và Nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Góp phần giúp người khiếm thị được quan tâm thỏa đáng hơn trong việc tiếp nhận thông tin, kiến thức Qua đó góp phần giúp hoạt động thư viện dành cho NKT tại Thư viện Hà Nội cũng như các thư viện công cộng hiệu quả hơn và được biết đến nhiều hơn

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Phản ánh rõ được thực trạng phục vụ bạn đọc khiếm thị của Thư viện Hà Nội Qua đó đề xuất những ý tưởng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phục

vụ bạn đọc khiếm thị tại Thư viện Hà Nội

3 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Các đề tài chuyên ngành Thông tin - Thư viện về đối tượng NKT còn khá mới mẻ Trong những năm gần đây, có rất nhiều đề tài Khóa luận của Sinh viên Khoa Thông tin - Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nghiên cứu về TVHN như:

- Tìm hiểu ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động Thông tin - Thư

viện tại Thư viện Hà Nội - Khóa luận Tốt nghiệp của Lê Thị Thanh Nhàn

Sinh viên K43 Chính quy, 2002

- Tìm hiểu ngôn ngữ tìn tin áp dụng tại Thư viện Hà Nội Khóa luận Tốt

nghiệp của Ngô Thị Nguyệt Minh, K44 Chính quy, 2003

- Nghiên cứu công tác tuyên truyền giới thiệu sách tại Thư viện Hà Nội, Khóa

luận Tốt nghiệp của Nguyễn Thị Hảo, K45 Chính quy, 2004

- Tăng cường nguồn lực thông tin tại Thư viện Hà Nội Khóa luận Tốt nghiệp

của Nguyễn Thị Bình, K45 Chính quy, 2004

Trang 9

- Phát triển vốn tài liệu địa chí tại Thư viện Hà Nội Khóa luận Tốt nghiệp của

Nguyễn Thị Huyền, K45 Chính quy, 2004

- Tìm hiểu vốn tài liệu văn bia tại Thư viện Hà Nội Khóa luận Tốt nghiệp của

Nguyễn Văn Dũng K45 Chính quy, 2004

- Tìm hiểu vốn Thư tịch cổ tại Thư viện Hà Nội Khóa luận Tốt nghiệp của Vũ

Thị Thủy, K46 Chính quy, 2005

- Tổ chức vốn tài liệu ở thư viện Hà Nội Khóa luận Tốt nghiệp của Khoa

Thanh Ngọc, K46 Chính quy, 2005

- Tìm hiểu các sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện của Thư viện Hà Nội

Khóa luận Tốt nghiệp của Đỗ Thu Huyền, K46 Chính quy, 2005

- Tìm hiểu nhu cầu tin và đảm bảo thông tin tại Thư viện Hà Nội Khóa luận

Tốt nghiệp của Hồ Thị Thúy Chinh, K48 Chính quy, 2007

v.v

Nghiên cứu có liên quan đến bạn đọc khiếm thị trong 6 năm trở lại đây chỉ

có duy nhất một đề tài : “Tìm hiểu hoạt động của một số phòng đọc sách tiêu biểu dành cho người khiếm thị ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Min”, Báo cáo

khoa học của Nguyễn Thị Đào., K44 Chính Quy 2003

Với những thay đổi về phạm vi địa lý cũng nhƣ hiện trạng thực tế, tôi khẳng định đề tài “Công tác phục vụ bạn đọc khiếm thị tại Thƣ viện Thành phố

Hà Nội” là đề tài mới, trong nhiều năm trở lại đây vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu

4 Đối tƣợng và Phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài

Công tác phục vụ bạn đọc khiếm thị tại Thƣ viện Thành phố Hà Nội

Trang 10

* Phạm vi về không gian

Thư viện Thành phố Hà Nội , bao gồm:

- Thư viện Hà Nội 47 Bà Triệu - Hà Nội

- Thư viện Hà Nội cơ sở 2 - Số 02 Đường Quang Trung - Hà Đông -

* Phạm vi về thời gian:

- Thư viện Hà Nội từ năm 2005 đến nay

 Thư viện Hà Nội cơ sở 2 từ năm 2008 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

v.v

Trang 11

* Phương pháp cụ thể

- Xử lý phân tích - tổng hợp tài liệu

- Điều tra Xã hội học (phỏng vấn trực tiếp, quan sát…)

