1. Trang chủ
  2. » Vật lý

Công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay

15 21 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hành án Do đó, cơ quan tư pháp được quan niệm và quy định t ong ỉuật bao gổm Cơ quan điểu t a, Viện kiểm sát, tòa án, cơ quan thi hành án Điều 2 2 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm quy định: “C[r]

Trang 1

TRONG O T ỘNGTư P ÁP ở V ỆT NAM ỆN NAY1

_ Nguyễn Ngọc C h f

Tại Việt Nam, tư pháp và hoạt động tư pháp của tòa án và tòa án theo nghĩa là một nhánh quyền lực, độc lập và bảo đảm cổng lý mới t ải qua sự phát t iển chưa dài

T ong bối cảnh như vậy, nghiên cứu vể nhánh tư pháp và hoạt động của tòa án đáp ứng yêu cẩu phải cồng khai, minh bạch các hoạt động này đã gặp những t ở ngại khách quan, chủ quan t ong đó có việc thay đổi các chính sách lớn Phải đến năm 2005, Bộ Chính t ị t ong Nghị quyết số 4 -NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020 mới đưa a định hướng xây dựng nền tư pháp t ong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà t ọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao Hiến pháp năm 20 3 lẩn đầu tiên xác định tòa án có vai t ò t ung tâm t ong thực hiện quyền tư pháp (Điều 02) Có thể coi việc hiến định và chú t ọng hợp pháp hóa vai t ò, chức năng của tòa án đã phản ánh nhu cầu công khai, minh bạch t ọng hoạt động xét xử của tòa án Việt Nam Vi vậy, việc nghiến cứu làm õ thực t ạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về công khai, minh bạch và t ách nhiệm giải t inh t ong hoạt động tư pháp ở Việt Nam là cần thiết

t ong quá t ình cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế hiện nay

Bài viết này tập t ung t ả lời các câu hỏi: (i) Quan niệm về công khai> minh bạch

và t ách nhiệm giải t ình hoạt động tư pháp như thế nào? (ii) Tình hình nghiên cứu

về công khai, minh bạch và t ách nhiệm giải t ình hoạt động tư pháp ở Việt Nam? (iii) Pháp luật Việt Nam đã có những quy định gì và ở mức độ nào về công khai, minh bạch

Bài viết này phản ánh kết quả nghiên cứu cùa để tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội về “Cơ chế đánh giá tính công khai, minh bạch t ong hoạt động xét xử, thực hiện quyển tư pháp cùa Tòa án Việt Nam” Mã sổ: QG 55 2Khoa Luật, Đại học Quốcgia Hà Nội

28

Trang 2

KỶ ẾU HỘI THẲO KHOA HỌC QUỐC TẾ Côngkhai, minh bạch và trách nhiệmgiải trình trong quản trị nhà nước

và t ách nhiệm giải t ình hoạt động tư pháp? (iv) Việc thực thi pháp luật về công khai, minh bạch và t ách nhiệm giải t ình hoạt động tư pháp ở Việt Nam? (v) Cần làm gì và với những cách thức nào để bảo đảm công khai, minh bạch và t ách nhiệm giải t ình hoạt động tư pháp ở Việt Nam?

Quan niệm vê' công khai, m inh bạch và t ách nhiệm giải t ình t ong hoạt động tư pháp t ên thế giới

Theo định nghĩa của Black’s La Dictiona y, quyền tư pháp (judicial power) là thẩm quyền được trao cho tòa án và các thẩm phán xem xét và quyết định các vụ việc

và đưa ra phấn quyết cógiá trị bắt buộc thi hành đối với các vụ việc ấy; quyên giải thích

và ấp dụng pháp luật khi có tranh cãi phát sinh từ việc một điểu gì đó có phù hợp hay không phù h p vôi pháp ỉuật điều chỉnh việc ấy\ Ngay từ thời kỳ cổ đại các nhà tư tưởng như: Plato (427 - 347 TON) và A istotle (384 - 322 TCN)> Ma cus Tullius Cice o ( 06 - 43 TCN) đã quan tâm tới quyển tư pháp dưới những nghiên cứu vể nhà nước, phân quyển giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, vể thi hành pháp luật, nhưng còn sơ khai Thời kỳ tiền t ung cổ, Au elius Augustinus Hipponensis (354 - 430), Thomas von Aquin ( 225 - 274) và Ma silius von Padua ( 275 - 342) đã quan tâm nghiên cứu vê' tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, các tác giả cho ằng t ong nhà nước tồn tại các nhánh quyền lực và các nhánh quyền này cần được tách bạch Hiời kỳ t ung cổ có các đại diện như: Jean Bodin ( 530 - 5 6), Thomas Hobbes ( 588 - 67 ) và V L von Seckendo ff ( 62 - 6 2)> thời cận đại (đến khoảng năm 00) có các đại diện như: John Locke ( 632 - 704), Ba on de La B ède et de Montesquieu ( 68 - 755) Đây

