Eastern Studiưs. The Inslitule of Easlem Studies. Kháo cồ học.. Tính hiện thực của chúng rất kỳ lạ. Liên quan đ ến !ri quyển, Karl Popper đã phân biệt thành ba thế giới: thế giới vật c[r]
Trang 2“ Còn là TINH A N H ”Cóng hiến của Giáo sư Trấn Quốc VưỢng
cho Khoa học Xã hội và Nhâtt vân
Trang 3Tưởng nhớ G iáo sư Trẫn Q uốc Vượng, sau thập niên Tháy vé cỏ i NGƯỜI HIỂN*
dế lớp lớp học trò hướng vẽ điểm kh ỏi đ ấ u
Trang 4ĐẠI HỌCQUỔCGIAHÀNỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÀ HỘI V À NHÂN VẢN
KHOA LỊCH s ử
Cống hiến của Giáo sư Trẩn Quốc Vượng
cho Khoa học Xã hội và Nhân văn ■ •
KỶ YẾU TỌA ĐÀM KHOA HỌC
NHÀ X U Ấ T BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 5Biên tập và Tổ chức bản thảo:
PGS.TS Vũ Văn Quân, GS.TS Nguyễn Quang Ngọc PGS.TS Lảm Thị Mỹ Dung, PGS.TS Hoàng Anh Tuấn T5 Phạm Đức Anh, TS Nguyễn Thị Hoài Phương
TS Đặng Hổng Sơn, T5 Đinh Đức Tiến
Trang 6H ưáng tới Kỷ niệm 60 năm thành lập Khoa Lịch sử
Trang 7MỤC LỤC* •
* Giáo sư Trăn Quốc Vượng: Nhà s ử học, Khào cổ học và Văn hóa học xuất sảc
V ữ VÀN QUÂN 11
* Trăn Quốc VưỢng: như tôi hiểu
PHAN HUY LÊ 13Phẩn I: "THEO DÒNG LỊCH s ử "
* Giáo sư Trẫn Quốc Vượng: Người đi đáu đổi mới tư duy sừ học
TRẤN KIM ĐỈNH 23
’ Một só nghiên cứu trỉển khai từ quan điểm của Giáo sư Trẫn Quốc Vượng
vẽ giai đoạn Bắc thuộc ở miễn Bắc Việt Nam
* Mô hình Mạng lưới trao đổi ven sông và sự gợi mờ
của Giáo sư Trần Quốc Vượng
Đ ỏ THI THỪY LAN 90
* Vế ba bộ giáo trinh không thể thiếu
Nguyễn Ngọc Phúc, Đặng Hông Sơn, Nguyễn ThỊ Hoài Phương 132
Trang 8"Còn là TINH ANH"
Phấn ll:" V IỆ T NAM: KHẢO c ổ HỌC"
* Ngưởi “khai sơn phá thạch" ngành Khảo cổ học ở Việt Nam
HÁN VẢN KHẨN 145
* Giáo sư Trán Quổc Vượng với “Vàn hóa thung lũng”
NGÔ THE PHONG 149
* Khảo CỔ học Môi trường trong tri ihửc học thuật cùa Giáo sư Trấn Qưóc Vượng
Phắn III: "VÂN HÓA V IỆT NAM; TÌM TÒI VA SUY NGẪM"
* Kỳ niệm vé Giáo sư Trán Quổc Vượng
LÊ HÓNG LÝ 233Nhà sử học Trẫn Quổc Vượiìg: Người rất sớm nhin tháy tôn giảo (ở)
Việi Nam là dòng chảy nội tại của lịch sừ và văn hóa Việt Nam
NGUYỄN QUÓC TUẤN 242
Trang 9MỤC LỤC
* Giảo sư Trán Quóc Vượng với nhửng nghiên cửu vé vãn hóa ẩm thực
NGUYỄN THỊ BÀY 248
* Giáo sư Trán Quốc Vuợng với sứ mệnh khai mở ngành Du lịch học
ở Đại học Quỗc gia Hà Nội
PHAN QUANG ANH> TRÃN THÚY ANH 257
* Tôi học từ Giáo sư Trán Quóc Vượng một phương pháp tư duy
NGUYỄN THỊ MINH THÁI 268
* Giáo sư Trán Quỗc Vượng: Người dạy học không theo lói mòn
t)Ỗ THỊ HƯƠNG THẢO 275
’ Mấy kỳ niệm vể một ngdời Thẵy
NGUYỄN HỮU TOÀN 287
Phẩn IV: "V IỆ T NAM: CÁI NHÌN ĐỊA • VAN HÓA"
* Lẫn theo một vài sơ đó nghiên cứu của Giáo sư Trán Quóc Vdợng
TỐNG TRƯNG TÍN 293
* Giáo sư Trẫn Quỗc Vượng với việc nghiên cứu đô thị và các trung tảm chính trị trong lịch sử Việt Nam
NGUYỄN VĂN ANH 304
* Biển với người Việt cổ: những ý tường, nghiên cứu
cùa Giáo sư Trán Quỗc Vượng vê Biển
NGUYỀN VẢN KIM 307
’ Theo Tháy ra biển
VO THỂ LONG 351' Nhà Hà Nội học Trán Quóc Vượng
NGUYỄN QUANG NGỌC 354
’ Có một Trẩn Quốc Vượng với “Đẵt thiêng ngàn nám văn vật”
NGỮYỄN HÀI ÌCỄ' 357
’ Hà Nội học như là khu vực học; Nhặn diện qua những nghiên củu
của Giáo sư Trấn Quóc Vượng
Đ ỏ DANH H U Ấ N 367
Trang 10X ò n làTIN H A N H "
’ Nhửng nghién cứu “Địa “ Vàn hóa" cùa Giáo sư Trán Quỗc Vượng
vễ các trán/xứ (Đông, Nam, Đoài, Bảc) nhìn từ Thăng Long
ĐINH Đ ữ c TIẾN 384
* Vé “Mò hinh quy hoạch vùng văn hóa Chămpa*' của Giáo sư Trán Quốc VượngNGUYỄN HỔNG KIÊN 398
* Giáo sư Trán Quổc Vượng với Hội An
TRƯNG TÂM QUÀN LÝ BẢO TỐN DI SẢN VẢN HÓA HỘI A N 410
* Cùng vởi Giáo sư Trẫn Quốc Vượng tại các làng Chăm Ninh Thuận
TRƯƠNG VẢN MỔN (Sakaya) 413
* Giáo sư Trán Quỗc Vượng và nghiẻn cứu lịch sừ • vãn hóa vùng đấi Nam BộNGUYÊN THỊ H Ậ U 426
* Việt Nam trong lịch sử “ vãn hóa Đông Nam Ả dưới quan điểm,
cách nhin của Giáo sư Trẩn Quỗc Vượng
PHẠM VẢN THỦY, Đ ỏ TRƯỜNG GIANG 435
"Còn là TINH ANH” 461
Trang 11GIÁO sư TRÁN QUỐC VƯỢNG:
PGS.TS Vũ Vàn Quân
I T ọa đàm khoa học: “Còn lá T I ! \H A N H ”hỹ niệm 10 n ă m ngày
m ấ t củ a G iáo s ư T rần Q uốc Vượng - m ột người thầy, m ột n h à nghiên cứu lịch sử và văn hóa xuất sắc của V iệt N am , m ột học giả có uy tín quốc tế lớn, người cùng với G iáo sư Đ inh X uân Lâm, G iảo sư Phan Huy
Lê, G iáo sư Hà V ãn T ấn là niềm tự hào, hãnh diện cùa các thế hệ sinh viên K hoa Lịch sử hòm qua, hôm nay và m ãi mãi về sau
K hoa Lịch sử T rường Đại học T ống hợp Hà N ội (nay là Trường Đại học K hoa học X ã hội và N hân văn thuộc Đại học Q uốc gia Hà Nội) íhành lập năm 1956, đến nay đã ư ả i q u a gằn sáu m ươi năm xây dựng
và ph át triến T rong những ngày đầu m ới thành lập, cũng như nhiều cơ
sớ đ ào tạo đại học khác, K hoa Lịch s ù đứng truớc vô vàn khó khăn, thiếu thổn T uy nhiên, bù lại, thật m ay m ắn, K hoa có được m ột đội ngũ các nhà khoa học tài nãng và vô cùng tâm huyết với sự phát triển của
K hoa cũng như cùa cả nền sừ học nước nhà Đ ó là các G iáo sư Trần
Đ ức T hảo, G iáo sư Đ ào D uy A nh và G iáo sư T rần Vãn G iàu Dưới
sự dẫn dắt của các thầy, tóp cán bộ tré đầu tiên của K hoa đã tarởng thành hết súc nhanh chóng T rong số này, nổi bật lên, để rồi trờ ihành những tên tuổi lớn của nền Sử học và K hoa học X ã hội N hân văn V iệt
N am hiện đại, là tứ trụ huyền thoại Lâm - Lê - T ấn - V ượng N gay từ
Tnrcmg Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 12(3 tập) - từng là tài liệu học tập chính thức cúa sinh viên Khoa Lịch sứ
và nhiều cơ sở đào tạo khác trong nhiều chục nãm,
2 Tọa đàm khoa học này diỗn ra đúng vào ngày giỗ lần th ứ mười Giáo sư Trần Q uốc V ượng (theo lịch ta) Chúng ta họp m ặt tại đ ây là để tướng nhớ về m ột người thầy, m ột người bạn, nhưng cũng là đé cùng hiểu, cùng tìm tòi, cùng khám phá, cùng suy ngầm , cùng làm theo, cùng làm tiếp và cùng sáng tạo về/và với m ột nhà sử học, m ột nhà văn hóa học lớn của V iệt Nam Tôi không có ý định làm báo cáo có tinh
đề dẫn hay phát biểu tổng thuật cho cuộc tọa đàm này, nhưng nếu có làm thi cũng rất dề, rất đơn giàn Vì tự bốn chủ đề của buổi tọa đàm
đã nói lên được cái căn bản trong sụ nghiệp nghiên cứu và giảng dạy cùa G iảo sư Trần Q uốc Vượng, là “Theo dòng lịch sứ", iả “V iệt N am kháo cổ học” , là “V ăn hóa V iệt N am - Tim tòi vả suy ngầm ” và là "V iệt
N am - Cái nhìn địa - vãn hóa” , c ầ n nói thêm , tên của bốn chủ đề - bốn phiên cùa tọa đàm như trên được gợi ý từ bốn cuốn sách nối tiếng cúa
G iáo sư Trần Ọ uốc V ượng, m à ba trong số đó trờ thành cụm công trình được Chù tịch nước trao tặng G iải thường Hồ Chí M inh về K hoa học
và C ông nghệ nàin 2011 N hừng phần thưởng đó là sự ghi nhận, thừa nhận những cống hiến to lớn cua ổ n g trên nhiều phương diện, trong nghiên cứu lịch sừ V iệt N am trong xây dựng và phát triển nền kháo
cổ học V iệt Nam, trong nghiên cứu về văn hóa V iệt N am và đặc biệt là với từng vùng đất - vùng người trên lãnh thố cong cong hinh ch ữ s này
Ó ng yêu cà đất nước ba m iền với “ khúc đầu m iền Bấc khơi nguồn, khúc giữa m iền Trung kiên dũng, khúc cuối Nam Bộ thành đồng”
Ồ ng dành nhiều hơn cho m iền Bắc với trung du, đồng bàng, ven bién, với Băc Bộ, với xứ Thanh, x ứ N g h ệ T rong đó, ô n g dành sự ưu tiên đặc biệl cho Tháng Long - Hà N ội, m à sinh thời ổ n g rất thích câu trong bài hát cùa Nhạc sĩ N guyền Đ ình Thi là nơi “ lắng hồn núi sòng
Trang 13GiáosưTrấn Quổc Vượng; Nhà Sử học, Khảo cổ học
ngàn nãm ” Ò ng nhin T hăng Long - Hà N ội trong mối quan hộ với tứ
Irấn nam bắc đông đoài đê lạm dừng với Trên m ánh đất c ổ Loa lịch sứ,
Cố L o a - Truvến ihống và cách m ạ n g " rồi trién nở thành Trèn mảnh đắt ngàn năm vãn vật, H à N ộ i nghìn x ư a và sau khi ô n g mất m ột
học trò cùa ố n g (nay cũng không còn) đặt m ột cái tên cũng rất Trần
Quốc V ượng là Đ ất thiêng ngàn nám văn vật cho m ột trong nhiều công
trinh được xuất bản/tái bàn Với m iền T ain g , ô n g thực sự [à “C ặp mắt đại bàng bao quát/xuyên thấu diễn trình lịch sừ văn hóa m iền Trung” ,
là người đưa ra “ Mỏ hình quy hoạch vùng vãn hóa C ham pa", đấu chân
Ô ng in đậm trên nhiều làng C hăm N inh Thuận, lần tìm từ ng ngõ ngách nơi phố cố Hội A n Với N am Bộ m ành đất lận cùng T ổ quốc, tuớng
