1. Trang chủ
  2. » Địa lý lớp 12

Công cuộc bảo tồn di sản thế giới ở Thừa Thiên Huế

481 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 481
Dung lượng 57,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chuvên môn hóa với những lĩnh vực nghiệp vụ riêng biệt; đồng thời, càng được xã hội hóa rộng rãi.. Thật ra, bản chất không phải như vậy.. Ngày nay các nhạc khí không nh[r]

Trang 2

D I S Ẩ N T H Ê G I Ớ I

ở Thừa Thiên Huế

Trang 3

TRUNG TÂM BẢO TỒN DI TÍCH cố Đô HUẾ

Cống cuộc bảo tồn

DI SẨN THÉ GIỚI

ở Thừa Thiên Huế

HMCC

Trang 4

L Ờ I N Ó I Đ Ầ U

Kỷ niệm 20 năm ngày Quân thê di tích Cô đô Huê được UNESCO

ghi vào Danh mục Di sản Văn hóa Thế giới (1993 - 2013), 10 năm Nhã nhạc - Ẵm nhạc cung đình Việt Nam được vinh danh là Kiệt tác di sản Phi vật thể và Truyền khẩu của nhân loại (2003 - 2013) (nay là Di sản

Phi vật thể Đại diện của nhân loại), 90 năm thành lập Musée Khải Định (nay là Bảo tàng c ổ vật Cung đình Huế), Thừa Thiên Huế đã tổ chức nhiều hoạt động chào mừng các sự kiện có ý nghĩa này

Cùng với các chương trình kỷ niệm, hội nghị; các hoạt động trưng

bày, triển lãm; các hoạt động tuyên truyền quảng bá, ấn phẩm Công cuộc bảo tồn Di sản thế giới ở Thím Thiên Huế do Trung tâm Bảo tồn Di tích

Cố đô Huế xuất bản có tính chất là một kỷ yếu kỷ niệm

Đây cũng là dịp để Trung tâm Bảo tồn Di tích c ố đô Huế nhìn nhận và đánh giá lại m ột chặng đường trên hành trình bảo tồn các giá trị

di sàn văn hóa Huế; nhất là bên cạnh nhiều thành tựu to lớn đã đạt được, nhiều khó khăn, thách thức trên chặng đường mới đã và đang đặt

ra cho các nhà quản lý, các nhà chuyên môn Đặc biệt, nhiều công trình tiêu biểu trong hệ thống các di tích c ố đô vẫn chưa được phục hồi; một

số bài bản lớn trong hệ thống Nhã nhạc vẫn chưa sưu tầm được; nhiều phức hệ cảnh quan gắn liền với các loại hình di sản vẫn chưa được bảo tồn một cách toàn diện; nhiều giá trị lịch sử vẫn chưa được nghiên cứu thấu đáo v.v

Tất cả những điều đó, đòi hỏi phải xác lập một kế hoạch trung hạn, dài hạn nhằm giải quyết những hạn chế trong công cuộc bảo tồn Di sản thế giới ở Thừa Thiên Huế

Do vậy, nội dung ấn phẩm Công cuộc bảo tồn Di sản thế giới ở Thừa Thiên Huế ngoài việc đánh giá về những thành tựu cùng những hạn

chế qua một chặng đường bảo tồn di sản ở Huế, đồng thời cũng tạo nên một diễn đàn để các nhà quản lý, các nhà khoa học phát biểu, trao đổi

Trang 5

những kinh nghiệm, đóng góp những ý kiến về khoa học trên cả hai phương diện bảo tồn giá trị vật thể và phi vật thể.

Nhân dịp này, Ban biên tập xin gửi lời cám ơn chân thành đến các nhà quản lý, các nhà khoa học đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để

đóng góp vào nội dung của ấn phẩm Công cuộc bảo tồn Di sản thế giới ở Thừa Thiên Huế Đồng thời, tuy đã rất mực cẩn trọng song do thời gian

quá gấp rút, công tác tuyển chọn, thẩm định, biên tập, trình bày hẳn có chỗ còn chưa được như mong mỏi, xin trưng cầu sự góp ý của độc giả gần xa

Huế, tháng 9 năm 2013

BAN BIÊN TẬP

Trang 6

P HẦN I H À N H TRÌNH ĐẾN VỚI DI SẢN VĂN HÓA TH Ế GIỚI

Trang 7

(Xxuo, lẢXA^cuM - A iU Q xir^ rK ^

/Ịirv^Lf“Ả»i ẠẬưsiríaỷ/ H Ụ iith t

Tôi cũng cám ơn các bạn trong việc bảo tồn di sản tuyệt vời Nhã nhạc - Âm nhạc Cung đình Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 10 năm Nhã nhạc được công nhận là Kiệt tác Di sản Phi vật thể và Truyền khẩu của nhân loại - một thông điệp hùng hồn và hấp dẫn về văn hóa Việt Nam.

Chúc lễ kỷ niệm vui vẻ!

23/6/2013

Irina Bokova

Tổng Giám đốc UNESCO

Trang 8

Hành trình đến với Di sản Văn hỏa Thế giói

M ÃI MẢI ĐƯỢC GIỮ GÌN *

20 năm đã trôi qua kể íừ ngày di sản văn hóa Huế được tôn vinh Đây là chặng đưòng ghi dấu những nỗ lực to lớn của toàn thể chúng ta, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách để các di sản văn hóa được từng bước hồi sinh và đi vào giai đoạn ổn định, phát triển bền vững

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với việc bảo tồn di sàn văn hóa c ố đô Huế Chỉ sau 3 năm kể từ khi Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO vinh danh, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, sự phối hợp của các Bộ, ngành cùng nỗ lực của tỉnh Thừa

Thiên Huế, năm 1996, Dự án Quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô Huế, giai đoạn 1996-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê

duyệt với mục tiêu bảo tồn và phát huy các di sản của c ố đô Huế trên cả

3 lĩnh vực: di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể và cảnh quan môi trường Đến năm 2010, trên cơ sờ tổng kết các kết quả đã đạt

được trong quá trình triển khai, Chính phủ tiếp tục ký Quyết định phê duyệt Dự án điều chỉnh Quy hoạch đến năm 2020 Đó là những cơ sở

* Bài phát biểu tại lễ kỷ niệ m 20 năm di sản Huế T ựa đề cùa B B T

** Thứ trường Bộ Văn hóa, T hể thao và Du lịch

Trang 9

pháp lý vững chắc cho sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa Huế trong suốt

20 năm qua

Trong quá trình triển khai hai Quyết định quan trọng này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch luôn đồng hành và có sự chỉ đạo sát sao đối với công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Huế Thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, hàng trăm tỷ đồng đã được đầu tư cho các dự án nghiên cứu khoa học, thám sát, khai quật khảo cổ học, tu bổ, phục hồi di sản kiến trúc và cảnh quan môi trường Bên cạnh

đó, việc hỗ trợ cho công tác nghiên cứu, sưu tầm và phục hồi các di sản văn hóa phi vật thể của c ố đô Huế, bao gồm cả nhã nhạc, tuồng cung đình, múa cung đình, ca Huế và các làn điệu dân ca, các ngành nghề thủ công truyền thống, ẩm thực xứ Huế, công tác đào tạo, truyền dạy nghề, nổi bật là việc thành lập và xây dựng 2 đơn vị đào tạo thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là Trường Cac đẳng nghề Huế và Nhạc viện Huế, nhằm đào tạo các thế hệ nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà nghiên cứu cho tương lai, chỉ đạo triển khai đồng bộ Việc xây dựng hồ sơ khoa học cho các di tích quan trọng trên địa bàn toàn tỉnh nhàm phục vụ cho công tác quản lý nhà nước và tổ chức bảo tồn, trùng tu di tích cũng được chú trọng Trong

20 năm qua, đã có 89 di tích của Thừa Thiên Huế được xếp hạng là di tích cấp quốc gia, Quần thể di tích c ố đô Huế cũng đã được xếp hạng là

di tích quốc gia đặc biệt

N hận thức đúng đắn, hành động quyết liệt của các ngành, các cấp từ trung ương tới địa phương cùng toàn thể nhân dân Thừa Thiên Huế trong thời gian qua đã và đang mang lại những kết quả hết sức tích cực Di sản văn hóa Huế, cả di sản vật thể và di sản phi vật thể, đã không chỉ được hồi sinh từ những hoang tàn, đổ nát do chiến tranh, do thiên tai, do sự đầu tư chưa tương xứng, mà còn ngày càng được bảo tồn bền vững, đóng góp hết sức hiệu quả cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và khu vực Năm 2012 vừa qua, tổng nguồn thu từ

du lịch và dịch vụ của Thừa Thiên Huế đã đạt con số hơn 2.500 tỷ, chiếm gần 50% GDP của toàn tỉnh Đó là những con số biết nói, khẳng định thành quả của sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa mà chúng ta đã cùng nhau phấn đấu thực hiện trong những năm qua

Công cuộc Bảo tồn Di sản Thế giói ỏ' Thừa Thiên Huế

Trang 10

Hành trình đấu với Di sản Văn lĩóa Thế giới

Đông hành cùng di sản văn hóa Huê suôt 20 năm qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch luôn đánh giá cao những nồ lực hết mình cùng các thành tựu to lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thừa Thiên Huế, tiêu biểu là đội ngũ những người trực tiếp làm công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Huế Di tích c ố đô Huế luôn xứng đáng với vị thể là cánh chim đầu đàn cả nước trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Cùng với sự hồi sinh của di sản văn hóa, Thừa Thiên Huế cũng trở thành một trung tâm du lịch, dịch vụ của miền Trung, một điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước Việc tổ chức thành công và liên tục các kỳ fesstival quốc tế và festival nghề truyền thống dựa trên nền tảng di sản văn hóa Huế càng khiến thương hiệu của Huế - thành phố festival, trở nên nổi tiếng khắp thế giới

Bước vào thời kỳ mới, dù còn phải đương đầu với không ít khó khăn, thử thách, nhưng với kết quả to lớn mà chúng ta đã đạt đưọc 20 năm qua, trên cơ sở những thuận lợi mới, đặc biệt là sự quan tâm của Đảng, Nhà nước thể hiện qua Kết luận số 48 của Bộ Chính trị về Thừa Thiên Huế, Quyết định 1880/TTg của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế hỗ trợ đặc biệt cho di tích c ố đô H uế , sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới c ố đô Huế cần tập trung hoàn thành các nhiệm

vụ đã được xác định tại Quyết định 818/TTg của Thủ tướng Chính phủ

để các di sản văn hóa vô giá này sẽ mãi mãi được giữ gìn, trao truyền cho hôm nay và các thế hệ mai sau

Xin trân trọng cám ơn!

