1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của hiệu ứng đảo nhiệt đô thị do quá trình đô thị hóa đến sự thay đổi lượng mưa trên địa bàn thành phố hồ chí minh

116 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 4,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC BÁCH KHOA NGUYỄN THỊ THÚY OANH NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ THAY ĐỔI CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT VÀ HIỆU ỨNG ĐẢO NHIỆT ĐÔ THỊ DO ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN LƯỢNG MƯA HIỆU QUẢ TRÊN ĐỊA

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

NGUYỄN THỊ THÚY OANH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ THAY ĐỔI CƠ

CẤU SỬ DỤNG ĐẤT VÀ HIỆU ỨNG ĐẢO NHIỆT ĐÔ

THỊ DO ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN LƯỢNG MƯA HIỆU QUẢ

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Quản lý môi trường

Mã số: 608510

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP HỒ CHÍ MINH, tháng 3 năm 2015

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Bách Khoa –ĐHQG-HCM

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS LƯƠNG VĂN VIỆT

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)

Cán bộ chấm nhận xét 1:

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký) Cán bộ chấm nhận xét 2 :

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký) Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG Tp.HCM ngày tháng năm

Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm: (Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ) 1

2

3

4

5

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Trưởng Khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có) CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA…………

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: Nguyễn Thị Thúy Oanh MSHV: 12260672

Ngày, tháng, năm sinh: 28/04/1988 Nơi sinh: Kon Tum

Chuyên ngành: Quản lý môi trường Mã số: 608510

I TÊN ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ THAY ĐỔI CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT

VÀ HIỆU ỨNG ĐẢO NHIỆT ĐÔ THỊ DO ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN LƯỢNG MƯA HIỆU QUẢ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc gia tăng lượng mưa hiệu quả, phục vụ tính toán thiết kế mạng lưới tiêu thoát nước Thực hiện các nội dung nghiên cứu sau: Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất và hiệu ứng đảo nhiệt đô thị do quá trình đô thị hóa đến gia tăng cường độ mưa Xây dựng biểu đồ mưa thiết kế cho Thành phố Hồ Chí Minh Đánh giá cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn nghiên cứu Từ đó xây dựng biểu đồ mưa hiệu quả cho khu vực nghiên cứu

III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : 20/01/2014

IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 14/11/2014

V CÁN BỘ HƯỚNG DẪN : TS LƯƠNG VĂN VIỆT

Tp HCM, ngày tháng năm 2015

TRƯỞNG KHOA MÔI TRƯỜNG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Bách Khoa

đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận văn, tất cả Quý Thầy Cô khoa Môi trường của trường Đại học Bách Khoa, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích trong chương trình học Cao học làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Lương Văn Việt, Thầy đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn để tôi có thể hoàn thành tốt bài làm của mình

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Phân viên Khí tượng Thủy văn và Môi trường phía Nam đã nhiệt tình cung cấp tài liệu cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn

Sau cùng, tôi gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như làm luận văn

Thời gian thực hiện có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được những đóng góp ý kiến của Quý Thầy, Cô và các anh chị học viên để luận văn này được hoàn thiện hơn

Tp, Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2015

Học viên

Nguyễn Thị Thúy Oanh

Trang 5

TÓM TẮT

Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) có tốc độ đô thị hóa rất nhanh Đồng thời, khu vực nghiên cứu này có nguy cơ ngập lụt do triều cường, mưa lớn khá cao, hệ thống tiêu thoát nước còn hạn chế

Đề tài tập trung nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc gia tăng lượng mưa hiệu quả, phục vụ tính toán thiết kế mạng lưới tiêu thoát nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Đề tài đã chọn quận Gò Vấp làm điểm nghiên cứu (đại diện cho thành phố Hồ Chí Minh) về ảnh hưởng của quá trình phát triển đô thị làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất tác động đến lượng mưa hiệu quả

Nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp tính thấm của Cục thổ nhưỡng Hoa Kỳ (Soil Conservation Service – SCS) để tính toán độ sâu mưa hiệu quả Ngoài ra nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp viễn thám và hệ thống thông tin địa lý trong tính toán biến động cơ cấu sử dựng đất

Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra rằng: lượng mưa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh gia tăng khá rõ rệt Trong giai đoạn 1995– 2012, thời đoạn mưa 15 phút có mức tăng là 5,4 mm và sự gia tăng cường độ mưa trên khu vực TP HCM chủ yếu là do quá trình đô thị hóa Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa phát triển mạnh mẽ đã tạo ra sự thay đổi đáng kể cơ cấu sử dụng đất Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho phát triển đô thị đã làm giảm đáng kể tỷ lệ cây xanh và mặt nước, các lớp phủ bề mặt thay đổi theo xu hướng giảm diện tích lớp phủ đất trống có lớp phủ thực vật và gia tăng lớp phủ khu đất xây dựng đô thị Cụ thể như sau: đất trống có lớp phủ thực vật <75% có diện tích giảm đi rất lớn (26,37%) Thay thế cho việc suy giảm không gian lớp phủ này thì đó là sự gia tăng đáng kể diện tích lớp phủ khu đất xây dựng đô thị (32,18%)

Sự phát triển đô thị làm cho các bề mặt tự nhiên cũ được thay thế bằng các loại vật liệu xây dựng, đây là các loại vật liệu có khả năng hấp thụ nhiệt cao và không thấm nước đã làm tăng nhiệt độ bề mặt và lớp không khí sát mặt gây hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, hiệu ứng này thúc đẩy hoạt động đối lưu Ngoài ra, do sự phát triển các công trình xây dựng đã làm gia tăng độ gồ ghề của bề mặt, tạo điều kiện cho nhiễu động của trường gió và hội tụ gió trên khu vực đô thị Tại TP HCM, trong giai đoạn 1995 –

2012, ảnh hưởng của hiệu ứng đảo nhiệt đô thị do quá trình đô thị hóa đã làm gia tăng nhiệt độ bề mặt lên 0,018 oC/năm Việc không gian tăng lên phần đất xây dựng đô thị với hầu hết bề mặt vật liệu xây dựng đã làm cho bề mặt không thấm được khi mưa xuống, làm cho cường độ dòng chảy trở nên mạnh mẽ và gây nguy cơ ngập lụt trên một số địa điểm trên địa bàn khi xuất hiện những cơn mưa có cường độ lớn Việc gia tăng lượng mưa, cường độ đã gây nên tình trạng ngập lụt trên địa bàn TP HCM

Để cải thiện tình trạng ngập lụt trên địa bàn nghiên cứu cần có những giải pháp qui hoạch phát triển đô thị một cách hợp lý

Từ khóa: cơ cấu sửa dụng đất, lượng mưa hiệu quả, UHI

Trang 6

ABSTRACT

Ho Chi Minh City (HCMC) faces to rapid urbanization At the same time, this area

is at risk of flooding due to tides, high rainfall, and limited drainage systems

This thesis focuses on assessing the impact of urbanization to the increase of precipitation efficiency, in order to calculate the drainage network in Ho Chi Minh City The study area is Go Vap district (representing for Ho Chi Minh City) to study the impact of urbanization which alters the structure of land use impacting on precipitation efficiency

This study uses the method of Soil Conservation Service - SCS to calculate the effective rainfall depth In addition, the research also uses Remote Sensing and Geographic Information Systems in calculating the changes of land use structure The results show that rainfall in Ho Chi Minh City increased quite significantly From 1995 to 2012, periods of rain for 15 minutes had an increase of 5.4 mm An increase in precipitation intensity in HCMC is mainly due to the urbanization process Besides, the process of rapid urbanization has made the considerable changes in land use structure The purpose of land use for urban development has a significantly reduction in the proportion of trees and water, the surface changes towards falling in bare land with plants and rising in urban construction land Specifically as follows: bare land with plants <75% has a big reduction (26.37%) Instead of this trend, it is a significant rising in the urban construction land (32.18%)

The urban development makes the natural surface is replaced by construction, these materials absorb high temperature and impervious, which makes high temperature surface and air layer closed to the surface As the result, it causes urban heat island effect, making convection Also, the development of construction has increased the roughness of the surface, enabling the wind and the wind convergence in urban area

Between 1995 and 2012, in HCMC, the impact of urban heat island effect caused

by the process of urbanization has increased the surface temperature to 0.018 ° C /year The increase in construction land with concrete materials surface makes impermeable surfaces when raining It also makes the stronger flow intensity and the risk of urban flooding in some locations when high intense rainfall occurs The increase in rainfall intensity has caused flooding in the Ho Chi Minh City

To improve the flooding issue in study area, it should have some methods for reasonable urban development plans

Keywords: land use planning, effective rainfall, UHI

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của tôi, số liệu trong luận văn đƣợc điều tra trung thực, tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Nguyễn Thị Thúy Oanh

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa của đề tài 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

Chương 1: TỔNG QUAN 6

1.1 Khái quát tình hình đô thị hóa 6

1.1.0 Khái niệm về đô thị và đô thị hóa 6

1.1.1 Tình hình phát triển đô thị trên thế giới 7

1.1.2 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam 12

1.1.3 Tình hình đô thị hóa thành phố Hồ Chí Minh 14

1.2 Hiệu ứng đảo nhiệt đô thị 16

1.2.1 Khái niệm đảo nhiệt đô thị 16

1.2.2 Các ảnh hưởng của đảo nhiệt đô thị 17

1.3 Tổng quan quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh 18

1.3.1 Điều kiện tự nhiên: 18

1.3.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 21

1.3.3 Tình hình ngập lụt 24

1.4 Tổng quan về lượng mưa hiệu quả 26

1.4.1 Khái quát lượng mưa hiệu quả 26

1.4.2 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến lượng mưa hiệu quả 31