xa xôi thế thi Ô ng ít đến, it biết, nhưng kỳ thực, ô n g biết nhiều, đi nhiều hơn ta tư ờ n g Và, với phần biển đ ào thiêng liêng cùa T ổ quốc, ô n g cũng là m ột trong những người tiên p h o n g
3 N ói đến G iáo sư Trần Q uốc V ượng, người đã biết ò n g và kể
cả ngirời mới chi đọc ó n g , đ ều n h ận ra m ột phong cách không thế lẫn, được định danh ngay lúc sinh thời - “phong cách Trần Q uốc V ượng”
Ô ng báo, Ô ng họ Trần, gốc gác m iền sông nước, nên “ăn sóng nói gió” ,
“án to nói lớn” Đ úng là cả lúc giảng bài, khi thuyết trinh cũng như trong tranh biện, giọng ô n g sang sang chẳng cằn đến m icro, không gian lúc tĩnh lặng đế người nghe như nuốt lấy lừng lời, rồi bỗng dưng vờ òa sang khoái Đ ă hơn mười năm rồi, cỏ ai ià học trò cúa ó n g m à không
m ột lằn ao ước đư ợc nghe lại giọng nói độc nhấí vô nhị đỏ N hưng hơn tất cà, phong cách vãn chương T rần Q uốc V ượng mới là thứ m à đương thời và mài về sau vẫn cuốn hút m ạnh m è người đọc C ó m ột thực tể là, phong cách và nhân cách T rằn Q uốc V ượng đà anh hưởng dến không
ít học trò trong cách nói, cách làm và cách viết Đâu đó ờ người này, người kia thấp thoáng cách nói, cách làm và cách viết rất kiểu Trần Ọuốc Vượng-
4 Là m ột trong tứ trụ huyền thoại - m ột thế hệ vàng cũa K hoa Sứ
và của cá nền sử học V iệt N am hiện đại, với những phần thuờng cao quý m à Đ àng và N hà nước trao tặng, trong đó có Huân chương Lao động H ạng N hất và G iài thường H ồ C hí M inh về K.hoa học và Công nghệ, G iáo sư T rần Q uốc V ượng, toàn b ộ cuộc đời và sự nghiệp, là m ột
Trang 14"Còn lả TINH ANH"
tài nguyên lớn của K hoa Lịch sử, của Trường Đại học K hoa học X ã hội
và N hân văn, của Đại học Q uốc gia H à Nội, m à cũng là tài nguyên lớn cũa chung cả giới nghiên cứu lịch sử và văn hóa nước nhà Tôi nhớ, tại
M ễ Trì, trên lễ đài đỏn nhận danh hiệu A nh hùng Lao động thời kỳ Đổi mới m à Đ ảng và N hà nước trao tặng cho K hoa Lịch sừ vào năm 2000, khi G iáo sư Trần V ãn G iàu - người ứiầy cùa “tứ trụ” xuất hiện trên sân khấu, G iáo sư T rần Q uốc V ượng đã đứng !ên và hô vang: “H oan hô Trần Vãn G iàu” Lập tức cà hội trường cùng đứng đậy hường ứng và cùng hô vang như sấm “H oan hô T rần V ãn G iàu” Các thế hệ học trò của G iáo sư Trần Q uốc V uợng đã không có được cái phúc dó như thầy,
và vì the m à CLỘC họp m ặt và tọa đàm hôm nay sẽ n h ư m ột phần an ủ i.Cuối cùng, thay m ặt toàn thể cán bộ K hoa L ịch sử, tôi xin b ày tò sự cảm ơn chân thành và sâu sắc tới sự có m ặt cùa các vị đại biểu, nhất là các thầy cô, các nhà nghiên cứu đ ã v iế t bài tham gia buối tọa đàm này, tới N hà trưòng đã ùng hộ về tinh thần và vật chắt và xin tuyên b ố khai
m ạc tọa đàm khoa học “ Cỏn là T ỈN H A N H " k ỷ n iệ m 10 n ă m ngày
m ấ t củ a G iáo s ư T rần Q uốc Vượng.
Trang 15TRẨN QUỐC VƯỢNG: NHƯTÕI HIỂU
GS Phan Huy Lê'
T ừ thuờ còn trai tráng và đang hăng say dẳn thân tim tòi, khám phá
Hà N ội, anh T rần Q uốc V ư ợng thường nói chơi với nhóm “ Lâm, Lê Tan V ưựng” chúng lòi và các b ạn ửiân cùng khóa, uùng K hoa Lịch sừ; đân Hà Nội hầu hết là “dân tứ chiếng", kề cả các cậu, còn tớ thuộc loại
“dân Hà N ội gốc” vi ít ra cũng đã q u a b a đòd cam rễ trên đất Hà Thành này A nh von quê ớ H à N am nhưng theo anh, ít ra từ đời ông nội đã sống ờ Hà N ội m à theo tục lệ xưa thi sau ba năm "ngụ cư ” là được coi như “chính c ư ”, anh nói cái gi cũng có sách, có chứng cả K hông biết
có phái vi sự gắn bỏ gốc gác đó không, nhưng có m ột sự thật ai cũng thay là G iáo sư T rằn Q uốc V ượng đã dành rất nhiều thời gian cùng lâm iực, trí lực cho nghiên cứu, suy n g ẫm để hiểu H à N ội và viết về Hà Nội
A nh T rần Q uổc V ượng có m ột thói quen hình thành rất sớm là íhích ngao du m ọi nơi, không phải chi đi chơi m à vừa chơi vừa nghiên cứu, vừa thu thập tu liệu, vừa nâng cao hiểu biết, nói theo thuật ngữ khoa học là điều tra, khảo sát điền dã C ó lẽ vết chân anh đã để lại trẽn hầu khấp m ọi m iền cùa đất nước từ Lũng C ú đ ến C à M au từ Trường Sơn đến m ột sổ hải đ ảo cùa Biển Đ ỏng, có nơi anh đi lại nhiều lần
Có m ột câu chuyện vui M ột lần anh về tíiãm quê tôi ờ xã Thạch Châu huyện T hạch H à tinh H à T ĩnh, đến n h à thờ họ Phan H uy và tự xưng là học trò “thầy L ê”, xin thắp nén hư ơng tư ở ng niệm tổ tiên dòng họ Anh
“đóng kịch” giỏi đ ến m ức độ các cụ g iả trong họ đểu tin, tuy có vài
* Chủ tịch Hội Khoa học I.ịch Việt NaTti
Trang 16"Còn là TINH ANH”
người hơi ngờ ngợ, sao học trò thầy Lê m à tóc bạc, tuồi cao và thông diái đến thế, hói đù thứ từ các cụ tổ Phan H uy C ận, Phan Huy ích, Phan Huy C h ú đến cả các chi phái ờ Nghi Xuân, Sài Sơn, đến cả truyền thống hát ca trù cùa dòng h ọ , Khi về thăm quê, nghe nói tôi biết ngay
là ông bạn Trần Q uốc V ượng thân m ến, chứ không thể ai khác, rồi sau
đó, anh V ượng cũng kể lại cho tôi hay
G iáo su Trần Q uốc V ượng là m ột nhà khoa h ọ c quáng du, quãng giao, quảng bác A nh đi khắp nơi, giao du với m ọi người từ các nhà khoa học đủ các ngành, Sừ học, Khảo cổ học, D ân tộc học, Xã hội học,
N hân học, V ãn hóa học, và cả m ộ t số ngành khoa h ọ c ĩự nhiên như Đ ịa chắt, Đ ịa lý, Môi tn iờ n g , Sinh thái, Sinh vật, Toán học, Vật lý đến các nhà ứiơ, nhà vãn, nhà báo, các văn nghệ sĩ, cho đ ến m ọi người m à anh gặp, nông dân, thợ thủ công, dân chài lưới, công nhân, người đạp xe xích lô, chạy xe ô m Tôi nói “giao du” ờ đây không phải chi là sự gặp nhau, nói vài ba câu chào hỏi xã g ia o m à là ừ ao đồi, khai thác thông tin, tìm hiéu theo lối xã hội học nhùng vấn đề anh quan tâm K ho kiến thức cùa anh không chi tích lũy từ tra cứu th ư tịch cổ kim , sách báo đú loại, từ hội thảo, tọa đàm , gặp gỡ khoa h ọ c m à còn từ nhiều nguồn, nhiều đối tượng bằng nhiều phương thức thu thập rất đa dạng, trong đỏ những hiểu biết thực tế và vãn hóa dân gian giữ vai trò rất quan ừọng
T rong các chuyển ngao du đó, anh còn đưa sinh viên đi thirc lập hoặc gọi sinh viên cũ đang công tác tại địa phương cùng tham gia và nhân
đó, truyền đạt đạy bào cho lớp trẻ nhiều điều bổ ich, chuyển giao nhiều kinh nghiệm hay Đ ối với anh ngay cả khi “nhậu n h ẹt", “bia bọt", lúc
“trà dư tửu hậu” , trong lúc án chơi thực sự cũng vẫn là cơ hội để hiểu người, hiểu đời, hiểu thời thế Đ ấy là m ột phong cách nghiên cứu rất đặc trưng của Trần Q uốc Vượng,
Anh Trần Q uốc V uợng cũng như khóa học chúng tói, theo học Ban Sừ - Đ ịa, mộl chuyên ban đào tạo m ang tính liên ngành đ ầu tiên và duy nhất của nền đại học V iệt N am độc lập T rong những năm 1952-
1956 chương trình đào tạo còn đơn sơ, nhim g điều m ay mắn lớn nhất của thế hệ chúng tôi là được trực tiếp thụ giáo các thầy vốn là những nhà khoa học ỉớn của đắt nước, có thầy được đ ào tạo ở nước ngoài có học vị cao rứiư G iáo sư T rần Đ ú c T hảo, G iáo sư N gu y ễn M ạnh Tường,
Trang 17Trán Quốc Vượng: như tôi hiểu
Giáo sư Phạm H uy Thòng, G iáo sư Đ ào Bá Cương, có người tự học,
tự nghiên cứu như G iáo sư Đ ào D uy Anh, G iáo sư Tran Ván Giàu, Giáo sư Đ ặng Thai M ai, G iáo sư C ao X uân Huy, G iáo sư N guyễn Đức Chính G iáo sư Lê X uân Phương, G iáo sư H oàng Thiếu S ơ n Nen tảng sứ-địa đư ợc đ ào tạo tuy không nhiều nhưng là những vốn kiến thức kèm theo phương pháp nghiên cứu rất cơ bản Q uà thật nghiên cứu '‘sừ”
mà thiếu “địa” thì rất khiếm khuyết, lịch sù xét cho cùng là tất cả hoạt động cùa con người diễn tra trong không gian và thời gian, m à không gian lịch sử chính là điều kiện địa iý, đặc điểm m ôi trưòng, sinh thái Từ lổi đào tạo đó, nhiều người trong khóa chúng tòi khi đi vào nghiên cứu lịch sử thường quan tâm nhiều đến địa lý Riêng anh T rần Q uốc Vượng thì ngoài chuyên m ôn sừ học địa lý, còn có chuyên m ôn kháo cổ học, anh là m ột trong những nhà khào cổ học đầu tiên có công xây dựng nền khảo cổ học V iệt N am hiện đại T ừ ba chuyên m ôn nền táng đó, anh
V ượng còn m ờ rộ n g hiểu biết ra nhũ n g chuyên ngành liên quan như dân tộc học, ngôn ngừ học, vãn hóa dân gian, xà hội học, văn hóa học
cà phong thủy, tướng s ố M ột phong cách nghiên cứu nối bật thứ hai của T rần Q uốc V ượng là luôn luôn sừ dụng phưcTng pháp tiếp cận liên ngành, đa ngành, suy ngẫm và nhận thức lịch sử từ nhiều góc độ chuyên