Phản ánh được một trong những nhiệm vụ hoạt động của Thư viện là phục

vụ mọi đối tượng nhân dân

- Đóng góp vào giá trị nhân đạo, tuyên truyền, giới thiệu nhiều hơn

về hoạt động phục vụ sách báo cho người khiếm thị

Trang 12

7 Cấu trúc Khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Mục lục và Phụ lục, Khóa luận gồm 3 chương:

- CHƯƠNG I: Giới thiệu khái quát về Thư viện Thành phố Hà Nội

- CHƯƠNG II: Thực trạng công tác phục vụ bạn đọc khiếm thị tại

Thư viện Thành phố Hà Nội

- CHƯƠNG III: Một số giải pháp nâng cao chất lượng phục vụ bạn

đọc khiếm thị tại Thư viện Thành phố Hà Nội

Trang 13

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Thư viện Hà Nội

Thư viện Hà Nội (viết tắt: TVHN) được thành lập ngày 15/10/1956 với tên gọi ban đầu “Phòng đọc sách nhân dân” Thư viện đã qua nhiều lần thay đổi địa điểm (nhà Thuỷ Toạ, Lò Đúc, Mai Dịch, Văn Miếu - Quốc Tử Giám) Từ tháng 1/1959 Thư viện chính thức đóng tại 47 Bà Triệu và mang tên “Thư viện nhân dân Hà Nội”, nay là Thư viện Hà Nội

- Tên hành chính:

Thư viện Thủ đô Hà Nội

- Tên giao dịch quốc tế:

Hanoi Capital Library

- Website:

http://www.thuvienhanoi.org.vn

Ảnh: Thư viện Hà Nội trước năm 2005

Ngày 10/10/2005, TVHN khởi công xây dựng mới trên 1.347m2 của trụ sở

cũ, trụ sở mới của TVHN được đầu tư xây dựng hiện đại, gồm 8 tầng nổi và 1 tầng hầm, cao trình 29,7m, diện tích sàn 6.161m2

với hệ thống trang thiết bị đồng

bộ, phụ trợ tốt cho hoạt động phục vụ người đọc Công trình được xây dựng trong 3 năm (10/10/2005 – 10/10/2008) với tống vốn đầu tư 44 tỷ đồng

Số lượng cán bộ trong những ngày đẩu mới thành lập chỉ có 04 người, với vốn sách vài ngàn cuốn được chuyển từ kháng chiến về, ngoài ra là một số báo, tạp chí Cơ sở vật chất của Thư viện còn nghèo nàn Cán bộ của Thư viện đã tìm mọi cách khắc phục khó khăn để từng bước đưa Thư viện thành phố đi lên

Trang 14

Ảnh: Thư viện Hà Nội từ tháng 10/2008

Trong hoàn cảnh hoà bình vừa lập lại, một nửa đất nước bước vào giai đoạn phục hồi kinh tế, Thư viện đã tập trung sách báo phục vụ nhân dân Thủ đô, đồng thời chú trọng phát triển mạng lưới các thư viện cơ sở, từ một Thư viện Thành phố sau này phát triển thêm 12 thư viện quận, huyện phục vụ nhân dân nội và ngoại thành

Để ghi nhận những đóng góp đáng kể của Thư viện, Đảng, Nhà nước đã trao tặng cho TVHN 03 Huân chương Lao động và Huân chương Độc lập hạng

Ba

Từ ngày 01/08/2008, Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, sáp nhập tỉnh

Hà Tây và một phần địa phận các tỉnh lân cận nên hoạt động của các tổ chức hành chính của Hà Nội, trong đó có Thư viện Hà Nội cũng thay đổi, mở rộng

Trang 15

Tháng 2/2009, Thƣ viện tỉnh Hà Tây (thành lập năm 1957) chính thức sáp nhập vào Thƣ viện Hà Nội, đổi tên gọi là “Thƣ viện Hà Nội Cơ sở 2” Tên hành chính chung của 2 cơ sở là “Thƣ viện Thành phố Hà Nội”

Ảnh: Thư viện Hà Nội cơ sở 2 (tháng 5/2009)

TVHN đã tổ chức tốt mọi hoạt động tại Cơ sở 2 – Số 2 Quang Trung, Hà Đông và luân chuyển sách xuống 79 tủ sách cơ sở

Hiện hai cơ sở đã và đang hoạt động vừa mang tính độc lập vừa phát huy thế mạnh tổng lực, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ đặt ra cho Thƣ viện Thủ