Trang 11

Công cuộc Bảo tồn Di sản Thế giói ỏ’ Thừa Thiên Huế

CÔNG CUỘC BẢO TÒN DI SẢN THÉ GIỚI

ơ THỪA THIÊN HUẾ

Nguyễn Văn Cao

Thừa Thiên Huế là vùng đất lịch sử, một trung tâm văn hóa - du lịch của đất nước Trong gần 160 năm (1788-1945) - với tư cách là Kinh

đô, Phú Xuân - Thừa Thiên Huế là điểm hội tụ tinh hoa của dân tộc, đây cũng là nơi gặp gỡ giao lưu của các luồng văn minh nhân loại Tổng thế

di tích còn lại hiện nay là đỉnh cao của sự kết họp hài hòa giữa kiến trúc

và thiên nhiên, là bức tranh rõ nét về chân dung Kinh đô xưa của Việt Nam, hội tụ những đặc trưng của bản sắc văn hóa Việt Nam; đồng thời, chứa đựng những sắc thái văn hóa rất riêng của vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế

Từ Kinh đô một thuở, nay trờ thành c ố dô, Thừa Thiên Huế đã giữ lại trong lòng mình những giá trị văn hóa đặc sắc, đây là viên ngọc quý

mà dân tộc Việt Nam đóng góp vào giá trị văn hóa của nhân loại

Với sự giúp đỡ của các Bộ, Ngành Trung ương, của ủ y ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và các tổ chức quốc tế, ngày 11 tháng 12 năm

1993, Quần thể Di tích c ố đô Huế đã được UNESCO ghi vào Danh mục

Di sản Văn hóa Thế giới - di sản văn hóa đầu tiên của Việt Nam được công nhận Tiếp đó D ự án Quy hoạch Bảo tồn và Phát huy giá trị di tích

Cổ đô Huế, giai đoạn 1996-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê

duyệt tại Quyết định số 105/TTg ngày 12 tháng 02 năm 1996, tạo cơ sờ vững chắc cho công cuộc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa một cách bền vững Với hai sự kiện trên, di sản Huế đã thăng hoa với những

đặc điểm nổi bật, thể hiện rõ diện mạo và tăm hồn của vùng đất c ố đò

nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung

* Phó Bí thư Tinh ủy, C hủ tịch U B N D tinh Thừa Thiên Huế

Trang 12

Hành trình đến với Di sản Văn hóa Thế giới

Có thể nói, việc UNESCO công nhận quần thể di tích c ố đô Huế là

di sản văn hóa thế giới đã đem lại một cơ hội lớn để Việt Nam và Thừa Thiên Huế mở rộng giao lưu văn hóa với các nước, chọn lọc bổ sung những yếu tố thích hợp làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc trên con đường hội nhập và phát triển Di sản Huế đã trở thành một ví dụ tiêu biểu, xuất sắc cho chiến lược ngoại giao văn hóa của Việt Nam Mười

năm sau, tháng 11 năm 2003, Nhã nhạc - ảm nhạc cung đình Việt Nam - được UNESCO côna nhận là Kiệt tác di sản Phi vật thể và Truyền khẩu cùa nhản loại - cũng là Di sản phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được

công nhận Từ tháng 11 năm 2008, Nhã nhạc của Việt Nam lại tiếp tục được vinh danh là một trong số 90 di sản đầu tiên của thế giới được ghi

vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Di sản văn hóa Huế là một kho báu, là một bộ phận cấu thành hệ sinh thái văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Đó cũng là mấu chốt mở rộng phát triển du lịch, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời, biết khai thác và phát huy những giá trị văn hóa là một giải pháp để bảo tồn, làm cho di tích sống lại, hòa với cuộc sống đương đại Hoạt động văn hóa - du lịch tại Huế đã góp phần tạo ra sự tăng trưởng nhanh của các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, thương mại, công nghệ thông tin và ngành nông lâm, thủy sản, tạo thu nhập và giải quyết việc làm cho một lực lượng lớn lao động xã hội, đồne thời, tạo điều kiện phát huy tài năng sáng tạo của các nghệ nhân, nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu khoa học, thúc đẩy mở rộng quan hệ đối ngoại và họp tác đầu tư trong lĩnh vực văn hóa du lịch

Đánh giá cao các thành tựu đó, Bộ Chính trị đã có Kết luận số 48- KL/TW ngày 25 tháng 5 năm 2009 về xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế và

đô thị Huế đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh việc đầu tư cho sự nghiệp bào tồn di sản và xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành một trung tâm văn hóa - du lịch của đất nước và khu vực Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ đã

ký Quvết định 818/QĐ- TTg ngày 7 tháng 6 năm 2010, phê duyệt Dự án điều chỉnh Quy hoạch, bảo tồn và phát huy di tích c ố đô Huế, giai đoạn

2010 - 2020 Đó là những cơ sờ pháp lý vô cùng quan trọng cho sự

nghiệp bảo tồn di sản Huế

Trang 13

Hai mươi năm qua, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cùng với sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là sự đóng góp của các cấp, các ngành và nhân dân Thừa Thiên Huế mà trực tiếp là đội ngũ cán

bộ công nhân viên của Trung tâm Bảo tồn Di tích c ố đô Huế, công tác bảo vệ, trùng tu và phát huy giá trị di sản văn hóa c ố đô Huế đã có sự chuyển biến tích cực và đạt được những thành tựu quan trọng Hàng chục công trình được phục hồi, nhiều công trình có giá trị tiêu biểu đã được tu

bổ, hàng trăm công trình được bảo quản, chống xuống cấp, hệ thống cơ

sở hạ tầng được tăng cường, không gian hoang phế được thu hẹp, bộ mặt

đô thị ngày càng khang trang và văn minh

Sau khi Nhã nhạc - Âm nhạc cung đình V iệt Nam được UNESCO công nhận là kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu nhân loại, Dự án bảo tồn Nhã nhạc do Văn phòng UNESCO tại Hà Nội phối họp với tỉnh Thừa Thiên Huế đã được thiết lập và triển khai thực hiện trong 3 năm (2005 - 2008) Dự án đã được đánh giá là một trong những dự án mẫu mực tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO, qua đó góp phần quảng bá có hiệu quả, rộng khắp Nhã nhạc ra các nước trên thế giới

Để có sự chuyển biến đầy ý nghĩa này, tỉnh Thừa Thiên Huế đã biết tranh thủ tốt nhất sự ủng hộ của quốc tế, vận dụng đúng đắn các quy định trong công tác bảo tồn, bảo tàng; bám sát chiến lược trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đồng thời,

áp dụng đồng bộ nhiều chủ trương, biện pháp tích cực nhằm tập trung các nguồn lực đầu tư cho những công trình tiêu biểu như: thực hiện 4 dự án lớn để giải tỏa dân cư ở các khu vực đang khoanh vùng bảo vệ; triển khai các chương trình bảo tồn hệ thống sông, hồ trong các di tích; di chuyển các nhà máy, các cơ sở sản xuất công nghiệp ra khỏi khu vực Kinh Thành; xây dựng các tuyến đường tránh để không ảnh hưởng đến độ bền vững của các

di tích; ban hành các quy chế, chính sách để giữ gìn giá trị văn hóa vật thể

và phi vật thể, tổ chức các Festival định kỳ, các lễ hội văn hóa cung đình

và văn hóa dân gian, làm cho mọi người cảm nhận sâu sắc và hòa nhập vào giá trị thiêng liêng đang ẩn chứa trong các di tích

Kể từ khi Quần thể di tích c ổ đô Huế được công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới, công tác bảo tồn, tôn tạo di tích đang được từng bước

Công cuộc Bảo tồn Di sản Thế giói ở Thừa Thiên Huế

Trang 14

Hành trình đến với Di sản Văn hỏa Thế giói

chuvên môn hóa với những lĩnh vực nghiệp vụ riêng biệt; đồng thời, càng được xã hội hóa rộng rãi Sự tiến bộ cả về mặt nhận thức và hành động của người dân đã tạo nên những chuyển biến tích cực với mục đích chung là bảo vệ sự tồn tại lâu dài của khu di tích Huế Thành tựu trên đã góp phần nâng cao chất lượng sống của người dân, thúc đẩy các hoạt động du lịch phát triển, làm cho du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Thừa Thiên Huế Những giá trị văn hóa Huế cũng đã góp phần

mở rộng giao lưu văn hóa giữa Việt Nam với các nước trong vùng và trên thế giới, tranh thủ tốt nhất sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế với công tác

tu bổ, tôn tạo và phát huy di sản văn hóa Huế

Những nồ lực trong công cuộc bảo tồn di sản văn hóa Huế đã làm cho di sản văn hóa Huế từng bưóc hồi sinh với diện mạo vốn có trong lịch sử và đang vươn mình với sức sống ngày càng mãnh liệt Cuộc vận

động bảo vệ di tích Huế đã được UNESCO đánh giá là một trong hai cuộc vận động toàn cầu mang lại hiệu quả thiết thực nhất.

Bên cạnh thành tựu to lớn đã đạt được, vẫn còn nhiều khó khăn chưa được khắc phục, vẫn còn không ít các công trình tiêu biểu chưa được phục hồi, dấu vết hoang tàn đổ nát vẫn chưa được xóa hết ở nhiều di tích Việc huy động các nguồn lực chưa được phát huy đúng mức Các giá trị văn hóa phi vật thể tuy được ưu tiên đầu tư nhưng kết quà đạt được còn hạn chế so với yêu cầu Đô thị hóa với tốc độ ngày càng nhanh đang là thách thức và cần có lời giải phù hợp để giải quyết có hiệu quả bài toán giữa bảo tồn và phát triển

Bởi vậy, trong giai đoạn tới, định hướng của công cuộc bảo tồn di sản Huế sẽ đặt ra nhiều vấn đề trọng tâm có tính giải pháp cơ bản như sau:

Một là, Tiếp tục xây dựng, thúc đẩy mối quan hệ với các tổ chức quốc tế, nhất là UNESCO nhàm tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ cho di sản Huế trên nhiều phương diện, tranh thủ quảng bá hình ảnh Huế thông qua công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản Tiếp tục củng cố mối quan hệ với các Bộ/Ngành Trung ương, các khu di sản thế giới ở Việt Nam và các tỉnh bạn để tranh thủ tối đa các nguồn lực và sự ủng hộ để phục vụ cho công cuộc bảo tồn, phát huy các giá trị của di sản Huế

Trang 15

Hai là, tổ chức triển khai và thực hiện thắng lợi Quyết định

818/TTg của Thủ tướng Chính phủ về D ự án điều chỉnh Quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô Huế, giai đoạn 2010-2020 Trong

quá trình thực hiện cần chú ý vừa làm tốt công tác bảo tồn, vừa chú ý khai thác, phát huy các giá trị di sản để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, mà trọng tàm là ngành du lịch dịch vụ cần chú

ý kết họp giữa bảo tồn di sản và chỉnh trang đô thị Hoàn thành việc xây dựng chương trình quản lý tổng thể cho khu di sản Huế

Ba là, cần đầu tư nghiên cứu để hình thành một mô hình quàn lý phù hợp, hiệu quả với bảo tồn di sản đa năng nhằm mở rộng quy mô, chất lượng và nâng cao vị thế của tầm vóc các di sản, không chỉ đảm nhận công tác bảo tồn trong phạm vi cấp tỉnh mà vưcm ra cả nước và khu vực; quản lý

và vận hành bộ máy hoạt động ngày càng hiệu quả; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chuyên viên làm công tác nghiên cứu khoa học - kỹ thuật trong hoạt động bảo tồn Song song công tác bảo tồn, phải đẩy mạnh công tác khai thác, phát huy các giá trị di sản phục vụ phát triển kinh tế

