LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Mối quan hệ giữa mức phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhâ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ PHƯƠNG THANH
MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC PHÁT THẢI KHÍ GÂY HIỆU ỨNG NHÀ KÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2018
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ PHƯƠNG THANH
MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC PHÁT THẢI KHÍ GÂY HIỆU ỨNG NHÀ KÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHẠM HỒNG MẠNH Chủ tịch Hội Đồng:
TS QUÁCH THỊ KHÁNH NGỌC
Phòng Đào tạo Sau Đại học:
KHÁNH HÒA - 2018
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Mối quan hệ giữa mức phát thải khí
gây hiệu ứng nhà kính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam” là công trình nghiên
cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Khánh Hòa, tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Phương Thanh
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý Thầy cô Trường Đại học Nha Trang,
gia đình và bạn bè học viên lớp Cao học KTPT 2016-4
Trước tiên, tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn đến quý Thầy cô Trường Đại học
Nha Trang, đặc biệt là Khoa Kinh tế và Khoa sau đại học Trường Đại học Nha Trang
đã truyền đạt kiến thức, hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Phạm Hồng Mạnh, người thầy đã nhiệt
tình dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề
cương, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi cũng xin gửi lời biết ơn đến gia đình tôi vì sự hy sinh và hỗ trợ của họ dành
cho tôi trong thời gian tôi thực hiện luận văn
Mặc dù rất cố gắng để làm rõ bản chất về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
và khí thải gây hiệu ứng nhà kính, tuy nhiên hạn chế về dữ liệu cũng ảnh hưởng đến
kết quả phân tích do dữ liệu được thu thập, ngoài ra còn có những hạn chế mà tôi chưa
nhận thấy, tôi rất mong nhận được những góp ý chân thành sâu sắc và quý báu của các
Thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện, đạt giá trị học thuật cao
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn đến tất cả các thầy cô, gia đình và các bạn
Khánh Hòa, tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Phương Thanh
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC CÁC BẢNG x
DANH MỤC CÁC HÌNH xii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xiii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu 4
1.5.1 Về mặt khoa học 4
1.5.2 Về mặt thực tiễn 4
1.6 Cấu trúc luận văn 5
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
2.1 Hiệu ứng nhà kính 6
2.1.1 Hiệu ứng nhà kính 6
2.2 Các khí thải gây hiệu ứng nhà kính 10
2.2.1 Khí thải 10
Trang 82.2.2 Các khí thải gây hiệu ứng nhà kính 10
2.3 Tăng trưởng kinh tế 11
2.3.1 Khái niệm 11
2.3.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế 11
2.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế 12
2.4 Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường 14
2.4.1 Đường cong Kuznets môi trường (EKC) 14
2.4.2 Quan điểm đánh đổi giữa kinh tế - môi trường 18
2.5 Các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài 19
2.5.1 Các nghiên cứu trong nước 19
2.5.2 Các nghiên cứu ngoài nước 19
2.6 Khung phân tích nghiên cứu 22
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 22
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 23
3.2 Mô hình nghiên cứu 23
3.2.1 Mô hình kinh tế lượng 23
3.2.2 Các giả thuyết nghiên cứu 24
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 25
3.3.1 Nguồn dữ liệu 25
3.3.2 Qui mô mẫu nghiên cứu 25
3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 26
3.4.1 Phương pháp thống kê mô tả 26
3.4.2 Mô hình tự hồi qui véc tơ (Var) 26
TÓM TẮT CHƯƠNG 3: 29
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Việt Nam 30
4.1.1 Vị trí địa lý 30
Trang 94.1.2 Điều kiện tự nhiên, địa hình 31
4.1.3 Khí hậu 32
4.2 Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội 32
4.2.1 Kinh tế 32
4.2.2 Đặc điểm dân số 35
4.3 Khái quát về kinh tế Việt Nam giai đoạn 1985 - 2017 35
4.3.1 Tình hình tăng trưởng kinh tế 35
4.3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 37
4.4 Tình hình phát thải gây hiệu ứng nhà kinh kính tại Việt Nam 43
4.4.1 Tình hình sử dụng năng lượng – yếu tố đầu vào cho nền kinh tế 43
4.4.2 Phát thải các khí gây hiệu ứng nhà kính 45
4.5 Phân tích tác động của yếu tố đến cường độ phát thải khí hiệu ứng nhà kính (CO2) tại Việt Nam 50
4.5.1 Thống kê mô tả các biến 50
4.5.2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải khí CO2 bằng mô hình tự hồi qui véc tơ (VAR) 51
4.5.3 Kiểm định mối quan hệ quả giữa cường độ khí phát thải khí CO2 với các biến trong mô hình (Granger Causality) 57
4.5.4 Kiểm định đồng liên kết 58
4.6 Bàn luận kết quả nghiên cứu 61
4.6.1 Về diễn biến phát thải khí hiệu ứng nhà kính và nguyên nhân 61
4.6.2 Mối quan hệ giữa cường độ phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và tăng trưởng kinh tế 62
4.6.3 Đối với mối quan hệ nhân quả 63
4.6.4 Về mối quan hệ đồng liên kết trong dài hạn 64
4.7 Đánh giá chung về mối quan hệ giữa khí phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam 64
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 65
Trang 10CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 66
5.1 Kết luận 66
5.2 Mục tiêu tăng trưởng xanh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 68
5.3 Các hàm ý chính sách nhằm giảm mức phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính để thúc đẩy tăng trưởng xanh tại Việt Nam 70
5.3.1 Giảm các nguồn phát thải gây hiệu ứng nhà kính 70
5.3.2 Giảm sử dụng năng lượng hóa thạch và phát triển năng lượng sạch 72
5.3.3 Ứng dụng KHCN trong các hoạt động sản xuất của nền kinh tế 73
5.3.4 Chính sách khuyến khích để giảm thải khí gây hiệu ứng nhà kính, đặc biệt là hỗ trợ tiêu thụ đối với sản phẩm, sử dụng dịch vụ 75
5.3.5 Tăng cường quản lý chất thải, đặc biệt là những chất thải rắn, chất thải nguy hại gây hiệu ứng nhà kính 75
5.3.6 Các kiến nghị 76
5.4 Hạn chế của nghiên cứu 78
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC
Trang 11DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 24
Bảng 3.2: Tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu 25
Bảng 4.1: Một số chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2016 34
Bảng 4.2: Tổng sản phẩm quốc nội và tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1985 - 2017 36
Bảng 4.3: Giá trị sản xuất, tỉ trọng đóng góp và tốc độ tăng trưởng ngành nông lâm nghiệp và thủy sản giai đoạn 1985 - 2017 39
Bảng 4.4: Giá trị sản xuất, tỉ trọng đóng góp và tốc độ tăng trưởng ngành nông lâm nghiệp và thủy sản giai đoạn 1985 - 2017 40
Bảng 4.5: Giá trị sản xuất, tỉ trọng đóng góp và tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp và xây dựng giai đoạn 1985 - 2017 40
Bảng 4.6: Giá trị sản xuất, tỉ trọng đóng góp và tốc độ tăng trưởng bình quân các giai đoạn của ngành công nghiệp và xây dựng 41
Bảng 4.7: Giá trị sản xuất, tỉ trọng đóng góp và tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ giai đoạn 1986 – 2017 42
Bảng 4.8: Giá trị sản xuất, tỉ trọng đóng góp và tốc độ tăng trưởng bình quân các giai đoạn của ngành dịch vụ 43
Bảng 4.9: Tỉ lệ tiêu thụ năng lượng hóa thạch trong tổng năng lượng tiêu thụ của Việt Nam giai đoạn 1985 – 2017 43
Bảng 4.10: Lượng khí thải khí gây hiệu ứng nhà kính (CO2, CH4, NOx) tính theo bình quân đầu người của Việt Nam giai đoạn 1985 – 2017 46
Bảng 4.11: Lượng phát thải CO2 của một số lĩnh vực chính giai đoạn 1985 – 2017 48
Bảng 4.12: Thống kê mô tả các biến trong hồi qui đa biến 50
Bảng 4.13: Kiểm định nghiệm đơn vị (Unit Root test) 51
Bảng 4.14: Kết quả lựa chọn bậc trễ tối ưu 52
Bảng 4.15: Kết quả ước lượng Var 52
Bảng 4.16: Kết quả ước lượng cuối cùng mô hình VAR 53
Trang 13Bảng 4.17: Kết quả kiểm định tính dừng của phần dư 55
Bảng 4.18: Kết quả kiểm định phân phối chuẩn phần dư 56
Bảng 4.19: Kết quả kiểm định tự tương quan 56
Bảng 4.20: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi 57
Bảng 4.21: Kết quả kiểm định nhân quả Granger 58
Bảng 4.22: Kết quả kiểm định đồng liên kết về mối quan hệ giữa phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam 59
Bảng 4.23: Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu 65
Trang 14