1.5 Tình hình nghiên cứu 31

1.5.1 Nghiên cứu về đảo nhiệt đô thị 32

1.5.2 Nghiên cứu về sử dụng ảnh viễn thám để đánh giá biến động sử dụng đất 34

1.6 Đề xuất định hướng nghiên cứu 36

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 Nội dung nghiên cứu 37

2.1.1 Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến gia tăng cường độ mưa 37

2.1.2 Xây dựng biểu đồ mưa thiết kế cho thành phố Hồ Chí Minh 38

2.1.3 Đánh giá biến động sử dụng đất quận Gò Vấp 39

2.1.4 Xây dựng biểu đồ mưa hiệu quả trên khu vực nghiên cứu 40

2.2 Phương pháp nghiên cứu 40

2.2.1 Phương pháp xác định xu thế nhiệt độ và cường độ mưa 40

Trang 9

2.2.3 Phương pháp xác định lượng mưa hiệu quả: 42

2.2.4 Phương pháp phân tích ảnh viễn thám trong đánh giá biến động sử dụng đất và xác định chỉ số CN 44

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 60

3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến gia tăng lượng mưa 60

3.1.1 Phân tích hiệu ứng đảo nhiệt đô thị HCM 60

3.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến gia tăng cường độ mưa 62

3.2 Kết quả xây dựng biểu đồ mưa thiết kế cho Tp HCM 65

3.2.1 Xây dựng biểu đồ mưa thiết kế cho Tp HCM 1995-2012 65

3.2.1 Xây dựng biểu đồ mưa thiết kế cho Tp HCM 2008-2025 66

3.3 Đánh giá biến động sử dụng đất quận gò vấp 68

3.3.1 Kết quả phân loại thực phủ 68

3.3.2 Đánh giá độ chính xác của kết quả phân loại 75

3.3.3 Đánh giá sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất từ 1995 - 2014 81

3.4 Kết quả xây dựng biểu đồ mưa hiệu quả 83

3.4.1 Giá trị CN và khả năng lưu giữ lớn nhất (S) vào các năm 83

3.4.2 Tính lượng tổn thất ban đầu (Ia), lượng tổn thất thấm liên tục (Fa), lượng mưa hiệu quả (Pe) 84

3.4.3 Đánh giá sự thay đổi của biểu đồ mưa hiệu quả 93

3.4.4 Đánh giá sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến lượng mưa hiệu quả của quận Gò Vấp 95

3.4.5 Đề xuất các giải pháp 95

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 98

Kết luận 98

Kiến nghị 99

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Mức độ đô thị hóa (%) tại một số vùng của thế giới: 1970-2000 13

Bảng 1.2 Mức độ đô thị hóa (%) ở các nước Đông Nam Á: 1970-2000 14

Bảng 1.3 Các điểm ngập địa bàn quận Gò Vấp 25

Bảng 2.1 Các trạm đo nhiệt độ phục vụ nghiên cứu 37

Bảng 2.2 Nhiệt độ trung bình tại trạm Tân Sơn Hòa từ 1995 - 2012 38

Bảng 2.3 Các trạm đo mưa phục vụ nghiên cứu 38

Bảng 2.4 Thông tin dữ liệu ảnh viễn thám Landsat đã thu thập 39

Bảng 2.5 Bảng thể hiện sai số của thao tác đăng kí tọa độ ảnh trong quá trình nắn chỉnh ảnh 46

Bảng 2.6 Giải đoán ảnh phục vụ trong nghiên cứu 52

Bảng 2.7 Bảng giá trị CN cho các giá trị của CN đối với tình hình sử dụng đất khác nhau như sau: 59

Bảng 3.1 Mức gia tăng nhiệt độ trung bình năm tại 6 trạm giai đoạn 1995 - 2012 61

Bảng 3.2 Mức độ biến đổi nhiệt độ giai đoạn 1995 - 2012 61

Bảng 3.3 Xu thế lượng mưa ngày, giai đoạn 1995-2012 (mm) 63

Bảng 3.4 Cường độ mưa lớn nhất theo thời đoạn trạm Tân Sơn Hòa, giai đoạn 1995-2012 64

Bảng 3.5.Kết quả xu thế gia tăng cường độ mưa giai đoạn 1995-2012 64

Bảng 3.6 Kết quả biểu đồ mưa thiết kế trạm Tân Sơn Hòa giai đoạn 1995 – 2012 với chu kỳ lặp lại 5 năm 65

Bảng 3.7 Kết quả tính toán giá trị của đường biểu diễn cường độ mưa thiết kế giai đoạn 2008-2025 66

Bảng 3.8 Bảng diện tích các lớp thực phủ năm 1995 68

Bảng 3.9 Bảng diện tích các lớp thực phủ năm 2000 70

Bảng 3.10 Bảng diện tích các lớp thực phủ năm 2005 71

Bảng 3.11 Bảng diện tích các lớp thực phủ năm 2010 73

Bảng 3.12 Bảng diện tích các lớp thực phủ năm 2014 74

Bảng 3.13 Bảng ma trận sai số năm 1995 76

Bảng 3.14 Bảng ma trận sai số năm 2000 77

Bảng 3.15 Bảng ma trận sai số năm 2005 78

Bảng 3.16 Bảng ma trận sai số năm 2010 78

Bảng 3.17 Bảng phân loại sai số năm 2014 80

Bảng 3.18 Biến động cơ cấu sử dụng đất giai đoạn 1995 - 2014 82

Bảng 3.19 Bảng giá trị CN và khả năng lưu giữ lớn nhất (S) qua các mốc thời gian 84

Bảng 3.20 Bảng tính độ sâu mưa hiệu quả chu kì 5 năm đối với năm 1995 85

Bảng 3.21 Bảng độ sâu mưa hiệu quả chu kì 5 năm đối với năm 2000 86

Bảng 3.22 Bảng độ sâu mưa hiệu quả chu kì 5 năm đối với năm 2005 86

Bảng 3.23 Bảng độ sâu mưa hiệu quả chu kì 5 năm đối với năm 2010 87

Bảng 3.24 Bảng độ sâu mưa hiệu quả chu kì 5 năm đối với năm 2014 87

Bảng 3.25 Bảng độ sâu mưa hiệu quả theo chu kì lặp lại 10 năm của các năm 1995, 2000, 2005, 2010, 2014 89

Bảng 3.26 Bảng độ sâu mưa hiệu quả theo chu kì lặp lại 20 năm của các năm 1995, 2000, 2005, 2010, 2014 90

Bảng 3.27 Bảng độ sâu mưa hiệu quả theo chu kì lặp lại 50 năm của các năm 1995, 2000, 2005, 2010, 2014 91

Bảng 3.28 Bảng độ sâu mưa hiệu quả theo các chu kì lặp lại 5 năm, 10 năm, 20 năm,

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ

Hình 1.1 Tỷ lệ dân cư đô thị toàn quốc từ năm 1931 – 2009 12

Hình 1.2 Mô phỏng hiệu ứng đảo nhiệt đô thị 17

Hình 1.3 Bản đồ ranh giới hành chính quận Gò Vấp 19

Hình 1.4 Hình vẽ mô tả lượng mưa hiệu quả (Huf 1982, Genereux 1993) 27

Hình 1.5 Các biến số trong phương pháp tính thấm Green – Ampt 30

Hình 2.1 Sơ đồ phương pháp luận nghiên cứu 40

Hình 2.2 Biểu đồ mưa thiết kế 41

Hình 2.3 Quy trình tính lượng mưa hiệu quả 43

Hình 2.4 Các biến số của tổn thất dòng chảy trong phương pháp SCS 43

Hình 2.5 Quy trình thực hiện Phân tích ảnh viễn thám trong đánh giá biến động sử dụng đất 45

Hình 2.6 Ảnh trước khi nắn chỉnh 47

Hình 2.7 Ảnh sau khi tiến hành nắn chỉnh 47

Hình 2.8 Phương pháp tổ hợp màu trong viễn thám 49

Hình 2.9 Ảnh Landsat TM tổ hợp màu tự nhiên 4-3-2, ngày 02/02/1995 50

Hình 2.10 Ảnh Landsat TM tổ hợp màu hồng ngoại 5-4-3, ngày 02/02/1995 50

Hình 2.11 Kết quả cắt ảnh khu vực quận Gò Vấp 51

Hình 2.12 Mô tả sự phân loại theo phương pháp MLC 54

Hình 2.13 Ảnh tổ hợp màu trước khi phân loại 56

Hình 2.14 Ảnh sau khi phân loại theo phương pháp MLC 56

Hình 2.15 Ảnh Landsat TM trước khi tái phân loại 57

Hình 2.16 Ảnh Landsat TM sau khi tái phân loại 57

Hình 3.1 Xu thế biến đổi nhiệt độ trung bình năm ở TP HCM giai đoạn 1995 -2012 tại trạm khi tượng Tân Sơn Hòa 60

Hình 3.2 Xu thế lượng mưa ngày ứng với lượng mưa trên 10mm 63

Hình 3.3 Biểu đồ mưa thiết kế cho chu kỳ lặp lại 5 năm giai đoạn 1995-2012 66

Hình 3.4 Biểu đồ mưa thiết kế cho chu kỳ lặp lại 5 năm giai đoạn 2008-2025 67

Hình 3.5 So sánh lượng mưa hai giai đoạn với chu kỳ lặp lại 5 năm 67

Hình 3.6 Bản đồ lớp thực phủ quận Gò Vấp năm 1995 69

Hình 3.7 Bản đồ lớp thực phủ quận Gò Vấp năm 2000 71

Hình 3.8 Bản đồ lớp thực phủ quận Gò Vấp năm 2005 72

Hình 3.9 Bản đồ lớp thực phủ quận Gò Vấp năm 2010 74

Hình 3.10 Bản đồ lớp thực phủ quận Gò Vấp năm 2014 74

Hình 3.11 Sự biến động diện tích giữa khu đất xây dựng đô thị (đồ thị bên trái) và đất có lớp phủ thực vật < 75 % (đồ thị bên phải) 83