Nhìn lại chặng đường qua 20 năm bảo tồn di sản văn hóa vật thể,

10 năm bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thừa Thiên Huế trân trọng cám ơn Chính phủ, các Bộ/Ngành Trung ương, các tổ chức quốc tế tài trợ, hỗ trợ trùng tu di sản Huế; đồng thời, đánh giá cao sự đóng góp của các tập thể và cá nhân ở trong và ngoài nước đã trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào công tác trùng tu, bảo vệ di sản văn hóa Huế

Kỷ niệm 20 năm Quần thể di tích c ố đô Huế được ghi vào Danh mục Di sản Thế giới của UNESCO; 10 năm Nhã nhạc, Â m nhạc cung đình Việt Nam được UNESCO ghi tên vào Danh mục các K iệt tác văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của nhãn loại là một dịp để Đảng bộ,

chính quyền, nhân dân Thừa Thiên Huế, mà trực tiếp là những người được giao trọng trách quản lý khu di sản Huế nhìn lại một hành trình đã qua, hướng đến một tương lai tươi sáng hơn, nhằm đưa công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị di tích c ố đô Huế lên tầm cao mới

N v c Công cuộc Bảo tồn Di sản Thế giói ở Thừa Thiên Huế

Trang 16

Hành trình đến với Di sản Văn hóa Thế giới

DI SAN VĂ N HOA THẺ GIỜI DI TICH c ô Đ õ HUÊ

- 20 NẢM NHÌN LẠI

' *

T m Ạ n r • ^

Luu Iran Tiêu

1 Trong một bài viết cách đây đã nhiều năm về Di tích c,ố đô Huế, tôi đã thử tiếp cận, nhận diện di sản này trên nền cảnh của một không

gian sinh thái nhân văn, tạo nên tính đặc sắc, sự gắn kết giữa ba thành tố:

môi trưòng tự nhiên, con người và văn hóa Rất dễ nhận ra là, bên cạnh

những đặc điểm chung được hình thành theo quy luật của sự phát triển

văn hóa, do vị trí địa lý và bối cảnh lịch sử - xã hội đặc biệt, Huế có

những điều kiện làm nên diện mạo và sắc thái riêng về tài sàn văn hóa

của mình Không dễ gì tìm được một nơi nào, mà ở dó, con người, môi

trường cảnh quan và văn hóa ngưng kết, gắn bó nhuần nhuyễn với nhau

tạo thành một chỉnh thể văn hóa đầy tiềm năng, đầy sức hút như Huế

Trong tiến trình lịch sử dân tộc, Huế vẫn luôn giữ một vị trí chiến lược,

là chiếc cầu nối trên con đường mở nước về phía Nam và giữa hai miền

đất nước, là nơi diễn ra sự chồng lấn, dung hợp, sáng tạo, tiếp biến các

vùng văn hóa, các dòng văn hóa để tạo cho xứ Huế một cơ tầng chung

cùa văn hóa Việt Nam với những nét riêng đặc sắc của mình Không nơi

nào trên đất nước ta như ở Huế còn giữ lại được một quần thể di tích đền

đài, cung điện, thành quách, lăng tẩm khá hoàn chỉnh về mặt quy hoạch,

và cùng với những di sản vật chất đó là một khối lượng đồ sộ, phong phú,

đa dạng về những tư liệu phản ánh đời sống, nghi lễ cung đình, sinh hoạt

nơi cung cấm Cái đẹp của kiến trúc Huế không hẳn là sự lộng lẫy,

hoành tráng về quy mô, mà là sự mực thước trong kết cấu, dáng vẻ, sự

hòa quyện, sự hài hòa giữa công trình kiến trúc và môi trường cảnh quan

thiên nhiên N ét đặc sắc riêng có này của Huế không chỉ thể hiện trong

quy hoạch cung điện, lăng tẩm mà cả đình, chùa, nhà ờ Không gian văn

* Giáo sư, Tiến sĩ K h o a học

Trang 17

hóa Nhà - Vườn như là một tác phẩm nghệ thuật đặc trung của riêng Huế, ở đấy là sự hài hòa mẫu mực cái đẹp của thiên nhiên với cái đẹp của kiến trúc và tâm hồn, lối sống tinh tế của người c ố đô Đó là sự hài hòa tuyệt vời của tổng thể kiến trúc phong cảnh, một di sản quý giá nhung rất

dễ bị tổn thương trong quá trình đô thị hóa

Huế không chỉ có cung điện, thành quách, lăng tẩm mà đời sốrm văn hóa - nghệ thuật của Huế cũng giữ một vị trí nổi bật trong kho tàng chung của văn hóa đất nước Ở bất cứ lĩnh vực nào, Huế luôn giữ được cái chune, nhưng lại có những cái riêng rất Huế Trên đất nước ta chi có Huế mới còn giữ được âm nhạc cung đình Món ăn Huế, giọng nói, tiếng nói Huế trở thành nét văn hóa đặc sắc không hòa lẫn với ai Sự đa dạng, phong phú, độc đáo với hàm lượng chất lượng cao của văn hóa dân gian, cùa các ngành nghề thủ công truyền thống, cùa phong tục tập quán, nghi

lễ, hội hè trở thành một tài sản quý giá, một tiềm năng lớn cho phát triển Không chỉ có vậy, những giá trị lịch sử cách mạng và kháng chiến của Huế cũng có một tầm cao trong tầm cao của lịch sử dân tộc

Cho đến nay, chúng ta chỉ mới được giới thiệu, được tiếp cận một phần kho tàng di sản văn hóa Huế Nhiều thư tịch cổ, tác phẩm văn học, châu bản triều Nguyễn, các bộ hương ước, phổ hệ, phả hệ, sắc phong, di vật và cổ vật các loại còn đang được lưu giữ trong các đình, đền, chùa, nhà thờ họ tộc và nhiều gia đình người Huế Điều này thể hiện truyền thống văn hiến tốt đẹp, đáng quý của người xứ Huế, đồng thời cũng đặt trên vai nhà quản lý trách nhiệm xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp khuyến khích việc bảo tồn và phát huy giá trị của nguồn tư liệu vô cùng quan trọng này nhưng đang vơi dần theo năm tháng

Thông qua di sản văn hóa, người ta đánh giá về tài năng sáng tạo, trí tuệ, công sức và bản lĩnh của một cộng đồng, một dân tộc Tài sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa nói riêng là một thực thể đa dạng và phong phú, cả vật thể và phi vật thể Tất cả đều tiềm ẩn những giá trị cao

cả về mặt văn hóa và tiềm năng kinh tế, trong đó con người chính là tài sản văn hóa đặc thù với bản chất của nó là chủ nhân sáng tạo văn hóa Vì vậy, cùng với việc bảo tồn và phát huy dạng vật thể và phi vật thể của tài sản văn hóa, cần có cơ chế, chính sách thiết thực để khuyến khích và tôn vinh những chủ nhân lưu giữ và sáng tạo nên tài sản văn hóa đó

Công cuộc Bảo tồn Di sản Thế giói ở Thừa Thiên Huế

Trang 18

Hành trình đến với Di sản Văn hóa Thế giới

2 N hìn lại một chặng đường dài sau khi thành lập Cône ty Quản lý

di tích và danh thắng Huế, sau này đổi tên thànhTrung tâm Bào tồn di

tích Cố đô Huế, đặc biệt là từ sau khi UNESCO công nhận là Di sản văn

hóa Thế giới; dù còn nhiều việc phải làm, dù không ít di tích còn chưa

được tu bổ và tôn tạo nhưng về tổng thể, có thể khẳng định: Di tích c ố

đô Huế đã thoát khỏi tình trạng círu nguy khẩn cấp; công cuộc bảo tồn di

tích dần đi vào chiều sâu, nền nếp, chuyên nghiệp hon, có bước đi ngày

một bài bản hon, nhanh hơn, chất lượng chuyên môn dần được nâng cao

trong công tác nghiên cứu, bảo tồn, tổ chức các hoạt động phát huy giá trị

di sản văn hóa Diện mạo di sản của một cố đô dần được hồi sinh và trở

thành m ột nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Đây là

kết quả của những nồ lực to lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân

Thừa Thiên Huế; của tập thể cán bộ, công nhân viên các thế hệ của Trung

tâm Bảo tồn Di tích c ố đô Huế; cũng như sự phối họp của các Bộ,

ngành, tổ chức chuyên môn ờ trung ương và địa phương; sự giúp đỡ của

UNESCO và sự hợp tác quốc tế có hiệu quả trong sự nghiệp bảo tồn và

phát huy giá trị Di tích c ố đô Huế

Trong số nhiều thành công mà Trung tâm Bảo tồn di tích c ố đô

Huế đã thu gặt được, tôi rất ấn tượng về những kết quả trong hoạt động

nghiên cứu, cả di sản vật thể và phi vật thể, cũng như hoạt động khai quật

khảo cổ phục vụ các dự án quy hoạch và tu bổ, tôn tạo di tích ít có di sản

ở một địa phương nào ở nước ta lại được tổ chức nghiên cửu, biên soạn,

dịch thuật và xuất bản được hàng chục công trình, trong đó có những

công trình đoạt giải thưởng cao của trung ương và địa phương Kết quả

thiết thực của công tác sưu tầm, nghiên cứu là đã cung cấp những cơ sở khoa học cho việc phục hồi một số lễ hội cung đình quan trọng như lễ Tế Nam Giao, lễ Tế X ã Tắc, lễ Vinh quy bái tổ, lễ Thi Tiến sĩ võ, các loại hình nghệ thuật cung đình (các nhạc khúc, tuồng, điệu múa cung đ ìn h

Các hoạt động khai quật khảo cổ tại di tích c ố đô Huế đã cung cấp nhiều tài liệu, bổ sung nhiều nhận thức quan trọng và mới mẻ, góp phần nâng cao chất lượng dự án và hoạt động tu bổ di tích Khai quật khảo cổ đi đôi với giải pháp bảo tồn tại chỗ di tích tại các hố khai quật vừa khẳng định tính xác thực và giá trị của di tích, lại vừa tạo được sự tương tác, trải nghiệm, hấp dẫn đối với khách tham quan trong và ngoài nước

Trang 19

M ột điểm nhấn rất đáng chú ý là trong nhiều năm gần đây, Trung tâm Bảo tồn Di tích c ổ đô Huế đang từng bước nghiên cứu định dạng, thống kê và số hóa với một số lượng không hề nhỏ các văn tự Hán-Nôm

ở các kiến trúc cung điện, lăng miếu, chùa, q u án rất có giá trị về mặt tư tưởng, nghệ thuật, đặc biệt, các bản khắc văn tự này đều là dương bản và độc bản, rất cần đưa vào kế hoạch bảo quản, bảo vệ và phát huy

Điểm nổi bật nữa trong hoạt động của Trung tâm Bảo tồn Di tích

Cố đô Huế mà ở các địa phương khác khó có thể có được, đó là về họp tác quốc tế trong bảo tồn di sản văn hóa cả vật thể, phi vật thể và cả về cảnh quan môi trường Có thể nói, Huế là nơi gặp gỡ, hội tụ được chuyên gia của nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều chuyên ngành khác nhau, trong đó có những chuyên ngành nước ta chưa đào tạo Sự hợp tác