là thời kỳ có những cuộc luận chiến về tổ chức quyền lực nhà nước, nhiều tác giả cho ằng để hạn chế quyền lực, chống độc quyền nên cẩn áp dụng nguyên tắc phân quyển giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp T ong t ào lưu chính thống cùa t iết học Đức vê’vấn đề nhà nước, tư pháp, các t iết gia như Immanuel Kant ( 724 - 804),

G F Hegel ( 770 - 83 ) và Ka l Ma x ( 8 8 - 883) đã thể hiện tư tưởng phân quyền t ong việc tổ chức thực hiện quyển lực nhà nước, cũng như thiết kế bộ máy công quyền Tóm lại, vể thực thi và chấp hành pháp luật được đề cập khá nhiều t ong các nghiên cứu thời kỳ này, nhưng việc khảo cứu sâu về tư pháp, tòa án, đặc biệt ỉà đặc tính minh bạch và hiệu quả hoạt động cùa tòa án chỉ mới được quan tâm nhiều hơn vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Các vấn đề vể minh bạch và hiệu quả gắn với những tìm kiếm và xây đựng các nguyên tắc quản lý nhằm nâng cao chất lượng, tính công khai, minh bạch và yêu câu

B yan Ga ne (eđ )> Black's Law Dictionary, thed, 200 , t 24

Trang 3

Côngkhai>minh bạch và trách nhiệm giải trinh trong quản trị nhà nước

giải t ình của các thiết chế công được đặc biệt chú t ọng t ong các nghiên cứu gẩn đây của nhiểu học giả t ên thế giới Những công t ình này đã đề xuất đến sự cần thiết của quá t ình công khai, minh bạch và giải t ình t ong hoạt động của các cơ quan hành chính và tư pháp Các nghiên cứu tập t ung vào nhiệm vụ bổ sung các thiếu hụt về thông tin liên quan đến đánh giá hiệu quả hoạt động của tổ chức tư pháp bằng việc phân tích tiến t ình và hiệu quả của quá t ình đánh giá, cũng như các tác động mang tính kinh tế - xã hội của các chương t ình quốc gia Nghiên cứu tính công khai, minh bạch và t ách nhiệm giải t ình của hoạt động tư pháp t ong thời gian gần đây khống chỉ nhằm mục đích nâng cao chất lượng quản lý hay nhằm kiểm soát chi phí, mà quan

t ọng hơn là đưa a chính sách sử dụng các nguổn lực hiệu quả hơn

Từ những thập niên giữa thế kỷ XX, nhờ sự hỗ t ợ của Liên Hợp Quốc, các hội nghị quốc tế tập hợp các chuyên gia vê' hoạt động quản lý nhà nước thường xuyên được tổ chức T ong khuôn khổ các chương t ình phát t iển của Liên Hợp Quốc, nhiều công t ình, để tài nghiên cứu khoa học lớn về liêm chính tư pháp nói chung

và đánh giá tính công khai, minh bạch hoạt động của tòa án nói iêng được thực hiện Cùng với đó là các nghiên cứu so sánh về phương pháp đánh giá và thành tựu của các nước t ong lĩnh vực này Từ đó đến nay, các chuyên gia của Liên Hợp Quốc

