1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định lượng rủi ro hợp đồng tư vấn giám sát bằng công cụ bbns ở giai đoạn chuẩn bị thương thảo hợp đồng

147 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 3,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu giúp các nhà quản lý của đơn vị Tư vấn giám sát xác định được các yếu tố rủi ro có thể ảnh hưởng tới sự thành công của đơn vị Tư vấn giám sát.Đồng thời cung cấp cho các nhà qu

Trang 1

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

PHAN LÊ ANH

ĐỊNH LƯỢNG RỦI RO HỢP ĐỒNG TƯ VẤN GIÁM SÁT BẰNG CÔNG CỤ BBN’s Ở GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ

Trang 2

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Bách Khoa – ĐHQG-HCM

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Đinh Công Tịnh……….………

Cán bộ chấm nhận xét 1: PGS.TS Nguyễn Minh Hà ……….………

Cán bộ chấm nhận xét 2: TS Lê Hoài Long ………

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG Tp.Hồ

Chí Minh ngày 22 tháng 07 năm 2015

Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:

1 Chủ tịch Hội đồng: PGS.TS Phạm Hồng Luân

2 Thư ký hội đồng: TS.Lương Đức Long

3 Ủy viên phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Minh Hà

4 Ủy viên phản biện 2: TS Lê Hoài Long

5 Ủy viên hội đồng: Nguyễn Anh Thư

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Trưởng Khoa quản lý

chuyên ngành sau khi luận văn đã được sữa chữa

Trang 3

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

I TÊN ĐỀ TÀI: ĐỊNH LƯỢNG RỦI RO HỢP ĐỒNG TƯ VẤN GIÁM SÁT

BẰNG CÔNG CỤ BBN’S Ở GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ THƯƠNG THẢO HỢP ĐỒNG

NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

- Nhận diện các yếu tố rủi ro của hợp đồng tư vấn giám sát dựa vào các nghiên cứu trước, các bài báo khoa học, và tham khảo ý kiến chuyên gia

- Xác định mối liên hệ nguyên nhân – hệ quả giữa các yếu tố rủi ro hợp đồng Tư vấn giám sát

- Xây dựng mô hình áp dụng công cụ: BAYESIAN BELIEF NETWORKS (BBN’s) để tính toán rủi ro cho hợp đồng của tư vấn giám sát Việc tính toán được thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị thương thảo hợp đồng để có những biện pháp hạn chế bằng các điều khoản hợp đồng

II NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 07 – 07 -2014

III NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 15 -06-2015

IV CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS ĐINH CÔNG TỊNH

Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 06 năm 2015

Trang 4

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn là một thử thách rất lớn đòi hỏi sự nỗ lực hết mình, nghiêm túc của học viên Để hoàn thành được luận văn, ngoài sự cố gắng của bản thân, còn phải kể đến sự giúp đỡ nhiệt tình của rất nhiều người Vì vậy, ngay khi hoàn thành luận văn cũng là lúc tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn và lòng tri ân sâu sắc

Trước tiên, xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến TS Đinh Công Tịnh đã quan tâm, tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Xin chân thành cám ơn các thầy cô trong Khoa Kỹ Thuật Xây Dựng, đặc biệt là các thầy

cô giảng dạy thuộc chuyên ngành Công nghệ và Quản lý xây dựng trường Đại học Bách khoa Tp.Hồ Chí Minh Tất cả những kiến thức, kinh nghiệm mà các thầy cô

đã truyền đạt lại cho tôi trong suốt quá trình học cũng như những góp ý quý báu của các thầy cô về luận văn này sẽ mãi là hành trang quý giá cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và công tác sau này

Xin chân thành cám ơn tất cả bạn bè cùng lớp, những người đã cùng tôi trải qua những ngày học tập thật vui, bổ ích và những thảo luận trong suốt thời gian học

đã giúp tôi tự hoàn thiện mình và mở ra trong tôi nhiều sáng kiến mới

Xin cám ơn những người đồng nghiệp của tôi, đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và chính những kinh nghiệm thực tế trong quá trình công tác của họ đã đóng góp rất nhiều ý kiến cho tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, xin cám ơn những người thân trong gia đình tôi, đã luôn bên cạnh tôi, quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn, trở ngại để hoàn thành luận văn này

Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 06 năm 2015

Phan Lê Anh

Trang 5

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Với vai trò của mình trong suốt quá trình thực hiện dự án, đơn vị tư vấn giám sát thường phải chịu nhiều trách nhiệm về chất lượng và an toàn lao động của dự án Điều này làm cho đơn vị Tư vấn giám sát cũng phải chịu những nguy cơ tiềm ẩn rất cao

Nghiên cứu giúp các nhà quản lý của đơn vị Tư vấn giám sát xác định được các yếu tố rủi ro có thể ảnh hưởng tới sự thành công của đơn vị Tư vấn giám sát.Đồng thời cung cấp cho các nhà quản lý một công cụ để định lượng được những rủi ro này từ giai đoạn chuẩn bị thương thảo hợp đồng, và đề xuất một số biện pháp hạn chế các rủi ro này bằng các điều khoản trong hợp đồng

Qua luận văn, tác giả đã xác định được 26 yếu tố rủi ro và xây dựng mô hình định lượng rủi ro của hợp đồng Tư vấn giám sát bằng công cụ Bayesian Belief Networks Mô hình định lượng được xây dựng với 32 mối quan hệ “nhân – quả“ giữa các yếu tố tác động và khả năng xác suất xảy ra các yếu tố đó Mô hình được kiểm nghiệm bằng công trình thực tế tác giả có điều kiện tham gia

By Bayesian Belief Networks method, the researcher determined risk 26 factors and built up the risk quantitative model of consultant and supervision contract This model was built up with 32 “cause – effect” relationship based on impact factors and their probabilities and examined through real projects

Trang 6

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, khảo sát thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Đinh Công Tịnh

Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào từ trước đến nay

Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên

Tp HCM, ngày 15 tháng 06 năm 2015

Phan Lê Anh

Trang 7

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 7

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 10

1.1 Giới Thiệu Chung 10

1.2 Xác Định Vấn Đề Nghiên Cứu 11

1.3 Các Mục Tiêu Nghiên Cứu 12

1.4 Phạm Vi Nghiên Cứu 12

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 13

2.1 Các Khái Niệm 13

2.1.1 Rủi ro: 13

2.1.2 Quản lý rủi ro là một phần của Quản lý dự án: 13

2.1.3 Nhận diện rủi ro 15

2.1.4 Chiến lược ứng phó rủi ro [4] 15

2.1.4.1 Chấp nhận rủi ro: 16

2.1.4.2 Tránh né rủi ro 16

2.1.4.3 Giám sát rủi ro và chẩn bị các kế hoạch dự phòng 16

2.1.4.4 Dịch chuyển rủi ro 17

2.1.4.5 Giảm nhẹ rủi ro 17

2.1.5 Hợp đồng xây dựng 18

2.1.5.1 Phân loại hợp đồng: 18

2.1.5.2 Hồ sơ hợp đồng 22

2.1.6 Giai đoạn Thương thảo hợp đồng 22

2.1.7 Tư Vấn Giám Sát 24

2.1.7.1 Yêu cầu công việc của TVGS: 25

2.1.7.2 Quyền của TVGS 26

2.2 Công Cụ Nghiên Cứu 26

2.2.1 Giới thiệu về BBN’s 26

2.2.2 Công thức tính toán [12] 27

2.2.3 Cấu trúc mạng BBN’s 28

2.2.4 Phần mềm tính toán cho BBNs 30

2.3 Các nghiên cứu trước đây về Rủi ro – Tư vấn giám sát – Hợp đồng. 31

2.3.1 Nghiên cứu về rủi ro 31

2.3.2 Nghiên cứu về hợp đồng 34

2.3.3 Nghiên cứu về Tư vấn giám sát 36

Trang 8

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 8

CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

3.1 Quy trình nghiên cứu 39

3.2 Thu Thập Dữ Liệu 41

3.2.1 Quy Trình Thu Thập Dữ Liệu 41

3.2.2 Cách Thức Lấy Mẫu 42

3.2.3 Các thức phân phối bảng câu hỏi 42

3.2.4 Kích thước mẫu 42

3.2.5 Các thức duyệt lại dữ liệu 43

CHƯƠNG IV: MÔ HÌNH BBN’S ĐỊNH LƯỢNG RỦI RO HỢP ĐỒNG TƯ VẤN GIÁM SÁT 45

4.1 Xác định các yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến sự thành công của hợp đồng tư vấn giám sát 45 4.1.1 Phân tích nội dung các yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến sự thành công của hợp đồng Tư vấn Giám Sát 45

4.1.2 Khảo sát thử nghiệm – Pilots test 55

4.1.2.1 Tiến hành kiểm định thang đo với các biến: 58

4.1.2.2 Trị trung bình khảo sát thử nghiệm: 60

4.1.3 Khảo sát chính thức các yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến sự thành công hợp đồng TVGS 61 4.1.4 Kết quả thống kê mô tả 62

4.1.5 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha 69

4.1.6 Kết quả phân tích trị trung bình 71

4.1.7 Kiểm định ANOVA 74

4.2 Khảo sát mối liên hệ “Nhân – quả “ giữa các yếu tố 79

4.2.1 Bảng câu hỏi khảo sát 79

4.2.2 Thu thập số liệu 88

4.2.3 Phân tích số liệu thu thập 88

4.3 Thiết lập mô hình BBN’s định lượng rủi ro cho hợp đồng Tư vấn giám sát 91

4.3.1 Các yêu tố ảnh hưởng và trạng thái tương ứng 91

4.3.2 Mô hình định lượng rủi ro hợp đồng TVGS bằng BBNs: 91

4.4 Kiểm chứng mô hình 94

4.4.1 Giới thiệu vài nét về công trình ứng dụng 94

4.4.2 Kiểm chứng tính hợp lý, độ tin cậy của mô hình ứng dụng 95

4.4.2.1 Áp dụng mô hình vào BBN’s vào công trình 95

Trang 9

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 9

4.4.2.2 Khảo sát bảng xác suất có điều kiện giữa các biến 96

4.4.2.3 Dữ liệu đầu vào mô hình 101

4.4.2.4 Tính toán và phân tích kết quả mô hình 109

4.5 Một số đề xuất hạn chế rủi ro hợp đồng Tư vấn giám sát ở giai đoạn Thương thảo hợp đồng 115

4.5.1 Ứng phó với rủi ro mất An toàn lao động 115

4.5.2 Ứng phó với rủi ro Chất lượng, Tiến độ, Khối lượng 117

4.5.3 Ứng phó với rủi ro Tài chính 118

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 119

5.1 Kết luận 119

5.2 Kiến nghị 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

Trang 10

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 10

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN

Nhìn lại nền kinh tế thế giới từ năm 2008 tới nay (2015), dù đã có nhiểu chuyển biến tích cực nhưng nó vẫn bị ảnh hưởng nặng nề mà bắt đầu là sự suy thoái của thị trường bất động sản ở Mỹ vào cuối năm 2007, cuộc khủng hoảng lan rộng sang thị trường tài chính nước này và sau đó là cả kinh tế toàn cầu Khi mà kinh tế thế giới ngày càng liên kết chặt chẽ với nhau, cuộc khủng hoảng đã làm các nền kinh tế lớn trên thế giới cũng bị ảnh hưởng trầm trọng, từ cuộc khủng hoảng nợ công của các quốc gia Châu Âu đến các quốc gia châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore… Trong khi đó Việt Nam, việc gia nhập WTO năm 2007 đã mở

ra cho kinh tế của đất nước những cơ hội và thách thức lớn ở sân chơi toàn cầu Khi