đô

Trang 16

1.2 Chức năng và nhiệm vụ

1.2.1 Chức năng

TVTPHN là Trung tâm Văn hóa - Khoa học - Giáo dục quan trọng của Thủ đô, có chức năng tàng trữ, luân chuyển sách báo kể cả các loại sách, báo, tài liệu do địa phương xuất bản… đến với cộng đồng Thư viện phục vụ rộng rãi mọi đối tượng bạn đọc, bao gồm: người lao động, người cao tuổi, thanh niên, thiếu nhi, học sinh, sinh viên, cán bộ quản lý, người khuyết tật, những người nghiên cứu khoa học kỹ thuật v…v Vì vậy, TVTPHN vừa là một Thư viện khoa học tổng hợp, vừa có chức năng nghiên cứu và hướng dẫn nghiệp vụ thư viện cơ

sở, duy trì và phát triển văn hóa đọc trong nhân dân

1.2.2 Nhiệm vụ

Thư viện Thành phố Hà Nội có nhiệm vụ sau

- Hoàn thành tốt vai trò là trung tâm nghiên cứu và hướng dẫn phương pháp hoạt động của hệ thống thư viện, tủ sách và phong trào đọc sách của quần chúng, đề xuất phương hướng nội dung, kế hoạch tổ chức và hoạt động của từng loại hình thư viện, tủ sách

đối với từng loại người đọc

- Bảo quản và bổ sung các loại sách báo cũ và mới xuất bản ở trong nước và sách báo bằng tiếng nước ngoài phù hợp với đặc điểm và phương hướng phát triển kinh tế, văn hóa của địa phương phục vụ yêu cầu công tác nghiên cứu, góp phần nâng cao kiên thức văn

hoá cho quần chúng

- Tổ chức việc tuyên truyền giới thiệu sách báo với bạn đọc

Trang 17

- Tổ chức đọc sách tại chỗ và luân chuyển cho mượn sách báo rộng rãi trong quần chúng bảo vệ, bảo quản kho sách báo, tài sản của

thư viện

- Hướng dẫn nghiệp vụ cho thư viện quận, huyện, thị xã và các

ngành

- Hiện nay, Thư viện được giao thêm nhiệm vụ mới là nghiên cứu

khoa học và ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thư viện

+ Phòng đọc Tổng hợp + Phòng Thiếu nhi + Phòng đọc tự chọn (chỉ có tại TVHN)

- Phòng Thông tin - Thư mục - Địa chí

- Phòng Nghiệp vụ - Phong trào cơ sở

Trang 18

Thạc sĩ Thông tin - Thư viện: 02 người

Cử nhân Thông tin - Thư viện: 20 người

- Tài liệu địa chí: 16.505 bản

- CSDL: 8 CSDL với 210.000 biểu ghi

Thư viện đang lưu trữ một kho tàng thư tịch khá đồ sộ của Thủ đô và nhân loại; có phòng tra cứu địa chí về Thăng Long – Hà Nội Trong kho sách có vài ngàn bản tư liệu Hán – Nôm, các loại sách ngoại văn, các bản đồ cổ, ảnh Hà Nội xưa và nay rất quý hiếm

Trang 19

* Thư viện Hà Nội cơ sở 2

237.196 tài liệu và 198.010 bản báo, tạp chí trong đó:

- Sách Tiếng Việt: 200.133 bản

- Sách ngoại văn: 6.135 bản; 270 đĩa CD

- Sách Thiếu nhi: 23.928 bản; 6 đầu báo và khoảng 2000 cuốn sách ngoại văn

Tài liệu địa chí: 4.825 bản

CSDL: TVHN2 sử dụng đồng thời 2 hệ quản trị CSDL là Ilib và ISIS DOS có 5 CSDL với 41.342 biểu ghi, trong đó:

+ Hệ quản trị trên Ilib: CSDL sách đọc, sách mượn, tài liệu tra cứu và tài liệu địa chí Tổng số 39.812 biểu ghi

+ Hệ quản trị ISIS DOS: CSDL sách Thiếu nhi: 1.530 biểu ghi

Hiện Thư viện đang nhập về 60 máy tính phục vụ Phòng đa phương tiện, phục vụ tra cứu CSDL, tìm tin theo nhu cầu bạn đọc

TVHN hiện có 07 máy in, 03 máy photocopy

Trang 20

* Thƣ viện Hà Nội cơ sở 2

 Mở thêm phòng đọc tự chọn (tầng 5), tạo điều kiện cho bạn đọc tiếp cận tra tìm tài liệu

 Từ ngày 01/04/2009, Thƣ viện tăng thời gian phục vụ bạn đọc liên tục từ 08:00 đến 19:30 từ thứ 2 đến thứ7

+ Lƣợt bạn đọc : 161.467 + Lƣợt sách báo : 747.500 + Cấp và đổi thẻ các loại: 11.100 thẻ (số liệu năm 2008)

04 tháng đầu năm 2009, cấp mới: 1.410 thẻ

Trang 21

* Thư viện Hà Nội cơ sở 2

+ Lượt bạn đọc: 7.774

+ Lượt sách báo: 19.145

+ Tổng số thẻ: 2.100 thẻ

(Số liệu quý I - 2009)