đã có nhiều đóng góp t ong việc phổ biến thành tựu của nghiên cứu đến các vùng

và khu vực khác nhau t ên thế giới, để xuất các mỏ hình cải cách và đánh giá hiệu quả cải cách tư pháp phù hợp với mỗi quốc gia T ong xu hướng cải cách tư pháp đó, việc đánh giá tính công khai, minh bạch và t ách nhiệm giải t ình của các cơ quan

tư pháp được coi t ọng, xuất phát từ sự thâm hụt ngân sách gia tăng, áp lực từ phía các đối tượng nộp thuế và nhằm khắc phục chủ nghĩa quan liêu Do đó, đánh giá và nâng cao tính liêm chính tư pháp t ở thành một t ong những nhiệm vụ t ọng tâm của các quốc gia T ong giai đoạn này, nhiều công t ình nghiên cứu đã bổ sung và hoàn thiện lý thuyết về hiệu quả và tiếp cận nghiên cứu các phương pháp quản lý

t ong khu vực tư để áp dụng vào khu vực công

Năm 20 , Liên Hợp Quốc cho a đời ấn phẩm “Hướng dẫn tãng cưởng năng ỉực

và liêm chính tư pháp”1nhằm hỗ t ợ đặc biệt các quốc gia kém phát t iển hoặc đang

t ong quá t ình chuyển đổi kinh tế Với quan điểm phổ biến ằng mặc dù các quốc gia sau một thời gian cải cách kinh tế, mức sống và các phúc lợi của người dân được cải thiện đáng kể, song người nghèo và phần lớn dân chúng gặp nhiều khó khăn t ong bảo

Liên Hợp Quốc, Hướng dẫn tăng cường năng lực và liêm chính tư pháp (bản tiếng Việt), Ne o k, 20 ,

t 85 - 28

2

Trang 4

KỶ ẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ Công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trongquản trị nhà nước

vệ quyền lợi của mình bởi các thiết chế tư pháp thiếu minh bạch và hoạt động xét xử không thật sự vô tư, công khai như các tuyên bố của chính giới cẩm quyền Tài liệu này

t ước hết đâ xây dựng cách hiểu về tính minh bạch của tòa án bao gổm: khả năng tiếp cận của dân chúng/kênh báo chí đối với các thù tục tòa án; khả năng tiếp cận bản án cùng các thong tin liên quan; khả năng thu thập, tiếp cận và phổ biến thống tin pháp luật của công chúng Một cấu phẩn quan t ọng khác của tài liệu là đưa a quy t ình hướng dẫn việc đánh giá tòa án và hoạt động của tòa án, bao gồm: việc lựa chọn các chỉ SỔquan t ọng để đánh giá; thu thập nguồn dữ liệu và phương pháp phân tích, hướng dẫn quốc tế về việc xây dựng các hệ thống đánh giá hoạt động, các chỉ số hoạt động;

cơ chế giám sát hoạt động của tòá án; cuối cùng là các hệ quả của hoạt động đánh giá tòa án và cải cách tư pháp

2 Quan niệm về công khai, m inh bạch và t ách nhiệm giải t ình t ong hoạt động tư pháp ở Việt Nam

2,1 Qua niệm ề quyê t p áp, cơ qua t p áp, oạt độ t p áp ở Việt Nam

Theo quan điểm chung, quyền xét xử t ong nhà nước pháp quyển chỉ giao cho một cơ quan duy nhất là tòa án, không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào có thể đưa

a phán quyết đối với các t anh chấp Do vậy, cơ quan tư pháp t ong nhà nước pháp quyền chi là tòa án, cơ quan công tố và cơ quan điểu t a là những cơ quan thuộc nhánh quyền hành pháp2 Chủ thể thực hiện quyền lực tư pháp không phải bất kỳ

cơ quan nhà nước nào mà chỉ ià tòa án - cơ quan có khả năng và năng lực vốn có của mình để tác động đến hành vi của con người và thông qua đó tác động đến quá

t ình diễn a t ong xã hội Tòa án là một thể chế tư pháp độc lập t ong hệ thống bộ máy nhà nước “Quyền tư pháp là khả năng và năng lực iêng của các cơ quan tòa án, chiếm vị t í đặc biệt t ong bộ máy nhà nước thực hiện để tác động đến hành vi con người, đến quá t ình xã hội”3 Ở Việt Nam hoặc những nước tổ chức và hoạt động của nhà nước theo nguyên tắc tập quyền thì hoạt động tư pháp có phạm vi ộng hơn, không chỉ có hoạt động xét xử mà còn có cả hoạt động khởi tố, điều t a, t uy tố và thi

Tài liệu đã được dịch a tiếng Việt, mở ộng khả năng tiếp cận cho nhiều người đối với tài liệu này Tuy nhiên,

do tài liệu được phát t iển bởi sự tổng hợp kinh nghiệm của nhiểu quốc gia, nó không hoàn toàn phù hợp đối với Việt Nam, do đó việc tham chiếu kinh nghiệm là tương đối hạn chế