Hình 3.12 Biểu đồ so sánh độ sâu mưa hiệu quả chu kì lặp lại 5 năm giữa các năm 1995, 2000, 2005, 2010, 2014 88

Hình 3.13 Biểu đồ so sánh độ sâu mưa hiệu quả chu kì lặp lại 10 năm giữa các năm 1995, 2000, 2005, 2010, 2014 89

Hình 3.14 Biểu đồ so sánh độ sâu mưa hiệu quả chu kì lặp lại 20 năm giữa các năm 1995, 2000, 2005, 2010, 2014 91

Hình 3.15 Biểu đồ so sánh độ sâu mưa hiệu quả chu kì lặp lại 50 năm giữa các năm 1995, 2000, 2005, 2010, 2014 92

Trang 12

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐPGKG Độ phân giải không gian

GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

GIS Hệ thống thông tin địa lý

IDF Intensity – Duration – Frequency

UN Liên hiệp quốc (United Nations)

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là một thành phố có tốc độ phát triển kinh

tế và sự gia tăng dân số nhanh nhất cả nước Dự tính đến năm 2025 mật độ dân số thành phố khoảng 10 triệu người [20] Thành phố Hồ Chí Minh là vùng đô thị lớn nhất

ở Việt Nam hiện nay, đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ để hướng đến trở thành một trong những siêu đô thị của châu Á Thành phố Hồ Chí Minh đang mở rộng ra bên ngoài không chỉ về không gian, mà còn về quản lý đô thị và liên kết phát triển để hình thành vùng đô thị lớn của cả nước, cũng là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Quá trình đô thị hóa nơi đây đã phát triển mạnh mẽ tạo ra sự thay đổi đáng kể

cơ cấu sử dụng đất Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho phát triển đô thị đã làm giảm đáng kể tỷ lệ cây xanh và mặt nước, các lớp phủ bề mặt thay đổi theo xu hướng giảm diện tích lớp phủ đất trống có lớp phủ thực vật và gia tăng lớp phủ khu đất xây dựng đô thị Sự phát triển đô thị làm cho các bề mặt tự nhiên cũ được thay thế bằng các loại vật liệu xây dựng, đây là các loại vật liệu có khả năng hấp thụ nhiệt cao và không thấm nước đã làm tăng nhiệt độ bề mặt và lớp không khí sát mặt gây hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, hiệu ứng này thúc đẩy hoạt động đối lưu Ngoài ra, do sự phát triển các công trình xây dựng đã làm gia tăng độ gồ ghề của bề mặt, tạo điều kiện cho nhiễu động của trường gió và hội tụ gió trên khu vực đô thị Đây là những nguyên nhân dẫn đến lượng mưa trên khu vực TP.HCM lớn hơn khu vực xung quanh

Khi đô thị phát triển, ngoài việc gia tăng lượng mưa do cường độ hiệu ứng đảo nhiệt tăng, lượng mưa hiệu quả (lượng mưa tạo dòng chảy mặt) cũng gia tăng do khả năng thấm của mặt giảm Kết quả tổng hợp là lượng nước mưa cần tiêu thoát trên khu vực có đô thị hóa tăng đáng kể

Trong các quận huyện của TP.HCM thì quận Gò Vấp là quận có tốc độ đô thị hóa cao, bên cạnh đó khu vực này còn có nguy cơ ngập lụt do triều cường, mưa lớn,

hệ thống tiêu thoát nước còn hạn chế, đòi hỏi các phương pháp tính toán chi tiết và toàn diện phục vụ tiêu thoát nước lâu dài

Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc gia tăng lượng mưa hiệu quả, phục vụ tính toán thiết kế mạng lưới tiêu thoát nước, phòng chống ngập lụt trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Đó cũng chính là lý

do tôi chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất và hiệu ứng đảo nhiệt đô thị do đô thị hóa đến lượng mưa hiệu quả trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”

Trang 14

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc gia tăng lượng mưa hiệu quả, phục vụ tính toán thiết kế mạng lưới tiêu thoát nước

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu

Địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu cụ thể quận Gò Vấp Chọn quận Gò Vấp làm điểm nghiên cứu (đại diện cho thành phố Hồ Chí Minh) về ảnh hưởng của quá trình phát triển đô thị làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất tác động đến lượng mưa hiệu quả

Thời gian nghiên cứu: giai đoạn 1995 - 2012

Đối tượng nghiên cứu

Tình hình sử dụng đất

Biểu đồ mưa thiết kế

Biểu đồ mưa hiệu quả

4 Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Đề tài xây dựng trên cơ sở khoa học và thực tiễn đáng tin cậy làm cơ sở khoa học cho cơ quan quản lý nhà nước, phục vụ thiết kế và quy hoạch hệ thống tiêu thoát nước cho khu vực thành phố Hồ Chí Minh

Đề tài góp phần hoàn thiện thêm về phương pháp luận cũng như phương pháp nghiên cứu về tác động đến môi trường tự nhiên của quá trình đô thị hóa trong xu thế phát triển bền vững

Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên đề tài về ảnh hưởng của ảnh hưởng của sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất, hiệu ứng đảo nhiệt đô thị (Urban Heat Island Effect – UHI) do quá trình đô thị hóa đến gia tăng cường độ mưa qua các năm sẽ là một trong những cơ sở thực tiễn giúp cho quy hoạch phát triển đô thị bền vững, quy hoạch mục đích sử dụng đất một cách phù hợp khi xem xét đến các đặc trưng của môi trường khí hậu, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm cho môi trường ngày càng nóng bức như hiện nay

Kết quả mô hình mưa thiết kế của thành phố Hồ Chí Minh sẽ là định hướng cho các cơ quan quản lý đưa ra chiến lược quy hoạch thiết kế hệ thống tiêu thoát nước

Trang 15

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập, tổng quan tài liệu và phân tích số liệu

- Tiếp cận và thu thập các nguồn tài liệu, số liệu, bản đồ từ các cơ quan quản lý;

- Truy cập thông tin trên mạng internet;

- Các số liệu thu thập được lưu trữ và xử lý bằng phần mềm Microsoff Excel Thu thập số liệu từ các cơ quan liên quan: Phân viện Khí tượng Thủy văn và Môi trường phía Nam, Sở Tài nguyên & Môi trường thành phố Hồ Chí Minh, Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh, Đài Khí tượng Thủy văn Nam bộ

Các nguồn số liệu bao gồm:

- Niên giám thống kê thành phố Hồ Chí Minh năm 2012

- Số liệu quan trắc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, số liệu của các trạm đo mưa lân cận là Tân Sơn Hòa; Vũng Tàu; Biên Hòa; Xuân Lộc; Trị An; Đồng Phú; Sở Sao; Tây Ninh; Tân An; Mộc Hóa; Mỹ Tho; Ba Tri

- Các báo cáo, nghiên cứu về quá trình đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh theo từng thời kì

- Các báo cáo chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất tại thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua

Ngoài ra còn có các bản đồ về địa hình, địa mạo, mạng lưới và trạm quan trắc

 Tổng hợp thông tin và các số liệu cần thiết qua các báo cáo, đề tài liên quan và các nguồn thông tin cần thiết phục vụ cho việc thực hiện đề tài

 Kết quả số liệu thu thập được từ nghiên cứu tài liệu, số liệu thống kê, quan trắc tồn tại dưới hai dạng:

- Thông tin định tính

- Thông tin định lượng

Trang 16

Các thông tin này cần được xử lý để xây dựng các luận cứ, phục vụ cho việc chứng minh hoặc bác bỏ các giả thuyết khoa học Có hai phương hướng xử lý thông tin:

- Xử lý logic đối với thông tin định tính Đây là việc đưa ra những phán đoán về bản chất của sự kiện

- Xử lý toán học đối với các thông tin định lượng Đây là việc sử dụng phương pháp thống kê toán học, các phần mềm ứng dụng để xác định xu hướng, diễn biến của tập hợp số liệu thu thập được

Phương pháp thống kê

- Xử lý thống kê số liệu nhiệt độ, lượng mưa

Từ các số liệu thu thập tại các trạm đo, trạm quan trắc sẽ được tổng hợp Sau

đó biểu diễn dữ liệu bằng đồ họa trong đó các đồ thị mô tả dữ liệu hoặc giúp so sánh

dữ liệu; Biểu diễn dữ liệu thành các Bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu

Phương pháp hệ thống thông tin địa lý (GIS) và Viễn Thám (RS)

GIS là một hệ thống thông tin gắn kết với địa lý và bao gồm các công cụ phần cứng và phần mềm với chức năng: thu thập, lưu trữ, chỉnh sửa, truy cập, phân tích và

mô hình hóa phục vụ bài toán quy hoạch và quản lý Việc sử dụng GIS trong đề tài

này để thực hiện các nội dung chính sau:

- Xử lý dữ liệu không gian khu vực nghiên cứu bao gồm: dữ liệu về sử dụng đất, thổ nhưỡng, mưa

- Thống kê dữ liệu về sử dụng đất và chỉ số CN (Curve Number) phục vụ tính lượng mưa hiệu quả

Viễn thám (RS) là khoa học thu nhận từ xa các thông tin về các đối tượng, hiện tượng trên trái đất Viễn thám sưu tầm đa không gian, dữ liệu đa thời gian và đưa chúng thành thông tin có giá trị cho quá trình tìm hiểu và quan trắc đất đô thị và cho việc thiết lập dữ liệu bề mặt bao phủ đất đô thị đang xây dựng Việc sử dụng RS trong

đề tài này để thực hiện các nội dung chính sau:

- Phân loại thực phủ phục vụ tính chỉ số Curve Number

- Đánh giá biến động sử dụng đất

Ứng dụng mô hình phần mềm, phương trình toán học

- Phương pháp tính tần suất giá trị cực hạn

Trang 17

- Phương pháp bình phương tối thiểu: là một phương pháp tối ưu hóa để lựa chọn một đường khớp nhất cho một dải dữ liệu ứng với cực trị của tổng các sai

số thống kê (error) giữa đường khớp và dữ liệu

- Phương pháp xây dựng biểu đồ mưa tức thời

- Phương pháp tính thấm SCS: của cục thổ nhưỡng Hoa Kỳ dùng để tính thấm các mô Hình mưa – dòng chảy để tính ra sự tổn thất dòng chảy từ mưa

Trang 18

Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Khái quát tình hình đô thị hóa

1.1.0 Khái niệm về đô thị và đô thị hóa

Các đô thị tại Việt Nam là những thành phố, thị xã, thị trấn; huyện; xã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập Tại Việt Nam hiện có 6 loại hình đô thị: loại đặc biệt và loại I, loại II đến loại V Các đô thị đặc biệt, loại I và loại

II phải do Thủ tướng ra quyết định công nhận; các kiểu đô thị loại III và IV do Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận; và loại V do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh công nhận Hiện tại Việt Nam có hai đô thị đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, 15 đô thị loại I, 19 đô thị loại II, 43 đô thị loại III, 67 đô thị loại IV Khoảng 29,6% dân số Việt Nam sống ở đô thị Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP, một đơn vị hành chính

để được phân loại là đô thị thì phải có các tiêu chuẩn cơ bản như sau:

- Có chức năng đô thị;

- Quy mô dân số toàn đô thị đạt 4 nghìn người trở lên;

- Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị

và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị, riêng đối với thị trấn thì căn cứ theo các khu phố xây dựng tập trung;

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động;

- Đạt được các yêu cầu về hệ thống công trình hạ tầng đô thị (gồm hạ tầng xã hội

và hạ tầng kỹ thuật);

- Đạt được các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô thị

Đối với các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì các tiêu chí đánh giá được nới lỏng hơn: quy mô dân số và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu

Trang 19

đặc thù, tiêu chuẩn về quy mô dân số và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 60% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải đạt quy định so với các loại đô thị tương đương và bảo đảm phù hợp với tính chất đặc thù của mỗi đô thị [12]

Đô thị hóa

Đô thị hóa là một hiện tượng dân số, kinh tế - xã hội, được coi là kết quả của sự phát triển nói chung, cũng như quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng; là quá trình biến đổi từ xã hội nông nghiệp, nông thôn thành xã hội đô thị, công nghiệp [23, tr 59]

Chỉ số đô thị hóa: Cho đến nay, có khá nhiều chỉ số được sử dụng để xác định

và đánh giá tốc độ của quá trình đô thị hóa ở các nước trên thế giới Chỉ số thông dụng nhất và thường được sử dụng trong các nghiên cứu là tỷ lệ gia tăng dân số đô thị so với tổng số dân của một khu vực hay một quốc gia Chỉ số thứ hai thường được sử dụng trong các nghiên cứu dự báo về động lực và xu hướng phát triển của đô thị hóa

là chỉ số dân thành thị - nông thôn (Urban - RuralRatio) Chỉ số này được xác định bằng công thức sau:

Trong đó:

URRt: Chỉ số đô thị - nông thôn tại thời điểm t

PUt: Dân số đô thị tại thời điểm t

PRt: Dân số nông thôn tại thời điểm t

[3; tr.629]

1.1.1 Tình hình phát triển đô thị trên thế giới

Đô thị hóa ở các nước phát triển

Mức độ đô thị hóa cao ở tất cả các nước kinh tế phát triển Các nước: Ôxtrâylia, Niudilan, Tây Âu, Bắc Mỹ có mức độ đô thị hóa cao, tỉ lệ dân số đô thị đạt

từ 80% trở lên Còn khu vực Đông và Nam Âu mức độ đô thị hóa còn thấp, trong đó thấp nhất so với các nước kinh tế phát triển là các nước Đông Âu: 63% dân số sống ở khu vực đô thị

Cùng với sự khác biệt về trình độ phát triển về kinh tế là sự khác biệt về mức

độ đô thị hóa giữa các nước Ở châu Âu có thể nhận ra sự khác biệt về mức độ đô thị hóa dễ dàng, sự thay đổi mức độ đô thị hóa trung bình đến mức độ đô thị hóa cao, ngay trong cùng quốc gia cũng có sự biến đổi theo từng vùng lãnh thổ

Trang 20

Bảng 2: Dân số đô thị ở các nước kinh tế phát triển qua các năm

Dân số đô thị (triệu người)

42 106,1 62,4

Nguồn: Th Brinkhoff: The Principal Agglomerations of the World, 2010-01-23

Trong số các nước châu Âu có 12 nước có tỉ lệ dân số đô thị hơn 75% là các nước kinh tế phát triển các nước đô thị hóa cao trong số các nước đang phát triển là

bỉ 97%, Lucxambua 91%, Hà Lan 90%, Anh 89%, Đan Mạch 72% và CHLB Đức 88% Như vây, các nước đô thị hóa cao là các nước ở ven vành đai biển Bắcgồm 4 nước: Bỉ, Hà Lan, CHLB Đức và Đan Mạch, thêm vào đó là Anh- đất nước trải dài trên Đại Tâu Dương Trong khi một số nước nhỏ ở châu Âu như: Monaco 100% dân

số sống ở đô thị, Malta 91% dân số đô thị, Lucxambua 91%, các nước châu Âu khác: Aixolen 94% có mức độ đô thi hóa cao cũng như những đảo ở biển Bắc 23 nước có tỉ

lệ dân số đô thị từ 50%- 75% ví dụ: Bộ Đầu Nha 54% 3 nước và quần đảo Chenen có

tỉ lệ dân số đô thị dưới 50% như: Anbani 42%, Bosnia Herzegovinia 43%, Mondova 45%, quần đảo Chenen là 31% là khu vực kinh tế kém phát triển hơn

Đông Âu là khu vực đô thị hóa kém hơn chỉ đạt gần 68% CHLB Nga có tỉ lệ dân số đô thị khoảng 73%, những nước này có trình độ đô thị hóa tương tự nhau: CH Séc 77%, Belarut 72%, Bungari 70%, dân số đô thị thấp nhất là 4 nước: Mondova 54%, Rumani 53%, Xlovakia 53%

Ở khu vực Nam Âu, có trình độ đô thị hóa khác nhau khá lớn Một số nước có mức độ đô thị cao như: Andora 92%, Man ta 91%, Italia 90%, Tây Ban Nha 76% Nhưng nhiều nước mức độ đô thị hóa còn thấp: Anbani 42%, Bosnia Herzegovinia 43%, Xlovennia 525, Bồ Đầu Nha 53%

Ở các nước kinh tế phát triển sự di dân nông thôn và đô thị làm tăng dân số ở khu vực đô thị đã trở thành nét chung nhất ở các nước này trong những năm cuối thể

Trang 21

khác biệt giữa các nước này do quá trình đô thị hóa đã vào giai đoạn kết, gắn với quá trình ngoại ô hóa, nên tỉ lệ dân số đô thị ở một số nước không tăng, thậm chí lại giảm

so với những năm trước

Nét đặc trưng của quá trình đô thị hóa này chúng ta có thể nhận thấy ở Hoa Kì giữa những năm 70 và sau đó là ơ Canada trong những năm của thập niên 80, cũng như ở các nước kinh tế phát triển khác ở châu Âu, Úc, Niudilân, Nhật Bản

Trong thời kì 70 - 75 mức độ đô thị hóa của Hoa Kì chỉ đạt 1%/năm còn ở Canada giảm 0,1%/ năm

Ở châu Âu mức độ đô thị hóa chậm lại đặc biệt là một số nước nam Âu và Đông Âu nhưng thời gian đô thị hóa diễn ra chậm hơn 5-10 năm ở các nước Băc Mĩ Trong thời gian 5 năm từ 1980-1985 mức độ đô thị hóa chậm lại ở Nam Âu chỉ đạt 0,8% /năm, ở Đông Âu tăng trưởng còn chậm hơn khoảng 0,16%/năm Suốt thời kì 1985-1990 Phần Lan và Pháp không tăng suốt thập niên 80 và mức độ đô thị hóa dường như không đổi: Phần Lan 60%, Pháp 73%

Úc trong thời kì 1975 - 1980 đô thị hóa không tăng thậm chí còn giảm 0,4%/năm

Ngoài ra, ở một số nước như Thụy Điển, Hà Lan, Niudilan, Nhật Bản cũng ở trong nhòm nước giảm mức độ đô thị hóa Theo sự đánh giá đô thị hóa của Liên Hiệp Quốc nếu mức độ gia tăng dân số đô thị nhanh hơn tốc độ gia tăng dân số thì đô thị hóa tích cực trình độ đô thị hóa sẽ tăng và ngược lại mức độ gia tăng dân số đô thị chậm hơn mức tăng tổng dân số thì trình độ đô thị hóa sẽ thấp, quá trình đô thị hóa trở nên tiêu cực

Vào những năm 1970 dân số đô thị thế giới khoảng 1,4 tỉ so với 3,7 tỉ dân số thế giới, trong đó gần một nữa dân số đô thị thế giới tập trung ở các nước có nền kinh

tế phát triển (698 triệu)

Các nước kinh tế phát triển có số dân đô thị nhiều hơn các nước đang phát triển nhưng nó mau chóng bị mất vị trí đó, do sự gia tăng dân số nhanh chóng ở các nước đang phát triển cộng với sự di dân từ nông thôn vào thành thị Sự gia tăng dân số nhanh với sự di dân theo hướng nông thôn đến đô thị mạnh mẽ ở các nước đang phát triển làm cho cán cân dan số bị lệch đo từ năm 1975 và tiếp tục thay đổi trong thời gian sau đó