04 tháng đầu năm 2009: cấp m ới 779 thẻ

1.7.2 Công tác bổ sung - biên mục

* Thư viện Hà Nội

- Bổ sung sách mới: 27.034 cuốn (trong năm 2008)

- Báo Tiếng Việt: 229 tên báo, tạp chí (tính đến tháng 4 năm 2009)

- Báo Ngoại văn : 30 tên báo

Hoàn thành 1 tỷ đồng kinh phí bổ sung sách báo năm 2008 (Sách chương trình mục tiêu năm 2008 là 3.084 cuốn = 100 triệu đồng)

* Thư viện Hà Nội cơ sở 2

- Bổ sung sách mới 2.898 đầu sách với 12.163 cuốn (trong năm 2008)

- Báo Tiếng Việt: 234 tên báo, tạp chí

- Báo Ngoại văn: 01 tên báo (Vietnam News)

Hoàn thành bổ sung 12.163 bản sách; 13.945 bản báo và 2.467 bản Tạp chí

Trang 22

1.7.3 Công tác tuyên truyền giới thiệu sách báo

Thư viện đã triển khai các hoạt động nhằm đưa sách báo đến đông đảo bạn đọc và giúp bạn đọc nắm bắt thông tin, tìm đến các tài liệu sách báo như:

- Tổ chức các phòng đọc chuyên đề tại các cơ sỏ , địa phương trực thuộc

- Phối hợp các nhà xuất bản, Đại sứ quán, trường học v…v tổ chức tuyên truyền giới thiệu sách báo mới hoặc sách báo chào mừng các ngày kỷ niệm của đất nước và Hà Nội

- Tổ chức các buổi tọa đàm, câu lạc bộ Thơ, kể chuyện lịch sử v.v, Tạo điều kiện đẻ độc giả giao lưu với các tác giả, tìm hiểu các tác phẩm tiêu biểu và các tác phẩm mới

1.7.4 Công tác địa chí

- Biên soạn thư mục chuyên đề

- Hồi cố kho sách Hán – Nôm, tài liệu Hương ước, khoán ước của các làng thuộc tỉnh Hà Nội (1920 – 1942) và tỉnh Hà Tây

- Phục vụ tra cứu về Hà Nội, tỉnh Hà Tây (cũ)

1.7.5 Công tác xây dựng và phát triển mạng lưới thư viện cơ sở

Thư viện định kỳ tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ thư viện cơ

sở Quận, Huyện, đồng thời mở các buổi thảo luận, trau dồi kỹ năng nghiệp vụ,

hỗ trợ trang thiết bị và xử lý nghiệp vụ cho các thư viện cơ sở

Ngoài ra Thư viện đã và đang tổ chức xây dựng mới một số Thư viện cơ

sở, tủ sách địa phương ở các cấp xã phường

Trang 23

* Thư viện Hà Nội

+ Thư viện Quận, Huyện: 24/29 + Thư viện, tủ sách cơ sỏ: 389 + Điểm Bưu điện, văn hóa Xã: 136 Phục vụ 550.000 lượt bạn đọc, 1.480.000 lượt sách báo

* Thư viện Hà Nội cơ sở 2

+ Thư viện, tủ sách văn hóa cơ sở: 435 + Điểm Bưu điện, Văn hóa xã: 258 + Tủ sách pháp luật: 325

+ Tủ sách trường học: 694 Phục vụ 565.000 lượt bạn đọc, 1.576.000 lượt sách báo (Trong năm 2008)

Hơn nửa thể kỷ qua, TVHN đã phục vụ thông tin, sách báo cho hàng triệu người và đã trở thành địa chỉ văn hoá quen thuộc của mọi người dân Thủ đô Với những hình thức hoạt động phong phú đa dạng, TVHN đã phục vụ đắc lực công tác nghiên cứu, học tập, sản xuất, kinh doanh và nâng cao dân trí Sau khi sáp nhập, TVTPHN cố gắng phát huy sức mạnh của hai thư viện Cùng sự đầu tư, quan tâm của các cấp lãnh đạo nỗ lực của toàn thể Ban lãnh đạo và cán bộ thư viện, TVTPHN đang từng bước hiện đại hóa, nâng cao chất lượng hoạt động, phục vụ, xứng tầm với Thư viện của Thủ đô ngàn năm văn hiến