2 Xem Nguyễn Đáng Dung, Hệ thống tòa án Việt Nam t ong điểu kiện xây đựng nhà nước pháp quyển, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 20 0

3Võ Khánh Vinh (2003), “Quyển tư pháp t ong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, đo dân và vì dân ở Việt Nam”, ạp chí Nhà nước và háp luật (8)

Trang 5

Côngkhai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trọngquản trị nhà nước

hành án Do đó, cơ quan tư pháp được quan niệm và quy định t ong ỉuật bao gổm

Cơ quan điểu t a, Viện kiểm sát, tòa án, cơ quan thi hành án Điều 2 2 Bộ luật Hình

sự (BLHS) năm quy định: “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành

vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điểu t a, kiểm sát, xét xử và thi hành án t ong việc bảo vệ quyền lợi của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” Tương tự, t ong BLHS năm 20 5 được sửa đổi, bổ sung năm 20 7 quy định vê' vấn đề này được nêu ở Điều 367 Quy định này xuất phát từ quan điểm cho ằng hoạt động tư pháp không chỉ là hoạt động xét xử của tòa án mà còn là hoạt động của các cơ quan, tổ chức của nhà nước t ực tiếp liên quan hoặc phục vụ cho hoạt động xét xử của tòa án Theo đó, tòa án sử dụng các kếí quả cùa quá t ình điều

t a, t uy tố, bào chữa, giám định tư pháp một cách công khai và áp dụng các thủ tục tố tụng để nhân danh nhà nước đưa a phán quyết cuối cùng T ên cơ sở này, ở Việt Nam hoạt động tư pháp được hiểu là hoạt động mang tính quỵền ỉực nhà nước của các cơ quan tư pháp, cụ thể là các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT - bao gồm cơ quan điều t a, viện kiểm sát, tòa án) và các cơ quan, tổ chức liên quan hoặc

bổ t ợ cho hoạt động xét xử của tòa án mà được quy định t ong tố tụng và t ực tiếp liên quan đến quá t ình giải quyết vụ án Hoạt động tư pháp t ong tố tụng hình sự

là hoạt động của các CQTHTT thực hiện, mang tính quyền lực nhà nước, được quy định t ong pháp luật tố tụng hình sự và t ực tiếp liên quan đến quá t ình giải quyết các vụ án hình sự Như vậy, quan niệm về “hoạt động tư pháp” , “quyển tư pháp”, “

cơ quan tư pháp” ở Việt Nam ộng hơn quan niệm mang tính phổ quát t ên thế giới, tuy nhiên đối chiếu với các tiêu chí, chuẩn mực của nhà nước pháp quyển và pháp luật quốc tế về quyền con người thì lại khá phù hợp ở chỗ tính minh bạch, công khai

và t ách nhiệm giải t ình không chỉ đối với xét xử mà còn bao gồm cả các hoạt động điểu t a, t uy tố t ong quá t ình giải quyết vụ án hình sự

2 2 Quan niệm về công khai>minh bạch trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam Như đã đề cập, có thể coi việc hiến định và chú t ọng hợp pháp hóa vai t ò, chức nãng của tòa án đã phản ánh nhu cầu công khai, minh bạch t ong hoạt động xét xử của tòa án Việt Nam Do đó, công khai, minh bạch hay liêm chính tư pháp đã bắt đẩu

là chủ đề quan tâm của nhiều học giả t ong nước Có thể kể đến những công t ình nghiên cứu sau2: Những vấn đề chủ yểu về liếm chính tưpháp trong quá trình xây dựng

Bộ luật hình sự năm được sửa đổi, bổ sung năm 200

2Các nghiên cứu này được công bố t ong ấn phẩm: IPL - TI, Liêm chính tư pháp: các tiêu chuẩn quốc tế và pháp luật Việt NamyHà Nội, 0/ 0/20 4

2 3

Trang 6

và hoàn thiện nhà nưôcpháp quyển ở Việt Nam hiện nay của tác giả Đào T í ức; Liêm chính trong hoạt động của tòa án: Chia sẻ một số kết quả từ nghiên cứu hệ thống liêm chính quốc gia của Việt Nam của tác giả Vũ Công Giao; Liêm chính trong hoạt động của các cơ quan thực thi pháp ỉuật: Chia sẻ một số kết quả từ nghiên cứu hệ thống ỉiêm chính quốcgia ViệtNam của tác giả Tường Duy Kiên Những nghiên cứu này bước đầu