Trang 22

Tỉ lệ dân số đô thị thế giới mỗi năm tăng lên so với dân số thế giới, các thành phố ở các nước đang phát triển dân số tăng lên làm giảm bớt số người cư trú ở nông thôn Trong khi đó ở các nước đang phát triển gắn liền với quá trình di dân ào ạt từ nông thon lên thành phố không kiểm soát được gây thiếu lao động có kĩ thuật ở nông thôn, gây sức ép về việc làm, cơ sở khoa học kĩ thuật và gây ô nhiễm môi trường, gây trở ngại lớn cho việc phát triển kinh tế xã hội [3]

Đô thị hóa ở các nước đang phát triển

Khoảng 1/3 đến 2/3 dân số của phần lớn các đô thị thuộc nhóm nước đang phát triển bị đẩy tới những khu ngoại ô lụp xụp hoặc những nơi những người chiếm đất xây dựng, họ thường bất chấp chính quyền Các nhóm người không chính thức này thường

có ít hoặc không có quyền lợi sư dụng các dịch vụ công cộng như nước, hệ thống cống rãnh và hệ thống thoát nước, vỉa hè và vận chuyển rác

Khoảng 20% nhà mới ở các thành phố ở nhóm nước đang phát triển là xây dựng theo luật Số còn lại phát triển không chính thức

Các đô thị của châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latinh chưa hoàn thiện về cơ sở

hạ tầng, vật chất kĩ thuật: giao thông vận tải điện nước,…vấn đề sử dụng các phương tiện giao thông công cộng hiện đại còn rất hiếm hoi do quá trình công nghiệp hóa chỉ mới phát triển gần đây Cấu trúc đô thị cũng như văn hóa lối sống của cư dân khác xa với các nước ở Băc Mĩ

Có thể nhận thấy một số đặc trưng chung của các nước nhóm phát triển là sự di dân lâu dài từ các vùng nông thôn vào các thành thị làm cho dân số thành thị tăng lên nhanh chóng Cư dân đông đúc các phương tiện giao thông công cộng và dịch vụ thì ít dẫn đến đời sống của dân cư ở đây gặp nhiều khó khăn và nhiều tệ nạn xã hội phát sinh

Một số đô thị còn trong thời kì tiền công nghiệp, chỉ có trung tâm thương mại hay chợ có quy mô trung bình, ở đây không có trung tâm công nghiệp còn giao thông công cộng thì rất hiếm hoi Một số đô thị khác là sản phẩm của thuộc địa phương Tây, được hình thành từ những cảng hoặc là những tiền của việc điều hành quản lí và khai thác xây dựng của người châu Âu

Trang 23

Mặt khác một số nước các đô thị lại phát triển quá lớn theo lối tự phát đã dẫn đến hệ thống giao thông luôn quá tải và vấn đề giao thông là vấn nạn khó giải quyết được

Hơn nữa ở các quốc gia đang phát triển còn nổi bậc lên sự tập trung dân số quá mức vào một số đô thị đặc biệt là trong thủ phủ của các khu vực và của quốc gia

Hiện nay sự bùng nổ dân số đô thi là một hiện tượng phổ biến ở các nước đang phát triển số dân đô thị ở các nước đạng phát triển tăng nhanh, trung bình mổi năm tăng3,5 - 4% tức là chỉ sau 25 năm dân số đô thị của các nước này tăng lên gấp đôi

Ở các nước đang phát triển quá trình đô thị hóa không cùng diễn ra với quá trình công nghiệp hóa, mà chủ yếu là do sự di dân từ nông thôn ra thành thị, làm cho tình trạng đô thị hóa trờ nên không kiểm soats được, gây khó khăn trở ngại đối với các vấn đề phát triển kinh tế xã hôi mà đặc biệt nhất là vấn đề việc làm, nhà ở, phương tiện đi lại, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội

Ở các nước đang phát triển cũng có thể chia thành các khu vực phát triển khác nhau

Đô thị hóa ở châu Á

Theo ước tính của liên hợp quốc số lượng dân số đô thị của các nước châu Á từ năm 1990 đền 2020 sẽ tăng từ 850 - 2,25 tỉ Trung bình hàng năm tăng 47 triệu người

Do đó gây ra những mối nguy hại cho việc phát triển kinh tế, việc xuống cấp môi trường và cơ sở hạ tầng

Trung Quốc – đất nước rộng lớn với diện tích là 9,6 triệu km2, 1,3 tỉ dân, dân

số đô thị của Trung Quốc chiếm 37% dân số cả nước Nhưng trong thời gian gần đây

và dự đoán tương lai sắp tới dân số đô thị của Trung Quốc sẽ tăng lên nhanh chóng và

có thể đạt đến mức các nước châu Âu hiện nay

Đài loan- một con rồng châu Á có nông công nghiệp phát triển, tỉ lệ dân số đô thị là 78%

Inđônêxia – cường quốc thứ 4 về dân số với dân số là 221,9 triệu người 2005,

có tỉ lệ thị dân là 42% cao hơn mức trung bình của khu vực nhưng lại thấp hơn mức trung bình của thế giới

Trang 24

Thái Lan: trung tâm giải trí của thế giới các nước Đông Nam Á tỉ lệ dân số đô thị 31% thấp hơn mức trung bình của thế giới tập trung chủ yếu vào thủ đô Băng Kốc

Philippin: có mức đô thị hóa khá cao đạt tới 48% năm 2005, tâp trung chủ yếu

ở thủ đô Manila

Malayxia có 26,1 triệu nười tỉ lệ dân số đô thị là 38% [22]

1.1.2 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam

Sau khi đạt được tỷ lệ 10% dân số đô thị vào khoảng năm 1950, mức độ đô thị hóa tăng lên nhanh hơn cho đến năm 1975 đạt được tỷ lệ 21,5% Nhưng trong thời kỳ

đó có sự khác biệt rõ rệt giữa hai miền Bắc và Nam Tỷ lệ dân cư đô thị giảm chút ít ở miền Bắc, trong khi tăng đáng kể ở miền Nam

Sau khi thống nhất đất nước, tỷ lệ dân cư đô thị của toàn bộ đất nước giảm tương đối cho đến năm 1982, khi giảm tới 18,4% Từ đó, mức độ đô thị hóa tăng dần,

tỷ lệ dân cư đô thị đạt được hơn 20% và đến năm 2009 đạt đến con số 29,6% (xem Hình 1.1)

Hình 1.1 Tỷ lệ dân cư đô thị toàn quốc từ năm 1931 – 2009

Nguồn:

Từ 1931-1988: Gendreau và các tác giả khác, 1997: Biểu 14, trang 106 Démographie de la péninsule indochinoise Paris: ESTEM

Từ 1989-2008: Số liệu TĐTDS 1989, 1999 và số liệu dân cư thành thị công bố

ở website của Tổng cục Thống kê

Trang 25

So với các nước khác trên thế giới với mức độ đô thị hóa dao động từ 6% ở Rwanda đến 100% ở một vài thành phố quốc gia, Việt Nam với gần 30% dân số đô thị

rõ ràng không phải là nước có mức độ đô thị hóa cao Trong năm 1970 mức độ đô thị hóa của việt Nam tương đương với mức độ đô thị hóa của các nước đông Nam Á cũng như các phần khác của châu Á, trừ Tây Á (xem Bảng 1.1)

Bảng 1.1 Mức độ đô thị hóa (%) tại một số vùng của thế giới: 1970-2000

Đơn vị tính: % Các vùng chủ

Nhưng nếu như mức độ đô thị hóa của toàn khu vực đông Nam Á trong khoảng

25 năm cuối của thế kỷ 20 đã tăng lên một cách đáng kể, tới 37% thì mức độ đô thị hóa ở việt Nam vẫn còn dừng lại ở khoảng hơn 20% (xem Bảng 1.2)

Theo kết quả của TĐTDS năm 1999 thì mức độ đô thị hóa là 23,7% và với số liệu mới nhất của năm 2009 thì mức độ đô thị hóa của Việt Nam mới đạt 29,6%, chưa bằng mức độ trung bình của khu vực đông Nam Á 10 năm trước [22, tr 61-62]

Trang 26

Bảng 1.2 Mức độ đô thị hóa (%) ở các nước Đông Nam Á: 1970-2000

Đơn vị tính: % Các vùng chủ

1.1.3 Tình hình đô thị hóa thành phố Hồ Chí Minh

Quá trình đô thị hoá ở thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua nhiều thay đổi đặc biệt là từ sau những năm 1980 [5]

- Giai đoạn 1976 - 1985: thành phố chú trọng phục hồi kinh tế sau chiến tranh, chưa có công trình xây cất gì lớn Năm 1982 với sự giúp đỡ của Liên Xô, Viện Quy hoạch bước đầu triển khai phương hướng cải tạo và xây dựng thành phố Hồ Chí Minh,

dù chưa được phê duyệt Đến năm 1985, Trung ương xác định thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn, một trung tâm giao dịch quốc tế và du lịch của cả nước… có vị trí quan trọng chỉ sau thủ đô Hà Nội Giai đoạn này, lượng người nhập

cư chủ yếu từ các tỉnh phía Bắc (40,8%) [13], đại bộ phận là người miền Nam tập kết trở về cùng gia đình và những người miền Bắc được phân công vào công tác ở thành phố Hồ Chí Minh

- Giai đoạn từ sau năm 1986: thành phố bước vào giai đoạn đổi mới, dòng người nhập cư vào thành phố trong giai đoạn này từ đồng bằng sông Cửu Long, quân

Trang 27

khi cả nước bước đầu thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước đầu phục hồi kinh tế thì sức ép về dân nhập cư vào thành phố lại càng mạnh mẽ hơn