m ôn khảc nhau liên kết lại trong m ột cái nhìn tống hợp, tích hợp
N goài ra, anh T rần Q uốc V ượng là m ột người có cá tính rất độc đáo, biểu thị trên m ọi phưcmg diện, írong ăn m ặc, nói năng, ứng xứ, trong giảng dạy, nói chuyện, irong lời văn, giọng n ó i Bất cứ ai, ữong nước hay ngoài nước, chi m ột iần gặp Trần Q uốc V ượng là nhận ra ngay cả tính đó N hư ng đàng sau những cá tinh m à cỏ người cho là “ lồ
m ăng’*, “ngạo m ạn” , “bạt m ạng” đ ó là m ột trái lim nồng nhiệt, sống rất tình nghĩa với bạn bè, học trò, m ột trí tuệ thông m inh, sắc sảo nhạy bén,
m ột nhà khoa học đầy nghị lực trong nghiên cứu, không bao giờ bằng lòng với những cái đã biết cũa m ình và cùa mọi người, luôn vươn tới những khám p h ả m ới của thế giới nhận thức
Tôi nói hơi nhiều về con người của G iáo sư T rần Q uốc V ượng đé
từ đ ó hiểu đư ợc những nghiên cứu của anh về Hà Nội
Các bạn trè thuộc thế hệ học trò cùa G iáo sư Trần Q uổc Vượng tại K hoa Lịch sử T rường Đại học K hoa học
Trang 18ba m iền Bấc Trung N a m R iéng những kết quà nghiên cứu về Hà
N ội, thu mục cho đến nay đà lên đến hàng trăm bài viết và sách N goài
m ộ t sổ cuốn sách đã xuất bán như H à N ộ i nghìn x ư a (1976) viết chung với T ạo Trang Vũ Tuấn Sán, H à N ộ i - Thủ đô nước C ộng hòa X ã hội
C hú nghĩa Việt Nam (1984) do anh chù biên, Trén m ánh đ ắ t ngàn nám vàn vật (2000), H à N ộ i n h ư tôi hiếu (2005) Thăng L o n g - H à Nội tìm
tò i và suy ngẫm (2 0 0 6 ) anh còn có rất nhiều bài viết dài ngắn khác
nhau, dưới nhiều thể loại từ báo cáo, tuận văn k h o a học đến thông báo khoa học, kể chuyện, kỷ s ự thôi Ihi “ tản m ạn” , “ tạp lục” , “tiểu lục” đủ loại như anh vẫn tự nói Vì vậy Chù nhiệm K hoa Lịch sử PG S.TSK H
N gu y ễn Hãi Ke và các bạn ơ o n g Khoa, trong Bộ m ôn V ãn hóa học, khó khăn lắm mới tuyển chọn được 31 bài, biên tập thành cuốn sách m ang
đ ầ u đề Đ ấ t th iê n g n g à n n ă m văn vậi đế xuất bản trong Tù sách nghìn
năm T hăng Long - Hà Nội nhân dịp ky niệm T hăng Long nghìn tuối
Đ ây chỉ mới m ột phần nho trong số nhiều công trình, bài viết cúa
G iáo sư Tran Q uốc V ượng về T hăng Long - H à Nội N hưng qua cách
tu y ến chọn và sắp xếp, tôi cảm thấy PG S.TSK H N guyền Hài K ế và ThS Đ ỗ H ương Thảo đâ rất hiéu Thầy V ượng của m ình, biết chọn những bài viết tiêu biểu cho những kết quá nghiên cứ u suy ngẫm về
T hăng Long - Hà N ội trên mọi phương diện và cà cách tiép cận dưới những góc độ chuyên m ôn khác nhau
C húng ta bắt gặp trong cuốn sảch những công trinh khoa học m ang tính hàn lâm bác học cho đến nhừng bài viết m ang tinh m iêu tà, so sánh, trao đổi suy n g h ĩ thuộc đú thể loại
C húng ta cùng tìm thấy trong cuốn sách cá chiều dày lịch s ừ và vãn hóa của Thăng Long - Hà Nội từ cố đô c ổ Loa thời Âu Lạc trị sở
T ống Binh, thành Đại La thời Tiền T hăng Long, cho đ ến cột m ốc định
đ ô T hăng Long cúa vua Lý Thái T ổ rồi T hãng Long - Đ ông Đ ô - Đ ông
K inh - Kẻ C hợ thời Lý, Trần, Hồ, Lẽ sơ, M ạc, Lê T rung hưng cho đến
Trang 19Trán Quổc Vượng; như tôi hiểu
Hà Nội thòi N guyễn, thời Phảp thuộc, cho đến Hà N ội đang Đ ổi mới,
đ an g đan xen giữa truyền thống và hiện đại ngày nay
C uốn sách cùng hiến thị trước chúng ta m ột Hà N ội trên mặt đất với các sông hồ, các di tích thành lũy đền chùa, m iếu m ạo phố phường
và cá m ộ t Hà N ội trong lòng đất m à kháo cô học đã có nhiều phát hiện.Con nguời Hà Nội cũng được thể hiện ở m ột số gưcmg m ặt đanh nhân và nhất là cuộc sống cộng đồng qua các phố nghề, làng nghề, hệ thống ch ợ bến qua lổi sống, nghệ thuật ẩm thực, qua các lễ hội và kho tàng văn h ó a dân gian
M ột phong cách viết cùa T rần Q uốc V ượng là kết họp giữa các lư liệu trích d ẫn trong thư tịch cổ, trong vãn bia, thẩn tích, với những tư iiệu khào sát thực địa và đặc biệt thích điểm xuyết bằng nhù n g bài thơ
cổ và nhiều ca dao, tục n g ũ dân gian
Đ iểu tôi thích thú và đánh giá cao nhất trong nghiên cứu Thăng Long - H à N ội cùa T rần Q uốc V ượng là anh có những phát hiện, đề xuất rất sắc sảo A nh là nguời đầu tiên đã khái quát “Cánh quan sông
- hồ” , đã đư a ra m ô hình “T ứ giác nước” của T hăng Long - Hà Nội, đà phát hiện “N gã ba nước” cúa các cứa ô La thành, đâ đề xuất đặc điẽm
“ Hội tụ - G iao lưu - K ết tinh - Lan tòa” và quy luật “T am giác tính: Truyền thống - G iao thoa - Đ ối m ới” trong phát triến văn hóa Thảng Long - Hà N ộ i , A nh cũng là người đẩu tiên đưa ra khái niệm “ Hà Nội học" đè tôn vinh những nhà khoa học có nhiều cống hiển trong nghiên cứu Hà N ội và đề xuất thành lập T rung tâm Hà Nội học
N hận thức lịch sử cũng như khoa học nói chung, luôn luôn là m ột quả trinh được nâng cao dần qua lao động khoa học không biết m ệt m ỏi
và đầy tinh sáng tạo của các n h à sử học qua các thế hệ nối tiếp của các nhà sừ học K ết quả nghiên cứ u của bất cứ nhà sừ học nào dù tài ba đến đâu, qua th ử thách của thời gian cũng có những giá trị được khẳng định
v à đứ ng vững, có những điều đuợc bổ sung, điều chinh, có những già thuyết, đề xuất được chứng m inh và cũng không tránh khòi cỏ nhừng điều bị vư ợt qua Đ ấy là quy luật của nhận thức m à không m ột nhà sử học nào có thể đứ ng ngoài, c ố n g hiến trong nghiên cứu về T hăng Long
- Hà N ội củ a G iáo s u T rần Ọ uốc V ượng là rất lớn, rất đáng trân trọng
Trang 20"Còn là TINH ANH"
nhiều kết quá còn nguyên giá tri cho đến hôm nay, nhưng d ĩ nhiên cũng nam trong quy luật nhận thức lịch sừ và tất cả đều được ghi nhặn trong quá trình nghiên cứu và nhận thức về T hăng Long - Hà N ội
Đối với G iáo sư T rần Q uốc Vượng, bao trùm lên tẳt cã kết quà nghiên cứu cụ thể là m ột nhà khoa học gần như cả cuộc đời gán bó m ật thiết với m ành đất T hăng Long - Hà N ội ngàn năm vãn hiến và anh hùng A nh thường ngày đi tham quan, khảo sát khấp m ọi di tích, thắng cảnh cùa Tháng Long - Hà N ội m à anh hay nói là “ la cà k h ắp m ọi chốn
H à Thành” , có m ặt trong m ọi cuộc khai qu ật khảo cổ học tại Hà N ội, it khi văng m ặt trong các lề hội, trong các sinh hoạt văn hỏa, tôn giáo, tín ngưởng của H à Nội A nh đi - trông - nghe - biết để cố h iể u ch o đúng
về lịch sừ, văn hóa, con người, m ảnh đất H à Nội, rồi từ đ ó suy tư, nhận thức và viết cho m ọi người hiểu biểt thêm về T hăng L ong - H à N ội
G iáo sư Trần Quốc VưọTig thưòrng nói, T hăng Long - Hà N ộ i lầng đọng khí thiêng của non sông đất nước, thì tô i cũng cỏ thể nói thêm T hãng Long - Hà N ội luôn luôn lắng đọng trong tâm trí T rần Q uốc V irợng, m ột người con của Hà Nội đà gắn bó cà cuộc đời với sự nghiệp tìm tòi, khám phá, giái mà Thăng Long - H à Nội
Trang 21P H À N I
Trang 22GIÁO sư TRÁN QUỐC VƯỢNG
PGS.TS.Trẳn Kim Đỉnh
1 Sách 100 chân dung - M ộ t th ế kỹ Đ ợi học Q uốc g ia H à N ộ i v\kx\
“G iáo sư T rần Q uốc V ượng là người đà khai phá gieo m ẩm những ý tướng m ới nêu cao lời thề trung thực, dũng cảm cho các nhà sừ học
N gười đã vượt qua phong ba bão táp đẻ làm m ột cánh đại bàng trong làng S ử học V ăn hóa học V iệt N a m M ỗi trang viết cùa ô n g là kết quả của quá trinh tìm tòi suy ngẫm v à nghiệm sinh lảu dài, hiện đại về
rư liệu, xử lý tài lình mối quan hệ biện chứng giừa Phá bỏ - Bảo tồn - Sáng tạo và đặc biệt ô n g cố gắng hết m inh đế gọí sự vật bằng chính cái tên cùa nó Đối với những nhà nghiên cứu lịch sừ, theo ô n g có m ột nguyên tẳc tối thượng, đ ó ìà “N ghiêm thay sứ bút”"'
G iáo sư T rần Q uốc V ượng đã khai m ờ những ý tường mới, cách tiếp cận m ới và bão vệ đ ến cùng bảng chứng lý những ý lường đó ô n g
là m ột trong nhừng người đi tiên phong trong đôi mới tu duy sử học
Ò ng đã thố hiộn bản lĩnh, trách nhiệm và lucmg tâm cúa nhà sứ học đế đánh giả đúng sự thật và viết sự thật Đ iều quan trọng lả nhiều ý tường
m ới, cách tiếp cận m ới của ô n g đã góp phẩn làm sáng tỏ nhừng huyền
bí cúa lịch sử, phán ánh đủng hiện ửiực lịch sử, thức nhận, chuẩn chinh
Trưímg Đại học Khoa học Xà hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội
Làm Thị Mỹ Dung; "Giáo su, Nhà giáo ưutúTrẩn Quốc Vượng: Thầy tôi, cẫy đại
thụ ciia nền sứ học Việt Nam", trong } 00 chán dung ■ MỘI théký-Đại học Qiiổcgia ỉỉù Nộỉ^ Nxb Đại học Quổc gía Hà Nội, 2006, tr 719.