đã xây dựng được các tiêu chí đánh giá tính công khai, minh bạch t ong hoạt động tư pháp - biểu t ưng định lượng của sự liêm chính tư pháp

Việc xác định bản chất, đặc điểm của quyền tư pháp, đến các chức năng chính của tòa án t ong hệ thống cơ quan công quyền ở Việt Nam được nghiên cứu thông qua các phương diện như : Bản chất, đặc điểm và các nguyên tắc chủ đạo của quyền tư pháp của tác giả Đào T í ức; Vềquyên tưpháp trong nhà nướcpháp quyền của tácgiả Lê Văn Cảm; ư pháp trong nhà nước pháp quyển của tác giả Nguyễn Ngọc Chí; ính độc ĩập của quỵền tư pháp trong nhà nước pháp quyền của tác giả Tô Văn Hòa; ổ chức tư pháp trong lịch sử Việt Nam của tác giả Nguyễn Đăng Dung; ngoài a có Quyển tưpháp

và một số nguyên tắc cơ bản của Nhà nưâc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của tác giả Phí Thành T ung2 Qua các nghiên cứu t ên, các tác giả đã làm õ nội hàm của quyền tư pháp, cũng như xác định chức năng cơ bản của tòa án Việt Nam, và cho ằng nội dung giám sát tư pháp là một yêu cầu bắt buộc t ong hoạt động tư pháp - xét xử của tòa án Giám sát tư pháp do đó, không nằm ngoài mục tiêu phải công khai, minh bạch quy t ình xét xữ của tòa án3

Các nghiên cứu đã chi a, tính công khai, minh bạch của tòa án sẽ không thể được đảm bảo nếu bỏ qua các nhân tố có thể tác động tiêu cực đến hoạt động xét xử> đến sự độc lập của thẩm phán, thậm chí đơn giản là các thủ tục tố tụng Ở hướng nghiên cứu này có thể kể đến những công t ình sau4: Những nhân tố ảnh hưởng đến sự độc lập của tòa án của tác giả Phạm Hổng Thái; ính độc lập của thẩm phán và vấn đê liêm chính của đồng tác giả Vũ Công Giao - Nguyễn Minh Tâm; các bài viết vể Nâng cao tính công bằng trong bổ nhiệm thẩm phán và Nâng cao điều kiện làm việc của thẩm phán của Tổ

KỶ ẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QƯÓC TẾ Côngkhai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trongquản trị nhà nước

Các nghiên cứu này được công bố t ong ấn phẩm: Viện Chính sách công và pháp luật (IPL), Cải cách tư pháp

vì một nến tư pháp liêm chính, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 20 4

2Phí Thành T ung, “Quyền tư pháp và một số nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, ạp chí òa án nhân dân (điện tử): https://tapchitoaan vn/bai~viet/nghien-cuu/quyen-tu-phap-va-mot-so-nguyen-tac-co-ban-cua-nha-nuoc-phap-quyen-xhcn-vn (t uy cập 22/8/20 8)

3Xem thêm: Nguyễn Huyền Ly, Vai trò của tòa án trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam (Luận văn thạc sỹ luật học), Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 20 2

4Các nghiên cứu này được công bố t ong ấn phẩm: Viện Chính sách công và pháp luật (IPL), Cải cách tư pháp

vì một nền tưpháp liêm chính, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 20 4

Trang 7

Côngkhai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản trị nhà nước

chức Minh bạch quốc tế; Cải cách thủ tục hành chính tại tòa án để nâng cao khả năng tiếp cận công lý của tác giả Nguyễn Hưng Quang Mặt khác, các bài viết Nguyên'tắc xét

xử công khai trong tố tụng hỉnh sự Việt Nam của tác giả Ngô Quang Vinh ; Nguyên tắc khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc ỉập và chỉ tuân theopháp ỉuật - thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện của tác giả Nguyễn Quang Hiền2đã cụ thể hóa nguyên tắc công khai

t ong hoạt động của tòa án thông qua việc quy định về công khai quyết định đưa vụ án