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Đường cong Kuznets về môi trường (EKC) 15
Hình 2.2: Đường cong Kuznets môi trường trong các giai đoạn phát triển 17
Hình 2.3: Quan điểm đánh đổi trong mối quan hệ giữa kinh tế và thiệt hại môi trường 18
Hình 2.4: Khung phân tích nghiên cứu 22
Hình 4.1: Bản đồ hành chính Việt Nam 30
Hình 4.2: GDP bình quân đầu người và tốc độ tăng GDP bình quân đầu người của Việt Nam giai đoạn 1985 - 2017 37
Hình 4.3: Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1985 - 2017 38
Hình 4.4: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tổng sản phẩm quốc nội tính trên mỗi đơn vị sử dụng năng lượng của Việt Nam giai đoạn 1985 – 2017 44
Hình 4.5: Tình hình phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính tại Việt Nam giai đoạn 1985 - 2017 45
Hình 4.6: Lượng khí thải khí gây hiệu ứng nhà kính (CO2, CH4, NOx) tính theo GDP của Việt Nam giai đoạn 1985 – 2017 47
Hình 4.7: Tỉ lệ khí thải CO2 từ các nguồn nhiên liệu giai đoạn 1985 – 2017 49
Trang 15
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Việt Nam được đánh giá là một trong những nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu mà nguyên nhân sâu xa là do hiệu ứng nhà kính gây ra Nhận thức
rõ tác động của biến đổi khí hậu, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng và triển khai thực hiên Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu và sử dụng năng lượng tái tạo Các Bộ, ngành và địa phương đã và đang xây dựng kế hoạch hành động Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam để ứng phó với những tác động cấp bách trước mắt và những tác động tiềm tàng lâu dài của biến đổi khí hậu và các đề xuất trong việc sử dụng năng lượng tái tạo Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Mối quan hệ giữa mức phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam” nhằm nghiên cứu đánh giá các mối quan hệ này và dựa trên kết quả của nghiên cứu này, tác giả đề xuất một số gợi ý chính sách tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu của ngân hàng thế giới thông qua phương pháp ước lượng dữ liệu chuỗi thời gian để phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và mức phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính tại Việt Nam Từ kết quả nghiên cứu cho thấy
trong năm 1985 lên đến 166910.839 tấn trong năm 2014 Trung bình trong giai đoạn
quân đầu người, trong giai đoạn này mỗi người dân Việt Nam thải ra trung bình 0.834
tấn thì đến thời điểm năm 2012 đã tăng lên 113563.74 tấn Trung bình trong giai đoạn này,
trong giai đoạn này mỗi người dân thải ra 0.24821 tấn
Kể từ năm 1985 đến nay đó ba ngành luôn chiếm tỉ trọng cao trong phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính tại Việt Nam là: ngành công nghiệp sản xuất và xây dựng (chiếm 34.38% trong tổng đốt nhiên liệu của nền kinh tế); các phương tiện giao thông
Trang 16vận tải (chiếm 23.75% trong tổng đốt nhiên liệu của nền kinh tế); sản xuất nhiệt điện
khác (ngoại trừ các tòa nhà dân cư và các dịch vụ thương mại và công cộng chiếm trung bình trong giai đoạn này khoảng 2.43% tổng lượng đốt nhiên liệu của nền kinh
Kết quả nghiên cứu chỉ tìm thấy sự ảnh hưởng của các yếu tố đến cường độ phát
cường độ phát thải (độ trễ là 2) có mức độ tác động -0.482421; tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người) có mức độ tác động 29180.49 (có độ trễ bằng 1); và bình phương tăng trưởng kinh tế có mức độ tác động - 14588.66 (có độ trễ bằng 1) Kết quả mô hình cho thấy, mức độ giải thích của mô hình là 56.54% Điều
thời gian qua được giải thích ở các biến trong mô hình Kết quả còn cho thấy, hệ số của hàm bậc hai ước lượng có hệ số nhỏ hơn 0 Như vậy, đỉnh của hàm bậc 2 quay xuống dưới, phản ánh đúng dạng đường cong Kuznet môi trường tại Việt Nam trong thời gian qua
Từ kết quả kiểm định nhân quả Granger (Granger Causality Tests) cho thấy tồn
tại mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế với cường độ phát thải khí nhà kính
động trở lại đến tăng trưởng (tác động dương) Tuy nhiên, nếu mức tăng trưởng tăng lên gấp đôi (bình phương GDP bình quân đầu người) thì mối quan hệ nhân quả quả này sẽ mang chiều hướng tiêu cực (-)
Nghiên cứu cũng tìm ra bằng chứng về mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và tỉ lệ sử dụng năng lượng hóa thạch trong nền kinh tế Việt Nam Tăng trưởng kinh tế trong thời gian qua phụ thuộc vào sự gia tăng tỉ lệ sử dụng năng lượng hóa thạch và sự gia tăng này có tác động tích cực đến tăng trưởng Tuy nhiên, mức độ tiêu cực của mối quan hệ này cũng được tìm thấy thông qua mối quan hệ nhân quả giữa bình phương thu nhập bình quân đầu người với tỉ lệ sử dụng năng lượng hóa thạch của nền kinh tế (-) Kết quả nghiên cứu còn cho thấy rằng, tồn tại mối quan hệ mối quan hệ
trong mô hình và có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%
Từ khóa: khí gây hiệu ứng nhà kính, tăng trưởng kinh tế, Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu
Nhiệt độ bề mặt trái đất được tạo nên do sự cân bằng giữa năng lượng mặt trời đến bề mặt trái đất và năng lượng bức xạ của trái đất vào khoảng không gian giữa các hành tinh Năng lượng mặt trời chủ yếu là các tia sóng ngắn dễ dàng xuyên qua cửa sổ
sóng dài có năng lượng thấp, dễ dàng bị khí quyển giữ lại Các tác nhân gây ra sự hấp
v.v Kết quả của sự của sự trao đổi không cân bằng về năng lượng giữa trái đất với không gian xung quanh, dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất Hiện tượng này diễn ra theo cơ chế tương tự như nhà kính trồng cây và được gọi là Hiệu ứng nhà kính
Như vậy, hiệu ứng nhà kính đang là vấn đề được toàn nhân loại quan tâm vì nó tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội và môi trường toàn cầu Nhiệt độ trái đất tăng sẽ làm tan băng và dâng cao mực nước biển Như vậy, nhiều vùng sản xuất lương thực trù phú, các khu đông dân cư, các đồng bằng lớn, nhiều đảo thấp sẽ bị chìm dưới nước biển; Sự nóng lên của trái đất làm thay đổi điều kiện sống bình thường của các sinh vật trên trái đất Một số loài sinh vật thích nghi với điều kiện mới sẽ thuận lợi phát triển Trong khi đó nhiều loài bị thu hẹp về diện tích hoặc bị tiêu diệt; Khí hậu trái đất sẽ bị biến đổi sâu sắc, các đới khí hậu có xu hướng thay đổi Toàn bộ điều kiện sống của tất cả các quốc gia bị xáo động Hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ hải sản bị ảnh hưởng nghiêm trọng; Nhiều loại bệnh tật mới đối với con người xuất hiện, các loại dịch bệnh lan tràn, sức khoẻ của con người bị suy giảm
Đối mặt với những thay đổi toàn cầu, Tổng thư ký Liên hiệp quốc Ban Ki-moon
đã có sáng kiến Năng lượng bền vững cho tất cả mọi người, nhằm đạt được 3 mục tiêu toàn cầu có liên quan đến nhau vào năm 2030, gồm: Phổ cập tiếp cận với các dịch vụ năng lượng hiện đại; tăng gấp đôi hiệu quả sử dụng năng lượng; tăng gấp đôi tỉ trọng của năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng thế giới (Đảm bảo năng lượng bền vững toàn cầu, 2012)
Một bước tiến quan trọng là sự phát triển của Hiệp định Paris theo Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu Hiệp ước bắt đầu có hiệu lực vào ngày
4 tháng 11 năm 2016 và cho đến nay đã được phê duyệt bởi 147 quốc gia Mục đích chính của thỏa thuận này là nhằm giảm phát thải khí nhà kính và cứ như vậy duy trì
Trang 18nhiệt độ hàng năm toàn cầu tăng dưới 2°C (Liên hiệp quốc, 2015) Những nghiên cứu gần đây cũng đã chỉ ra rằng nguyên nhân của biến đổi khí hậu chính là các hoạt động của con người tác động lên hệ thống khí hậu làm cho khí hậu biến đổi
Theo báo cáo Hiện trạng Năng lượng Tái tạo Toàn cầu REN21 (GSR) (2017) cho thấy một sự chuyển đổi năng lượng toàn cầu đang diễn biến thuận lợi với những con
số về công suất lắp đặt mới của năng lượng tái tạo, chi phí giảm nhanh, đặc biệt là năng lượng mặt trời và năng lượng gió, cùng với tăng trưởng kinh tế và giảm phát thải
giải pháp sáng tạo và bền vững hơn để đáp ứng nhu cầu năng lượng thông qua quy hoạch liên ngành, các mô hình kinh doanh mới và ứng dụng sáng tạo hơn các công nghệ, chúng ta đang đẩy nhanh quá trình chuyển đổi toàn diện để thoát khỏi một thế giới đang cạn kiệt nhiên liệu hóa thạch Sáng kiến mua sắm bền vững trong khu vực công đã được nhiều Chính phủ và tổ chức trên thế giới đã tự nguyện ký kết thực hiện Sáng kiến này được UNEP nêu ra và yêu cầu chính phủ các nước tham gia ủng hộ đưa các nguyên tắc mua sắm xanh vào các hoạt động chi tiêu của Chính phủ (Nguyễn Song Tùng, 2015)