Trang 24

Mức sống của NKT còn rất thấp Những NKT có khả năng sống và trang trải chi phí sinh hoạt tự lập là khoảng 50% Số hộ nghèo có NKT trên toàn quốc

là 29%, Cuộc sống của NKT gặp rất nhiều khó khăn, không có việc làm ổn định hoặc thu nhập thấp Với chức năng chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần cho hội viên và người mù trong cả nước, HNM Việt Nam (thành lập ngày 17/04/1969) đã tổ chức các lớp dạy chữ, dạy nghề, thành lập nhiều cơ sở sản xuất Chương trình vay vốn từ quỹ quốc gia phát triển việc làm đã tạo điều kiện

Trang 25

cho hàng chục nghìn hội viên có việc làm và thu nhập ổn định hơn, góp phần xóa đói giảm nghèo

Phần lớn NKT có trình độ văn hóa thấp so với mặt bằng xã hội, nhất là khu vực nông thôn Vấn đề giáo dục, đào tạo, dạy nghề cho NKT là khâu quan trọng nhất để tạo điều kiện cho họ hòa nhập với cộng đồng Hàng vạn Hội viên HNM đã được Hội tổ chức học chữ Braille để nâng cao trình độ, hòa nhập xã hội Cho đến nay đã có hàng ngàn thanh thiếu niên mù trong cả nước được học tập hòa nhập tại các trường phổ thông công lập hoặc trường phổ thông đặc biệt

Tại Hà Nội, số lượng NKT là trên 10.000 người., số hộ nghèo 10 - 15% (trên thực tế tỷ lệ người nghèo là NKT còn cao hơn, đó là thành phần những NKT chưa có sổ hộ nghèo) Nghề ngjiệp chủ yếu của họ là làm kinh tế gia đình bằng chăn nuôi, trồng trọt là chủ yếu (60%); Xoa bóp: 100 người; Làm thủ công (tăm chổi, đan lát); cho thuê nhà v.v Hơn 100 sinh viên mù đã và đang theo học tại các trường Đại học, Cao đẳng Trình độ văn hóa, giáo dục của NKT tại

Hà Nội ngày càng cao cùng với điều kiện và nhu cầu học tập của họ Trong đó: Tốt nghiệp phổ thông: 25 - 30%; khoảng 40 người có trình độ đại học

2.2 Nhu cầu tin và tình hình tiếp cận thông tin của người khiếm thị

Cùng với sự phát triển về đời sống vật chất, tinh thần, nhu cầu được đọc sách nói riêng cũng như hưởng thụ sản phẩm văn hóa nói chung của NKT ngày càng cao, phong phú và đa dạng Là “một xã hội thu nhỏ”, NKT cũng có nhu nâng cao tri thức như bao đối tượng khác Hiện nay, nhu cầu đọc của NKT chủ yếu tập trung vào sách văn học, các vấn đề xã hội, Khoa học thường thức, Khoa học phát triển kinh tế, khuyến nông, sức khỏe v.v…

Sách báo chữ Braille, băng cassette, đĩa CD đã trở thành những ấn phẩm không thể thiếu giúp NKT nâng cao kiến thức, nâng cao chất lượng sống mọi

Trang 26

mặt Nhờ được trang bị kiến thức về tin học, rất đông cán bộ, hội viên người mù

đã sử dụng thành thạo vi tính, truy cập mạng Internet, khai thác được thông tin, sách báo truyền tải trên mạng Tuy nhiên do mất đi giác quan quan trọng nhất nên NKT bị hạn chế nhiều trong việc tiếp cận các phương tiện thông tin, các kiến thức được truyền tải qua sách báo bình thường Ở Việt Nam, phần lớn NKT sinh sống cùng với gia đình, song gặp rất nhiêu khó khăn trong đi lại vì ở Việt Nam chưa có cơ sở hạ tầng và thiết kế giao thông đặc biệt dành cho người khuyết tật

để họ có thể ra ngoài mà không cần đến sự giúp đỡ của người nhà Vì vậy, việc tiếp cận thông tin của NKT chủ yếu qua đài, Tivi hoặc nghe sách báo do người khác đọc v.v Để đáp ứng nhu cầu văn hóa, họ phải tự thân tìm đến, tiếp cận với các nguồn tin, nguồn kiến thức hoặc thông qua các hoạt động văn hóa: câu lạc bộ văn nghệ, tủ sách, tham gia các sinh hoạt văn hóa chủ yếu tại Thành hội và do Thành Hội Người Mù tổ chức tại các Quận Hội Tại đây, NKT có thể tra cứu sách chữ nổi theo danh bạ chữ nổi; nghe sách nói; nghe đọc sách và buổi tọa đàm

về tác giả - tác phẩm v.v

Hiện nay sách tại phòng đọc của Hội Người Mù Hà Nội tập trung vào mảng văn học; các vấn đề xã hội; khoa học thường thức Nhưng nhìn chung, nhiệm vụ trọng tâm của Thành hội và Quân hội vẫn là tập trung giải quyết vấn đề đời sống cho hội viên Vì vậy, điều kiện tiếp nhận văn hóa của NKT chưa đáp ứng được nhu cầu văn hóa của họ Thêm vào đó, một bộ phận NKT đang ở trình