Trong sự gia tăng dân số nhanh chóng của thành phố Hồ Chí Minh, con số gia tăng cơ học đă đóng góp một phần quan trọng Dân cư đổ về thành phố Hồ Chí Minh

vì ở đây dễ kiếm tiền và có việc làm, có mức sống tốt hơn nhiều so với nông thôn

Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một cực thu hút mạnh luồng người từ các nơi đổ về tìm việc làm và cư ngụ Bên cạnh người Việt, cộng đồng người Hoa gồm hơn 600.000 người đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của thành phố [21]

Trải qua một thời kỳ dài khó khăn (1975 - 1986), nhờ sự năng động và những

cơ chế chính sách hợp lý thành phố Hồ Chí Minh có sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, tiến trình đô thị hoá tiếp tục đẩy mạnh theo đà tăng trưởng, khởi sắc của kinh tế Kinh

tế thành phố Hồ Chí Minh có sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu, thành phố trở thành trung tâm xuất nhập khẩu lớn nhất cả nước Kim ngạch xuất khẩu của thành phố ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của đất nước Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn đạt 12,4 tỷ USD, tăng 21,6% so với năm 2004 Cơ sở vật chất ngành thương mại được tăng cường với khoảng 400 chợ bán lẻ, 81 siêu thị, 18 trung tâm thương mại, 3 chợ đầu mối Khu vực dịch vụ tăng trưởng vượt kế hoạch, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất - kinh doanh và phục vụ đời sống dân cư Giá trị gia tăng các ngành dịch vụ tăng 12,2% so với năm 2004 [37] Năm 2005, cơ cấu kinh tế của thành phố với các ngành nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ như sau:

- Nông nghiệp (khu vực I): 1,2%

- Công nghiệp (khu vực II): 48,2%

là một xu hướng tất yếu của sự phát triển Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thực hiện

Trang 28

tại Hải quan Thành phố đạt 38,47 tỉ USD Do tốc độ phát triển nhanh chóng về kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh, các xí nghiệp, các cơ sở sản xuất gia tăng, mức sống của người dân thành phố trở nên tốt hơn nhiều so với trước Nhu cầu tiêu dùng của cư dân

đô thị thường lớn, đa dạng và có xu hướng đổi mới nhanh Do đó mạng lưới dịch vụ, như các siêu thị nhà hàng ngày càng phát triển nhanh hơn Các ngành dịch vụ phát triển mạnh, góp phần làm thay đổi cơ cấu ngành nghề giữa các khu vực: nông nghiệp – công nghiệp - dịch vụ Tuy nhiên, do lượng dân nhập cư đổ về thành phố là một con

số khổng lồ và ngày một tăng lên nên hiện nay thành phố đang phải đối đầu với nạn thất nghiệp, những vấn đề về giải quyết việc làm Một nghịch lý đang diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh cũng như ở các đô thị khác: đô thị hoá càng nhanh thì số lượng người thất nghiệp càng nhiều Tình trạng “người thừa việc thiếu” vẫn luôn tồn tại Tỷ

lệ thất nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh dao động từ 9 - 19% [23] Đô thị hoá cùng với việc xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển công nghiệp (nhưng không chú trọng xử lý chất thải) đã làm cho môi trường thành phố Hồ Chí Minh bị ô nhiễm nặng

1.2 Hiệu ứng đảo nhiệt đô thị

1.2.1 Khái niệm đảo nhiệt đô thị

So với khu vực xung quanh, khí hậu khu vực đô thị thường có những nét riêng biệt như nền nhiệt độ cao hơn, độ ẩm thấp hơn, gió yếu Những khác biệt này được tạo

ra trong quá trình phát triển đô thị và trở nên ngày càng rõ rệt khi qui mô đô thị đủ lớn

Ảnh hưởng của mặt đệm đô thị đến các yếu tố khí tượng và thời tiết được thể hiện qua các thành phần như ma sát bề mặt, vận chuyển nhiệt ẩm từ bề mặt, v.v Các ảnh hưởng này được thể hiện thông qua các thành phần trong hệ phương trình về chuyển động, cân bằng nhiệt và ẩm Những ảnh hưởng rõ rệt nhất của mặt đệm đô thị đến các yếu tố khí tượng và thời tiết trên khu vực nhiệt đới là:

- Làm giảm tốc độ gió và gây nên gió hỗn loạn

- Làm tăng nhiệt độ

- Làm tăng lượng mưa và cường độ mưa

Do sự phát triển đô thị nên mặt đệm tự nhiên bị thay thế bởi các vật liệu xây dựng Đây là các vật liệu có khả năng hấp thụ nhiệt cao và thấm nước kém Do khả

Trang 29

nhiệt của bề mặt qua quá trình bốc hơi Ngoài ra còn do tốc độ gió yếu trên khu vực

đô thị nên khả năng vận chuyển nhiệt ra bên ngoài cũng nhỏ

Nhiệt độ trên khu vực đô thị thường cao hơn xung quanh, nên các đường đẳng nhiệt độ trong mặt cắt thẳng đứng thường vồng lên trên khu vực đô thị tạo ra sự chênh lệch nhiệt độ giữa trung tâm đô thị và các khu vực phụ cận Hiện tượng này được gọi

là hiệu ứng đảo nhiệt đô thị (Urban Heat Island Effect), được mô phỏng như hình sau:

Hình 1.2 Mô phỏng hiệu ứng đảo nhiệt đô thị

Các nguyên nhân chính gây ra hiệu ứng đảo nhiệt bao gồm:

- Khả năng hấp thụ nhiệt cao của các vật liệu xây dựng

- Độ ẩm bề mặt thấp do nó không có khả năng thấm nước, lượng bốc hơi từ bề mặt không đáng kể, hay mất nhiệt do bốc hơi là nhỏ

- Độ ghồ ghề của đô thị lớn, tốc độ gió trên đô thị yếu nên vận chuyển nhiệt bình lưu là nhỏ

- Hiệu ứng bẫy bức xạ của các dãy nhà và đường phố

- Các phát thải nhiệt do sinh hoạt, giao thông và sản xuất

1.2.2 Các ảnh hưởng của đảo nhiệt đô thị

Các ảnh hưởng chính của hiệu ứng đảo nhiệt đô thị bao gồm:

- Làm tăng nhiệt độ bề mặt và nhiệt độ không khí khu vực đô thị

- Làm tăng lượng mưa và cường độ mưa

Tùy theo vĩ độ địa lý mà mức độ ảnh hưởng của hiệu ứng đảo nhiệt đô thị là khác nhau Ở các khu vực ôn đới hiệu ứng này gây nên sự chênh lệch nhiệt độ vào ban đêm, điều này liên quan chủ yếu tới sử dụng năng lượng cho việc sưởi ấm Các nghiên cứu về hiệu ứng đảo nhiệt đô thị khu vực ôn đới cho thấy, nhiệt độ không khí

Trang 30

trong nội thành thành phố cao hơn đáng kể (lên đến 10°C) so với nhiệt độ môi trường xung quanh ở những nơi có rừng cây và khu vực nông thôn Ở các khu vực nhiệt đới thường có mức chênh thấp hơn, khoảng vài độ C và xảy ra vào lúc giữa trưa [29]

1.3 Tổng quan quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh

1.3.1 Điều kiện tự nhiên:

1.3.1.1 Vị trí địa lý

Gò Vấp là quận ngoại thành, nằm ở phía Bắc của thành phố Hồ Chí Minh, tổng diện tích tự nhiên là 1.975,85ha, chiều dài từ Đông sang Tây: 7,6km, chiều rộng từ Bắc đến Nam: 5,8km, với tọa độ địa lý như sau:

- Từ 106o 38’ 10” đến 106o42’ 15” kinh độ Đông

- Từ 10o 48’ 41” đến 10o 51’ 29” vĩ độ Bắc

Có các vị trí tiếp giáp như sau:

- Phía Đông: giáp quận 12 qua sông Bến Cát, Vàm Thuật và quận Bình Thạnh

- Phía Tây: giáp quận 12 qua kênh Tham Lương

- Phía Nam: giáp quận Tân Bình, Phú Nhuận, Bình Thạnh

- Phía Bắc: giáp quận 12

Toàn quận có 16 phường, gồm: 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16,

17

Trang 31

Hình 1.3 Bản đồ ranh giới hành chính quận Gò Vấp

1.3.1.2 Điều kiện tự nhiên:

Điều kiện khí hậu:

Quận Gò Vấp nằm trong chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa chung của đồng bằng Nam Bộ với các đặc điểm chính:

- Khí hậu phân hóa thành 2 mùa tương phản rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 – 11, mùa khô từ tháng 12 – 4

- Nền nhiệt cao và ổn định quanh năm

- Nhiệt độ trung bình từ 27 – 29oC

- Lượng mưa trung bình từ 200 – 500 mm/năm

- Độ ẩm không khí trung bình năm là 77% và thay đổi theo mùa

- Hàng năm có 2 mùa gió chính:

• Gió mùa Tây Nam chiếm tần suất 66%

• Gió mùa Đông, tốc độ gió trung bình vào khoảng 2m/s

Địa hình thổ nhưỡng:

Trang 32

Quận Gò Vấp có địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc chung dưới 1% và cao trình biến thiên từ 0,4 – 10m phân ra làm 2 dạng: địa hình thấp trũng và địa hình cao 2 – 10m

Trên địa bàn quận Gò Vấp có 3 đơn vị đất:

(a) Đất xám trên phù sa cổ 1330 ha, chiếm 69% diện tích tự nhiên, phân bố trên dạng địa hình cao;

(b) Đất xám glây 156 ha, chiếm 11% diện tích tự nhiên;

(c) Đất phèn tiềm tàng sâu 384 ha, chiếm 20% diện tích tự nhiên phân bố ven sông Bến Cát

Địa chất thủy văn:

Tầng chứa nước Holocen (qh) bao gồm các trầm tích đa nguồn gốc (sông, sông biển và sông biển đầm lầy) Chúng phân bố trên vùng có độ cao địa hình thấp, dọc theo các sông Trường Đai, sông Lái Thiêu Tầng chứa nước Holocen là tầng chứa nước không áp, mực nước nằm nông, động thái dao động theo mùa và theo thủy triều Nguồn cung cấp chủ yếu là nước mưa, nước mặt trong các kênh rạch ngấm trực tiếp vào tầng chứa nước