Như vậy, chúng ta thấy rằng, việc thay đổi phương thức tiêu dùng theo hướng bền vững là chủ đề được quan tâm rộng rãi hiện nay, bởi nó liên quan tới nhiều chủ thể (cá nhân, hộ gia đình, nhóm, doanh nghiệp và nhà nước), nhiều cấp độ (địa phương, quốc gia, vùng lãnh thổ và quốc tế), nhiều khía cạnh (kinh tế, xã hội và môi trường) Tiêu dùng năng lượng tái tạo cùng với kinh tế bền vững đã, đang và sẽ trở thành vấn
đề trung tâm trong các nỗ lực hướng tới phát triển bền vững của nhân loại Vì mục tiêu định hướng mọi người thay đổi hành vi tiêu dùng theo hướng tiêu dùng bền vững, các
tổ chức như Ủy ban Môi trường Quốc tế của Liên Hiệp Quốc về Sử dụng Bền vững Tài nguyên Thiên nhiên – hay được biết là Ủy ban Tài nguyên – đã hướng đến các vấn
đề lớn hơn ở quy mô quốc tế, thúc đẩy các chính phủ và ngành tập trung vào tương lai Việt Nam được đánh giá là một trong những nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng của hiệu ứng nhà kính, trong đó đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng
dễ bị tổn thương nhất do nước biển dâng
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy sự tăng trưởng của kinh tế thế giới đã làm tăng lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính từ ngành năng lượng Đây là một dấu hiệu khá rõ cho thấy tăng trưởng GDP song hành với mức độ gây ô nhiễm
Trang 19Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Mối quan hệ giữa mức phát thải khí gây hiệu ứng
nhà kính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam” nhằm nghiên cứu đánh giá các mối
quan hệ này và dựa trên kết quả của nghiên cứu này, tác giả đề xuất một số gợi ý chính sách tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu chung của đề tài nhằm đánh giá tình hình sử dụng và xem xét mối quan
hệ giữa phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam Từ đó giúp các nhà hoạch định có những chính sách phát triển kinh tế phù hợp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trong tương lai
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết các mục tiêu cụ thể nêu trên, cũng như lấp đầy các khoảng trống nghiên cứu chỉ ra qua phần tổng quan tài liệu, đề tài hướng đến trả lời các câu hỏi nghiên cứu cụ thể sau:
1) Tình hình phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam hiện nay như thế nào?
tại Việt Nam hiện nay như thế nào?
trưởng kinh tế tại Việt Nam trong thời gian qua hay không?
4) Các hàm ý chính sách nào để giảm cường độ và mức phát thải khí hiệu ứng nhà kính nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh Việt Nam trong thời gian tới?
Trang 201.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, tăng trưởng kinh tế và các vấn đề liên quan về mối quan hệ giữa mức phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Không gian: Vấn đề nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam
+ Thời gian: Dữ liệu thu thập trong khoảng thời gian năm 1985-2017
+ Phạm vi lý thuyết: Lý thuyết được sử dụng trong luận văn chủ yếu dựa trên lý thuyết về kinh tế tài nguyên và môi trường mà cụ thể là lý thuyết về mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường
+ Phạm vi mô hình nghiên cứu: Trong điều kiện thu thập dữ liệu và thời gian
trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn 1985 – 2014
1.5 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu
1.5.1 Về mặt khoa học
Kết quả đề tài là hệ thống hoá về mặt lý luận về mối quan hệ giữa mức phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam Điều này giúp cho người đọc có được cái nhìn tổng quát về bản chất của mối quan hệ này;
Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo để các nghiên cứu sâu hơn về tính bền vững trong tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
1.5.2 Về mặt thực tiễn
Đề tài phác họa được bức tranh về mức phát thải gây hiệu ứng nhà kính cũng như diễn biến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn 1985 – 2017
Nghiên cứu này được kỳ vọng cung cấp một luận chứng khoa học về mối quan
hệ giữa mức phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam Thông qua đó, nghiên cứu mong muốn đóng góp thông qua những giải thích thỏa đáng, xác thực các mối quan hệ này với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam và gợi ý các chính sách phù hợp trong việc giảm thiểu các vấn đề môi trường, sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống, tiết kiệm chi phí trong dài hạn, nâng cao phúc lợi xã hội, góp phần vào sự tăng trưởng bền vững hơn của nền kinh tế tại Việt Nam
Trang 21Đề tài nghiên cứu là tài liệu tham khảo, cung cấp các dữ liệu khoa học cho các nhà quản lý, sinh viên các trường đại học, học viên cao học, đồng thời cũng là nền tảng các dẫn liệu khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo
1.6 Cấu trúc luận văn
Với mục tiêu nghiên cứu nói trên, ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của đề tài bao gồm các nội dung chủ yếu:
- Chương 1: Giới thiệu Chương này xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học
và thực tiễn của đề tài, cấu trúc của luận văn
- Chương 2: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về hiệu ứng nhà kính, tăng trưởng kinh tế và các lý thuyết liên quan đến mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường; Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan cũng như mô hình nghiên cứu đề xuất cho đề tài luận văn Bên cạnh đó, chương cũng tổng quan các nghiên cứu trước trong nước và ngoài nước liên quan đến đề tài
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày cách tiếp cận nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu, loại dữ liệu thu thập và các công cụ phân tích dữ liệu; khung phân tích và các giả thiết của nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này khái quát về tình hình phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính tại Việt Nam; Thực trạng về tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay; Phân tích mối quan hệ nhân quả giữa mức phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong thời gian qua
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương này trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, đề xuất một số hàm ý chính sách để giảm mức phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Việt Nam trong thời gian tới; đồng thời nêu những điểm còn hạn chế của nghiên cứu và phương hướng nghiên cứu tiếp theo
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, luận văn đã trình bày và giới thiệu khái quát về vấn đề nghiên cứu, như: Xác định vấn đề nghiên cứu, xác định mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu; trình bày đối tượng và phương pháp nghiên cứu; phương pháp tiếp cận nghiên cứu, ý nghĩa khoa học của nghiên cứu Ngoài ra, nội dung, bố cục các chương của luận văn cũng được trình bày trong phần giới thiệu này
Trang 22CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Hay theo một cách hiểu khác thì hiệu ứng nhà kính là hiệu ứng giữ nhiệt trong tầng thấp khí quyển do sự hấp thụ và bức xạ lại từ mây và các chất khí (thí dụ hơi nước, điôxit cacbon, mêtan và chlorofluoro cacbon) đối với bức xạ sóng dài từ trái đất Bức xạ sóng ngắn đến, gồm ánh sáng thấy được và nhiệt được hấp thụ bởi các vật chất
và rồi hoạt động như các vật đen bức xạ trở lại ở dạng sóng dài hơn Các chất nhất định (thí dụ: điôxit cacbon) hấp thụ bức xạ sóng dài, được nó đốt nóng lên, rồi bắt đầu bức xạ vẫn dưới dạng sóng dài về mọi hướng, một số hướng xuống dưới Sự đốt nóng thật sự trong nhà kính chủ yếu gây nên bởi kính ngăn không khí nóng đi ra và không khí lạnh đi vào Sự tăng rõ rệt nồng độ điôxit cacbon trong khí quyển do đốt các nhiên liệu hóa thạch chẳng hạn, có thể dẫn đến tăng nhiệt độ khí quyển toàn cầu Hiệu ứng cách nhiệt gây nên bởi các khí nhà kính giống như tấm kính ở nhà kính (tức là nó trong suốt đối với bức xạ sóng ngắn đi tới, nhưng có phần mờ đục đối với bức xạ sóng dài được bức xạ lại)
2.1.1.2 Nguồn gây phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính
Thời gian qua, phát triển kinh tế - xã hội đã góp phần nâng cao đáng kể điều kiện sống cho người dân, tạo đà tiếp tục đẩy mạnh sự tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, đi kèm với đó là những áp lực không nhỏ tác động lên môi trường