Trang 23Phẳn I "THEO DỒNG LỊCH s ử "
những m ơ hồ, sai lệch, những nhận định phiến diện Ihiếu tính khách quan khoa học về nhiều sự kiện và nhãn vật trong lịch sữ dân tộc
Bài viết nhò này xin đề cập đến quan điểm của ô n g về Nhà N guyễn
và Triều Nguyễn ớ thời điểm nãm 1987
2 Nãm 1987, nãm đ ầu thực hiện đường lối đối mới của Đáng, bước chuyến quan trọng trong đồi m ới tư duy cùa giới nghiên cứu khoa học xã hội Giáo sư T rần Ọ uổc V ượng công bố bài viết “ Vài suy nghĩ
về X ứ Huế và vị thế lịch sừ cúa n ó ” đãng trên tạp chí Sóng Hương Đ ó
là nhừng nhận thức mới và cách tiếp cận m ới về N hà Nguyễn và thời
N guyền ờ thòi điếm này Sau đ ó ỏ n g trả lời phòng vấn tờ Tổ quốc
{Cơ quan Trung ương cùa Đ àng X ã hội V iệt N am ) Bài phóng vấn do
M inh C húc thực hiện đ ãn g ở trang 19-20 với tiêu đề “ Xcm xét lại thời
N guyền và nhà N guyễn” C ũng trong số báo này, trang 21-22, ô n g công bố bài viết "X ứ Huế những giá ữ ị lịch sừ - vãn hóa"
v ề xử Huế và những giá trị lịch sừ văn hóa, ò n g khắng định quan điểm của minh: “ X ứ Huế có sắc thái riêng trong thiên nhiên V iệt Nam
“ Huế dưa lại m ột sắc thái mới của văn hóa đô thị Việt N am
Huế trong bối cánh địa - vãn hóa m iền T rung, chữ yếu là hội tụ và ngưng kết tinh hoa con người và vãn hóa m iền T ru n g Sao chăng nữa,
từ thế kỳ XIV hay đặc biệt từ thế kỷ X V II và tiửa đ ầu thế ký X IX , Huế
đã là cái nôi đung hóa - dung hòa văn hóa C hàm - Việt, rồi cùng với tiến trình lịch sứ, két tinh hun đ ú c nên m ột sắc thái tinh tế (ratĩìne) cù a văn
Trang 24Giáo sưTrán Quốc Vượng: người đi đẩu đối mới tư duy sử học
hóa V iệt N a m Và với tinh cách là m ột nghệ thuật tông hợp kiến trúc Huế đưa lại m ột phong cách đặc thù cùa kiến trúc V iệt N am ” '
Ọ uan điẻni đó của ỏ n g chẳng những đà được khẳng định trên thực tiễn trong giới nghiên cứu mà còn góp phẩn cung cấp những luận cử khoa học đê báo ton và phát huy giá trị của di sàn truyền thống, và gia tài vãn hóa đưoTỉg đại V iệt Nam
“ X Ử HUÉ nồi lẽn trong bối cánh lịch s ừ c ự ih é vả phức tạp”, ô n g đã
viết như vậy trên tạp chí Sông H ương tháng 6/1987 và đó cũng ià đề dẫn
để ỏ n g nêu quan điểm cùa m ình về chúa Nguyền và vương triều Nguyễn Phức tạp trong bối canh lịch sừ hinh thành và phát triển cùa xứ Huế Phức lạp và có rửiiều quan điếm khác nhau trong việc nhìn nhận đánh giá về
9 chúa N guyễn và 13 vua Nguyễn, cũng như về nhà Nguyền
Từ thập niên nãm mươi đến đầu thập niên tám mươi cúa thế kỳ XX
đã xuất hiện khuynh hướng phê phán gay gất các chúa Nguyền cũng như các chúa T rịnh và đặc biệt là vưong triều Nguyễn thế kỳ XIX Khuynh hướng đó phc phán các chúa N guyễn (cũng như các chúa
T rịnh) đã chia cắt đất nước C òn đối với vươiig triều N guyễn, khuynh hưởng đó cho rang, triều N guyễn m ờ đầu bang hành động cầu viện tu
b ản Pháp, phong kiến Xiêm đế tiến hành cuộc chiến tranh chống Tây Sơn và kếl thúc bang sự đầu hàng quân xâm lược Pháp Năm 1961 khi
dịch cuốn Đ ại N am thực lục, V iện Sử học đã viết trong L ờ i g iớ i ihiệu:
“ N hững công việc m à vua (chúa) đà làm trong khoáng thời gian 330 năm ẩy (1558-1888) tự chủng tố cáo lội ác cùa nhà N guyễn trước lịch
sừ cua dân tộc chúng ta Bọn vua chúa phàn động không những đâ còng rẳn cắn gà nhà m à còn cố tâm kìm hàm đày đọa nhân dân V iệt Nam trong một dời sổng tối tăm đầy áp bứ c” -
Sách L ịch s ứ y ịệ t N am tập 1 xuất bàn năm 1971 viết về triều
N guyền: “ Là vương triều phong kiến cuối cùng được dựng lên bàng
m ộ t cuộc chiến tranh phan cách m ạng nhờ thế lực xâm lược cùa người
Trằn Ọuốc Vưựng: "Xử Hué những giá Irị lịch sứ - văn hóa", T(ị quơc, số 400,
12/1987, ir 21-22
Đợi Nam thực lục Bàn dịch cùa Viện Sứ học Hà Nội 1961 tập [ ỉr 6.
Trang 25Phấn I "THEO DÒNG LICH ỉ sử "
nước n g o à i là vương triều tối phản đ ộ n g "' M ười bốn nám sau, vào
năin trước cùa thời Đồi m ới, sách L ịch s ử Việt N am tập 2 xuất bãn 1985
vần còn viết; “Triều đình nhà N guyền thối nát và hèn m ạ t V ương triều N guyền tàn ác và ngu xuẩn”'
“Thời kỳ nhà N guyễn bị kết án là thời kỳ chuyên chế phán động nhất trong lịch sứ phong kiến V iệt Nam K huynh hướng đó gần như trờ thành quan điểm chính thống trong biên soạn sách giáo khoa đại học và phồ thông’”
T rong bối cảnh đó, với tư duy đổi mới và bàn lĩnh cùng trách nhiệm của nhà sử học, G iáo sư Trần Q uốc V ượng đã khẳng định: “ Khi
Đ áng nói - và ta nói - ràng “đói m ới tu duy” , “đổi mới toàn diện” thi
có lẽ nào ta không cẩn đồi mới tu duy lịch sừ” {T ổ q u ố c - trả lời phóng vấn) Chinh vi ihế khi v ìế iX ứ H u ế v à vị thể lịch s ử của nỏ, Giáo sư Trần
Q uốc V ượng đã nhin nhận m ột cách khách quan đúng với sự thật lịch
sứ về các chúa N guyễn và về triều Nguyễn
“ Ba việc lớn m à các chúa N guyễn đã làm được ở Đ àng Trong, vào các Ihế ký XVI-XV II đằu thể ký X V IIỈ là:
1 - Khuyến khích nông nghiệp, m ớ m ang đất đai canh tác (lúa, dâu)
ờ hai x ú Huế, xứ Q uáng trên táng nền C ham pa và Lý-Trần-Lê cũ Dân
c ư phồn thịnh Thuận Hóa ờ thế kỳ XV có 5.662 xuẩt đinh và 7.100 m ẫu ruộng, đến nãm 1776 tãng tên 126.875 người và 265.507 mẫu ruộng
(theo Lê Q uý Đón, Phù hiên tạp lục).
2 - Khuyển khích (và tố chức) việc “ khai canh lập ấp” cùa người
dân Việt về phia Nam: Tồ chức người đi khai hoang 50 người một ấp cấp lương ãn sáu tháng, cấp trâu bò và cõng cụ khai hoang, cho khai thác
' ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam: Lịch SM- Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội Hà
Nọi, 1971 tập 1, tr 36s!