độ tri thức cao (sinh viên; các nhà khoa học…) cũng đang thiếu rất nhiều tài liệu nghiên cứu khoa học như lịch sử, triết học, tin học v.v ).Với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hơn lúc nào hết, nhu cầu đọc và tra cứu tài liệu trên mạng Internet và băng, đĩa là rất cần thiết đối với NKT, nhất là những bạn trẻ để không

bị lạc hậu về thông tin, về kiến thức khoa học - xã hội trong nước và trên thế giới, qua đó giúp người khiếm thị vượt qua mọi rào cản, vươn lên làm chủ cuộc sống NKT rất cần những phương tiện truyền tải phù hợp (sách báo chữ Braille;

Trang 27

máy trợ thị; đĩa, máy đọc đĩa CD; băng, đài cassette…) Việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng giáo dục, phổ biến kiến thức và văn hóa cho NKT đòi hỏi sự chung tay giúp đỡ của toàn xã hội

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, NKT là nhóm người thiếu điều kiện truy cập thông tin cần thiết cho việc học tập và đời sống của họ Họ có nhu cầu đọc sách và thông tin như người bình thường; họ cũng có nhu cầu học suốt đời, nhu cầu giải trí cũng như đóng góp cho xã hội

Trên địa bàn Hà Nội, có hơn 600.000 người khiếm thị có nhu cầu thường xuyên đọc sách báo, trên 100 người có khả năng truy cập Internet, cho thấy một lượng cầu không nhỏ với công tác thư viện phục vụ NKT

2.3 Tình hình đáp ứng nhu cầu tin cho người khiếm thị

2.3.1 Tình hình đáp ứng nhu cầu tin cho người khiếm thị trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới có 161 triệu người mù và khiếm thị một phần Lượng sách trên thế giới hiện nay xuất bản để phục vụ NKT dưới các định dạng chữ nổi Braille, chữ in cỡ lớn, âm thanh kỹ thuật tương tự hoặc âm thanh kỹ thuật số… rất hạn chế Trên thế giới, chỉ có khoảng 5% tài liệu dạng in được chuyển dạng phù hợp cho nhu cầu NKT Tình trạng này diễn ra trên toàn thế giới, từ các nước nghèo nhất đến các nước giàu nhất

Thư viện phục vụ NKT là tổ chức duy nhất, không chỉ cung cấp các dịch

vụ thông tin và thư viện mà còn chịu trách nhiệm xuất bản sách dưới định dạng phù hợp với NKT Nếu không có hoạt động này, các thư viện sẽ không có sách lưu trữ, vì ở hầu hết các nước thị trường thương mại sách cho NKT rất hạn chế Trước đây, các thư viện như vậy có xu hướng tập trung chủ yếu cho nhu cầu của

Trang 28

NKT, do đó khi bộ phận này của thư viện ra đời, đã được đặt tên là “Thư viện phục vụ người khiếm thị”

Với xu hướng tăng lên hàng năm, nhiều thư viện phục vụ NKT đã nhận thức được rằng, các kỹ năng và sự phục vụ của họ đã phát huy tác dụng đối với đối tượng độc giả đặc biệt này Trong một số trường hợp, thực tế này được phản ánh thông qua các tên gọi như: Dịch vụ thư viện quốc gia cho NKT và khuyết tật

ở Mỹ; Thư viện chữ nổi Braille và sách kể chuyện (TPB) (Thụy Điển) Thực tế cho thấy, các thư viện phục vụ NKT đã nhận thức được giá trị thông qua việc mở rộng phạm vi phục vụ

Các thư viện phục vụ NKT chia sẻ nhận thức chung với các ưu tiên của IFLA, bao gồm:

- Ủng hộ vai trò của các thư viện trong xã hội;

- Thúc đẩy tri thức, phong trào đọc sách và học tập suốt đời;

- Cung cấp sự tiếp cận không hạn chế với các nguồn thông tin;

- Cân bằng quyền sở hữu trí tuệ của các tác giả với nhu cầu của người đọc;

- Thúc đẩy việc chia sẻ nguồn lực thông tin;

- Phát triển chuyên ngành thư viện;

- Thúc đẩy việc xây dựng các tiêu chuẩn, hướng dẫn và thực hành;