Theo báo cáo đánh giá của Nhóm công tác I thuộc Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đưa ra vào đầu năm 2013, BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại Những ảnh hưởng của BĐKH đến con người và các thay đổi của hệ thống khí hậu cũng đã được ghi nhận từ những năm 1950 Nguyên nhân chính của BĐKH là do phát thải khí nhà kính (KNK), trong đó, các hoạt động sinh sống và sản xuất của con người là nguồn phát thải chính
Trang 23Căn cứ theo nguồn gốc phát sinh, mức độ phát thải tuyệt đối và xu hướng phát thải cũng như mức độ ảnh hưởng đến tổng tiềm năng phát thải KNK của các quốc gia, các nguồn phát thải được chia thành 4 nhóm chính:
Năng lượng: Là một trong những nguồn phát thải KNK lớn nhất hiện nay Lĩnh
nhóm: phát thải do đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (trong các ngành công nghiệp năng lượng, hoạt động giao thông vận tải ); Phát thải tức thời (tức là lượng khí, hơi thải ra
từ các thiết bị nén do rò rỉ, không mong muốn hoặc không thường xuyên từ quá trình khai thác, chế biến, vận chuyển nhiên liệu ) và hoạt động thu hồi và lưu trữ cácbon Trong đó, phát thải từ đốt nhiên liệu hóa thạch đóng góp đến 70% tổng lượng phát thải, tiêu biểu là từ các nhà máy điện và nhà máy lọc dầu
Ô nhiễm môi trường không khí do hoạt động sản xuất công nghiệp chủ yếu tập trung tại các vùng ven các nhà máy, cơ sở sản xuất vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, quản lý môi trường kém, điển hình như một số nhà máy xi măng, luyện kim, khai khoáng, nhiệt điện… Bụi, khí thải tại xung quanh các cơ sở này thường vượt nhiều lần quy chuẩn cho phép Nguồn ô nhiễm không khí từ hoạt động công nghiệp này thường
có nồng độ các chất độc hại cao, tập trung trong một vùng
Tùy thuộc vào loại hình sản xuất, quy trình công nghệ, quy mô sản xuất và nhiên liệu sử dụng mà các hoạt động công nghiệp khác nhau sẽ phát sinh khí thải với thành phần và nồng độ khác nhau Các chất độc hại từ khí thải công nghiệp được phân loại
lượng phát thải các chất gây ô nhiễm, còn lại là các chất ô nhiễm không khí khác Nguồn gây ô nhiễm không khí của hoạt động sản xuất thép chủ yếu phát sinh từ các khu vực sản xuất như nhà xưởng, lò than, khu vực tạo hình, khu vực tập kết sản
than, khu vực vận chuyển, khí thải phát sinh chủ yếu gồm NOx, VOC, hơi xăng dầu Các nhà máy sản xuất thép phân bố không đồng đều giữa các vùng trên cả nước, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ Do đó, áp lực ô
Trang 24nhiễm môi trường không khí từ hoạt động sản xuất thép tại hai khu vực này cũng lớn hơn các khu vực khác, đòi hỏi phải có sự cân nhắc trong quy hoạch phát triển vùng và
sự đầu tư đúng mức cho các hệ thống xử lý khí thải phát sinh
Các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng
Sông Hồng và Trung du miền núi phía Bắc Ô nhiễm không khí do hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng phát sinh từ quá trình khai thác, sản xuất và vận chuyển nguyên vật
SO2, H2S
Ngành công nghiệp sản xuất xi măng là ngành công nghiệp đóng vai trò quan
trong trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, đây lại được coi là ngành công nghiệp gây ảnh hưởng đến chất lượng không khí lớn nhất và đặc trưng nhất Các nhà máy sản xuất xi măng chủ yếu được phân bố tại vùng đồng bằng Sông Hồng và Bắc Trung Bộ, chiếm 39% tổng sản lượng sản xuất xi măng trên toàn quốc Hiện nay, công nghệ sản xuất xi măng của nước ta chủ yếu theo phương pháp khô, lò quay Theo đánh giá của các chuyên gia, sản xuất xi măng bằng công nghệ lò quay ít gây ảnh hưởng đến môi trường hơn lò đứng Mặc dù đã có chủ trương loại bỏ
xi măng lò đứng nhưng trên thực tế vẫn còn tồn tại một số nhà máy xi măng lò đứng
và các trạm nghiền độc lập, có công suất nhỏ, thiết bị cũ, lạc hậu Khí thải từ lò nung
không được kiểm soát tốt, trong đó nổi cộm là ô nhiễm bụi Bụi xi măng phát sinh ở hầu hết các công đoạn trong quá trình sản xuất như: quá trình nghiền, đập, sàng, phân
ly, sấy, nung, làm nguội, đóng bao và vận chuyển
Các ngành sản xuất vật liệu xây dựng khác trong quá trình hoạt động cũng gây ảnh hưởng đến chất lượng không khí tại các khu vực xung quanh Việc khai thác và chế biến đá gây ô nhiễm bụi từ quá trình nổ mìn, đập nghiền và bốc xúc đá Ngoài bụi,
dụng dầu diezen Hoạt động sản xuất gốm sứ, gạch nung, gạch ốp lát, do sử dụng than
Khai thác và chế biến than là một trong những ngành công nghiệp góp phần giữ
vững an ninh năng lượng và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Theo thống kê, hiện có khoảng 28 doanh nghiệp khai thác, chế biến than nằm trong Tập đoàn công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam Do đặc thù của ngành và công nghệ khai thác còn lạc
Trang 25hậu, các biện pháp giảm thiểu bụi, khí thải còn hạn chế nên các tác động đến môi trường không khí vẫn là vấn đề cần được chú ý trong ngành sản xuất này Tác nhân gây ô nhiễm môi trường không khí phát sinh từ hoạt động của ngành khai thác và chế
nghiệp đã thực hiện một số biện pháp giảm thiểu tác động như trang bị hệ thống xử lý bụi, che phủ xe vận chuyển, cải tiến dây chuyền sản xuất nhưng kết quả quan trắc cho thấy 100% các cơ sở khai thác và chế biến than có nồng độ bụi vượt ngưỡng quy chuẩn Việt Nam
Quy trình công nghiệp và sử dụng sản phẩm (IPPU): Phát thải từ lĩnh vực
IPPU phát sinh trong các quy trình xử lý công nghiệp; việc sử dụng KNK trong các sản phẩm và sử dụng cácbon trong các nhiên liệu hóa thạch không nhằm mục đích sản xuất năng lượng Trong đó, nguồn phát thải chính là các quy trình công nghiệp xử lý nguyên liệu về mặt hóa học hoặc vật lý Trong suốt các quy trình này, nhiều loại KNK
khoảng 7% lượng khí thải tạo ra từ các nước phụ lục I (UNFCCC, 2008) và xấp xỉ 6%
ở các nước không thuộc phụ lục I (UNFCCC, 2005) (Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Tùng Lâm, Hoàng Ngọc Hân, 2014)
Nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất (AFOLU): Các nguồn chủ yếu gây
lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thay đổi sử dụng đất Nói chung, lĩnh vực AFOLU đóng
trọt và chăn nuôi gia súc (Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Tùng Lâm, Hoàng Ngọc Hân, 2014)
Chất thải: Các loại KNK có thể phát sinh trong lĩnh vực chất thải bao gồm: CO2,
là: chôn lấp chất thải rắn; xử lý sinh học chất thải rắn; thiêu hủy và đốt chất thải; xử lý
và xử lý nước thải cũng đóng một vai trò tương đối quan trọng Bên cạnh đó, xả thải,
xử lý chất thải rắn và nước thải cũng đồng thời tạo ra các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi
Trang 26còn NH3 sinh ra trong quá trình compost NOx và NH3 có thể gián tiếp tạo ra N2O
Nguyễn Tùng Lâm, Hoàng Ngọc Hân, 2014)
2.2 Các khí thải gây hiệu ứng nhà kính
2.2.1 Khí thải
Khí thải công nghiệp là chất thải tồn tại ở trạng thái khí hoặc hơi phát sinh từ hoạt động sản xuất, dịch vụ công nghiệp (Theo Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính Phủ về quản lý chất thải và phế liệu)
2.2.2 Các khí thải gây hiệu ứng nhà kính
Khí thải carbon dioxide là những phát sinh từ việc đốt các nhiên liệu hóa thạch
và sản xuất xi măng Chúng bao gồm carbon dioxide được sản xuất trong quá trình tiêu thụ nhiên liệu rắn, lỏng, khí và khí đốt (Trung tâm phân tích thông tin Carbon Dioxide, Khoa học môi trường, Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge, Tennessee, Hoa Kỳ)
Khí thải mêtan là những phát sinh từ các hoạt động của con người như nông nghiệp và từ sản xuất khí mê-tan công nghiệp (Ủy ban uropean, Trung tâm nghiên cứu chung (JRC) / Cơ quan đánh giá môi trường Hà Lan (PBL) Cơ sở dữ liệu phát thải cho nghiên cứu khí quyển toàn cầu (EDGAR): http://edgar.jrc.ec.europa.eu/)
HFC (Hydrofluorocarbons)
Hydrofluorocarbons được dùng làm chất thay thế cho chlorofluorocarbons, được
sử dụng chủ yếu trong sản xuất lạnh và bán dẫn (Ủy ban châu Âu, Trung tâm nghiên cứu chung (JRC) / Cơ quan đánh giá môi trường Hà Lan (PBL) Cơ sở dữ liệu phát thải cho nghiên cứu khí quyển toàn cầu (EDGAR): http://edgar.jrc.ec.europa.eu/)
SF6 (Lưu huỳnh hexafluoride)
Lưu huỳnh hexafluoride được sử dụng chủ yếu để cách nhiệt thiết bị điện cao áp (Ủy ban châu Âu, Trung tâm nghiên cứu chung (JRC) / Cơ quan đánh giá môi trường
Trang 27Hà Lan (PBL) Cơ sở dữ liệu phát thải cho nghiên cứu khí quyển toàn cầu (EDGAR): http://edgar.jrc.ec.europa.eu/).