a xét xử, thời gian, địa điểm mở phiên tòa phải được niêm yết công khai t ước khi xét xử; tại phiên tòa công khai các chứng cứ, tài liệu điều t a t ong giai đoạn điều t a, bản cáo t ạng sau khi xét xử cần phải tuyên án công khai và bản án đó tòa án có thể cồng

bố t ên báo chí, đài phát thanh hoặc bằng các phương tiện thông tin đại chúng

khác-để mọi người được biết Để đảm bảo cho nguyên tắc công khai được thực hiện xuyên suốt, pháp luật tố tụng hình sự cũng đã có những quy định cụ thể như quy định về thủ tục chuẩn bị xét xở, thủ tục bắt đẩu phiên tòa, xét hỏi, t anh luận> tuyên án 3

Các nghiên cứu nêu t ên đã chỉ a, công khai hoạt động tư pháp mà t ọng tâm

là công khai hoạt động xét xử với nguyên tắc: “Tòa án xét xử công khai, mọi người đểu có quyển tham dự phiên tòa, t ừ t ường hợp do Bộ luật này quy định T ường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuẩn phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 8 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cẩu chính đáng của đương sự thi tòa

án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai” (Điều 25 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 20 5) Các hoạt động t ong giai đoạn điều t a, t uy tố cũng cần phải được công khai, tuy nhiên không phải là toàn bộ mà ở mức độ, phạm vi công khai có thể hẹp hơn do đặc thù tố tụng của các giai đoạn này Ở đây có liên quan đến các quy định về bí mật quốc gia, bí mật t ong hoạt động tố tụng và bí mật công tác; nếu phạm

vi của các bí mật này ộng thì sẽ hạn chế tính công khai tư pháp và nếu không õ àng,

cụ thể sẽ dễ bị lợi dụng để không công khai Công khai tư pháp còn bao gồm công khai các bản án có hiệu lực pháp luật và án lệ của tòa án đối với xã hội Việc công khai này

có nhiều ý nghĩa, t ong đó bảo đảm để xã hội có cơ sở đánh giá chất lượng hoạt động xét xử của tòa án nói iêng và hiệu quả hoạt động của nền tư pháp nói chung

1 Ngô Quang Vinh, “Nguyên tắc xét xừ công khai t ong tố tụng hình sự Việt Nam”, ạp chí Dân chủ háp luật (điện tử): http://tcđcpl mo gov vn/qt/tintuc/Pages/dien-dan-cong-tac-tu-phap aspx?ItemID=n (t uy cập 20/08/20 8)

2Nguyễn Quang Hiền, Nguyên tắc “khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”- thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện, nguồn: http://tks edu vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/7 /282 (t uy cập 5/08/20 8)

3 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 20 5: https://thuvienphapIuat vn/van-ban/t ach-nhiem-hinh-su/Bo-luat-to-tung-hinh-su-20 5-2 6884 aspx (t uy cập 25/0 /20 )

2 5

Trang 8

KỶ ẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ Côngkhai, minh bạch và trách nhiệm giải trinh trong quản trị nhà nưâc

Cùng với công khai, minh bạch tư pháp cũng được các nghiên cứu ở Việt Nam đê' cập đến như một phạm t ù iêng mặc dù có mối quan hệ mật thiết với phạm t ù công khai tư pháp Hieo đó, minh bạch tư pháp trưốc hết là sự õ àng vể thù tục tố tụng của quá t ình giải quyết vụ án hình sự, nhất là thủ tục xét xử Những thủ tục này bao gồm: căn cứ, thẩm quyền, t ình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp tố tụng (biện pháp điều t a, biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp cưỡng chế khác ), các hoạt động tố tụng của các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, thời hạn tố tụng Thủ tục tố tụng không những phải được quy định

õ àng t ong luật mà sự õ àng đó còn phải được thể hiện t ong quá t ình thực thi, áp dụng khi giải quyết vụ án, để sự õ àng được xã hội thừa nhận, bảo đảm công lý phải