đa dạng và đa chiều đó đã mang lại những kết quả thiết thực, hiệu quả và những kinh nghiệm quý từ các chuyên gia nước ngoài Tôi rất khâm phục các chuyên gia Đức trong dự án họp tác phục chế tranh tường Cung An Định Từ 4 - 5 lớp phủ mà những người sừ dụng ở các thời điểm khác nhau đã vô ý thức quét phủ lên những bức tranh gốc vẽ trên các mảng tường tưởng như không thể phục hồi được, nhưng rồi diện mạo của các bức tranh gốc vẽ trên tường đã dần hiện ra bởi trình độ kỹ thuật, tay nghề cao, dày dạn kinh nghiệm của các chuyên gia Thông qua họp tác về bảo tồn di tích, chúng ta học hỏi được ở mỗi nước, mỗi nhóm chuyên gia, bên cạnh những tri thức chung, lại có những “bí quyết” riêng của họ trong việc bảo tồn trên thực tế từng công trình cụ thể như phương pháp phục hồi trang trí nội thất công trình, phục hồi các trang trí trên tường và trần công trình, gia cố, bảo quản công trình ; đặc biệt là quá trình nghiên cứu phục dựng điện c ầ n Chánh Vì vậy, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo đội ngũ cán bộ thông qua các dự án tu bổ, phục hồi

di tích là hướng hợp tác cần phát huy mạnh mẽ trong những năm tới

v ề mô hình tổ chức quản lý di sản, có thể khẳng định: Trung tâm Bảo tồn Di tích c ố đô Huế là mô hình tổ chức quản lý thành công, phù họp với thực tiễn Việt Nam và yêu cầu của UNESCO, nên đã phát huy được hiệu quả cao trong hoạt động nghiên cứu, tu bổ di tích, đào tạo nghệ nhân và nghệ sĩ, xây dựng đội ngũ cán bộ tư vấn lập dự án và thi công công trình; sản xuất vật liệu chuyên dụng; tổ chức quản lý, bảo vệ và phục vụ khách tham quan du lịch

Công cuộc Bảo tồn Di sản Thế giới ở Thừa Thiên Huế

Trang 20

Hành trình đến với Di sản Văn hóa Thế giới

3 Trong thời gian gần đây, qua các phương tiện thông tin đại chúng, có cảm giác hình như giũa bảo tồn di sản văn hóa và phát triển

kinh tế có điều gì đó mâu thuẫn nhau, “làm khó cho nhau” và trong

không ít trường hợp, sự “xung đột” đó thường dẫn đến hậu quả là di sản

gánh chịu sự thiệt thòi Thật ra, bản chất không phải như vậy Tuy nhiên,

không phải ở đâu và không phải lúc nào người ta cũng giải quyết được

hài hòa giữa bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa với phát triển kinh tế - xã

hội Sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là một tiến trình

sống động nằm trong nhận thức về vai trò, vị trí của di sản văn hóa đối

với phát triển và trong hoạt động thực tiễn cuộc sống, kể cả quá trình

kinh tế: Bào tồn để phát triển, và ngược lại, phát triển sẽ giúp việc bảo

tồn di sản văn hóa tốt hơn

T rong nhận thức, chắc ít người lại cho rằng, bảo tồn di sản và phát triển là hai m ặt đối lập, nhung khi đi vào hành động thực tiễn

thì thấy vẫn còn m ột quãng cách giữa nhận thức và hành động

Không phải không được làm gì trong một khu di tích, trong m ột quần

thể di tích, mà điều quan trọng là xây cái gì, ờ vị trí nào trong khu

vực bảo vệ di tích, kiểu dáng ra sao, độ cao thế nào để vừa giữ được

và không làm ảnh hưởng đến tính chân xác, tính toàn vẹn của di tích;

nâng cao giá trị di tích, trong khi vẫn tạo thuận lợi cho công tác quản

lý và phục vụ du khách Điều hạn chế là thường chúng ta chưa có

một cách nhìn toàn diện và căn bản, một tầm nhìn lâu dài và sự phối

hợp liên ngành trong việc quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di

tích gận với phát triển kinh tế - xã hội, trong việc lập quy hoạch khảo

cổ theo quy định của Luật Di sản văn hóa Chúng ta thường đặt các nhà quản lý di sản văn hóa trước việc đã rồi Khi thực hiện dự án bảo

tồn một di tích hoặc một khu di tích nào đó, xu hướng chung hiện nay là phải đặt di tích ấy trong không gian văn hóa, trong môi trường

xã hội và cảnh quan tạo nên giá trị tổng thể và đặc trưng của di tích

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc bảo tồn di tích trong các khu đô thị - một “di sản số n g ” sẽ không có mấy kết quả nếu không coi cư dân hiện sinh sống trong đó cũng là “đối tượng bảo tồn” và thiếu sự vào cuộc đồng bộ, đầy trách nhiệm của các ban, ngành có liên quan của chính quyền đô thị

Trang 21

Huế là một đô thị di sản hài hòa trong tổng thể kiến trúc phong cảnh; đây là thế mạnh tuyệt đối của Huế so với các đô thị khác của nước

ta Vì vậy cần dành ưu tiên cho lợi thế cạnh tranh này trong phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh nhà

Bảo tồn di sản văn hóa là một lĩnh vực rất đặc thù, bởi vì di sản văn hóa là tài sản vô cùng quý giá, nhưng không thể tái sinh, không thể thay thế và dễ bị tổn thương Bởi vậy, rất cần sự sẻ chia, chung tay, chung sức, cộng tác của các tổ chức có liên quan, các nhà nghiên cứu trên những chuyên ngành khác nhau và của cả cộng đồng

Nhiều thập kỷ đã qua là một chặng đường dài, nhiều thành tựu nhưng cũng còn bề bộn nhiều công việc cần phải làm Tính khoa học, tính chuyên nghiệp, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và hiệu quả hơn nữa trong hoạt động bảo tồn và phát huy di tích là đòi hỏi của chặng đường tới đối với Trung tâm Bảo tồn Di tích c ố đô Huế

Công cuộc Bảo tồn Di sản Thế giói ở Thừa Thiên Huế

L.T.T

Trang 22

Hành trình đcn với Di sản Văn hóa Thê giới

GIA TRỊ CUA NHẠC CUNG ĐINĨI HUẺ

Trần Văn Khe

Nhạc Cung đình là một bộ môn nhạc truyền thống Việt Nam dùng trong Cung đình Nhưng người sáng tạo và biểu diễn Nhạc cung đình hầu hết là những nhạc sĩ, nghệ sĩ từ trong dân gian, có tay nghề cao, được sung vào Cung để phụng sự cho Triều đình Nhạc cung đình Huế là một

bộ môn âm nhạc truyền thống Việt Nam rất đặc biệt và có một giá trị lịch

sử, nghệ thuật rất cao

Trong cả ba miền nước Việt Nam, chúng ta đều có những loại nhạc trong dân gian, dính liền với đời sống con người từ lúc sơ sanh đến lúc trờ về với các bụi như những điệu Hát ru, Đồng dao, Hò, Lý đối ca nam

nữ, Hò đưa linh; ca nhạc loại thính phòng như Ca trù miền Bắc, Ca Huế miền Trung, Ca tài tử miền Nam; ca nhạc sân khấu như Hát chèo, Hát tuồng, Hát cải lương, Hát bài chòi

Âm nhạc tôn giáo như các lối tán tụng trong Phật giáo, các điệu Chầu văn, Hầu văn, Roi bóng

Nhưng Nhạc cung đình chỉ có miền Trung, và đặc biệt tại Huế mới còn có di tích của một bộ môn âm nhạc rất độc đáo, tinh vi mà chúng ta đên ngày nay chưa nhận thấy được hết cái giá trị của bộ môn đó

Đặc biệt vì chẳng có bộ môn âm nhạc nào được ghi vào sử sách Việt Nam từ xưa đến giờ, trải qua bao nhiêu thăng trầm của các triều đại, biến cố trong đất nước, vẫn còn lưu lại được một di sản đáng kể, có thể dùng làm những bài học cho chúng ta về nhiều mặt nhạc khí đa dạng, sắp xêp dàn nhạc tinh vi, nhạc ngữ độc đáo, bài bản phong phú và quan điểm thẩm mỹ rất sâu sắc

* Giáo sư

Trang 23

Đặc biệt vì không có bộ môn nào bao gồm tất cả các bộ môn khác

từ nhạc lễ có thể dùng vào các cuộc tế lễ nhỏ to, thính phòng, sân khấu,

kể cả các vũ điệu, mồi bộ môn đều có những nghệ sĩ thượng thặng để sáng tạo và biểu diễn

Đặc biệt vì không có bộ môn âm nhạc nào có nhiều loại nhạc khác nhau như Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Đại yến nhạc, Cung trung chi nhạc và Cứu nhựt nguyệt giao trùng nhạc

Đặc biệt vì không có bộ môn nào huy động nhiều diễn viên, nhiều nhạc khí, cần nhiều xiêm y như Nhạc cung đình

Trong bài tham luận hôm nay, chúng tôi chỉ đặt trọng tâm vào hai điểm: giá trị lịch sử và giá trị nghệ thuật

Muốn hiểu biết Âm nhạc cung đình Huế từ nhà Nguyễn (1802-1945)

đến nay, chúng ta có bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ quyển thứ 99,

bản chữ Hán, quyển thứ 7, bản âm ra chữ Quốc ngữ Tất cả các bạn già trẻ

đã đi vào con đường nghiên cứu nhạc Cung đình Huế đều biết

Ngoài ra còn có những chi tiết về Nhạc cung đình Huế trong Minh Mạng chỉnh yếu (chữ Hán)

Khâm định Đại Thanh hội điển sự lệ, quyển 538, tờ 3b, trong đó co

ghi rành rẽ chi tiết của dàn nhạc mang tên là An Nam quốc nhạc, từ lúc vua Quang Trung gởi một phái đoàn hữu nghị sang Trung quốc dưới thời vua Càn Long, và lúc đó dưới triều nhà Thanh, có một dàn nhạc cung đình mà sử gia nhà Thanh đã cho tên "An Nam quốc nhạc" Chúng tôi nghĩ như thế vì vua Càn Long phong cho vua Quang Trung tước An Nam quốc vương, do đó mới có danh từ An Nam quốc nhạc ghi trong bộ sách

Khâm định Đại Thanh hội điển sự lệ xuất bản năm 1908 (Thư viện Hội

châu Á - Société asiatique)

Trong đoạn về dàn nhạc Cung đình Việt Nam vào cuối thế kỷ thư XVIII, người viết sử ghi tên nhạc khí bàng chữ Nôm:

1 cái cổ (trống đan diện cổ, một mặt, trống bảng)

1 cái phách (sinh tiền)

Công cuộc Bảo tồn Di sản Thể giói Thừa Thiên Huế

Trang 24

Hành trình đến với Di sản Văn lióa Thế giới

2 cái sáo (cũng như ngày nay)