- Úy ban Khoa học Xâ hội Việt Nam: Lịch sử \'am Nxb Khoa học Xà hội Hà
Nọi, 1985.lặpll,tr 11 15/
’ Phan Huy Lễ: “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyền ưong lịch sù Việt Nam từ
íhế ký XVI đến the kỷ XX”, trong Triểu Nguyễn và lịch sứ cùa chúng la Tạp chí
Xưa&Nay và Nxb Hồng Đức xuất bàn Hà Nội 2008 tr Í2.V
Trang 26Giáo sưTrán Quổc Vượng; người đi đáu đổi mới tư duy sử học
tự do các m ón lợi ao đ ầ m Dế cuối thế ký XVII đẩu thế kỷ XVIII, lý tường cúa tuối trè Đ àng T rong đã được xác định một cách đáng tự hào:
“ Làm trai cho đáng nên trai Phú X uân đà trãi, Đ ồng Nai đã từ n g "
3 - M ở m ang các đỏ thị Phú X uân - T hanh Hà - Hội A n khuyến khích nội thương và ngoại Ihương phát triền N hững việc đó tạo nên sự phồn thịnh cho Đ àng T rong đến nửa đầu thế kỷ XVIII
C ác C húa N guyền có m ột cách làm hay: T rao cho thế từ trấn thủ dinh Q uảng N am , nơi phát triền kinh tế nông - công - thương nghiệp khá toàn diện trước khi ra Phú X uân kế vị ngôi vua” '
Ó ng cho ràng việc chia cắt đất nước của các chúa N guyễn và chứa
1 rịnh phai xcm xét, đánh giá m ột cách khách quan trong hoàn cành lịch sử cụ thế “Tôi cho rằng các nhà sử học V iệt N am không nên chi suy luận theo lô gích hinh thức m à cho rang việc tách Đ àng T rong khòi
Đ àng N goài ở giữa thế ký X V I là “xấu” hay “ hoàn toàn xấu” Chiến Iranh T rịnh - N guyền (1627-1672) cố nhiên là thiệt dân hại của “Hận sông G ianh” cổ nhiên là đập m ạnh vào tinh càm thống nhất V iệt Nam
N hưng iheo tôi hiểu, thì cái nhìn sử học hợp lý là phái xét sự kiện lịch sử trong hoàn cành lịch sứ cụ thẻ của nó S ự tách đôi Đ àng T rong - Đàng
N goài là ở trong cái “thế chăng đặng đừ ng” Ai ớ trong trường hợp
■*Òng Hai” cùng làm như vậy ố n g Hai (N guyền H oàng) là m ột người
tô i Và Đ àng T rong có đii tinh thần và lực lượng để m ờ m ang đất mới,
m ờ m ang lành tho, m ở m ang kinh tế và văn hóa Đ ó !à mặt tốt đẹp cùa lịch sứ V iệt N am thé kỷ X V I-X V ir’^
V à Ổ ng khăng định; “C ó thời N guyễn, chúng ta m ới có m ột Việt
N am hoàn chinh như ngày nay”^
' Trằn Quốc Vượng: "Vài suy nghĩ về Xứ Huế và vị thế lịth sừ cùa nó”, Sõng
//ưo-rtg, số 25, 5/1987
- Trần Quốc Vượng: "Vài suy nghĩ về Xứ Huế và vị thể lịch sử cùa nó”, bđd
' Luận điểm này ông đã viết trẽn Tạp chí Sông Hương, số 25 5/1987 và Tố quốc,
số 400 l2/t987,tr2l-22
Trang 27C ớ sao có thẻ "phủ định sạch trơ n ” được?” '.
" v ẫ n còn đó m ột xử Huế với những tồng thé di tích kiến trúc cung đinh, tôn giáo, lăng mộ, dân g ia n K hông đâu đẩy đủ hơn và tập trung hem điển hình cho chúng ta cảm nhận và phân tích về VẺ ĐẸP
V IỆT N A M thế kỳ 19 về m ột N ẺN N G H Ệ T H U Ậ T VÀ MỸ TH UẬ T THÒI NGUYP.N CỬA V ĨỆ T N A M ”2,
3 Sau khi công bố bài viết Vài su v n g h ĩ vè X ứ H u ế và V/ ih ế lịch
s ứ cù a nó ô n g đ ã nhận được sự đồng tình của hầu hết giới khoa học
nhưng cũng có ý kiến cho rằng Ò ng đã "xét lại” vấn đề nhà Nguyễn
Tháng 12 nãm đỏ, khi trá lời phóng vấn tờ Tổ quốc\ ô n g khẳng định;
“cần đồi mới tư duy lịch sừ, xuấl phát từ hôm nay- m à nhìn lại n g à v x ư a
cho khách quan hơn, dúng sự thật lịch sứ hơn Còn ai đó nghĩ rằng như thế là “xét lại" thi tùy họ thôi H ãy thào luận tự do, dân chù, rộng r ã i.,
Ò ng cho rằng việc làm đ ó là đúng quan điểm cùa Đ áng: “cái nhìn cùa
Đ ảng và của giới sử học M ác xít V iệt N am bao g iò cùng hướng lới một
xu thế tôn írọng sự thật lịch sử T rân trọng mọi tời nói và hành vi yêu nước cua bất cứ ai dù họ xuất thân ớ giai cấp nào, trong m ột hoàn cảnh lịch sử dù tối tăm n à o
Nãni 1986, Đ àng C ộng sán V iệt N am đã khẳng định: “Thái đ ộ cùa
Đ àng ta trong việc đánh giá tinh hình là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” và “Đ ế khấc phục đư ợc khuyết điểm,
"Xem xét lại ihèri Nguyễn và nhà Nguyễn”, Phóng vấn Giáo sư Trần Quốc Vượng
Minh Chúc thực hiện, Tố quốc, số 400, 12/1987, tr 20.
Trần Ọuoc Vuợng: "Vài suy nghi ve Xứ Huế và vị the lịch sứ của nó”, bđd
"Xem xét lai ihời Nguyễn và nhà Nguyễn", bđd Ir 20
Trang 28Giáo sưTrán QuõcVượng: người đi đáu đổi mới tưduy sửhọc
chuyên biến được tinh hình, Đ ãng ta trước hết phai thay đối nhận thức,
đối mới tư duy” '.
Đ ổi mới tư duy lịch sử theo G iáo sư T rần Q uốc V ượng là tôn trọng
sự thật lịch sừ, nhận thức đúng sự thật lịch sú và tháo luận tự do, dân chủ rộng rãi Đ ó cũng là bản lĩnh, lương tâm và trảch nhiệm của nhà
Lời kết bài viết “X ứ H uế những giá trị lịch sứ- vãn hóa” , ô n g nhẹ nhàng nhắc nhở đồng nghiệp; “ Ai bảo rằng kiến trúc H uế ià kiến trúc lai căng, thì người ấy chắc hẳn là n ếu không m ang tính kỳ thị lệch lạc
về chính trị thi cũng là người không được tự nhiên và cuộc đời phú cho
sự m ần cám , cái quan cám về thẩm
ở thời điếm nãm 1987, G iáo sư T rần Q uốc V ượng là người đẩu tiên đã nêu quan điểm của m ình cần đối m ới tư duy lịch sứ nhận thức đúng sự thật lịch sử và tháo luận tự do, dân chủ, rộng rãi trong đó có vấn đề xem xét lại nhà N guyễn và thời N guyễn Thực ra cách nhìn mới, cách tiếp cận mới về những vấn đề lịch sừ và vãn h ó a của ô n g đã có
từ trư ớc nàm 1987 Sau n ày nhiều vẩn đề do ó n g phát hiện, đề xuất đã được công n h ận và góp phần cung cấp những luận cứ khoa học quan trọng cho những người hoạch định chính sách N hữ ng đề xuất, phát hiện của Ò ng đều có đấu ẩn cùa bàn lĩnh T rần Q uốc V ượng K hi Đảng kêu gọi đổi m ới tư duy, “nhin thẳng vào sự thật, đảnh giá đúng sự thật
Báo cáo chính trị cùa Ban Chảp hành Tniĩìg ương Đảng Cộng sàn Việt Nam tại Đại hội đại biều toàn quốc lần thử VI của Đảng (do đồng chí Trường Chinh, Tồng Bí thư BCH TW Đảng khóa V, Chù tịch Hội đồng Nhà nước irình bày ngày
15/12/1986), dần từ Đàng Cộng sân Việt Nam: Vàn kiện Dợi hội Đảng thời kỳ đối mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 10, 29.
“Xem xẻt lại thời Nguyền và nhà Nguyễn", bđd, ữ 20
Trần Quốc Vượng: “Xứ Huế những giá trí lịch sử - vãn hóa”, hđd tr 21 -22,
Trang 29nói rõ sự thật” ', ô n g là người đi tiên phong và đề xuất hãy thảo lưận tự
do, dân chủ, rộng rài
Sau này, vào m ùa thu Tân T ỵ - 2001, kỳ niệm 45 năm K hoa Lịch
sử, Ô ng viết: "N hưng điều quan trọng hơn cả là K hoa S ũ đã và đang suy đi nghĩ lại đế đặt ra nhừng vấn đề m ới làm tảng nền cho sự nghiệp
Sử học mới Việt N am ” Trong đó chính ồ n g cùng với K hoa Sứ “đã đặt lại nhiều van đề thời N guyền, nhà N guyền”^
N ăm 1991 ỏ n g Tự bạch: “Tòi sinh sau Đ ảng bốn nătn, giũ a lúc
Đ ảng đang gặp khó khăn của thời kỳ phái phục hồi sau khùng bố trang cùa T ây”\ Đ ó là phong cách T rần Q uốc V ượng, ô n g kiến nghị trong việc xây dựng nền văn hóa mới V iệt N am ; “can nhặn nhìn và hoạch
định ba ph ư ơ n g h ư ớ ng chiến lược sau đây:
1) C hiến lược k ể thừa linh hoa truyền thống, hay nói vắn và dề hiểu, là chiến lược báo tồn.
2) C hiến lược xóa bỏ những phong tục - tập quán cổ tm yền, những iạc hậu, lồi thời và những ánh hưởng, di hại của vãn hóa (đúng hơn phản văn hóa) đô hộ thực dân cũ và mới Nói vắn và dề hiều, là chiến luọc
cài tạo.
3) Chiến lược xây dựng ý thức hệ mới, con người mới V iệt Nam, trên nền táng chù nghía M ác - Lênin Nói vắn vả dễ hiểu, là chiến lược
p h á t triến - đối m ớ i" \
Bài viết nhò này tưởng nhớ ô n g , xin ù ếp cận m ột m ãnh nhó trong
TỎ NG TH É TRÂN Ọ U Ỏ C V Ư Ợ N G Tôi có m ay m ắn được ô n g cho
tham gia viết Lịch s ừ x ã Đ a Ton Tòi cùng L ương G ia T inh cũng được
Ô ng cho tham gia viết Lịch s ứ huyện M é L inh và L ịch s ừ Trường Đ ại học Tổng hợp H à Nội.
Phần I "THEO DÒNG LỊCH s ử "
Đảng Cộng sán Việl Nam; yủn kiện Đại hội Đáng thài kỳ đổi mới sđd tr 29 Trần Ọuốc Vượng: Khoa Sừ& lỏi Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2001 tr 15 Trằn Quốc Vượng: Khoa Sứ <& lôi sđd, tr 29.