“nhìn thấy được” t ong thực tiễn giải quyết vụ án Nói cho cùng, minh bạch tư pháp phải thể hiện sự õ àng, chặt chẽ không những t ong quy định pháp luật mà cả t ong thực thi, áp dụng pháp luật và phải hướng tới mục đích bảo vệ quyền con người, bảo

vệ công lý theo các chuẩn mực quốc tế hứha iy minh bạch tư pháp đòi hòi cần phải

có sự õ àng, công khai t ong việc xác lập chứng cứ giữa các bên tham gia tố tụng Chứng cứ thu được t ong quá t ình giải quyết vụ án không chỉ được xuất t ình khi kết thúc điểu t a hoặc khi đưa vụ án a xét xử mà phải được các bên thông tin, t ao đổi với nhau t ong suốt quá t ình giải quyết vụ án nhằm từng bước củng cố chứng cứ, lập luận

để xác định sự thật khách quan vụ án, không làm oan người vô tội, góp phấn bảo vệ quyển con người của người bị buộc tội Vì vậy, việc chỉ căn cứ vào chứng cứ có t ong

hỗ sơ vụ án để xét xử sẽ không phù hợp mà tòa án phải tiếp nhận tất cả các chứng cứ được đưa a khi xét xử cũng như những chứng cứ thu thập được ở các giai đoạn tiền xét xử của các bên tham gia tố tụng cần được t ao đổi với nhau

2.3 Qua ệm về trác ệm ả trì tro oạt độ tưp áp ở V ệt am

T ong đời sống hàng ngày> khái niệm t ách nhiệm giải t ình đơn giản là việc yêu cầu một cá nhân hay tổ chức phải chịu t ách nhiệm đối với hành vi của mình Vấn

để đặt a cho ngành tư pháp là t ách nhiệm giải t ình với ai và vể nội dung gì? Nhìn chung, các cơ quan tư pháp phải chịu t ách nhiệm t ước pháp luật, theo nghĩa là các bản án được đưa a phù hợp với quy định của pháp luật và không tùy tiện Giống như các cơ quan nhà nước khác, các cơ quan tư pháp cũng phải chịu t ách nhiệm với người dân và xã hội Tuy nhiên, việc yêu cẩu một cơ quan tư pháp phải chịu t ách nhiệm

t ước một cơ quan khác bên ngoài hệ thống lại đặt a vấn để liệu cơ quan bên ngoài

đó có thể ảnh hưởng đến độc lập tư pháp không? Các cơ chế giải t ình đối với một cơ quan độc lập có thể đặt cơ quan tư pháp vào nguy cơ dễ bị nhũng nhiễu hay đe dọa từ

Trang 9

Côngkhai,minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản trị nhà nưổCu

các bên thua kiện Mặt khác, nếu chỉ có các cơ chế giải t ình nội bộ thi sẽ đặt a vấn đề

về tính hợp pháp và sự minh bạch

Sự khác biệt lớn nhất của mô hình tư pháp t ong các chính thể hiện đại và Việt Nam thể hiện ở chỗ: quyển tư pháp t ong các nhà nước hiện đại được phân định là quyền xét xử và được tổ chức độc lập, ngang bằng với các nhánh quyền lực khác nhằm mục đích kìm chế và đối t ọng lẫn nhau Ở Việt Nam, quyển tư pháp với các hoạt động điểu t a, t uy tố, xét xử, thi hành án được phân giao cho nhiểu cơ quan thực hiện, t ong đó có cơ quan đúng nghĩa là cơ quan tư pháp như toà án nhấn dân các cấp (thực hiện quyển xét xử), nhưng cũng có cơ quan không phải là cơ quan tư pháp mà

là cơ quan kiểm sát (giao thực hành quyển công tố) và thậm chí là cơ quan hành pháp (giao thực hành quyền điểu t a và thi hành án) Như vậy, t ong số các cơ quan thực hành quyền tư pháp (cơ quan điều t a> viện kiểm sát nhân dân, toà án và cơ quan thi hành án) không phải tất cả hoạt động của những cơ quan này đểu thuộc đối tượng của giải t inh tư pháp mà chỉ một mặt hoạt động có tính tư pháp t ong số đó Và cũng có những cơ quan vừa chịu giải t ình của các chủ thể giám sát tư pháp lại đồng thời được thực thi quyền giám sát tư pháp (như Viện kiểm sát nhân dân) Chính các yếu tố này quyết định đặc thù của cơ chế giải t ình tư pháp hiện hành của Việt Nam

Do vậy, ở Việt Nam, t ách nhiệm giải t ình t ong tổ chức và hoạt động tư pháp

lả cơ chế giải t ình từ cao xuống thấp của các thiết chế nhà nước, mỗi thiết chế được phân công thực hiện t ách nhiệm giải t ình đổng thời với quyển giám sát nhất định,

t ong đó Quốc hội có vai t ò tối cao xuất phát từ vị t í của cơ quan quyền lực nhà nưởc cao nhất, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước, thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội (Điểu