mà các doanh nghiệp đang làm quen dần với việc mở cửa, cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư trong nước cũng như việc cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài Các doanh nghiệp nước ngoài rót vốn vào đầu tư cũng tạo ra nhiều cơ hội hợp tác hơn cho doanh nghiệp trong nước, tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn cho người lao động Việc khủng hoảng kinh tế thế giới vào đầu năm 2008 đã dẫn tới việc thoái vốn đầu tư của nước ngoài, nhu cầu hàng hóa của các nước suy giảm mạnh Góp phần với đó là các yếu tố nội quan khác của nền kinh tế trong nước: lạm phát ở mức cao, thâm hụt ngân sách, tăng trưởng tín dụng quá mức, vỡ bong bóng bất động sản,… Kết quả là những năm gần đây, tăng trưởng kinh tế trong nước luôn ở mức thấp, GDP hằng năm theo thống kê của tổng cục thống kê là dưới kì vọng, việc phát triển tín dụng cho ngành nghề xây dựng đã giảm mạnh

Với các đặc trưng riêng của ngành xây dựng như: là ngành thâm dụng vốn và tài nguyên lớn, các chi phí cố định của ngành khá cao, sản phẩm mang tính đặc trưng duy nhất và đặc biệt ngành khá nhạy cảm với tình hình chung của kinh tế vĩ

mô Ví như khi nền kinh tế thuận lợi và phát triển, dễ dàng thấy được nhiều công trình, cơ sở hạ tầng được đầy tư xây dựng mới, đối lập với đó là khi tình hình kinh

tế khó khăn cả khối tư nhân lẫn nhà nước đều phải thắt chặt hoạt động chi tiêu: nhà

Trang 11

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 11

nước hạn chế đầu tư xây dựng mới các công trình đường sá, bệnh viện, trường học,….hay ta dễ dàng bắt gặp những công trình dang dở, bỏ trống không thể hoàn thiện Tình hình xây dựng ở Việt Nam những năm qua cũng không nằm ngoài quy luật ảnh hưởng đó Với kinh tế khó khăn như các năm vừa qua, việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt hơn, khắc nghiệt hơn Tham gia vào quá trình hình thành nên một sản phẩm xây dựng, các đơn vị Tư Vấn Giám Sát cũng phải đứng trước những áp lực cạnh tranh đó Với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt như vậy, việc giúp cho một doanh nghiệp thực hiện tư vấn giám sát chất lượng của công trình có được đánh giá đúng đắn về rủi ro của hợp đồng mà đơn vị này sắp thực hiện càng mang tính cần thiết hơn

Các hoạt động xây dựng vẫn diễn ra mạnh mẽ dù còn rất nhiều khó khăn Với tình hình kinh tế hiện tại của nước ta và thế giới càng làm cho sự cạnh tranh giữa các công ty thêm gay gắt hơn Các dự án giờ đây với nguồn tài chính thắt chặt, khó khăn trong quá trình hoàn thành công trình càng làm cho các dự án tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn

Đã có nhiều công trình nghiên cứu để xác định rủi ro cho từng dạng đối tượng khác nhau khi tham gia dự án (Chủ Đầu Tư, Nhà Thầu, Nhà cung cấp thiết bị,….) cho từng dạng hợp đồng khác nhau (Hợp đồng tư vấn quản lý dự án, hợp đồng thi công, hợp đồng cung cấp thiết bị….) Tuy vậy nhìn chung công tác quản lý rủi ro cho dự án vẫn chưa được các đơn vị tham gia coi trọng và đầu tư quản lý đúng mức

Nhận thức được vấn đề đó, tác giả thông qua đề tài muốn cung cấp cho các nhà quản lý, các chuyên gia tham gia dự án một góc nhìn quản lý mới về rủi ro hợp đồng với đối tượng được nghiên cứu là các nhà tư vấn giám sát (supervisor) - Đơn

vị đứng vai trò là cầu nối giữa CĐT (Tư vấn Quản lý dự án) với nhà thầu, người chịu trách nhiệm về theo dõi việc thi công, đảm bảo chất lượng cho công trình