1 đàn huyền từ (tức tam huyền tử, đàn tam)

1 đàn hồ cầm (đàn nhị)

1 cái đàn song vận (nguyệt cầm)

1 cái đàn tỳ bà (tỳ bà)

1 cái tam âm la (tam âm la)

Có đoạn ghi về các vũ sinh mặc áo rộng thêu rồng, thắt lưng màu xanh, đầu bịt khăn, tay cầm quạt xanh

Nhạc công mặc áo màu vàng, thắt lưng màu xanh dương, và đầu bịt khăn như vũ sinh

Chúng ta thấy rằng, ngày nay số nhạc khí của dàn Nhã nhạc hay Tiểu nhạc cũng không có gì thay đổi

Năm 1802, dàn nhạc đổi tên là Việt Nam quốc nhạc vì vua Gia Long lên ngôi năm 1802 và đặt tên nước là Việt Nam Theo ông Maurice Courant từ năm 1803, dàn nhạc Việt Nam quốc nhạc không còn có mặt trong 9 loại nhạc nước ngoài tại triều nhà Thanh nữa

Trong Tạp chí N hũng người hạn c ố đô Huế (Bulletin des Amis du

Vieux Huế) hai ông Orlaikl và Cadière đă nghiên cứu về lễ Tế Nam Giao

đã cho chúng ta biết rằng từ năm 1848 đến 1915, năm hai ông đăng bài

Le sacrifice de Nam Giao (Te Nam Giao) trong Tạp chí Những người bạn Cố đô Huế tháng tư và tháng sáu dương lịch (Avril-Juin), Tế Nam

Giao không có gì thay đổi Năm 1936, ông Louis Cadière trong bài về Te

Nam Giao lại xác nhận một lần nữa rằng không có chi thay đổi cả (Le rituel du sacrifice de Nam Giao - BAVH 1936).

Công trình nghiên cứu về nhạc múa cung đình vẫn tiếp tục

Ngoài quyển Những đại lễ và vũ khúc vua chúa Việt Nam của hai

tác giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề, dầy 563 trang, do Nhà Hoa lư xuất bản tại Sài Gòn năm 1967, còn có sách của em Trần Kiều Lại Thủy, những công trình nghiên cứu của anh Hoa, của anh Thái công Nguyên và các anh chị em trong Trung tâm Bảo tồn Di tích c ố đô Huế

Trang 25

Nếu không đề cập đến Nhạc cung đinh Huế, mà đi ngược dòng lịch

sử, thì ngoài các tư liệu lịch sử, còn có tư liệu khảo cổ giúp cho chúng ta thấy qua tính cổ đại của Nhạc cung đình

v ề sử sách có lẽ lần đầu tiên chúng ta có chi tiết về một dàn Nhạc

cung đình từ đời nhà Trần, dàn Đại nhạc, ghi trong An Nam chỉ lược của

Lê Tắc trong đó có kèn tất lật (gốc từ Trung quốc), trống "phạn cổ" là trống cơm mà tác giả có ghi "bổn vi Chiêm thành dã"; đi xa hơn nữa có thể

đi đến trống Mridangam của Án độ miền Nam tiểu quản, tiểu bạt, đại cấu

Nhưng trước đời nhà Trần, dưới đời nhà Lý, trên mấv tảng đá dưới chân cột chùa Vạn Phúc, Phật Tích tỉnh Bắc Ninh có chạm 10 nhạc công đang dùng nhiều nhạc khí gốc Trung quốc và Án độ như đàn Tranh, đàn

Hồ, đàn Tỳ bà, đàn 3 dây có thùng tròn như đàn Nguyệt, có sáo ngang, ống tiêu hay ống quản, có ổng Sanh, có Phách và trống Phong yêu cổ Phải chăng đó là những nhạc khí có thể dùng trong cung đình, và trong các chùa khi có đại lễ? Đó là một nghi vấn, một giả thuyết mà chúng ta cần xem xét lại

Rồi đến đời nhà Lê có thêm nhiều bộ sử ghi lại sự kiện năm Thiệu Bình thứ tư (1437) dưới thời vua Lê Thái Tông (1434-1442), Nguyễn Trãi đã từ chối nhiệm vụ vua giao cho đế cùng với Lương Đăng, định

Nhã nhạc cho triều đình Lương Đăng muốn sắp đặt các dàn nhạc Đường thượng chi nhạc và giống như dàn nhạc Triều hạ yến hưởng chi nhạc của nhà Minh, và Đường hạ chi nhạc giống như các dàn nhạc Đơn bệ đại nhạc, và Giáo phư òng ty nữ nhạc của nhà Minh; Nguyễn Trãi dâng biêu

cho nhà vua đế từ chối nhiệm vụ vua giao phó Bức thư của Nguyễn Trãi

là một bài rất sâu sắc về mặt nội dung của nhạc, thái độ của một người

nhạc sĩ chân chánh Bức thư đó có được ghi lại trong Đ ại Việt sử kỷ toàn thư và ử c Trai di tập.

Ngoài ra còn nhũng quyển sử khác có ghi đôi nét về nhạc lễ cung

đình qua các thời đại như Quốc triều thông lễ (dưới triều vua Trần Thái Tông), Trần triều đại diễn (dưới triều vua Trần Dụ Tông), Lê triều hội điên, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Vũ trung tùy búi

của Phạm Đình Hổ

Đi từ cụ thể tới trừu tượng, so với các bộ môn khác, Nhạc cung đình có một giá trị nghệ thuật rất cao

Công cuộc Bảo tồn Di sản Thế giói ỏ'Thừa Thicn Huế

Trang 26

1 Tài nărm của Nhạc sĩ nhạc công rất cao.

Đó cũng là lẽ tất nhiên, vì triều đình có đủ khả năng chánh trị và tài chánh để qui tụ lại những nhạc sĩ, nhạc công có tài từ khắp nơi trong đất nước, tạo điều kiện thuận tiện cho các nghệ sĩ ấy có nhiều thì giờ và phương tiện để luyện tập kỹ thuật, trau dồi nghệ thuật, để thành những nghệ sĩ chuyên nghiệp, sáng tác dồi dào, biểu diễn tinh vi

2 Nhạc khí xinh đẹp nhờ được đóng ráp kỹ, chạm cẩn khéo, hơn nhạc khí dùng trong dân gian

3 Các nhạc khí được dùng trong Nhạc cung đình lại có đầy đủ màu âm: tiếng kim, tiếng thổ, tiếng trong, tiếng đục, tiếng trầm, tiếng bổng, tiếng tơ, tiếng trúc, tiếng da, tiếng đá (Khánh), tiếng đồng về độ cao có tiếng trầm của dây đài đàn Tỳ bà, tiếng cao vút vi vu của tiếng sáo

4 Các dàn nhạc cũng đa dạng, và qui mô hơn các dàn nhạc khác.Hiện nay có hai dàn nhạc Đại nhạc gồm kèn, trống và bộ gõ Có thể có đàn nhị

Kèn cũng có nhiều loại: kèn đại, kèn trung, kèn tiểu Không phải loại kèn đồng, như Suona của Trung quốc mà ta gọi là "kèn song hỷ" Kèn dùng trong Nhạc cung đình là loại kèn bầu, bát kèn làm bàng gỗ

Trống có đủ loại: từ trống lớn nhứt đại cổ, qua các trống tiểu cồ, một cặp trống Võ (tiếng cao tiếng thấp, có âm có dương), trống một mặt, có bồng, có trống cơm

Bộ gõ bằng gỗ có Mõ, có Phách tiền; bằng kim khí có Chuông to Chuông nhỏ, Đại la, Tiểu la, Chập chõa

Tiểu nhạc hay Nhã nhạc gồm những nhạc khí dùng dây tơ, sáo trúc

(vì vậy có khi dàn nhạc được gọi là Ti Trúc tế nhạc) Dây tơ có loại dây

khảy đàn Nguyệt hai dây, đàn Tam ba dây, đàn Tỳ bà bốn dây Có đàn dùng cung đế kéo như đàn Nhị Có cả bộ gõ tuy chỉ gồm ba nhạc khí mà

có trống bịt da một mặt, có tam âm la bằng kim khí, có sinh tiền, quán tiền phách, một nhạc khí vô vùng độc đáo, một nhạc cụ mà có ba chức năng: gõ, cọ quẹt và rung (theo sắp loại nên phương Tây thì Sinh tiền vừa thuộc loại gõ (cliquettes, râcleur, và sistre, tức là idiophone par entrechoc, idiophone par râclage, idiophone par secouement)

Hành trình đên với Di sản Văn hóa Thê giới

Trang 27

Ngày nay các nhạc khí không nhiều như ngày xưa Dàn c ổ xúy Đại nhạc trước kia gồm có 20 cổ trống.

8 Minh ca, kèn thổi bằng lá

4 Câu giốc (sừng trâu)

4 Sa la (loại thanh la lớn)

4 Tiểu sa (thanh la nhỏ)

3 Hải loa (con ốc to)

Tất cả gần 50 nhạc công

Trong những buổi Tế Giao, còn có Ty cổ, Ty chung, Ty khánh

5 Như vậy, các dàn nhạc chắng những đa dạng và qui mô, còn rất đặc biệt trong sự phối hợp màu âm, không quan tâm đến số lượng mà chú trọng đến chất lượng Khi hòa hợp không nhạc khí nào có thể át các nhạc khí khác, mà mỗi nhạc khí đều được nghe rõ ràng

Trong dàn Nhã nhạc ta có thể nghe tiếng chững chạc trang nghiêm của đàn Nguyệt; tiếng chuyền tiếng rơi vào nhịp ngoại, tiếng chầy, tiếng

"phi" bay bướm của Tỳ bà; tiếng trong nhờ nhạc công đàn Nhị dùng tay mặt kéo cung, tay trái vuốt ve "nên lời dịu ngọt"; tiếng đục của đàn Tam đem tiếng thổ chen vào tiếng kim của Tam âm la; với tiếng nỉ non

vi vút "như tiếng hạc bay qua" của hai ống sáo Tất cả nhạc khí ấy cùng theo nhịp do tiếng trống bảng dìu dắt, tiếng trống khi khoan khi nhặt, khi đánh nhịp chánh diện khi vào nội phách khi ra ngoại phách, toàn bộ dàn Nhã nhạc, liên tục trong 10 bài Ngự, từ nhịp điệu khoan thai của mấy bản Phẩm Tuyết, Nguyên Tiêu lúc mở đầu, lần lần dồn dập qua các bài Hồ Quảng, Liên Hoàn, Bình Bán, Tây Mai, Kim Tiền, rộn rã từ Xuân Phong, Long Hổ đi dến náo nhiệt qua cấp điệu như tiếng vó ngựa trong bài Tẩu Mã

6 Thang âm điệu thức đa dạng, tiết tấu phong phú, bài bản dồi dào.Ngoài hai loại thang âm của hai điệu thức chánh trong nhạc thính phòng điệu Bắc (cũng gọi là điệu Khách), điệu N am ; chúng ta còn được nghe chuyển hệ chuyển Hò trong khi Nhạc đi từ Bông qua