- Đưa các thư viện tham gia thị trường công nghệ

Có rất nhiều lý do cho vấn đề thiếu điều kiện truy cập thông tin, tuy nhiên

có 02 vấn đề mà các thư viện công cộng có thể giúp đỡ họ trong việc tăng cường khả năng truy cập thông tin là:

- Làm cho nguồn lực của thư viện dễ dàng truy cập với mọi người

Trang 29

- Tập huấn và cung cấp các thiết bị chuyên dụng cho NKT trong việc truy cập thông tin

Hiện nay, có nhiều cơ hội mở ra cho việc cung cấp thông tin cho NKT, đồng thời với việc cung cấp thông tin cho người bình thường thông qua mạng thông tin Internet Cơ hội là như vậy, song thực tế lại khác Kết quả khảo sát do

Uỷ ban về quyền của người khuyết tật Anh thực hiện năm 2004 cho thấy, 81% website trên thế giới hiện nay thậm chí không đáp ứng các tiêu chuẩn truy cập cơ bản Những người không có khả năng đọc sách đang bị tụt hậu đối với thế giới trong lĩnh vực tiếp cận máy tính

Đi kèm với các công nghệ hỗ trợ là giá thành của máy tính, giá thành của máy tính tại Việt Nam tuy không cao so với mặt bằng chung của thế giới nhưng chưa phù hợp điều kiện kinh tế của đại đa số NKT Để sử dụng máy tính, họ không thể đến các điểm Internet công cộng một mình như người bình thường Các tổ chức, trung tâm cho NKT đang cố gắng bổ sung thêm chương trình đọc sách trên máy tình và chia sẻ nội bộ hoặc qua Internet Tuy nhiên giá thành cho các phần mềm hỗ trợ NKT trên máy tính còn thiếu và giá cao Giải pháp mã nguồn mở có thể giúp làm giảm giá thành, công nghệ mã nguồn mở chưa thực sự được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực này

Với các công nghệ mới và rẻ hơn, mô hình sao chép truyền thống có thể được thay thế bằng mô hình mới, nhờ đó, bất kỳ cuốn sách nào cũng có thể được xuất bản và phát hành dưới dạng định dạng phù hợp với nhu cầu của độc giả Kết quả là có thể đáp ứng 100% nhu cầu của độc giả, không phụ thuộc vào số lượng sách được chuyển đổi Tuy nhiên, việc thực hiện đầy đủ ý tưởng này còn đang ở phía trước, ngay cả đối với các nước công nghiệp phát triển Chi phí chuyển đổi các ấn phẩm in sang định dạng khác còn quá cao, bất chấp sự tiến bộ của khoa học và công nghệ Một rào cản khác là bản quyền tác giả trong chia sẻ nguồn tin

Trang 30

các nước trên thế giới hiện nay, các nhà xuất bản còn tỏ ra lưỡng lự trong việc uỷ thác sách cho các thư viện phục vụ NKT

TheoHội Người Mù Hoàng gia Anh (RNIB), hiện vẫn còn 95% sách vẫn chưa được chuyển sang dạng chữ nổi để phục vụ cho các độc giả khiếm thị John Gobber- người đứng đầu uỷ ban phụ trách các sản phẩm và sách báo xuất bản của RNIB cho biết: “Rất nhiều người bị tước bỏ quyền được đọc chỉ vì họ là NKT Hầu hết các nhà xuất bản không nhận thức được rằng những NKT cũng muốn được đọc sách” Ông cũng cho rằng các nhà xuất bản cũng như chính phủ phải chia sẻ trách nhiệm trong việc cải thiện tình trạng này

Tại Mỹ, công ty truyền thông và xuất bản dành cho trẻ em Scholastic cũng kết hợp với National Braille Press - một tổ chức phi lợi nhuận trong việc xuất bản các tác phẩm chữ nổi Braille để phát hành phiên bản chữ nổi của các cuốn sách văn học nổi tiếng thế giới

2.3.2 Tình hình đáp ứng nhu cầu tin cho người khiếm thị tại Việt Nam

nói chung và tại Hà Nội nói riêng

Theo thống kê của Bộ Lao động và Thương binh xã hội, có hơn 900.000 người (chiếm 1,2% dân số) có khuyết tật về mắt, bao gồm 600.000 người mù hoàn toàn

Những năm gần đây, ở Việt Nam, các hoạt động phục vụ cho NKT trong các thư viện công cộng đã có nhiều thay đổi Năm 1998, từ nguồn vốn Chương trình Mục tiêu Quốc gia về văn hoá đã xây dựng thí điểm 2 phòng đọc sách cho NKT ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Các kênh thông tin đến với NKT là: sách chữ Braille, băng ghi âm, đĩa CD, radio, thông tin tuyên truyền thông qua các Câu lạc bộ (CLB) và sinh hoạt HNM các cấp Tạp chí “Đời Mới” với 03 loại