Tầng chứa nước Pleistocen (qp) phân bố rộng trên toàn vùng, lộ ra trên mặt phần lớn diện tích của quận Gò Vấp Tầng chứa nước được cấu tạo thành 2 phần, phần trên là lớp cách nước yếu , phần dưới là lớp chứa nước

Tầng chứa nước Pliocen trên (m42) phân bố trên toàn vùng, không lộ ra trên mặt, bị tầng chứa nước Pleistocen phủ trực tiếp lên và nằm trên tầng Pleistocen dưới (m41) Tầng chứa nước được chia 2 phần: phần trên là lớp cách nước yếu, phần dưới là lớp chứa nước

Tầng chứa nước Pliocen dưới (m41) phân bố khá rộng trên toàn vùng, ở vùng phân bố tầng chứa nước Pliocen dưới bị tầng chứa nước Pliocen trên phủ trực tiếp lên

và nằm trên tầng chứa nước khe nứt các trầm tích Mezozoi (Mz) Tầng chứa nước được cấu tạo thành 2 phần: phần trên là lớp cách nước yếu, phần dưới là lớp chứa nước

Trang 33

Đối với nước khe nứt trong trầm tích Mezozoi (Mz) phân bố trên toàn vùng Chiều dày của đới Mezozoi khoảng 2000 m, mức độ nứt nẻ kém nên khả năng chứa nước hạn chế

Hệ thống sông rạch:

Hệ thống sông rạch trong quận Gò Vấp là hệ thống sông Bến Cát Tùy theo vị trí phân bố, chúng được gọi là rạch Bến Cát, sông Bến Cát, sông Trường Đai, kênh Tham Lương… và một số chi lưu chằng chịt bao quanh

Tài nguyên:

a Tài nguyên đất:

Quận Gò Vấp có diện tích đất tự nhiên là 1.975,85ha Đất xám trên phù sa cổ chiếm 69% diện tích, thích nghi với các loại cây trồng cạn, nhất là rau các loại; đất phèn tiềm tàng sâu chiếm 20% diện tích, thích nghi với các loại cây trồng chịu được nước như lúa, cói, rau muống, đồng thời có thể trồng mía, dừa và một số loại cây ăn trái khi được lên liếp và có bờ cao; đất xám glây chiếm 8% diện tích thích nghi với lúa vào mùa mưa và rau vào mùa khô

b Tài nguyên nước mặt và nước ngầm:

Quận Gò Vấp có nguồn nước mặt khá phong phú (sông Bến Cát, sông Vàm Thuật, sông Trường Đai, rạch Bến Thượng….) nhưng không thể sử dụng vào mục đích cấp nước mà chỉ sử dụng vào mục đích tưới tiêu trong hoạt động sản xuất nông nghiệp do ảnh hưởng của nước thải chưa xử lý

Nguồn nước ngầm tại Gò Vấp có trữ lượng khá phong phú Từ thời Pháp thuộc (1925) đã xây dựng tại Gò Vấp một giếng khoan có công suất đến 10.000 m3/ ngày, tại khu vực này có 3 tầng chứa nước nằm trong phức hệ chứa nước trầm tích bỡ rời thống Holocen tầng1, tầng 2 và thống Neozagen-Pleitoxen [35]

1.3.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội

1.3.2.1 Kinh tế:

a Thương mại – dịch vụ

Quận Gò Vấp đang phát triển kinh tế theo hướng thương mại dịch vụ, do đó trên địa bàn quận đang hình thành các cụm thương mại dịch vụ theo các tuyến đường trọng yếu của quận, cụ thể:

Trang 34

Theo định hướng của Quyết định 109/2011/QĐ-UB ngày 25/02/2011 của Ủy ban nhân dân quận về quy hoạch phát triển kinh tế quận đến năm 2020, hiện đang từng bước hình thành 02 cụm thương mại - dịch vụ tạo động lực phát triển kinh tế quận bao gồm:

- Cụm 01: trên các tuyến đường Quang Trung, Nguyễn Oanh, Phan Văn Trị, Nguyễn Thái Sơn, Nguyễn Kiệm, Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Lượng bao gồm các phường 1, 3, 4, 5, 7, 10, 17 và phường 6

- Cụm 02: Trên các tuyến đường Lê Văn Thọ, Quang Trung (khúc ngã 3 Lê Văn Thọ đến giáp ranh Quận 12) Thống Nhất, Nguyễn Văn Lượng, Phạm Văn Chiêu, Phan Huy Ích bao gồm các phường 8, 9 , 11, 12, 13, 14, 15, 16

b Công nghiệp

Khu vực sản xuất công nghiệp được hình thành các cụm công nghiệp nhỏ tập trung trên địa bàn phường 12, phường 14 còn lại có một số xí nghiệp, nhà máy nhỏ lẻ nằm trên địa bàn các phường 8, 9, 10

Theo số lượng tổng hợp của phòng kế toán và thống kê quận Gò Vấp năm 2013 toàn quận có 611 cơ sở, doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đang sản xuất với số cơ

sở sản xuất năm 2013 đã giải quyết việc làm cho hơn 130.000 lao động

Trong đó thế mạnh của quận là các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, may mặc, dệt nhuộm và ngành tái chế giấy – bao bì Ngoài các doanh nghiệp nhỏ, đóng trên địa bàn quận, còn có nhiều doanh nghiệp lớn của Trung Ương và Thành phố

Hồ Chí Minh trú đóng như: Công ty may 28, Công ty giày 32, Nhà máy thủy tinh, Mercedes – Benz, Liên doanh Isuzu, Công ty may Phương Đông,…

Đặc biệt sự ra đời của Luật doanh nghiệp tạo môi trường thông thoáng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời Quận tạo điều kiện thu hút các thành phần kinh

tế đầu tư phát triển sản xuất, ưu tiên phát triển công nghiệp sạch, xuất khẩu Trong đó, ngành dệt, may, giày da tăng cường khâu nội địa hoá đầu vào, làm chủ khâu thiết kế sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh Đến nay, sản xuất công nghiệp – TTCN quận

Gò Vấp có 325 đơn vị hoạt động theo luật doanh nghiệp Quận cũng đã quy hoạch khu sản xuất công nghiệp tập trung tại phường 12 với diện tích 40,31 ha với 74 doanh

Trang 35

c Về sản xuất nông nghiệp

Trước đây vào năm 2012- 2008, diện tích canh tác của quận nhỏ và nằm xen cài trong khu dân cư và đang có xu hướng chuyển đổi ngành nghề sang thương mại - dịch vụ, nên hiện tại đất nông nghiệp trên địa bàn quận đã giảm mạnh Tổng đàn gia súc giảm do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, chuồng trại chuyển sang phòng cho thuê và các ngành kinh doanh khác có thu nhập cao hơn, không gây ô nhiễm môi trường trong khu dân cư Các hộ sản xuất nông nghiệp đã và đang chuyển hướng dần qua cung cấp dịch vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống Diện tích đất nông nghiệp hiện 2013 là 129,32 ha Tỷ trọng của ngành sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 0,06% vào năm 2013

d Về thương mại

Tính đến thời điểm hiện nay, mạng lưới thương mại trên địa bàn quận Gò Vấp được kết cấu chủ yếu từ các hình thức: chợ truyền thống, siêu thị và các cửa hàng thương mại vừa và nhỏ Hiện quận Gò Vấp chưa có trung tâm thương mại cũng như các dịch vụ hỗ trợ thương mại cao cấp như: trung tâm hội chợ - triển lãm, trung tâm giới thiệu sản phẩm, tổng kho bán buôn, trung tâm logistics, sàn giao dịch hàng hóa tập trung, trung tâm đấu giá, nhượng quyền kinh doanh, thương mại điện tử,….Hiện

có khoảng 5.000 đơn vị cửa hàng thương mại trên toàn quận Gò Vấp có đăng ký kinh doanh hoạt động theo hình thức pháp lý hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp

Tính đến đầu năm 2013, quận Gò Vấp đã hình thành 24 cửa hàng tiện lợi kinh doanh tổng hợp có quy mô và phương thức kinh doanh mang tính hiện đại phân bổ đều trên địa bàn quận chủ yếu nằm tại các con đường chính của quận, có quy mô từ 70m2 – 300m2; trên địa bàn quận có 151 cửa hàng bán buôn chủ yếu các mặt hàng tiêu dung

1.3.2.2 Xã hội

a Về dân số

Quá trình đô thị hóa quá nhanh đã làm cho Gò Vấp trở thành một trong ba quận

có tốc độ tăng dân số cơ học cao nhất thành phố Cụ thể năm 1995 là 223.000 người, năm 2005 là 453.551 người, năm 2006 là 491.122, năm 2012 là 503.139 người và năm

2010 là 560.000 người Theo số liệu thống kê năm 2013, dân số trên địa bàn quận là 595.880 người với 149.639 hộ trong đó số dân nhập cư từ các tỉnh vào chiếm từ 34-

Trang 36

36% dân số; mật độ dân cư phân bố không đồng đều giữa các phường Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên 0,555% giảm 0,044% so với cùng kỳ 2012

b Về giáo dục- y tế

Gò Vấp đã là một trong hai quận đầu tiên của thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cập bậc trung học phổ thông Trình độ học vấn của công dân quận Gò Vấp cao nhất thành phố (cùng một quận nội thành khác), tỷ lệ cư dân biết đọc, biết viết của Gò Vấp là 98,05%, cao thứ nhì ở thành phố Hồ Chí Minh Ngoài hệ thống các trường mầm non

và phổ thông, trên địa bàn quận còn có trường Đại học Công nghiệp, Trường Kỹ thuật Công nghệ Quang Trung…góp phần quan trọng cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo của thành phố nói riêng và cả nước nói chung