Các khí thải nhà kính khác (HFC, PFC và SF6)
perfluorocarbons, và lưu huỳnh hexafluoride (Ước tính của nhân viên Ngân hàng Thế giới từ nguồn gốc: Ủy ban Châu Âu, Trung tâm Nghiên cứu Chung (JRC) / Cơ quan Đánh giá Môi trường Hà Lan (PBL) Cơ sở dữ liệu phát thải cho nghiên cứu khí quyển toàn cầu (EDGAR): http://edgar.jrc.ec.europa.eu/.)
2.3 Tăng trưởng kinh tế
Theo tác giả Nguyễn Trọng Hoài (2013), tăng trưởng kinh tế là tỷ lệ tăng sản lượng thực tế, là kết quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ của một nền kinh tế tạo ra Sự tăng trưởng kinh tế ngành nông nghiệp được so sánh với các năm gốc kế tiếp nhau được gọi là tốc độ tăng trưởng kinh tế
2.3.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế bao gồm: Tổng giá trị sản xuất (GO), tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng thu nhập quốc dân (GNI), thu nhập quốc dân (NI), tổng sản phẩm tính bình quân đầu người (GDP/đầu người) Tùy theo mỗi nước mà sử dụng khác nhau, nước xuất khẩu vốn thì dùng GNP, nhập khẩu vốn như Việt Nam thì dùng GDP
Các công thức đo lường tăng trưởng kinh tế:
- Mức tăng trưởng kinh tế theo kỳ gốc:
∆ Y = Yt – Y0
∆ Yt= Yt – Yt-1
Trang 28- Tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ cho biết quy mô sản lượng gia tăng nhanh hay chậm qua các thời kỳ khác nhau
Sử dụng kết quả phần trên ta có:
Tốc độ tăng trưởng giữa thời điểm t và thời điểm gốc
gY = ∆ Y*100/Y0 Tốc độ tăng trưởng liên hoàn
gYt = ∆ Yt*100/Yt-1 Tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn từ năm 0,1….n:
1
0
n n Y
Y
Y
2.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Các đầu ra của nền kinh tế là kết quả tác động qua lại của tổng mức cung và tổng mức cầu của nền kinh tế Vì vậy, để xem xét các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng của GDP thực tế) cần phải xem xét các nhân tố tác động đến tổng cung và các nhân tố tác động đến tổng cầu của nền kinh tế
- Các nhân tố thuộc tổng cầu
Tổng mức cầu của nền kinh tế đề cập đến khối lượng mà người tiêu dùng, các
doanh nghiệp và Chính phủ sẽ sử dụng: GDP = C + I + G + X - M Do đó, sự biến đổi của các bộ phận trên sẽ gây nên sự biến đổi của tổng cầu và từ đó tác động đến tăng trưởng kinh tế Sự biến đổi của tổng cầu có thể theo hai hướng: suy giảm hay gia tăng tổng cầu Theo hai hướng đó, tác động của sự thay đổi tổng cầu đến tăng trưởng kinh
tế cũng khác nhau: (i) Nếu tổng cầu sụt giảm sẽ gây ra hạn chế tăng trưởng và lãng phí các yếu tố nguồn lực vì một bộ phận không được huy động vào hoạt động kinh tế (ii) Nếu tổng cầu gia tăng sẽ tác động đến hoạt động của nền kinh tế như sau: nếu nền kinh
tế đang hoạt động dưới mức sản lượng tiềm năng, thì sự gia tăng của tổng cầu sẽ giúp tăng thêm khả năng tận dụng sản lượng tiềm năng, nhờ đó mà thúc tăng trưởng kinh tế; nếu nền kinh tế hoạt động đã đạt hoặc vượt mức sản lượng tiềm năng (đường cung dài
Trang 29hạn là thẳng đứng) thì sự gia tăng của tổng cầu không làm gia tăng sản lượng của nền kinh tế (nghĩa là không thúc đẩy tăng trưởng) mà chỉ làm gia tăng mức giá
- Các nhân tố thuộc tổng cung
Tổng mức cung đề cập đến khối lượng sản phẩm và dịch vụ mà các ngành kinh
doanh sản xuất và bán ra trong điều kiện giá cả, khả năng sản xuất và chi phí sản xuất nhất định Như vậy tổng cung liên quan chặt chẽ đến sản lượng tiềm năng Xét theo quan điểm dài hạn, sự gia tăng sản lượng tiềm năng của nền kinh tế có tác động quyết định đến tăng trưởng kinh tế Các nhân tố tác động đến sản lượng tiềm năng và do đó quyết định đến tổng mức cung chính là các yếu tố đầu vào của sản xuất Thông thường, các yếu tố sản xuất chủ yếu thường được kể đến là: vốn (K); lao động (L); tài nguyên thiên nhiên (R) và công nghệ (T) Cũng vì thế, hàm sản xuất phản ánh mối quan hệ hàm số giữa kết quả đầu ra của nền kinh tế (Y) với các yếu tố sản xuất đầu vào được biểu thị khái quát dưới dạng sau: Y=F (K, L, R, T)
Vốn (K) là vốn vật chất bao gồm: Máy móc, thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải, hàng tồn kho là những yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất trực tiếp Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội (đường xá, cầu cống, kho bãi, sân bay, bến cảng, thông tin liên lạc, các công trình điện, nước, vận chuyển dầu, khí đốt ) nhằm hỗ trợ và kết hợp các hoạt động kinh tế với nhau Đầu tư tăng thêm vốn làm gia tăng năng lực sản xuất, tức là gia tăng sản lượng tiềm năng, là cơ sở để tăng thêm sản lượng thực tế
có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế Đối với các nước đang phát triển, vốn đang là nhân tố khan hiếm nhất hiện nay, trong khi nó lại là khởi nguồn để có thể huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác cho tăng trưởng Vì vậy, vốn có vai trò hết sức to lớn đối với tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển Song, tác động của yếu tố này đến một mức độ nhất định sẽ có xu hướng giảm dần và sẽ thay bằng các yếu tố khác Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, ngoài vốn vật chất, các tài sản vô hình như giá trị thương hiệu, vị thế của doanh nghiệp, của ngành hay quốc gia và các nguồn dự trữ quốc gia, nhất là dự trữ tài chính cũng có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Lao động (L) là một yếu tố đầu vào của sản xuất, có vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Lao động không chỉ thể hiện ở số lượng lao động, mà cả ở chất lượng của lao động, thể hiện đặc biệt ở kiến thức và kỹ năng mà người lao động
Trang 30có được thông qua giáo dục, đào tạo và tích luỹ kinh nghiệm Trong các lý thuyết kinh
tế hiện đại hiện nay, người ta đánh giá rất cao vai trò của kiến thức và kỹ năng của lao động, coi đây là một loại vốn - vốn nhân lực làm tăng năng lực sản xuất của quốc gia
Ơ các nước đang phát triển thường có hiện tượng thừa lao động có chất lượng thấp, nhưng lại thiếu lao động có chuyên môn kĩ thuật và nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hoá đất nước cũng như yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và cả hai mặt đó đều có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế
Tài nguyên thiên nhiên (R) là yếu tố đầu vào của sản xuất do thiên nhiên ban tặng như đất đai, sông biển, rừng núi, các tài nguyên động thực vật, khí hậu thời tiết, tài nguyên khoáng sản Các nước đang phát triển có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, phong phú là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và tạo vốn trên cơ sở khai thác tài nguyên thiên nhiên, nhất là ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển Tài nguyên thiên nhiên tuy quan trọng, song không quyết định năng suất sản xuất hàng hoá, dịch vụ, do đó, không phải là nhân tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia
Tiến bộ khoa học và công nghệ (T) cung cấp tri thức và phương pháp sản xuất Việc đa tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế vì nó đem đến cách tốt nhất để sản xuất các hàng hoá và dịch vụ Đây là nhân tố quyết định đối với tăng trưởng kinh tế của mọi quốc gia trong bối cảnh phát triển khoa học, công nghệ và toàn cầu hoá hiện nay, song đây cũng là yếu tố sản xuất khan hiếm của các nước đang phát triển
2.4 Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường
2.4.1 Đường cong Kuznets môi trường (EKC)
Đường cong Kuznets môi trường thường được sử dụng để biểu thị mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường Nó dựa trên giả thuyết mối quan hệ chữ U ngược giữa sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người và thước đo của chất lượng môi trường (Kunets, 1955)
Hình dạng của đường cong có thể giải thích như sau: khi GDP bình quân đầu người tăng thì dẫn đến môi trường bị suy thoái; tuy nhiên, khi đạt đến một điểm nào
đó, thì tăng GDP bình quân đầu người lại làm giảm suy thoái môi trường
Trang 31Hình 2.1: Đường cong Kuznets về môi trường (EKC)
Nguồn: Kuznets (1955)
- Ở mức thu nhập thấp, việc giảm nhẹ ô nhiễm khó có thể thực hiện được bởi các
cá nhân thường có xu hướng sử dụng khoản thu nhập hạn hẹp để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cơ bản của mình
- Khi mức thu nhập đạt đến mức độ nhất định, các cá nhân bắt đầu xem xét đến việc cân nhắc lựa chọn giữa chất lượng môi trường và tiêu dùng, dẫn đến thiệt hại môi trường gia tăng nhưng với tốc độ thấp hơn
- Sau khi đạt đến ngưỡng chuyển đổi, chi tiêu cho việc xử lý chất thải sẽ tăng cao, bởi vì mỗi cá nhân đều mong muốn cải thiện chất lượng môi trường bằng việc tiêu dùng nhiều hơn và chất lượng môi trường bắt đầu được cải thiện cùng với sự tăng trưởng kinh tế
Các cách giải thích khác về hình dạng của đường cong EKC:
- Tiến bộ công nghệ: Ban đầu các công ty tập trung vào mở rộng sản xuất với mức độ nhanh nhất có thể, nhưng khi công nghệ phát triển thì quá trình sản xuất trở nên sạch hơn và do đó việc sử dụng nguồn lực cũng hiệu quả hơn
- Thay đổi hành vi: Ban đầu xã hội thích mức tiêu dùng cao mà không để ý đến cách thức tiêu dùng, tuy nhiên, sau đó đã có sự xem xét nhiều hơn đến các yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, trong đó có môi trường
- Mô hình tăng trưởng của Lewis: Mô hình phát triển của bất kỳ nền kinh tế nào đều được đặc trưng bởi mô hình thay đổi của các hoạt động kinh tế
+ Giai đoạn 1: Xã hội tập trung nguồn tài nguyên cho các lĩnh vực sơ cấp (khai thác, nông nghiệp) để làm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng
Trang 32+ Giai đoạn 2: Nguồn tài nguyên được chuyển sang cho các lĩnh vực thứ cấp (sản xuất), bởi vì các nhu cầu cơ bản được đáp ứng và việc tiêu thụ nhiều hơn hướng đến các sản phẩm tiêu dùng
+ Giai đoạn 3: Xã hội chuyển từ lĩnh vực thứ cấp sang lĩnh vực thứ 3 (cao cấp hơn - dịch vụ) có đặc trưng là mức độ ô nhiễm rất thấp
Tuy nhiên, mô hình này ít được áp dụng trong thế giới toàn cầu hóa ngày càng cao mà ở đó việc chuyển từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 3 có thể diễn ra là kết quả của quá trình chuyển giao chứ không phải là do sự suy giảm mức độ ô nhiễm
Mối quan hệ trong đường cong Kuznets về môi trường đầu tiên được quan sát ở một số thành phần ô nhiễm trong không khí (như các hạt lơ lửng và NOx) và ngưỡng chuyển đổi; hoặc các điểm ở xa hơn khi mà tăng GDP bình quân đầu người sẽ dẫn đến
sự giảm phát thải – ước tính 5000 USD Những nghiên cứu sau đó đã ước tính ngưỡng chuyển đổi thường ở mức cao hơn , nhưng tất cả đều cho thấy bằng chứng rằng đường EKC áp dụng cho một tập hợp lớn các biến về môi trường Các cuộc nghiên cứu mới đây nhất ước tính ngưỡng chuyển đổi ở mức 34000 USD Theo đó, những nước phát triển tương đối, có thể kỳ vọng đạt tới điểm gây ô nhiễm cao nhất vào giữa thế kỷ này
- và hiện tại chỉ 10% đang tiếp cận đến điểm này và sự phát thải của những nước đó sẽ không trở lại mức hiện tại trước khi thế kỷ XXI kết thúc Mặt khác, chính sách cực đoan của đường EKC hàm ý sẽ khuyến khích tăng trưởng kinh tế và tránh các quy định môi trường tốn kém – đặc biệt đối với các nước phát triển đã đạt được ngưỡng chuyển đổi Một số người cho rằng, việc thực hiện sớm các quy định về môi trường chặt chẽ
có thể tác động không tốt đến sự tăng trưởng và sẽ làm tăng thiệt hại môi trường trong dài hạn
Tuy nhiên, có nhiều lý do để đưa ra câu hỏi về sự liên quan của các giả thuyết về đường EKC trong việc hoạch định chính sách:
Thứ nhất, định nghĩa về chất lượng môi trường thường được sử dụng trong các phân tích về đường EKC đều dựa trên một tập hợp giới hạn về các chất gây ô nhiễm
Do vậy, các kết luận rút ra từ những phân tích này không được áp dụng cho tất cả những loại thiệt hại môi trường Ví dụ, không có chứng cớ nào cho thấy quan hệ đường EKC trong Dấu chân sinh thái (Ecological Footprint - phương pháp đo lường tổng hợp những sức ép của loài người tác động lên môi trường), trừ khi việc tiêu thụ năng lượng không được tính trong phương pháp này (Caviglia-Harris et al, 2009) Mối quan hệ Kuznets về môi trường thể hiện rõ nhất đối với các chất gây ô nhiễm gây ra những ảnh hưởng đáng kể tại địa phương phát thải Mặt khác, những ảnh hưởng từ
Trang 33carbon và các khí nhà kính mang tính toàn cầu và có sự lan tỏa, sự phát thải tiếp tục tăng lên khi tăng thu nhập bình quân đầu người - ngay cả đối với các quốc gia giàu có Thứ hai, các bằng chứng kinh tế đưa ra ủng hộ đường EKC được cho là kém tin cậy và thiết thực so với những quan điểm trước đây Ví dụ, việc lựa chọn mô hình sử dụng để mô tả mối quan hệ giữa thu nhập và ô nhiễm có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả phân tích
Thứ ba, sự tồn tại của “hiện tượng trễ” (hysteresis) có thể làm giảm mức độ tương quan của đường EKC tới các chính sách môi trường Đặc biệt, chi phí để khắc phục thiệt hại và cải thiện chất lượng môi trường khi mà nền kinh tế đã vượt qua ngưỡng chuyển đổi có thể cao hơn đáng kể so với chi phí phòng ngừa thiệt hại hoặc thực hiện việc giảm nhẹ ô nhiễm trước đó Ví dụ, khi làm sạch dòng sông bị ô nhiễm, ngay từ đầu, chi phí để phòng tránh tình trạng ô nhiễm thấp hơn hẳn chi phí làm sạch phát sinh sau này
Thứ tư, người ta chỉ ra rằng, những quốc gia với mức độ giàu có như nhau nhưng lại hành động tương đối khác nhau, không có bất kỳ dấu hiệu rõ ràng hoặc có hệ thống của sự hội tụ Ngoài ra, điều này còn cho thấy phần đi xuống của đường EKC chỉ tồn tại trong nền kinh tế mà sự bất bình đẳng ít hơn và phân phối của cải đồng đều một cách tương đối
Do vậy, những bằng chứng về mối quan hệ của đường EKC biểu hiện cho một số quốc gia và một số chất ô nhiễm nhất định, EKC không thể khái quát hoá cho tất cả những loại thiệt hại môi trường trên tất cả các quốc gia cũng như các mức độ thu nhập Hơn nữa, EKC bị hạn chế để dự đoán hiệu quả môi trường khi các nước phát triển
Hình 2.2: Đường cong Kuznets môi trường trong các giai đoạn phát triển
Nguồn: Panayotou (1993)