Trang 31

hình: chữ Braille, băng ghi âm và chữ Việt là cơ quan ngôn luận của Trung ương Hội được xuất bản thường kỳ Hình thức sinh hoạt CLB thường được tổ chức định kỳ tại các HNM Quận, Huyện Nội dung sinh hoạt gồm: thời sự, chính sách tổng hợp, CLB dân số và gia đình, CLB thơ v.v Đây là kênh thông tin quan trong và gần gũi với NKT

Ở một số thư viện tỉnh, thành cũng lần lượt xuất hiện các hình thức phục

vụ như Hải Phòng, Đà Nẵng, Hà Tây, Phú Thọ, Quảng Ngãi, Hải Dương, Thanh Hoá Đến nay đã có hơn một nửa các thư viện tỉnh, thành phố tổ chức phòng đọc cho NKT Một số Tỉnh Hội, Thành Hội Người mù đã có các thông tin nội

bộ như:

- Hà Nội: tạp chí “Tri thức và đời sống” bằng băng cassette ra hàng tháng

- Nam Định: báo băng “Đời mới” ra hàng quý

- Thành phố Hồ Chí Minh: Bản tin chữ Braille ra mỗi năm 1 kỳĐài

PT-TH Hải Phòng phối hợp Thành Hội Người mù Hải Phòng thực hiện chương trình phát thanh “Vòng tay ánh sáng” vào Chủ nhật

v.v

Hầu hết các cấp Hội đều có thư viện và tủ sách, cung cấp tài liệu học tập

và thông tin quan trọng cho hội viên Hàng năm Trung ương Hội in từ 2 -3 đầu sách trang bị cho các thư viện và tủ sách của các hội cơ sở Những NKT đã được đọc, được nghe sách về nghề nghiệp, kiến thức cơ bản về pháp luật, xã hội, văn học v.v… Tiêu biểu như năm 2007 đã sản xuất tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân” của Hồ Chí Minh bằng chữ nổi hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm việc theo tấm gươngd dạo đức Hồ Chí Minh” cho NKT

Ngày đăng: 26/01/2021, 23:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Jean Machell (2007), Dịch vụ Thông tin và Thư viện dành cho Người khiếm thị: Hướng dẫn Quốc gia. Báo cáo cho Tổ chức Share The Vision/ Hội Thƣ viện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ Thông tin và Thư viện dành cho Người khiếm thị: Hướng dẫn Quốc gia
Tác giả: Jean Machell
Năm: 2007
[2] “Tăng cường và nâng cao chất lượng các dịch vụ thư viện công cộng phục vụ người khiếm thị” (2008), Tài liệu Hội thảo. Vụ Thƣ viện; Trung ƣơng Hội Người Mù Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường và nâng cao chất lượng các dịch vụ thư viện công cộng phục vụ người khiếm thị
Tác giả: “Tăng cường và nâng cao chất lượng các dịch vụ thư viện công cộng phục vụ người khiếm thị”
Năm: 2008
[3] Thế Minh (2005),”Harry Potter" chữ nổi dành cho độc giả khiếm thị” (Theo BBC News, AP).http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=86888vàChannelID=61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: chữ nổi dành cho độc giả khiếm thị
Tác giả: Thế Minh
Năm: 2005
[5] Vĩnh Quốc Bảo (2009), Mở rộng dịch vụ và sản phẩm thông tin cho người khiếm thị tại Thư viện Khoa học Tổng hợp và Hệ thống Thư viện công cộng Việt Naml. Báo cáo tại Đại hội cán bộ thư viện các nước Đông Nam Á CONSAL lần thứ 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mở rộng dịch vụ và sản phẩm thông tin cho người khiếm thị tại Thư viện Khoa học Tổng hợp và Hệ thống Thư viện công cộng Việt Naml
Tác giả: Vĩnh Quốc Bảo
Năm: 2009
[6] Vũ Hồng Khanh (2007), Thư viện phục vụ người khiếm thị. Tạp chí Thông tin tƣ liệu 2007/ Số 3.http://vst.vista.gov.vn/home/database/an_pham_dien_tu/MagazineName.2004-06-09.1932/2007/2007_00003/MItem.2008-01-02.4623/MArticle.2008-01-02.4831/marticle_view Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư viện phục vụ người khiếm thị
Tác giả: Vũ Hồng Khanh
Năm: 2007
[4] Thư Viện Sách Nói Kỹ Thuật Số Cho Người Khiếm Thị. http://www.saomaicenter.org/tvsnkts0506 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w