Tran Quốc Vượng: yãnhóa yìệr Nam - Tim tòi và stiỵ ngầm,NxbVầnhàaDằniộc
và Tạp chi Văn hóa Nghệ thuật xuất bản, Hà Nộũ 2000 tr 26
Trang 30MỘT SÓTRIỂN KHAI Từ QUAN ĐIỂM CỦA GIÁO SƯTRÁN QUỐC VƯỢNG
và học đư ợc không ít kinh nghiệm khai thác, ihu thập các nguồn tu liệu
và lối tư duy không “xơ cứ ng" hay không ‘’m ặc nhiên thừa nhận” cùa Thầy như nhận xét cùa Đ ồ Lai T húy'-
T háng 5/2003 tôi đư ợc m ay m ấn cùng/tháp tùng Thầy d ụ Hội nghị Quốc tế lằn thử 48 về N ghiên cứu Đ ông phương do Viện nghiên cứu Đông phư ơng (N hật Bàn) tồ chức tại Tokyo Đ ây là dịp m ay hiếm có đẽ tôi đư ợc tiếp rục lắng nghe những lời dạy bào cúa Thầy về nhiều chú đề nghiên cứu, cũng như những tâm sự, suy ngẫm và hồi tương về quàng đời đà qua của T hầy Đặc biệt, bài trinh bày cũa Thầy lại Hội nghị với
nhan đề; C hinese D om ination in Vielnam: Som e N ew Viewpom ts o f
T hinking a n d Rethinking^ (tạm dịch: Trớ lạ i vằn để đô hộ cùa Trung
Viện Kháo cố hục Viện Hàn lâm Khoa học Xà hội Việl Nam
Đồ Lai Thúy: “Trằn Ọuốc Vượng: Người ihco nct đấl" trong Chán ỉrờì cỏ ngiỉời bo}\ Nxb Văn hỏa Thông lin, Hà Nội, 2002, tr 391-410; hitp://huc.edu.vn/chi-
ũeư3308/Tran-Ọuoc-Vuong-nguoi'theO'net-dat.hlmÌ
Trần Quốc Vuợnệ: “Chinese Domination in Victnam: Somc Ncw Viewpoinls of Thinking and Rcthinking'\ in Trơnsơcĩions o f ỉhe ỉníernũtional Con/erence o f Easỉern Sĩudies, No XLVIII 2003, The Institute of Eastem Studies, PP- 69-70.
Trang 31Phán I 'THEO DÒNG LỊCH s ử "
H oa ở Vỉệi Nam: M ột số quan điêm mới) đã là m ột gợi ý quan trọng cho
tôi trong các hướng nghiên cứu sau này Bài viết của tỏi trinh bày m ột
số kết quả nghiên cứu trên cơ sờ các ý tiiờng đặt ra trong bài phát biéu của G iáo sư tại Hội nghị này
1 Ba vấn đề ca bản do Giáo sư Trần Quốc vượng nêu ra vẽ sựđô hộ của Trung Hoa ở V iệt Nam
T rong bài phát biếu của m ình, ô n g đư a ra ba vấn đề sau:
Thứ nhất, xác định như thế nào về cái gọi là “ Bắc thuộc” ở V iệt
N am Tại sao ửiời kỳ Bắc thuộc lại dài thế (từ nãm 111 trước Công nguyên đến năm 938 C ông nguyên), ô n g cho rằng thời kỳ Bắc thuộc
(từ T ây H án đến hết thời Đ ường) là m ột kiếu “T ự trị địa phương” {Local
A utonom y) Ọ uyền lực thực chất luôn luôn trong tay các thủ lĩnh địa
phương (với các lành địa đư ợc gọi là “huyện”) Sự cai quản quan liêu cua các quan chức T rung H oa chi hạn chế ở cấp “ quận” và/hoặc “châu” , hời hợt và luôn luôn yếu hay không hiệu quả và tham nhũng
T hứ hai, hầu hết các nhà sử học V iệt Nam đư ơng đại coi Triệu Đà (thế kỷ II trước C òng nguyên), Sĩ N hiếp (187-226) và Cao Biền (thế ký VIII-IX) là các quan chức ngoại quốc, kẻ thù, kẻ xâm lược của nhân dân
và đất nuớc V iệt N am N him g vi sao những người dân thuờng và các dòng dõi hoàng gia V iệt N am xây dựng rất nhiều ngói đền để th ờ họ và gọi họ là N am V iệt Ngũ đế, S ĩ V ương, C ao Vương B iên niên sừ V iệt Nam đầu tiên của Lê Văn Hưu (1272), anh hùng dân tộc Nguyền Trãi (1380-1442) và Hồ Chí M inh đều coi Triệu Đ à là người sáng lập nên nước V iệt Nam Là thành viên lãnh đạo của Hội V ãn hóa Dân gian V iệt
N am tòi tôn trọng các kiến thức dân gian, kể cả trong thời đại thông tin (bao gồm kiến thức dân gian và kiến thức khoa học)
T hứ ba, các học giả Pháp như G C oedès coi C ham pa (nay là m iền Trung V iệt Nam) và Phù N am cũng như Chân Lạp (đồng bàng sông
M ekong) là các Q uốc g ia Ẩ n Đ ộ hóa T rong 10 nãm qua, tòi đã hướng
dẫn nhiều cuộc khai quật ở m iền T rung và m iền N am V iệt N am và tôi quan sát thấy rầng ảnh hư ởng của T rung H oa (đặc biệt là N am Trung
H oa) ờ C ham pa, Phù N am v à Chân Lạp là rất m ạnh Vi vậy bèn cạnh
Trang 32Mộtsó triển khai từ quan điểm cùa GiáosưTrán Qu6c Vượng
các yếu tố nội sinh cùa các quốc gia này có các yếu tố cùa không chi
Án Đ ộ m à cá T rung H oa nữa'
N hững vấn đề m à G iáo sư Trần Q uốc V ượng nêu ra rất vắn tắt, nhưng cần đư ợc phân tích diễn giải m ột cách hệ thống từ các nguồn tư liệu khác nhau, trong đỏ có khối tư liệu khổng lồ từ kháo cồ học Phần dưới đây đề cập tới m ột sổ kết q u ả nghiên cứu ở m iền Băc V iệt Nam
2 Bối cảnh giao lưu vản hóa và thương mạí quốc tế trong thiên niên k ỷ I
V ào đầu thiên niên kỳ I, tìn h hinh chính trị các chính sách phát triển kinh tế và quảng bá tôn giáo của tằng lóp thống ư ị T rung Hoa, La
Mã và Án Đ ộ đã đưa đến những tác động to lớn đối với sự phát triển kinh tế vàn hóa và tôn giáo tại các vùng khác nhau ỡ Đ ông N am Á Sự bành trướng của nhà Hán xuống phương N am m ột phẩn quan trọng là nhàm chiếm lĩnh và khống chế con đưcrng thương mại trên biẻn Dấu
ấn cúa nó thể hiện bởi sự có m ặt cúa m ộ gạch, hiện vật kiểu Hán, tiền
Ngũ thù và Bán lạng dọc bờ biển V iệt N am , từ V ân Đ ồn (Q uảng N inh),
đến T hiệu D ương, Lạch T rường (Thanh Hóa), Làng Vạc {Nghệ An),
G ò C ấm (Q uàng N a m ) Tầng lớp thống trị T rung Hoa và La Mà tập trung vào việc phát triển thương m ại ngoại giao với nhau cũng tạo nên làn sóng tiếp xúc sôi nồi giữa các khu vực ở Đ ông Nam Á nhằm đáp ứng các đòi hói cung và cầu khác nhau-,
Sự nổi lên cùa các cộng đồng thương nhân Ấn Đ ộ, bao gồm sụ phái triển cùa các phường buòn và thù công trong khoảng từ thế kỳ 11 trước Công nguyên đến thế ký 111, là m ột nhân tổ quan trọng khác khõng nhĩrng thúc đấy sự phát triển hoạt động thương mại m à còn tăng cường
cơ hội tiếp xúc và giao lưu văn h ó a giữa cư dãn Đ ông N am Á với các
Dịch từ nguyên bàn tiểng Anh bài tham luận cùa Giáo sư Trần Ọuốc Vượng Borrel, B,, Bellina, B., Chaisuwan, B.: “Contact between the Uppcr Thai-Malay peninsular and the Mcdileưanian World'\ In Revire, N & Murphy s., A (eđs):
Beýore Siam, Essays in Arl and Archaeology, River Books & The Siam Society,
2014 pp 110-112
Trang 33Phán I 'TH EO DÒNG LỊCH s ử ”
nền văn m inh lớn trên thể g iớ i' Đ ồng thời, người Àn Đ ộ theo tư tưởng cùa vua A soka tạo nên những trao đôi văn hóa "h ò a bình” với các bèn đối tác Như vậy như m ột học già Â n Đ ộ đề cập, việc truyền m iệng các tư tưởng và thực hành tôn giáo bời các lu sĩ, người hành huơng, các nhà buôn, nhũmg người kể chuyện lãng du và những người làm trò tiêu khiển cần được tính đến để có thể hiểu đư ợc m ột cách đẩy đủ nhừng tương tác văn hóa diễn ra thông qua các hoạt động buôn bán thươiig mại, đặc biệt là theo đườiig hàng hái-
Các cộng đồng dân cư xưa ờ V iệt N am , đặc biệt là những cộng đồng cư dân ven biển hoặc thông thương với biến bởi những hệ thống sông lớn nhò không nằm ngoài những làn sóng ánh hưởng này, như các chứng cứ kháo cổ học cho thấy T uy nhiên do nhiều yếu tố Tự nhiên và
m ức độ phát triển xà hội khác nhau, bối cảnh giao lưu và tương tác vãn hóa của các k h t vực trên dài dấl hình chữ s có phần không giống nhau,
ở miền Bắc Việt N am những luồng ảnh h u ờ n g tràn xuống từ phương Bắc lấn át các ảnh hường tìr phía Nam lẽn bời sự tác động của chính sách cai trị áp đặt lên những xã hội đã bắt rễ và ph át triển trên những vùng đồng bàng thuộc hệ thống các sông H ồng, sòng M ã, sông Lam từ hàng ngàn nãm truớ c vào thòd kỳ Tiền Đ ông Sơn đến Đ ông Sơn N hững
m ộ vò úp nhau ờ các di lích Làng Cả (Vĩnh Phú), Làng Vạc (Nghệ An), những đồ đồng kiếu Đ ông Sơn trong các di tích thời kỳ kim khí ớ m iền
T rung và miền N am V iệt N am cho thấy sự giao lưu trao đổi đã có từ trước khi nhà Hán thiết lập các thề chế cai trị ờ m iền Bắc và miền T rung
V iệt N am , đặc biệl là sau khởi nghĩa Hai Bà T rưng, đă tạo ra nhừng
' T\\-à.Ỹ'àĩ.9 : A History o f lndia.Vo\ 1, Penguin Books, Calcutta 1992 pp 109-115.