Về y tế, ngoài mạng lưới y tế cấp phường và bệnh viện quận, trên địa bàn Gò Vấp còn có bệnh viện 175 của quân đội Bệnh viện 175 có quy mô 1.200 giường, hơn

240 bác sĩ, hơn 10 dược sĩ cao cấp, gần 500 y sĩ, y tá, điều dưỡng viên, kỹ thuật viên,

đã và đang đóng góp quan trọng vào việc chăm lo sức khỏe cho cư dân trên địa bàn, đồng thời tác động vào việc phát triển các ngành dịch vụ quanh khu vực [16]

Trang 37

Bảng 1.3 Các điểm ngập địa bàn quận Gò Vấp

PHƯƠNG

ÁN ĐỀ XUẤT THỰC HIỆN

Trường Tây Sơn

đường trũng thấp, tuyến mương (đoạn

là mương đất,

mương bê tông) thoát ra sông Trường Đai bị lấn chiếm (co hẹp dòng chảy, có đoạn bị che lấp, có đoạn dưới sàn nhà dân), bùn đất nhiều, khi có mưa lớn thoát nước chậm gây ngập

Dự án Nâng cấp đô thị đang lập dự

án (CĐT:

Ban QLDA NCĐT)

Đường Lê Đức Thọ đang có dự

án lắp đặt hệ thống thoát nước mới do Ban QLDA Nâng cấp đô thị thành phố làm chủ đầu

tư, trong khi chờ dự án triển khai, Trung tâm Chống ngập

dự kiến lắp đặt tuyến cống D400 đường Lê Đức Thọ

TTCN đã

có văn bản

số 1194/TTCN-QLTN ngày 21/9/2011 gửi Sở GTVT để thỏa thuận hướng tuyến công trình

2 Quang

Trung

Phạm Văn Chiêu

Chân Chợ Cầu

Đường bị trũng cục bộ;

tiết diện cống thoát nước không đảm bảo thoát nước khi gặp mưa lớn

Đấu nối mở thêm hướng thoát nước;

duy tu, sửa chữa các vị trí cống xuống cấp, nạo vét lòng cống;

'- Đã có kế hoạch nâng cấp tuyến cống theo

số 26/2011/QĐ-UBND ngày 24/5/2011

Đã thi công đấu nối trong tháng 6/2011, lắp đặt thêm tuyến mương

lề trái (BxH=

0,60m x 0,45m tăng cường khả năng thu nước mặt đường để giảm ngập cho tuyến đường trên

Đang theo dõi, đánh giá hiệu quả dự án

Nguồn: Danh mục 31 điểm ngập còn lại (gồm 28 điểm ngập hiện hữu và 03 điểm

ngập phát sinh) - Trung tâm điều hành chương trình chống ngập nước

Trang 38

Tình hình ngập lụt trong thời gian trước đây

- Năm 2002 độ sâu ngập từ 20cm đến 30cm, thời gian nước rút từ 30 đến 45 phút Vũ lượng mưa gây ngập > 30mm/h

- Năm 2003 độ sâu ngập từ 15cm đến 30cm, thời gian nước rút từ 25 đến 35 phút Vũ lượng mưa gây ngập > 30mm/h

- Năm 2004 thời gian ngập khoảng 30 đến 45 phút Tuy nhiên đối với lượng mưa

có vũ lượng 40-60mm/h thì khu vực vẫn còn ngập

- Từ năm 2005 – 2007, độ sâu ngập khoảng 10cm đến 30cm, thời gian rút nước

từ 30 – 120 phút, vũ lượng gây ngập > 35mm/h, số lần ngập trung bình khoảng

4 lần/năm

- Năm 2008 -2012 tình trạng ngập úng đã giảm đi đáng kể và chỉ xảy ra với các cơn mưa có vũ lượng lớn hơn 50 mm/h [15]

Tình hình ngập trong thời gian gần đây

Trong những năm gần đây, tình hình độ sâu ngập tại các điểm ngập tại quận Gò Vấp có dấu hiệu tăng, vũ lượng mưa cũng lớn hơn những năm trước, điển hình như sau:

- Trận mưa ngày 3-7-2014 bắt đầu từ khoảng15 giờ 30 phút với cường độ mạnh

đã gây ngập nặng nhiều tuyến đường thuộc khu vực quận Gò Vấp Ngập nặng nhất là tuyến đường Phan Huy Ích

- Cơn mưa kéo dài 3 giờ chiều ngày 6-9-2014, số liệu mà trung tâm chống ngập thành phố đo được tại trạm Quang Trung (Gò Vấp) có vũ lượng 103,6 mm/h

- Trận mưa chiều 01-10-2014, tuyến đường Dương Quảng Hàm thuộc phường 5, quận Gò Vấp ngập sâu khoảng 40cm

Tình trạng ngập do mưa lớn, triều cường tại các khu vực trên địa bàn thành phố

Hồ Chí Minh ngày một gia tăng Vì vậy cần có các giải pháp khắc phục đồng thời kết hợp kiểm soát chặt chẽ khâu qui hoạch xây dựng nhằm giảm tối đa các điểm ngập trên

địa bàn thành phố

1.4 Tổng quan về lượng mưa hiệu quả

1.4.1 Khái quát lượng mưa hiệu quả

1.4.1.1 Khái niệm

Lượng mưa hiệu quả hay còn gọi là lượng mưa tạo dòng chảy bề mặt được hình thành khi phần thấm và điền trũng đã bảo hòa Để có thể hình dung được lượng

Trang 39

Hình 1.4 Hình vẽ mô tả lượng mưa hiệu quả (Huf 1982, Genereux 1993)

Khi mưa rơi xuống thì nước mưa có thể chuyển hóa bằng các con đường: xâm nhập vào mặt đất, bay hơi hoặc trở thành dòng chảy Dòng chảy là cách nói ngắn gọn

để chỉ nước chảy tràn bề mặt nước không được hấp thụ vào trong đất, hoặc trở vào bầu khí quyển như hơi nước sẽ chảy tràn ra bề mặt ở khắp nơi

Ở những lớp phủ là bề mặt thảm thực vật và mặt đất tơi xốp thì phần mưa rơi xuống đã được rễ cây hút và thấm sâu xuống lòng đất bổ sung vào mạch nước ngầm nên lượng mưa hiệu quả tương đối ít Vì vậy ít có điều kiện xảy ra lũ hay ngập lụt

Những khu vực không có hoặc rất ít thảm thực vật đã được thay thế bởi các bề mặt không thấm nước như nhà cửa, đường xá, bãi đỗ xe, quảng trường,…để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội sẽ làm giảm các khu vực thấm nước và ngăn cản quá trình thấm nước vào trong long đất Trong khu vực đô thị và ngoại thành, nhiều bề mặt đất được bao phủ bởi các tòa nhà, vỉa hè với hệ thống thoát nước kém Các bề mặt này không cho phép nước mưa có thể thấm vào mặt đất mà làm tăng đáng kể khối lượng và vận tốc của nước mưa Đây là nguyên nhân gây nguy cơ ngập lụt đô thị trong một thời gian tương đối ngắn và có thể làm ngập một số khu vực Khu vực xảy

ra quá trình đô thị hóa có một hệ lụy đó là gia tăng nguy cơ ngập lụt Ngập lụt đô thị

có thể dẫn đến một số tác động môi trường, hoạt động sống của người dân, thiệt hại tài sản Bên cạnh đó, dòng chảy mặt có thể cuốn trôi các chất ô nhiễm đô thị xuống các

Trang 40

vùng nước của khu vực dẫn đến làm tăng sự đa dạng và số lượng các chất ô nhiễm gây ảnh hưởng đến môi trường sống của thủy sinh vật và dân cư sống gần các khu vực đó

1.4.1.2 Các phương pháp tính lượng mưa hiệu quả

Lượng tổn thất nước mưa bao gồm nước mưa điền trũng và lượng mưa thấm vào đất Lượng điền trũng và thấm được biểu thị bằng lượng trữ nước trên bề mặt của

lá cây hay cỏ, lượng tích đọng cục bộ trên bề mặt đất, trong các vết nứt, kẽ hở hoặc trên mặt đất ở đó nước không tự do di chuyển như dòng chảy trên mặt đất Từ lượng mưa đo được từ các trạm đo mưa trong một khu vực nhất định và lượng tổn thất tại khu vực đó tính toán ra được lượng mưa hiệu quả Vì vậy phương pháp tính lượng tổn thất là phương pháp gián tiếp để tính lượng mưa hiệu quả

Quá trình thấm biểu thị sự di chuyển của nước xuống những vùng nằm dưới bề mặt đất Có nhiều phương pháp sử dụng để tính tổn thất Dùng bất kỳ phương pháp nào ta đều tính được lượng tổn thất trung bình trong một thời đoạn tính toán Dưới đây

pet = pt - fc nếu pt > fc

pet = 0 nếu pt ≤ fc Trong đó pet (et: effective) là lượng mưa hiệu quả Quá trình thấm bắt đầu từ một cường độ thấm Ia, sau đó giảm dần cho đến khi đạt tới một giá trị không đổi fc Tổn thất ban đầu được thêm vào mô hình để biểu thị hệ số trữ nước của lưu vực Hệ

số trữ là kết quả của sự giữ nước của thảm phủ thực vật trên lưu vực, nước được trữ trong những chỗ lõm bị thấm hay bốc hơi gọi là tổn thất điền trũng Tổn thất này xảy

ra trước khi hình thành dòng chảy trên lưu vực Khi lượng mưa rơi trên lưu vực chưa vượt quá lượng tổn thất ban đầu thì chưa sinh dòng chảy

Lượng mưa hiệu quả được tính theo công thức :

Ngày đăng: 26/01/2021, 23:03

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w