Trang 342.4.2 Quan điểm đánh đổi giữa kinh tế - môi trường
Có những lý thuyết đánh đổi khác nhau biểu hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường
Lý thuyết giới hạn xem xét khả năng vi phạm ngưỡng môi trường trước khi nền kinh tế đạt tới điểm chuyển đổi EKC Arrow và đồng sự (1996) cho thấy nguy cơ của những thay đổi nhỏ có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng, nghĩa là nếu chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế để cải thiện môi trường có thể gây phản tác dụng Chẳng hạn như, trong bối cảnh của sự đa dạng sinh học, tăng chi phí để bảo tồn đa dạng các loài sẽ không thể tái tạo ra các loài tuyệt chủng Lý thuyết giới hạn định nghĩa mối quan hệ kinh tế - môi trường về khía cạnh thiệt hại môi trường khi chạm ngưỡng trên mà tại đó
sự sản xuất có ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế
Một lý thuyết khác đặt vấn đề sự tồn tại của ngưỡng chuyển đổi, và xem xét khả
năng thiệt hại môi trường sẽ gia tăng khi nền kinh tế phát triển (Field & Olewiler,
2005) Điều này tương tự với “quan điểm những chất độc hại mới”, khi mà sự phát thải chất gây ô nhiễm hiện tại đang giảm xuống đi kèm với tăng trưởng kinh tế tăng cao, tuy nhiên, những chất gây ô nhiễm mới thay thế cho chúng lại tăng lên
Stern (2004) đề cập đến mối quan hệ có thể xa hơn giữa tăng trưởng kinh tế và môi trường trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế Cạnh tranh quốc tế ban đầu làm gia tăng thiệt hại môi trường, đạt tới điểm mà các quốc gia phát triển bắt đầu giảm tác động môi trường của họ đồng thời “thuê” các nước nghèo hơn thực hiện các hoạt động gây ô nhiễm Trong trường hợp kịch bản tốt nhất, kết quả thực tế cho thấy tình trạng không cải thiện Mô hình này còn được gọi là “cuộc đua xuống đáy”
Hình 2.3: Quan điểm đánh đổi trong mối quan hệ giữa kinh tế và thiệt hại môi trường
Nguồn: Field & Olewiler (2005)
Trang 352.5 Các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
2.5.1 Các nghiên cứu trong nước
Nhìn chung các nghiên cứu về mối quan hệ giữa khí thải gây hiệu ứng nhà kính
và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay còn khá khiêm tốn, chủ yếu mang tính trao đổi và dưới dạng định tính dựa trên cách tiếp cận nghiên cứu truyền thống đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp
Tác giả Phạm Hồng Mạnh (2014) đã có đề tài nghiên cứu về tăng trưởng xanh tại Việt Nam nhằm đánh giá vấn đề tăng trưởng xanh của kinh tế Việt Nam từ khía
giai đoạn từ 1985 đến 2014 Kết quả phân tích cho thấy, tỉ lệ sử dụng năng lượng hóa thạch so với tổng năng lượng sử dụng tăng nhanh từ mức 29.57% vào năm 1985 và đạt
tự, từ mức 0.3595 tấn/người trong năm 1985 và đạt 1.7281 tấn/người vào năm 2010
kiểm định mô hình cho thấy, có mối quan hệ rõ ràng giữa mức thu nhập bình quân đầu
của mô hình là 95.2% Mặc dù nghiên cứu đã cố gắng xem xét vấn đề tăng trưởng
thời gian qua Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước đầu đánh giá mối quan hệ này, việc đánh giá một cách đầy đủ và chi tiết hơn thông qua phân tích dữ liệu bảng và dữ liệu chuỗi thời gian về mối quan hệ giữa này vẫn chưa được thực hiện tiếp theo
Nghiên cứu này sẽ phân tích sâu hơn về mối quan hệ giữa sử dụng năng lượng tái tạo, khí thải gây hiệu ứng nhà kính và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn từ năm 1985-2017
2.5.2 Các nghiên cứu ngoài nước
Vào năm 1980, thuật ngữ Phát triển bền vững đã chính thức xuất hiện trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn Thế giới” (Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế) và khái niệm Phát triển bền vững được phổ biến rộng rãi hơn thông qua báo cáo Brundtland (1987) của Ủy ban Môi trường và phát triển Thế giới (nay là Ủy ban Brundtland) và hoạt động “Sản xuất và tiêu dùng bền vững” là phần quan trọng và khá được chú trọng Cụ thể vào năm 1994, Hội thảo tiêu dùng bền vững (Oslo, Na Uy)
đã làm rõ hơn về vấn đề này Theo đó, tiêu dùng bền vững là cách thức sử dụng sản
Trang 36phẩm có hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên, giảm thiểu chất độc hại và ô nhiễm môi trường, không ảnh hưởng đến nhu cầu thế hệ sau Từ đó, chương trình Môi trường Liên hợp quốc và Tiến trình Marrakech (2003) đã được hưởng ứng tích cực từ các quốc gia Với bối cảnh về chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia mà chương trình được áp dụng với nhiều cách thức khác nhau Tính đến năm 2013 thì đã có trên 30 quốc gia thực hiện được Chương trình Quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững
quan hệ này đại diện cho đường cong Kuznet Nhiều nghiên cứu ủng hộ sự tồn tại của đường cong Kuznet như nghiên cứu của Maddison và Rehdanz (2008); Uddin và Wadud (2014); Nanthakumar và cộng sự (2014).Trong nghiên cứu của Mamun và cộng sự (2014) cho thấy ngoại trừ nhóm quốc gia có thu nhập cao, đường cong môi trường Kuznets là một hiện tượng chung trên thế giới Wang và cộng sự (2014) phát hiện đường cong chữ U ngược vẫn được duy trì tại khu vực Châu Mỹ, Châu Á và Châu Âu nhưng ở Châu Phi thì không Kết quả này giải thích tại sao người dân ở các vùng có thu nhập trung bình cao hơn thì quan tâm các vấn đề liên quan đến giảm phát
ARDL trong giai đoạn từ 1960-2008 đã cho thấy tăng trưởng kinh tế liên quan đáng kể với gia tăng suy thoái môi trường trong ngắn và dài hạn Trường hợp này là chữ N đảo ngược hơn là chữ U ngược như trong lý thuyết đường cong Kuznets
Ngược lại, nhiều nghiên cứu khác không ủng hộ lý thuyết đường cong Kuznets như nghiên cứu của Galeotti và cộng sự (2006); Chebbi và Boujelbene (2008); Saboori
và cộng sự (2011); Niu và Li (2014); và Arouri và cộng sự (2014)
Nhiều nghiên cứu ngoài việc sử dụng biến tăng trưởng kinh tế, mức phát thải khí
dụng panel VAR kết quả cho thấy đô thị hóa hay công nghiệp hóa tăng sẽ làm áp lực
và Singapore với mô hình VECM tìm thấy mối quan hệ nhân quả trong ngắn và dài hạn giữa các biến cho Malaysia và Indonesia, không tìm thấy mối quan hệ nào cho Singapore Ngược lại, tác động từ độ mở thương mại và công nghiệp hóa đến lượng
trưởng kinh tế, điều này chỉ có tại Singapore Nghiên cứu của Akin (2014) mở rộng thêm biên độ mở thương mại cho 85 quốc gia trong giai đoạn 1990-2011, cho thấy mở
Trang 37rộng độ mở thương mại có thể giảm lượng phát thải CO2 trong dài hạn Các kết luận về mối quan hệ nhân quả khác nhau giữa các biến, trong ngắn hạn và dài hạn,…trong những nghiên cứu này được cho là do khác biệt về mẫu, giai đoạn nghiên cứu và các phương pháp xử lý kinh tế lượng
Theo nghiên cứu của tác giả Mariam Oganesyan (2017) thì đường cong Kuznets môi trường (EKC) và mối liên hệ giữa carbon khí thải, sử dụng năng lượng và tăng trưởng kinh tế ở các nước BRICS trong giai đoạn 1980-2013 Nguyên nhân để phân tích chọn mẫu tại các nước đang phát triển (BRICS) là các quốc gia này là mối quan tâm lớn đối với thách thức môi trường toàn cầu Kết quả của ước lượng mối quan