- Ray HimanshuPrabha: "Multi-Religious Liĩikagcs across the Bay of Bengal during
thc fĩrst Miìlennium CE.", In Revire, N & Murphy S-, A (eds): Before Siam, Essays
in Art and Archaeology, River Books & The Siam Society, 2014, pp 149
Trang 34làn sóng ành huờng nhanh, m ạnh 0 ạt phù lên lối sống và các tập tục truyền thống cúa người V iệt vào giai đoạn đầu C hửng cứ rõ ràng nhất
là sự có m ặt cùa vô số những m ộ gạch dọc theo cái gọi là “con đường xâm lược" với đồ tùy táng kiếu H án; dấu vết cùa các thành lũy, kiến irúc kiểu Hán xây đựng ngay ư ên các cơ sở cũ cùa cư dân Đ ông Son hoặc thiết lập nên những trung tâm m ới trên cơ tầng của các xóm làng
Đ ông Sơn Sự va chạm về quyền iực với m ột xã hội đà từ ng có tổ chức khá chặt chẽ, gồm các Lạc H ầu, Lạc T ướng đ â khiến T rung Hoa phải lựa chọn phuơng thức cai trị “ lỏng léo” hay "tự trị" Đ ồng thời, lối ứng
xũ của các viên quan được c ử đến cai trị ở các quận cho thấy bản thân
họ đã bị/tự đồng h ó a vào bối cảnh vãn hóa xà hội bàn địa Sự phát triển kinh lế xã hội cho thấy việc tiếp nhận nhiều kiến thức, kỳ thuậr mới trong các ngành sản xuất ihủ công Sự thay đổi trong m ột số tập tục, đặc biệt là táng tục do dấu vết được lưu giữ rõ ràng hơn từ các chứng
cứ khảo cổ học, cho thấy sự chuyển biến m ạnh và rõ nét ờ m ột số khu
\ạrc thuộc đồng bàng sông Hồng, nhưng đã nhanh chóng thay đoi theo hướng bàn địa hóa ờ các vùng khác X u hướng bản địa hóa và hội nhập các yếu tố vãn hóa phi H oa ngoại nhập khác cũng được thấy ở nhiều khía cạnh khác nhau cùa đời sống xã hội C ó thể xem xét từ m ột số góc
N am ngay từ những thế ký đầu C ông nguyên, trong khi m iền Trung và
m iền N am V iệt N am vẫn bảo lưu truyền thống làm gốm không men và nung ngoài trời trong suốt thiên niên kỳ 1 Sự phân bố cùa hàng chục khu iò khá quy m ô đă đư ợc phát hiện và nghiên cứu tập trung ờ các khu vạrc đóng vai trò trung tâm của các quận huyện từ thời Hán, như vùngMột số triển khai từ quan điểm của Giáo sư ĩrán Quốc vượng
Trang 35Q uảng N inh, Bắc N inh, Hà N ội V ĩnh Phúc và T hanh H óa' Với chức năng ban đầu có thể chủ yếu phục vụ cho các trị sở hành chính, như khu lò Bài Đ ịnh phục vụ trung tâm hành chính Luy Lâu, lò Đồng Thụt
ở C ồ L o a nhiều khu iò có số lượng và quy m ỏ lớn đâ phát triển m ạnh
m ẽ từ giừa thiên niên kỷ I như khu lò Tam Thọ (phát triển từ đầu Công nguyên), Đại Lai, Thanh Lãng đã cung cấp m ột số lượng sàn phẩm lớn,
sử dụng cho nhiều m ục đích khác nhau, trong đ ó có đồ dùng hàng ngày,
đồ niy táng, vật liệu kiến trúc, công cụ sán xuất (dọi xe chi chì lưới) và chẳc chăn cà đồ đựng thương phẩm
v ề kỹ thuậl xây dựng lò, mặc đù tiép thu các kiểu thức xây dựng các loại lò khác nhau cùa T rung Hoa, các phường thợ gốm V iệt Nam
đã nhanh chóng lụa chọn và cải biến kiểu lò, kích thước và sáng tạo cấu trúc các bộ phận của lò gốm phù họp với điều kiện và nhu cầu từng khu vực, đảm báo các yếu tố; nung nhiều loại hình sán phẩm m ột lúc, tiết kiệm nhiệt, tiết kiệm diện lích v à tiện xếp nung, bổc d ỡ sản phấm
T ừ đó phát ư iển chủ y ếu loại lò cóc cải biến thành dạng lò bầu có mặt bàng hình xuồng và loại lò hình ống thành m ột truyền thống độc đáo riêng của V iệt Naiĩi- Bên cạnh những sáng tạo m ới về vật liệu [àm gốm, cách sừ dụng men và kỹ thuật chong dính, xu hướng bản địa hỏa được nhận thấy chủ yéu trong sự tiến triển của loại hinh hiện vật, Vào thời kỳ sớm, ở những khu lò như Tam Thọ, Đ ồng Đ ậu, Đ ại Lai sản xuất nhiều
đồ gốm m ang phong cách H án, kể cả các đồ gổm m ỏ phóng đồ đồng kiểu Hán, thường được dùng làm đo tùy táng T uy nhiên, những yếu tố văn hóa Đ ông Sơn truyền thống, bao gồm cả m ột số loại hình hiện vật
và hoa văn trang trí (nồi gốm kiéu Đ ường c ồ , trang trí nhăn tàn ong văn thừng đập kiểu Làng C ả ) đã dần trớ lại, đư ợc người thợ sử dụng kết hợp hoặc rái rác đây đó cùng với những yểu tố sáng tạo m ới' Phân tích những vẻ đẹp và sự tinh tể riêng trong đồ gốm vùng Thanh H óa do
Phấn I.'T H E O DÒNG LỊCH sử"
Trần Anh Dũng: Các khu ìò nung gốm 10 thế kỳ đầu Cõng nguvôn ỜMĩẻn Bắc Việt Nam Luận án Tiền sĩ Lịch sử tư liệu Viện K]iảo cồ học, Hà Nội, 2008, bản đồ I Trần Anh Dùng: Các khu lò nung gom 10 thể kỳ đầu Côngnguvènớ Miền Bắc Việt Nam tlđd tr 89.
Tran Anh Dũng; Các khu ló nung gom 10 thế kỹ'đầu CôngnguYẽn ớ Miền Bắc Vtậl
/Vam tlđd, tr 122 142-147
Trang 36Một sỗ triển khai từ quan điểm của Giáo sưTrán Quóc Vượng
O lov Jansc khai quật, Pierre B aptiste đà nhận xét: “Đ ẹp và thuần khiết, những đo gốm này được tạo với tỳ lệ chất silic quan trọng, m ặc dù tỷ
lệ nhôm không quan trọng như đối với đất sét trắng m ịn (đất cao lanh) Tuy nhiên chủng là m ột sáng tạo tinh tế hơn cùa G iao C hì” '
Việc xác định các lò gốm thuộc hai truyền Ihống do những người thợ V iệt và thợ Hán đàm nhiệm đã dần đến nhận xét rằng, những tri thức kinh nghiệm trong sán xu ất gốm cùa người V iệt từ thời Hùng
V ương, An D ương V ương đã giúp cho họ vừa liếp thu được các kỹ thuật sản xuất gốm tiên tiến đucmg thời, vừa bảo tồn được bản sẳc văn hóa dân tộc’ Đ ây có thế coi là m ột khía cạnh của chống đồng hóa hay [à giải H oa hóa N hững tri thức vả kinh nghiệm m à họ học tập và tích lũy được đà góp phần to lớn trong việc phái triển những dòng gốm cao cấp nồi tiếng cùa nền vãn m inh Đ ại V iệt vào nửa đầu thiên niên ký II
3.2 Lố i sống và tập tục phản ánh từ mộ táng
Cho đến nay, nhừng cuộc khai quật khu cư trú cũa thời kỳ Bấc thuộc còn rất hiếm hoi T hành quách, m ộ táng (m ộ gạch) và lò gốm là những đối tuợ ng chủ yếu Tuy nhiên, việc phân tích sự thể hiện cua các
b ộ sưu tập di vật từ những di tich này cùng với các nguồn a r liệu khác, theo hướng tiếp cận đa ngành và liên ngành m à G iáo sư T rần Quốc
V ựợng luôn luôn gợi m ờ, kiểm tra và đánh giá các học trò của m inh trong những chuyến điền dà, sẽ giúp chúng ta hicu đư ợc nhiều điều
- v ề nhà ở, từ các m ô hinh n h à trong các ngôi m ộ gạch phát hiện
ở Lạch T rường, Bim Sơn, N gọc A m , Linh X ứng (Thanh H óa), Phao Sơn, N ghi V ệ (Hải D uưng), Bí T hượng (Q uáng N in h ) có thể thấy bên cạnh “m ốt” chôn theo các đồ m inh khí thẻ hiện cuộc sống trên dương thế cùa người chct, kiến trúc và hình thức nhà ở đã phán ánh những m ức
đ ộ tiếp nhận khác nhau về kỹ thuật xây dựng mới và tập quán cư trú
Baptiste Pieưe: ■*Các hiện vặt từ những cuộc khai quặl cùa Olov Janse trong Báo
tàng Guimet ỡ Paris: Báo tồn, tôn tạo và trưng bày", trong MỘI the ký khảo co học Vtệt Nam, tặp II Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 2005 tr 551-552-
l ’rần Anh Dùng; Các khu lò nung gom 10 thế kỷ đầu Công nguvèn ở Miển Bac Việt Nam llđd, ir 163.