6 , Điều 70 Hiến pháp năm 20 3 ) Các cơ quan quyền lực nhà nước tự mình và thông qua các cơ quan khác để giám sát và các cơ quan được thông qua đó được coi là những hình thức giám sát của cơ quan quyển lực nhà nước

Ở cách tiếp cận khác, xuất phát từ đặc điểm giải t ình hoạt động tư pháp được thể hiện thông qua các văn bản áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp như: Bản

án của tòa án, bản cáo t ạng của viện kiểm sát, bản kết luận điều t a của cơ quan điểu

t a hoặc t ong các quyết định tố tụng khác Những văn bản áp dụng pháp luật này đã

Khoản 2 Điều 70 Hiến pháp năm 20 3 quy định: “ hực hiện quyền giâm sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ,

oà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác đo Quốc hội thành lập

2 7

Trang 10

KỶ ẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ Côngkhai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản trị nhà nước

bao gồm cả việc giải t ình cho các phán quyết được đưa a Chẳng hạn, t ong 3 phần của bản án (phần nhận thấy, phần xét thấy và phần quyết định) thì “phẩn xét thấy” đưa a lập luận, lý lẽ dựa t ên các chứng cứ được đưa a ở “phần nhận thấy” làm cơ sở cho các phán quyết, quyết định đối với vụ việc Do đó, t ách nhiệm giải t ình t ong hoạt động tư pháp được thể hiện ngay t ong mỗi mỗi bản án và t ong các văn bản tố tụng khác của tòa án và các cơ quan tư pháp khác (bản kết luận điều t a của cơ quan điều t a, bản cáo t ạng của viện kiểm sát )- Đây là đặc điểm làm nên sự khác biệt giữa

t ách nhiệm giải t ình t ong lĩnh vực tư pháp so với t ách nhiệm giải t ình ở lĩnh vực lập pháp, hành pháp

Những phân tích t ên cho thấy, ngoài giải t ình ở các văn bản áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp t ong quá t ình giải quyết vụ án thì còn bao gồm việc giải t ình đối với hoạt động của nền tư pháp t ước các cơ quan, tổ chức có thẩm quyển và với nhân dân, với cộng đồng xã hội Hiện tại, cơ chế giải t ình hoạt động của nền tư pháp ở Việt Nam bao gồm: (i) Giải t ình thông qua bản án, quyết định của tòa án và cơ quan tư pháp khác; (ii) Giải t ình hoạt động tư pháp t ước cơ quan quyền lực nhà nước Bao gồm: giải t ình t ước cơ quan dân cử (giám sát của Quốc hội , của Chủ tịch nước, của Hội đổng nhân dân các cấp, cùa Viện kiểm sát nhân dân các cấp2 T ong đó, Quốc hội, Chủ tịch nước thực hiện giám sát đối với hoạt động xét

xừ của Toà án nhân dân tối cao và hoạt động t uy tố, buộc tội của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Hội đồng nhân dân địa phương (cấp tỉnh, huyện) giám sát hoạt động tư pháp cùa Toà án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân địa phương) và giải t ình nội

bộ giữa các cơ quan tư pháp (viện kiểm sát nhân dân thực hiện giám sát (gọi là kiểm sát) đối với hoạt động điều t a của cơ quan điều t a thuộc Bộ Công an; hoạt động xét

xử của toà án nhân dân, toà án quân sự; hoạt động thi hành án của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư pháp)

3 T ực trạ g và một số vấ để đặt ra tro g v c bảo đảm cô g k a , m bạc , tr c m g ả trì của oạt độ g tư p p tạ V t Nam ay

động tư pháp tại Việt Nam hiện nay

Hiến pháp, pháp luật Việt Nam đã hình thành khung pháp lý về công khai, minh bạch và t ách nhiệm giải t ình t ong hoạt động tư pháp Hiến pháp năm 20 3

Tự mình và thông qua các cơ cấu của Quốc hội và đại biểu Quốc hội

2Ở đây chưa kể sự giám sát của Mặt t ận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính t ị - xã hội và các tổ chức xã hội

Ngày đăng: 26/01/2021, 22:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w