hệ này không ủng hộ về mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường theo giả thuyết về EKC Độ co dãn ước tính của carbon dioxide theo sử dụng năng lượng là 0.60%, trong khi độ co giãn của tăng trưởng kinh tế theo tiêu thụ năng lượng là 1.74% Hơn nữa, kết quả kiểm định nhân quả Granger cho thấy việc sử dụng năng lượng gây ra lượng khí thải carbon, trong khi đó thành tích về tăng trưởng kinh tế lại gây ra từ quá trình sử dụng năng lượng, đặc biệt năng lượng gây ra các khí thải hiệu ứng nhà kính Luận án này bổ sung vào lý thuyết và các hàm ý chính sách liên quan cho các nước BRICS Dựa trên kết quả của nghiên cứu này, khuyến nghị tổng thể là ưu tiên tăng hiệu suất năng lượng thông qua phát triển công nghệ và sử dụng các nguồn lực sản xuất sạch hơn
Nghiên cứu của Viktoras Kulionis (2013) về mối liên hệ giữa việc sử dụng năng
đã sử dụng phương pháp hồi qui đa biến để kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa tiêu
Mạch trong giai đoạn từ năm 1972-2012 Mối quan hệ nhân quả giữa các biến được kiểm định bằng cách sử dụng phương pháp kiểm định nhân quả Granger thông qua mô hình véc tơ tự hồi qui (VAR) Kết quả của kiểm nghiệm đơn vị cho thấy, tất cả các biến trong mô hình dừng ở sai phân bậc 1 (first di erence) Kết quả phân tích đồng liên kết bằng phương pháp Johansen (1992), cho thấy không có bằng chứng về mối quan hệ này của các biến trong mô hình
Nghiên cứu của Da – Hae Chong (2006) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và sự phá hủy môi trường thông qua lý thuyết về quan hệ giữa kinh
tế và môi trường tại Canada Nghiên cứu đã sử dụng đường cong Kunets môi trường (EKC) để phân tích giữa tăng trưởng kinh tế và mức phát thải khí gây hiệu ứng nhà
Trang 38kính như: CO2, NOx, SOx và CO Phương pháp hồi qui được sử dụng để ước lượng về mối quan hệ hay thông qua hàm bậc ba và bậc hai Kết quả nghiên cứu cho thấy đã tồn tại mối quan hệ hình chữ U ngược của mức phát thải bình quân đầu người của khí gây hiệu ứng nhà kính và GDP bình quân đầu người Thông qua nghiên cứu đã gợi ý các chính sách nhằm giảm thải khí gây hiệu ứng nhà kính và tăng trưởng kinh tế tại Canada
2.6 Khung phân tích nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm phân tích mối quan hệ giữa việc sử dụng nguồn năng lượng tái tạo và mức phát thải gây hiệu ứng nhà kính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
Cách tiếp cận phân tích đối với chủ đề nghiên cứu này là sử dụng dữ liệu của Ngân hàng thế giới về tình hình sử dụng năng lượng, mức phát thải gây hiệu ứng nhà kính và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn từ năm 1985 đến nay
Hình 2.4: Khung phân tích nghiên cứu
Nguồn: Xây dựng của tác giả
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Nội dung của chương 2, luận văn đã trình bày các lý thuyết liên quan đến vấn
đề nghiên cứu, như: Biến đổi khí hậu và hiệu ứng nhà kính, nguồn gây phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, các khí thải gây hiệu ứng nhà kính; các vấn đề liên quan đến tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, các lý thuyết liên quan đế mối quan hệ giữa kinh tế
và môi trường, quan điểm đánh đổi giữa kinh tế - môi trường, tổng quan tình hình nghiên cứu và khung phân tích nghiên cứu cũng đã được trình bày trong nội dung của chương 2 này
Trang 39CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp cả định tính và định lượng Phương pháp định tính được sử dụng nhằm tổng hợp, phân tích và đánh giá về tình hình khí thải gây hiệu ứng nhà kính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam Phương pháp định lượng được sử dụng thông qua việc sử dụng phương pháp tự hồi qui véc tơ (Vector autoregression - VAR) dựa trên kiểm định nhân quả Granger (Granger causality test) để xem xét mối
Nam trong giai đoạn 1985 – 2017 Trên sơ sở đó nghiên cứu sẽ đề xuất các khuyến nghị chính sách đối với chính sách tăng trưởng kinh tế xanh tại Việt Nam trong tương lai
3.2 Mô hình nghiên cứu
3.2.1 Mô hình kinh tế lượng
Để xem xét ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế đến mức phát thải khí gây hiệu
kinh tế lượng mà biến phụ thuộc là cường độ phát thải (Carbon dioxide intensity) tương đương kg dầu/người/năm năng lượng sử dụng, biến độc lập là GDP/người (GDP); GDP/người bình phương; tỉ lệ sử dụng năng lượng hóa thạch (EC) trong tổng
số năng lượng sử dụng trong năm Dựa nên mô hình lý thuyết tổng quát của đường Kuznet môi trường cho việc kiểm định mối quan hệ hình dạng chữ U về thu nhập và chất lượng môi trường, mô hình nghiên cứu như sau:
Trong đó:
- CO2: là biến thể hiện cường độ phát thải các khí OxitCabon của nền kinh tế trong năm thứ t (tương đương kg dầu/người/năm) năng lượng sử dụng
- GDPper: là biến thể hiện thu nhập bình quân đầu người (USD/người/năm)
- (GDPper)2: là biến thể hiện bình phương thu nhập bình quân đầu người
- EC: tỉ lệ % năng lượng hóa thạch trong tổng số năng lượng sử dụng trong năm
- u là sai số ngẫu nhiên của mô hình
Phương trình (1.2) sẽ cho biết ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng GDP bình quân đầu người) đến mức phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính tại Việt Nam
giai đoạn 1985 – 2017
Trang 40Bảng 3.1: Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
Kí hiệu ĐVT Nguồn dữ liệu Các nghiên cứu liên quan
CO2 tương đương kg
dầu/người/năm
WB Indicate, 2018 Da – Hae Chong (2006),
Chebbi và Boujelbene (2008); Viktoras Kulionis (2013), Mariam Oganesyan (2017) GDPper USD/người, giá cố
định 2010
WB Indicate, 2018 Maddison và Rehdanz (2008);
Uddin và Wadud (2014); Nanthakumar và cộng sự (2014); Mamun và cộng sự (2014); Wang và cộng sự (2014); Phạm Hồng Mạnh (2014); Mariam Oganesyan (2017); (GDPper)2 USD/người, giá cố
định 2010
WB Indicate, 2018 Maddison và Rehdanz (2008);
Uddin và Wadud (2014); Nanthakumar và cộng sự (2014); Mamun và cộng sự (2014); Wang và cộng sự (2014); Phạm Hồng Mạnh (2014); Mariam Oganesyan (2017)
Nguồn: Tổng hợp tác giả
3.2.2 Các giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1 (H1): Tăng trưởng kinh tế (thu nhập bình quân đầu người) có tác
của các tác giả trong và ngoài nước như: Maddison và Rehdanz (2008); Uddin và Wadud (2014); Nanthakumar và cộng sự (2014); Mamun và cộng sự (2014); Wang và cộng sự (2014); Phạm Hồng Mạnh (2014); Mariam Oganesyan (2017)… đã cho thấy điều này
Giả thuyết 2 (H2): Thu nhập bình quân đầu người bình phương có tác động âm (-)
Maddison và Rehdanz (2008); Uddin và Wadud (2014); Nanthakumar và cộng sự (2014); Mamun và cộng sự (2014); Wang và cộng sự (2014); Phạm Hồng Mạnh (2014); Mariam Oganesyan (2017) đã cho thấy điều này
Giả thuyết 3 (H3): Tỉ lệ sử dụng năng lượng hóa thạch có tác động dương (+) đến
trong và ngoài nước, như của Maddison và Rehdanz (2008); Mamun và cộng sự (2014)… đã cho thấy điều này
Giả thuyết 4 (H4): Trong dài hạn, tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa cường độ