Mã Vũ đến Mang

Công cuộc Bảo tồn Di sản Thế giói ở Thừa Thiên Huế

Trang 28

Hành trình đến với Di sản Văn hóa Thế giói

Riêng tiếng kèn trong bản Tam luân cửu chuyển, đã chuyển Hò lên

lần lần theo chín bực là một thí dụ rất độc đáo, không tìm thấy trong bộ môn âm nhạc nào của Nhạc truyền thống Việt Nam

Trong kuôn khổ bài nầy, chúng tôi không đi sâu vào việc phân tíchcác bài bản để chứng minh những thang âm điệu thức hay tiết tấu qua các bài bán trong Đại nhạc hay Tiểu nhạc Có dịp khác, chúng tôi sẽ trờ lại vấn đề nầy

Các bài trống trong các bản Tam luân cửii chuyển, Bông, Mã vũ, Mang, Du xuân, hay các điệu trống đánh theo "chân phương" hay "hoa

lá" khi trông phụ họa theo tiếng kèn độc tấu luôn luôn làm cho người nghe say mê

Ngoài những bài bản còn được thường dùng, còn có những bài ngày xưa dùng trong các lễ Te Giao, trong các lễ ở Thái Miếu, Thế Miếu, Văn Miếu, trong những buổi Đại triều, các lễ Vạn thọ mừng ngày sanh của vua, các buổi vua thiết Đại yến, lễ phong Nguyên soái, hay những buổi chiêu đãi Sử thần nước ngoài

Còn những bài thuộc loại Cừu tấu ngoài âm nhạc còn có lời ca

được ghi đầy đủ trong quvển Đại Nam hội điển sự lệ, như trong miếu

Triệu Tổ (miếu thờ Nguyễn Kim), tên các bài ca phải có chữ Hòa

Hàm Hòa trong lúc nghinh thần

Gia Hòa trong ỉủc hiên lụa

Tương Hòa trong lúc Sơ hiến: dâng rượu lần đầu

D ự Hòa trong lúc Á hiến: dâng rượu lần thứ nhì

Ninh Hòa trong lúc Chung hiến: dcmg rượu lần sau cùng

M ỹ Hòa trong lúc dăng trà

Túc Hòa trong lúc dọn các lễ vật

An Hòa lúc tiễn thần

Ưng H òa trong lúc đem đuốc đi, sau khi đốt sớ.

Trong Văn Miếu thờ Đức Khổng Từ, tên những bài hát phải có chữ

Văn\ trong loại Yen nhạc, tên bài hát phải có chữ Thành dười triều Gia

Trang 29

Long, chữ Khánh dưới triều Minh Mạng thứ 18, chữ Phúc dưới triều

Minh M ạng thứ 21

7 Nhạc Cung đình gồm tất cả các loại nhạc khác

a) Lễ nhạc: Lễ lớn nhỏ trong Đại Nội, trên đàn Nam Giao, trong các M iếu, trong các Chùa đều có dùng Nhạc cung đình Một số bài bản trong các dàn nhạc lễ Bát âm ngoài Bắc, Ngũ âm trong Nam đều từ Nhạc cung đình mà ra

Các điệu nhạc Ba hồi chín chập trong Nhạc lễ miền Nam cũng bắt

nguồn từ Tam luân cửu chuyển.

Các bài Đánh thét do lối Thiết nhạc

Những bài Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Lung đăng, Lung ngâm, Tiểu khúc trong nhạc lễ miền Nam cũng từ các bản nhạc dùng trong Tiểu

nhạc của Nhạc cung đình Huế, thay đổi theo thẩm mỹ miền Nam

b) Nhạc thính phòng: 10 bài ngự Thập thủ liên hoàn, các bản Lint thủy Kim tiền trong nhạc thính phòng cũng từ Nhạc cung đình mà có.

Dàn nhạc thính phòng, nhiều lắm gồm có 6 nhạc khí, Ngũ tuyệt, Tranh, Nguyệt, Nhị, Tỳ, Tam hoặc Tranh, Nguyệt, Nhị, Tý, Độc huyền, thêm ống sáo Nhã nhạc cũng loại thính phòng, nhưng nhiều nhạc khí lại

có được ba nhạc khí thuộc bộ gõ, đầy đủ và phong phú hơn

c) Nhạc Tuồng trong Nhạc cung đình phong phú hơn nhạc Tuồng

từ Bình Định, hay Quảng Nam, vì tại Huế tập trung những nhà viết Tuồng có tên tuổi, các đào hay kép giỏi từ các nơi

d) Các điệu múa cung đình có nhiều cá tính rất độc đáo

N hư điệu múa Lân mẫu xuất lân nhi, tuy là múa lân, nhưng không

phải loại lân diễu võ dương oai, đạp pháo, leo cột để đớp tiền, mà trong điệu m úa lân của Việt Nam có tinh phu thê đầm ấm, tình mẫu tử nồng nàn

N hư điệu múa Lục cúng hoa đăng, phối hợp ánh đèn lung linh với

điệu đi uyển chuyển, đội hình thay đổi tìmg chập, và không có điệu múa nào trên thế giới mà vũ sinh vừa múa theo tiếng nhạc, lại chuyển đội hình

từ bề dọc đến bề cao, vũ sinh chồng chất đến 4, 5 từng Các chuyên gia Nhựt Bổn, khi ghi hình điệu múa Hoa đăng cho Đài NHK khéo để ánh

Công cuộc Bào tồn Di sản Thế giói ở Thừa Thiên Huế

Trang 30

ĩỉànli trình đến với Di sản Văn hóa Thế giới

sáng vừa đủ để thấy mặt mày, xiêm y của diễn viên, mà thấy cả ánh đèn, khi ẩn, khi hiện rất nghệ thuật

Rồi đến các điệu múa Tứ linh, Long hổ, Phụng vũ, Phiến vũ, Múa kiếm Trưng Vương xuất trận, có văn, có võ, có dịu dàng, có oai nghiêm

Ngày xưa còn các điệu múa Văn, múa Võ phỏng theo Văn Vũ, Võ Vũ có bên Trung quốc, chúng ta đem dùng trong các lễ Tế Giao, Tế Miếu Còn những điệu chỉ còn thấy trong sách sử như:

Múa Liệt vũ khi Thái hậu lên ngôi

Múa Thanh hoa chi, Hồng hoa chi, Huỳnh hoa chi, khi tặng lễ vật Múa Tiên đào quả vũ, khi Thái Hậu về cung.

Chỉ nhìn qua bề mặt, chưa đi vào bề sâu, mà giá trị Nhạc cung đình

đã hiển nhiên Chỉ đi chưa hết chiều dài của thời gian lịch sử, chưa đi rộng trong không gian để đối chiếu Nhạc cung đình của chúng ta với Ya yue Trung quốc, Gagaku của Nhựt Bổn, Ah Ak, Tang Ak, Hyang Ak của Triều Tiên, mà ta cũng đã thấy lòng tràn đầy niềm hãnh diện về văn hóa nước nhà

Đã nhìn xem Nhạc cung đình trong hiện tại, đã tìm hiểu Nhạc cung đinh qua lịch sử, đã đến lúc ta hướng tầm nhìn về tương lai để định việc chúng ta phải làm gì, chẳng những bảo tồn di sản nghệ thuật mà cha ông chúng tạ đã truyền lại cho chúng ta từ đời trước đến đời nay, mà còn phải bồi đắp thêm di sản đó bằng những sáng tạo mang dấu ấn của thời đại mà không mất bản sắc dân tộc Việt Nam, để làm tròn nhiệm vụ cùa chúng ta

đã thừa hường gia tài của ngàn xưa thì cũng phải xây dựng một chút gì đế truyền lại ngàn sau

T.V.K

Trang 31

Công cuộc Bảo tồn Di sản Thế giói ỏ’ Thừa Thiên Huế

và tồn tại của Nhã nhạc

Nhã nhạc sinh ra ờ Trung Quốc: (phát âm tiếng Trung Hoa Yă Yueh) Theo các tài liệu khảo cổ, trong triều đình phong kiến đầu tiên của Trung Quốc là nhà Thương (khoảng 1176 - 1154 TCN) đã có âm nhạc, đặc biệt bộ chuông đồng và bộ khánh đá Nhimg đó chưa phải là Nhã nhạc mà chỉ là âm nhạc dùng trong cung đình

Sang đời nhà Chu (khoảng 1122 - 771 TCN), vào năm 1058 TCN thành lập Bộ Lễ nhạc với mục đích cai trị, “giáo hóa” nhân dân và điển chế hóa âm nhạc cung đình Từ đó hệ thống lễ nhạc Chu trở thành khuôn mẫu lễ nhạc cung đinh Trung Hoa và gọi là Nhã nhạc nhằm phân biệt với Tục nhạc cùa nhân dân

N hã nhạc Trung Hoa cũng phải trải qua những thăng trầm, biến đổi Đời Tần Thủy Hoàng đốt sách nên Nhã nhạc thất truyền Sang đời Hán, N hã nhạc được làm mới Hậu Hán lại mai một, mãi đến đời Tùy (581 - 618 SCN) và đặc biệt là đời Đường (618 - 907) được khôi phục và phát triển Từ đây trở về trước thì Nhã nhạc đồng nghĩa với âm nhạc cung đình Nhưng từ đời Đường, trong cung còn có các loại nhạc khác, đặc biệt là Yen nhạc (nhạc tấu khi vua yến tiệc) thì N hã nhạc là loại nhạc thiêng liêng chỉ được dùng trong nghi lễ, nên còn gọi là Lễ nhạc cung đình N hư vậy, từ đời Đường, âm nhạc cung đình bao gồm nhiều thể loại khác nhau, trong đó N hã nhạc chỉ là một bộ phận quan trọng dùng trong

* Đ ầu đề của BBT

Giáo sư, Tiến sĩ K hoa học

Trang 32

các nghi lễ Và nó không còn đồng nghĩa với âm nhạc cung đình nữa Trong các triều đại sau như Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Nhã nhạc tuy

có thay đổi theo từng triều đại, nhất là các triều đại không phải do tộc Hán nắm, nhưng chức năng lễ nhạc cung đình thì vẫn không đổi, dù cho trong âm nhạc cung đình của các triều đại này đã có thêm nhiều thể loại khác như “Ty nhạc'’ (dàn nhạc gồm toàn nhạc cụ dây se bàng tơ), hay

“ Cổ súy nhạc” (nhạc diễu hành, duyệt binh) Chính vì tình trạng này mà

ở nước ta cũng có những cách hiểu khác nhau về Nhã nhạc, đặc biệt trong các sách cùa những tác giả không chuyên sâu về âm nhạc

2 N hã nhạc ở Việt Num

Ảm nhạc cung đình đã xuất hiện ngay từ thời tiền Lê nếu không kể đến âm nhạc nhà binh (Đinh Tiên Hoàng phong chức Ưu bà cho bà Phạm Thị Trân để bà dạy Chèo cho quân đội Còn Lê Hoàn thì duyệt binh trong tiếng trống đồng (Nguồn: Ngô Sỹ Liên Đại Việt sử ký toàn thư Nxb

KHXH Hà Nội 1993) Sử ta phê phán Lê Ngọa Triều ràng: "Ông ta suốt ngày chí mãi ăn uống, nghe ảm nhạc và xem múa hát mà không chăm lo công việc triều đình

- Ảm nhạc cung đình đời Lý: bao gồm trình diễn của các đội múa

hát và đặc biệt sử dụng âm nhạc Chămpa:

+ Lý Thái Tông (1028 - 1054) đã đánh thắng Chămpa “bắt các cung nữ giúi nghê ca múa khúc Tày thiên dem vẻ

+ Lý Thánh Tông (1054 - 1072) “lự phiên nhạc khúc rồi sai nhạc công ca hát

+ Lý Cao Tông (1176 - 1210) “sai nhạc công đặt ra khúc nhạc gọi là Chiêm thành ăm Khúc nhạc này giọng điệu sầu oán đau thương, ai nghe cũng phải khóc ” (Nguồn: Việt sử lược, khuyết danh, và Khâm đinh Việt sử thông giám cương mục, tư liệu Viện Âm nhạc Tập 1, trang 9 và 10).