Trang 37Phán I "THEO DÒNG LỊCH sử "
Bên cạnh hình thức nhừng khối nhà nhiều tầng, có tháp canh, lường bao
có tính chất phòng thù được ph át hiện ở những khu vực có vỊ trí chiến luợc (Phao Sơn, Nghi V ệ), thì nhiều ngôi nhà m ang tinh chẩt nông trại
có quy m ô vừa ph ải (Ngọc A m , Linh X ứng, Bí T hượng) không mang tinh chất đô thị, không được tô điểm tinh tế như ở vùng trung tàm Lạc
D ương của đế chế H án ' T hậm chi, các ngôi nhà đơn giản, khung tre, vách trát đất, mái lợp cò tranh, cửa được trồ rất đơ n giản cả ớ m ặt trước lẫn m ặt bên hoặc m ặt sau được ph át hiện từ những ngôi m ộ gạch có quy
m ô nhò bé phát hiện ở di tích Linh Xứng^ cho thấy chủ nhân của các ngôi mộ không hẳn là tầng lớp quan chức hoặc thật giàu có
- M ột số khía cạnh của cuộc sống hàng ngày cũng có thể được nhận diện: những cái bếp lò đất đắp, những cái giếng ừ ò n hình phễu có mái bên cạnh m ột m ò hình nhà gác có tường bao, cồng m á i cho thấy mô hinh của m ột cuộc sống khác với các hình ảnh quen thuộc trên trống
Đ òng Sơn Tuy nhiên những cái vại m inh khí bàng đất nung non, hình thức đơ n giản, chứa gạo và m ột số thực phẩm như trứng; những cái nhà kho có m ặt bằng hinh chữ nhật và mái đơ n g iả n cho thấy m ột số nét gần gũi với cuộc sống thường nhật của các nhóm cư dâti vùng đồi gò bán sơn địa V iệt Nam
- v ề táng thức, nghiên cứu các ngôi m ộ gạch, có thế thấy m ột số
ít các ngôi m ộ gạch kiểu m ộ đôi hoặc có bình đồ phức tạp, chia thành các phần tiền thất, trung tíiất và h ậu ửiất, hoặc có thêm n h ĩ thất Đ a số các m ộ có bình đồ hình chữ nhật đơn giản M ột số m ộ có kích thước rất nhỏ, các phần trong m ộ được ngăn cách bởi những trụ gạch lửng, Phần đặt quan tài là m ột bệ gạch thấp, xây lệch về m ột bên ở cuối mộ, hoặc chi đơn giãn xây bang hai bờ gạch thấp như thấy ở m ộ M3 và mộ
^ Larew, Marilynn: “Trờ iại với Janse: Đồ lùy táng ở Thanh Hóa", trong Mội thế kỳ' khào cồ học Việt Nam, tập II, Nxb Khoa học Xă hội, Hà Nội, 2005, tr 27-28, hinh
- Lê Thị Liên, Nguyễn Đăng Cường, Nguyền Văn Binh, Lương Chánh Tòng: Báo cáo két quà khai quậĩ chùa Linh Xứng (Hà Trung, Thanh H óq )^ tư liệu Viện Kháo
cồ học, Hà Nội,
Trang 382010-Một số triển khai từ quan điểm của Giáo sưTrắn QuốcVưọng
M5 khai quặt trong chùa Linh X ứ n g ‘ hay như m ộ gạch ỡ Bi T hượng-
Đ ồ gốm trong các m ộ này ch o phép xác định niên đại cùa chúng vào khoáng thế kỷ 3-6
Đ ồ tùy táng trong các m ộ gạch phản ánh nhừng khia cạnh đáng chú ý về chủ nhân và các yếu tố hỗn dung văn hóa, M arilynn Larew khi nghiên cứu lịch sử sù dụng đồ tùy táng trong văn hóa Trung Hoa
và đổi chiếu với sưu tập hiện vật do O lov Janse khai quật và sưu tầm ở
T hanh H óa cho rằng những vũ khí có mặt trong các m ộ ớ M ân Thôn lA ,
Đ ông Tác 1 và Đ ông Khối 2 có thể là thuộc các vị sĩ quan quân sự trong hảng ngũ cao cấp, Đ óng Tác 1 và Đ ông Khối 2 lại nằm trong thù phù của Đ ô n g Sơn trung tâm định cư của người V iệt trong hàng ngũ chi huy V iệc so sánh đồ tùy táng m ang tinh chất sinh khi và m inh khí (bà cho ràn g không có đồ lề khí) cho thấy sự kết nổi giữa Lình N am và Việt
N am ít ra là thuộc thời Đ ông S ơn và các yếu tố ánh hướng từ thời nhà Chu đư ợc nhận thấy (bình ba chân có vòi đầu gà), có lẽ chù yếu qua con đưcmg giao thương-'
H àng trăm dồ gốm m inh khi có m ặt trong m ộ Bí Thượng, trong đó
có cả đồ nung m éo, phần lớn là gốm nung non hoặc vò nhò tráng men
sơ sài, những đo gốm có hình dạng tương tự đồ gốm m en nhim g chất lượng kém và kích thước thu nhỏ trong các m ộ ớ di tích Linh X ứng gợi
ý loại hình m ộ gạch không chi dành cho những người thật giàu có hoặc Ihuộc tầng lớp quan chức cao cấp N ó cũng đồng thời phán ánh cái cách thức người thân quan tâm đ ến ngưởi đă khuất và quan niệm cùa họ về thế giới bên kia, không quá cầu kì, tổn kém , nhưng khá đầy đù và gần gũi với cuộc sống hiện thực
v ề chủ nhân của những ngôi m ộ gạch vùng Thanh Hóa, Larew có quan điềm đây là nhừng cư dân vùng Nam T rung Hoa (Q uảng Đông) bị đẩy lùi từng bước tới tận T hanh Hóa, nhưng có lẽ đã V iệt hóa và lấy vợ
Lẽ Thị Liên Nguycn Đăng Cường, Nguyền Vãn Binh, Lương Chánh Tòng: Báo cáo keĩ quà khai quật chùa Linh Xúng (Hà Trung Thanh Hỏa)s tlđd.
Lẻ Thị Liên, Bùi Thị Hợi, Kiểu Đinh Scm: Báo cáo kết quá khơi quật chùa Bí Thượng (Vông Bi Qtịáng Ninh)y tu liệu Viện Khảo cồ học, Hà Nội, 2007.
Larew Marilynn; “Trcr lại với Janse: Đổ lùy tảng ở Thanh Hóa'\ bđd, ir 24-29
Trang 39V iệt', v ề n ié n đại, có ý kiến cho rẳng, m ộ gạch mất đi vào đầu thế kỳ 10 khi đất nước ta giành lại độc lập- Điều đảng chú ý là trong giai đoạn Bắc thuộc, m ộ thuyền kiểu Đ ông Sơn vẫn có m ặt m ang theo nó không chi hiện vật Đông Sơn m à cả đi vật phong cách Hán Sự mất đi của nó được xác định vào khoáng thế kỷ 6-7, khi chiếc quan tài sáu tấm xuất hiện’ N hư vặv, trong khi chờ đợi m ột công trinh đầy đú hơn về lịch
sử phát triển và thay đối hình thức m ộ táng, táng thức và chú nhân của chúng, chủng tôi cho rằng sự khác biệt về số lượng, quy m ô các ngôi
m ộ gạch, sự phân bố và bộ siru tập hiện vật trong các m ộ đặt ra giả thiết chù nhân các ngôi m ộ thuộc nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội và không nhất íhiếl chi là người Hán
3.3 Phật giáo Tứ P h á p ' sàn phẩm của s ự hỗn dung tỗn giáo với hình thức
tín ngưỡng bản địa
N hiều tư liệu lịch sử và tôn giáo như N gô chi\ Đ àm Thiên, Phảp
Vũ, Cao tàng íruvợn, P hật to lịch đ ạ i thông tái cung cấp các thông tin
cho thấy vào những thế ký đầu C ông nguyên, Phật giáo đâ rất phát triển
ờ nước ta'* Đại Việt s ử ký íoàn íhư, N goại kỷ, quyền III có đoạn chép
thư của V iên Huy nhà Hán gứi cho T hượng thư lệnh là Tuân ú c vào năm 207 như sau: (S ĩ N hiếp) Khi ra vào thì đánh chuông khánh,
uy nghi đù hết; kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe đề đốt hương thường có đ ến m ấy mươi n g ư ờ i ’'' Đ oạn ghi chép này có thể liên hệ với sự tích, nhà sư K hâu-đà-la Man N ương và nguồn gốc ra đời cùa T ứ Pháp
T ứ Pháp là hinh thức thờ Phật đặc sắc của Việt Nam dưới hình thức thờ bốn chị em: Bà Dâu (Pháp V ân), Bà Đ ậu (Pháp Vù), Bà T uớng
Larew Marilynn: "Trớ lại với Janse: Đồ tùy táng ỡ Thanh Hóa", bdd, tr 30
Phạm Như Hồ; “ 100 năm nghiên cứu khảo cổ học ihời Bác thuộc”, trong Một ihế
kỹ khàu cổ học Hệt Nam tập II Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội, 2005 tr 16
Phạm Như Hồ: "100 năm nghiên cứu khảo cồ học ihời Bẳc thuộc”, bđd, tr 16
Thích MậlThế: yiệt Nam Phậi giáo sứ lược, Nỉíb Minh Đức, Sài Gòn, 1971 Đại Vĩệi xừ k}‘‘ toán ihư, ba lặp, Bàn in Nội các quan bàn Mộc ban khẩc năm Chính
Hòa Ihứ 18 (1697) Bán dịch cúa Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lảu và NgòThể Long, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội 1993 bản điện lừ 2001
Trang 40Một só triển khai từ quan điểm của Giáo sưTrán Quốc Vượng
(Pháp Lôi) và Bà Dàn (Pháp Điện), hay là sự nhân cách hóa các yếu tố
tự nhiên Hệ thống thờ còn iại dấu vét hoàn chinh nhất gồm bổn ngôi chùa dược thấy ờ vùng Dâu (nay thuộc xà Thanh K hương huyện Thuận Thành tinh Bấc N inh) T rung tâm Phật giáo Dâu có mối liên hệ gắn bó
cá về lịch sừ và các dẩu vết vật chất hiện còn với Luy Lâu - trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế và văn hóa lớn nhất cùa quận Giao Chi trong nửa đầu thiên niên ký I Tòa Ihành ngày nay còn dấu vết tại xã Thanh K hương và ngòi đền thờ Sĩ N hiép là đối tuựng nghiên cứu của khảo cố học trong nhiều nẫm Theo cùng với nó, các ngôi chùa thuộc hệ thống T ứ Pháp ờ đây với truyền thuyếl, lễ hội, bia kí kiến trúc và điện thờ hiện còn phàn ánh m ột sự hồn dung vãn hóa thật Ịý thú
Sự ra đời cùa T ứ Pháp và truyền thuyết M an N ương còn được ghi lại trên bia đá vào thế kỳ 19 ớ chùa Tố tương truyền là nhà cha mẹ của
M an N ương Hệ thống kinh kệ, nội dung cầu cúng, tên gọi Phật Dâu ghi trên các bia đá có niên đại thời Lé-N guyền lề hội rước nước và nghi lề cầu m ưa, cầu tạnh' cho thấy sự báo lưu m ột truyền thống tín ngưỡng khác Phật giáo, tín ngường thờ nước, thờ các yếu tố tự nhiên cúa cư dân nòng nghiệp Đ ồng thời chi tiết có mặt của hòn đá thiêng “Thạch
Q uang Phật" và hinh thức ihờ đả trong hệ thống T ử Pháp đặl già thiết
về sự kết hợp giữa tín ngưỡng nông nghiệp bàn địa với tín ngưởng Bà
La M ôn giáo vào m ột thời kỳ xa xưa N hùng yếu tố nghệ thuật và tượng thờ cũng phan ánh m ột tniyền thống rất khác so với nhiều điện thờ Phật giáo m ang đậm yếu tố “ Bấc Iruyền" ờ vùng đồng bằng Bắc Bộ Hiện nay ờ chùa Phi T ướng (thờ Phật Bà Pháp Lôi) còn lini giữ tấm bia tạc hình tượng Bà có niên đại thể ký 17 nằm ngay trong khuôn viên lòa thành cố Luy L ảu' Các pho tượng bằng gồ thể hiện Bà Dâu, Bà Đậu và
Bà D àn hiện đang được thờ trong các ngôi chùa ỡ vùng D âu có phong cách nghệ thuậl thế kỹ 17-18, thế hiện những yếu tố đặc sắc riêng có của
Theo Đợi ^ĩệt sử ký' toàn thư, ngoài lề hội rước nước từ mùng 6 đến mùng 8 tháng 4
àm lịch hàng năm cùa dân các xà Thanh Khmmg, Trỉ Quá, Hà Màn thuộc vùng Dảu - Luy Lảu, vào nhừng năm hạn hán hay mưa dằm, các vua cùng Ihường đén chùa Dãu hoặc rước Phậl Dáu vẻ kinh cầu mưa hoặc cảu lạnh
Lẽ Thị Liên, Tống Trung Tin: "Tấm bia đả ở chùa Phi Tưóng (Thuận Thành - Hà
Bắc)”, Kháo cồ học số 3, 1987, ư 84-89.