Sử không nói gì đến Nhã nhạc đòi Lý cả

- Ầm nhạc cung đình đời Trần: sử liệu cho biết trong cung có hai

dàn nhạc là dàn Đại nhạc gồm hai kèn bầu, một nhón một nhỏ, một trống cơm, một đôi chũm chọe Dàn Tiểu nhạc gồm một đàn cò, ba kiểu đàn tranh 7, 15 dây, một Tỳ bà, một đàn Tam Ngoài ra còn kê khai tên năm bài ca (Nam thiên lạc, Ngọc lâu xuân, Đạp thanh du, Mộng du tiên, Canh

Hành trình đến với Di sản Văn hóa Thế giới

Trang 33

lậu trường) Nhà Trần vẫn dùng trổng đồng trong quân binh Sứ giả nhà Nguyên tên là Trần Cương Trung sang sứ nước ta vào thời Trần Nhân

Tông (1279 - 1293) đã phải “bạc cả tóc” khi nghe trống đồng Việt (Kim qua ảnh lý đan tâm khổ, Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh Dịch là:

Trong bóng giáo mác lòng đau thắt, Nghe tiếng trống đồng bạc trắng cả đầu) Sử cũng nói thêm là trong yến tiệc, vua quan nhà Trần còn cùng nhau “dang tay hát” và còn sai người “đội mo nang, cầm dùi đục làm hiệu lệnh” Như vậy, trong sinh hoạt âm nhạc của vua chúa đời Trần, chất

dân gian còn khá đậm (Nguồn: Ngô Sỹ Liên, Đại Việt sử kỷ toàn thư -

Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, Nxb Sử học Hà Nội 1962 - Trần Văn

Khê “La musique Vietnamienne Traditionnelle” Paris.1962)

Sừ không nói gì đến Nhã nhạc đời Trần cả

- Ấm nhạc cung đình đời nhà Hồ: Tuy tồn tại ngắn ngủi (1400 -

1414) nhưng chính nhà Hồ lại là triều đại đầu tiên xây dựng Nhã nhạc theo các chức năng và chuẩn mực của loại nhạc này Theo Ngô Sỹ Liên (Đại Việt sử ký toàn thư), năm Thiện Thành thứ hai đời Hồ Hán Thương

(1402), vua đã “đặt Nhã nhạc Lấy các con quan văn làm kinh vĩ lang, các quan võ làm chỉnh đốn lang, tập điệu múa văn-võ ” Đây là lần đầu

tiên tên gọi Nhã nhạc xuất hiện ờ Việt Nam Đáng tiếc là không có một tài liệu nào khác nữa để hiểu thêm Nhã nhạc nhà Hồ ra sao Tuy nhiên,

có thể thấy Nhã nhạc này đã tuân thủ cấu trúc chuẩn là có đi với múa văn

và múa võ, trong đó con quan văn xếp theo chiều dọc và chiều ngang (kinh vĩ lang), dường như muốn thể hiện phương vị của trời đất Còn con các quan võ thì điểm xuyết, bổ sung (chỉnh đốn lang) thể hiện tính nhu động của xã hội Đội hình “kinh vĩ lang” thi tĩnh Đội hình “chỉnh đốn lang” thì động, c ố nhiên đây chỉ là một suy đoán

- Ảm nhạc cung đình đời nhà Lê\ Nhã nhạc với tư cách một điển

chế của chế độ phong kiến thì phải đợi đến triều đại nhà Lê (1427 - 1788) mới hoàn chỉnh Năm 1437, Lê Thái Tông (1434 - 1442) giao

cho N guyễn Trãi và hoạn quan Lương Đ ăng“làm nhạc khí, dạy tập nhạc m ú a ” Nguyễn Trãi đã từ chối và tâu rằng “Hòa bình ỉà gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc Thần vâng chiếu soạn nhạc không dám không dốc hết tám sức Nhưng vì học thuật nông cạn, sợ rằng trong khoảng thanh luật khó được hài hòa" Do đó N hã nhạc cung

Công cuộc Bảo tồn Di sản Thế giói ỏ' Thừa Thiên Huế

Trang 34

Hành trình đến vói Di sản Văn hóa Thế giói

đình nhà Lê đều do Lương Đăng “phỏng (heo quy chế nhà M inh mà làm ".Theo Lương Đăng, trong Nhã nhạc có “Nhạc tế Giao, nhạc tế Miếu, nhạc tế Ngũ tự, nhạc cứu khi cỏ nhật thực, nguyệt thực, nhạc đại triều, nhạc thường triều, nhạc cửu tấu khi đại yên , nhạc tế lễ trong cung Theo điển chế N hã nhạc, Đăng thành lập hai dàn nhạc, một

là ĐnờnỈỊ thượng chi nhạc (dàn nhạc đánh trên thềm cung điện)

và Đ ường hạ chi nhạc (dàn nhạc đánh ờ dưới sân) (Nguồn: Ngô Sỹ Liên, Đ ại Việt s ử kỷ toàn thư) Theo Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) “K hoảng năm H ồng Đức (1470 - 1497) nhà Lê các quan đại thần là các ông Thân Nhân Trung, Đo Nhuận, Lương Thế Vinh mới

kê cứu âm nhạc Trung Hua, hiệp vào quốc âm ta, đặt ra hai bộ Đồng Văn và N hã n h ạ c ” Tuy nhiên, đến đời Lê Thế Tông (1573 - 1600) thì hai bộ này “chỉ còn dùng trong tế Giao và lễ triều hạ lớn Ngoài ra

còn có đội quân nhạc gọi là Bả lệnh (Nguồn: Phạm Đình Hổ: Vũ trung tùy bút, N xb Trẻ TP Hồ Chí Minh 1989).

- Ấm nhạc cung đình đời nhà Nguvễn (1802 - 1945):

Trong thời gian các thế kỷ XVI, XVII, XVIII đất nước ta trải qua nhiều biến động, các thế lực phong kiến tranh giành nhau Chúng ta không

có tài liệu gi về số phận của Nhã nhạc, kể cả của triều đại Tây Son

Dưới triều Nguyễn, trong cung đình vẫn còn tồn tại hai bộ (nay gọi

là thự) Dồng Văn và Nhã nhạc do viên quan “Dồng Văn - Nhã nhạc thự chánh” phụ trách Lại có “Giáo phường ty chảnh” Theo cách mô tả của tác giả Phan Huy Chú (1782 - 1840) trong bộ sách của ông Lịch triều hiến chương loại chí (Nxb KHXH Hà N ội.1992) thì từ “Giáo phường”

không mang ý “tục nhạc” mà là tên gọi của cơ quan phụ trách về âm nhạc cung đình mà có thể đoán rằng Đồng Văn và Nhã nhạc là những bộ phận của Ty Giáo phường này

Căn cứ tư liệu ở bộ sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (Nxb

Thuận Hóa Huế 1993) và sách của GSTS Trần Văn Khê (La Musique Sdd) thì trong đình triều Nguyễn có các dàn nhạc sau đây:

- Dàn Nhã nhạc

- Dàn Nhạc huyền

- Dàn Đại nhạc

Trang 35

Tuy nhiên, với tư cách là những tác phẩm âm nhạc và là một bộ phận của nền âm nhạc dân tộc, một số bài bản của Nhã nhạc nói riêng và của âm nhạc cung đình nói chung được phổ biến ra ngoài cung đình và không mang chức năng nghi lễ nữa.

Thứ nhất, các bài trong biểu mục của Tiểu nhạc (mà nhiều người cho là bộ phận quan trọng nhất của Nhã nhạc Nguyễn xưa) được hội nhập với dòng ca nhạc thính phòng Huế dưới dạng các bài nhạc đàn và một số được đặt lời vào thì trở thành bài ca

Thứ hai, vốn âm nhạc này lan tỏa vào Nam bộ và trở thành nền tảng để trên đó phát triển thành một dòng âm nhạc rất phát triển là “Đờn

ca Tài tử” và đến lượt mình, Đờn ca Tài tử lại là một trong những nguồn tạo thành thể loại kịch hát Cải lương

Ngày nay, Nhã nhạc cung đình Huế đã được khôi phục, được trình diễn, giới thiệu cho công chúng trong và ngoài nước và là một bộ phận hữu cơ của di sản văn hóa c ố đô Huế

Cho đến năm 2002, khi làm hồ sơ trình UNESCO thì vốn bài bản chính còn lại như sau: v ề hệ thống Tiểu nhạc (có ý kiến gọi là N hã nhạc)

có liên khúc Mười bài Ngự hay còn gọi là Thập thủ liên hoàn (vì khi trình diễn thì chơi liền một lèo cả 10 bài), trong đó có các bài Phẩm tuyết, Nguyên tiêu, Hồ quảng, Liên hoàn, Bình bản, Tây mai, Kim tiền, Xuân phong, Long hổ, Tẩu mã Ngoài ra còn có liên khúc Năm bài Ngự gồm các bài Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đãng, Long ngâm, Tiếu khúc

v ề hệ thống Đại nhạc có thể kể đến các bài Tam luân cửu chuyển, Bông,

Mã vũ, Mang, Phụng vũ, X àng xê, Tầu mũ (khác với Tẩu m ã của Tiểu nhạc), Kèn chiến, Cung Ai, Ngũ lôi, Đãng đàn đon, Đủng đàn kép, Phú lục, Du xuân, Nam bình trống và Nam Bang.

Công cuộc Bảo tôn Di sản Thê giói ở Thừa Thiên Huê

Trang 36

Hành trình đến với Di sản Văn hóa Thế giới

Chức năng khởi nguyên và quan trọng nhất của Nhã nhạc là lễ nhạc

và nhạc nghi thức (ceremonial and ritual music) thể hiện mối quan hệ rường mối giữa vương quyền của nhà vua với trời đất, thể hiện nhận thức của con người về vũ trụ, về thế giới Nó là loại “ngôn ngừ” con người dùng để thông qua, để đối thoại, để thương lượng với các lực lượng vô hình, siêu nhiên, tồn tại và tác động lên mọi mặt của cuộc sống con người Có một bài Đại nhạc mang tên “Tam luân cửu chuyểrTcó thể hiểu

là ta đánh ba hồi trống làm chuyển động tới chín tầng mây Suy đoán này

có thể được ủng hộ bằng dòng giai điệu âm nhạc do hai chiếc kèn bóp chuyển từ âm vực cao xuống dần Và có lẽ không phải ngẫu nhiên mà bài hát này được nhân dân dùng trong các lễ cúng đình khi làng mở hội xuân với cái tên nôm na là “ba hội chín chập”

Nhã nhạc thể hiện trong cấu trúc của mình tư duy lưỡng hợp âm dương hài hòa như: Phải có hai dàn nhạc như Đường thượng chi nhạc và Đường hạ chi nhạc (Trung Hoa và Việt Nam), Tunga và Hon’ga (Triều Tiên), về múa, phải có hai điệu tương phản tính cách của nhau như Múa Văn và Múa Võ (Trung Hoa), Múa Kinh vĩ lang và Chình đốn lang (Việt Nam), Munmu và Mumu (Triều Tiên), Múa bên Phải và Múa bên Trái (Nhật Bản)

Một cơ cấu các loại nhạc cụ cơ bản giống nhau ở cả bốn nước

như: Kèn bầu Việt, Pili Trung Hoa, Pỉri Triều Tiên và Hichiriki Nhật

Hoặc chiếc tù và sừng động vật hay chiếc hải loa, các loại đàn dây và đặc biệt là hai bộ Biên chung (gồm 16 cái chuông đồng) và Biên khánh (gồm

16 cái khánh đá)

Cả bốn nước đồng văn đều tuân thủ những nguyên tắc lớn của Nhã nhạc Trung Hoa như chức năng tế lễ và nghi thức, như cấu trúc lưỡng họp trong cấu tạo nhạc cụ và tiết mục Tuy nhiên, về âm nhạc và múa thì không nước nào giống nước nào Mỗi nước đều dùng những hệ ngôn ngữ

Trang 37

múa và âm nhạc theo truyền thống của mình để thể hiện nhũng nguyên lý chung nói trên Vì thế có thể nói rằng Nhã nhạc là một thực thể di sản văn hóa chung, thống nhất trong đa dạng của cả bốn nước.

“phương Tây hóa” Nhã nhạc, thì với những gì chúng ta đang có ngày hôm nay, tôi có thể tự tin để nhấn mạnh rằng ràng, việc bảo tồn Nhã nhạc hiện nay đang đi đúng hướng Nhã nhạc đã xuất hiện ngày càng nhiều hơn trong đời sống xã hội

Tất nhiên, việc N hã nhạc được biểu diễn nhiều cũng dễ dẫn đến nguy cơ ngưòi biểu diễn sẽ trở nên vô cảm, thiếu sức sáng tạo Đây là điều chúng ta cần đề phòng, nhưng sự xuất hiện thường xuyên của Nhã nhạc chứng tỏ vẫn còn có nhiều người muốn nghe nó c ầ n nhắc lại rằng, Nhã nhạc chỉ là một bộ phận của âm nhạc cung đình Việt Nam , là phần

âm nhạc chủ yếu sừ dụng trong tế lễ và nghi thức, chứ không phai đồng nghĩa với âm nhạc cung đình như nhiều người vẫn nhầm lẫn

Điều đáng nói là những gì chúng ta đang biết về Nhã nhạc mới chỉ

là một phần, tất nhiên Thực tế, hiện vẫn còn trống một số vấn đề hay khía cạnh của Nhã nhạc nói riêng, âm nhạc cung đình Việt Nam nói chung mà chúng ta còn có trách nhiệm phải thực hiện: Nhóm vấn đề thứ nhất là những vấn đề liên quan đến bối cảnh lịch sử xã hội của đối tượng nghiên cứu của chúng ta Cụ thể là: nên chọn một thời kỳ ổn định và thịnh trị nhất của các vua triều Nguyễn, có thể là đời trị vì của vua Minh Mạng (1820- 1840), có tham khảo các đời vua khác, làm cơ sờ và bối cành lịch sừ xã hội cho việc tìm hiểu, nghiên cứu

Trên cơ sờ đó, xác định xem trong cung đình có bao nhiêu thể loại

âm nhạc, mô tả về chức năng, biên chế, bài bàn Nếu có điều kiện thì tìm hiểu mối quan hệ của âm nhạc cung đình với âm nhạc dân gian, âm nhạc thính phòng của tầng lóp quý tộc cũng như sự lan tỏa và phát triển của các dòng nhạc mà nguồn cội của nó là âm nhạc cung đình và Nhã

Công cuộc Bảo tồn Di sản Thế giói ở Thừa Thicn Huế

Trang 38

Hành trình dân với Di sản Văn hóa Thê giói

nhạc như nhạc lễ, ca nhạc thính phòng Huế, đờn ca tài tử Nam Bộ Nhóm vấn đề thứ hai là những vấn đề về âm nhạc học, giúp chúng ta tìm hiểu đâu là những biểu hiện bản sắc dân tộc và đâu là những yếu tổ giao lưu, như nghiên cứu sâu về những nhạc cụ đã tham gia các dàn nhạc cung đình và Nhã nhạc, kế cả các nhạc cụ ngày nay không còn dùng nữa như đàn tranh 7 dây, tỳ bà 5 dây những vấn đề về nhịp điệu, đặc biệt như các khái niệm nhịp nội, nhịp ngoại, nhịp lơi, nhịp dồn

Sau những gì đã thu được, rất cần có những đề án tiếp theo để giúp chúng ta hiểu sâu hơn về Nhã nhạc Mà khi đã hiểu sâu hơn, nghĩa là đã biết được thêm về cái hay, cái đẹp của bộ môn nghệ thuật này, thì ý thức giữ gìn sẽ càng được nâng cao

Mồi loại hình di sản đều mang tính đặc thù cao, từ thành công bước đầu trong bảo tồn Nhã nhạc ờ Huế có thể rút ra nhiều ý nghĩa cho việc bảo tồn các di sản văn hóa, nhất là văn hóa phi vật thể Đặc biệt, di sản là thứ không được phép sửa sang vì giá trị của nó là giá trị lịch sử Giá trị

đó có thê được phát huy trong ngày hôm nay cùng với những gì ngày hôm nay sáng tạo ra làm nên một bước phát triển của văn hóa dân tộc, trong đó bao gồm những tinh hoa của cả xưa và nay, bởi vi, quy luật muôn đời của văn hóa là tiếp nối và bổ sung Tiếp đến, cần phải đối xử với di sản như nó là một thực thể sống, chứ không thể chỉ lo khai thác phục vụ du lịch Cả hai điều trên cần được xem là tiêu chuẩn “bất di bất dịch” trong việc đối xử với di sản

T.N.T

Trang 39

Công cuộc Bảo tồn Di sản Thế giói ở Thừa Thicn Huế

ứ n g xử cho đúnẹ được hiểu là việc bảo tồn, trùng tu và phát huy

giá trị xuất phát từ sự tương thích cùng với sự cẩn trọng, xứng tầm, với một di sản tinh tế

Hơn ba mươi năm nồ lực làm chủ và cứu vãn, hai mươi năm bảo tồn và trùng tu với sự công nhận và theo những đòi hỏi quốc tế, hôm nay, luận giải và ngắm nhìn cái cơ ngơi di sản Huế, chúng ta vẫn nên nhắc nhở mình, căn vặn mình, trăn trở triền miên: Nhìn nhận thế nào cho đủ và ứng xứ thế nào cho đúng, với di sản đồ sộ đến mức khó bề ôm trọn vào lòng, với di sản tinh tế đến mức dễ bề tan biến, dễ bề biến dạng này?

Bất cứ sự lơ đãng nào đó với câu hỏi tìm đường, câu hỏi thước đo này sẽ làm cho cái cơ ngơi - tài nguyên, cơ ngơi - Di sản Huế, suy xuyển

Khác biệt với di sản trung tâm Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội, với di sản đô thị cổ Hội An, vượt xa khái niệm “Quần thể kiến trúc cung đình nhà Nguyễn” được UNESCO công nhận với tư cách là một di sản của nhân loại, Huế, trước tiên là di sản c ố đô, lưu giữ được một cách thần kỳ và hiếm hoi hầu như tất cả những gì, là vật chất và không hẳn là phi vật chất cùng những gì là phi vật chất, tùy thuộc một cách bất ly thân với Kinh đô một thời Huế là một phức hợp trọn vẹn của sản phẩm cộng

* Giáo sư, Tiến sĩ, Kiến trúc sư

Trang 40

cư dưới hình thức một đô thị vừa mang tính chất Thần kinh vừa chứa đựng đặc tính Việt đậm đặc, kết họp trong mình nhuần nhị và chỉnh chu

cả nhân tố vật chất kiến trúc đô thị lẫn nhân tố cộng đồng dân cư thị thành Điều đặc biệt quan trọng, các phức họp cầu kỳ và tinh tế ấy vẫn tồn tại cộng sinh đan quyện cho đến nay Thêm nữa, Huế là đô thị di sản không phải là đô thị sở hữu những di sản Nó là đô thị di sản, hiện hữu trọn vẹn và bền dai, cấu thành bởi kiến trúc - con người - thiên nhiên nhân văn hóa Người viết không e nói quá, nếu nói rằng, Huế không chỉ

sở hữu một di sản bao la, Huế còn một kho tàng chứa đựng những tinh hoa của giống nòi

Vào cuối những năm 70 đầu những năm 80 thế kỷ trước, ai đó còn phân vân: Di sản Huế giữ đến đâu và thậm chí giữ làm gi cho lắm, thì nay, nhìn rộng và làm được nhiều, chúng ta vẫn cứ nên làm cái việc cao

cả hóa là đong đếm di sản Huế và kiên tâm tìm kiếm những cách ứng xử cho xứng

2Thử khái quát những việc chính trong công cuộc bảo tồn di sản Huế trong hơn ba mươi năm qua:

- Mở rộng tầm nhìn, tính toán bao quát hơn phạm vi và tính chất di sản, không chỉ giới hạn bời kiến trúc cung đình, mà trải rộng ra nhà rường, nhà vườn, Kim Long, Vĩ Dạ, Bao Vinh, Gia Hội, các thiết chế kiến trúc tín ngưỡng đến sự hiện hữu của văn hóa phi vật thể, đặc biệt văn hóa sinh sống và ứng xừ của cộng đồng dân cư Nhận thức còn trong sự vận động, cơ chế tác nghiệp và sự phân công còn chưa tương ứng, các định chế bảo đảm còn chưa rõ ràng, song phải ghi nhận đây là

sự chuyển biến tích cực, tuy có lẽ là chậm chân Nếu chủ trương tô đậm

và lấy truyền thống văn hóa làm một trong những động lực đi lên bằng con đường riêng, thì Huế chính là một trong những điểm tựa

- về phương diện bảo tồn, điều lớn hơn cả đã làm được là hầu như toàn bộ các di tích nằm trong danh mục kiến trúc cung đình triều Nguyễn

đã thoát khỏi nguy cơ mất mát và biến mất, điều nằm ngoài trí tưởng tượng của những người bất tay vào việc cuối những năm 70 đầu những

Hànli trình đên vói Di sản Vãn hóa Thê giới

Ngày đăng: 26/01/2021, 23:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w