Mong muốn của tác giả sau khi thực hiện đề tài có thể giải đáp được các câu hỏi như: Liệu các Nhà tư vấn giám sát có cùng các rủi ro như các đơn vị khác của cùng dự án không? Rủi ro chung của một dự án sẽ phân chia như thế nào đến đơn vị

Trang 12

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 12

tư vấn giám sát Ảnh hưởng các đơn vị bên trên (CĐT) và bên dưới (Nhà Thầu) ảnh hưởng như thế nào tới nhà tư vấn giám sát Mối liên hệ giữa CĐT và NT ảnh hưởng như thế nào tới công việc của đơn vị giám sát? Từ việc đánh giá mối quan hệ trên,

đề xuất phương án hạn chế những yếu tố không tốt này bằng các điều khoản trong hợp đồng tư vấn

1 Nhận diện các yếu tố rủi ro của hợp đồng tư vấn giám sát dựa vào các nghiên cứu trước, các bài báo khoa học, và tham khảo ý kiến chuyên gia

2 Xác định mối liên hệ nguyên nhân – hệ quả giữa các yếu tố rủi ro hợp đồng

Tư vấn giám sát

3 Xây dựng mô hình áp dụng công cụ: BAYESIAN BELIEF NETWORKS (BBN’s) để tính toán rủi ro cho hợp đồng của tư vấn giám sát Việc tính toán được thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị thương thảo hợp đồng để có những biện pháp hạn chế bằng các điều khoản hợp đồng

Các dự án về xây dựng bao gồm: xây dựng dân dụng, công nghiệp

Thời gian nghiên cứu: từ 07/07/2014 đến 16/06/2015

Quan điểm phân tích: đơn vị Tư Vấn Giám Sát

Đối tượng được khảo sát: các nhà chuyên gia thuộc sự quản lý của các đơn vị trực thuộc: Chủ Đầu Tư, Tư vấn Quản lý Dự Án, Thiết kế, Tư Vấn Giám Sát và Nhà thầu Thi công

Không gian nghiên cứu: các dự án ở Tp.Hồ Chí Minh bao gồm cả các dự án

có vốn ngân sách dưới 30% và các dự án có nguồn vốn ngân sách >30%, các nguồn vốn tín dụng có sự quản lý của nhà nước

Trang 13

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 13

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Rủi ro có thể được định nghĩa là sự kết hợp của xác suất của một sự kiện và hậu quả của nó Trong tất cả các dự án, có khả năng xảy ra các sự kiện và hậu quả được coi là cơ hội cho lợi ích (ưu điểm) hoặc thách thức cho sự thành công (nhược điểm) [1]

Rủi ro phụ thuộc vào ngữ cảnh, nếu con người không có khái niệm hoặc không liên quan đến thì họ không có rủi ro Ví dụ trời mưa sẽ là rủi ro với người đi đường nhưng người ở trong phòng đóng kín cửa, không bị ảnh hưởng thì không có rủi ro Rủi ro bao gồm 3 yếu tố: xác suất xảy ra, khả năng ảnh hưởng đến đối tượng

và thời lượng ảnh hưởng Bản chất rủi ro là sự không chắc chắn, nếu chắc chắc (xác suất bằng 0% hoặc 100%) thì không gọi là rủi ro

“Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” – Frank Knight [5]

“Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi” – Allan Willet.[5]

“ Rủi ro là một tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được” – Marilu Carty [5]

Từ định nghĩa rủi ro như trên ta có thể thấy được rủi ro có thể gây ra những thiệt hại không mong đợi Cũng chính vì rủi ro là những bất trắc nên nó không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan Tuy nhiên, rủi ro lại có thể đo lường, hay định lượng được và đây là cơ sở để có thể giúp cho các nhà quản lý, nhà tư vấn có thể đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế tối tiểu các rủi ro có thể xảy đến với mình Trong xây dựng, các nhà thầu, các đơn vị giám sát đều có những rủi ro của mình Vậy nên muốn có được kết quả tốt trong cạnh tranh, muốn tồn tại và phát triển, các đơn vị phải tiên lượng trước xem cái gì đang chờ đón để có được những giải pháp ngăn ngừa, chấp nhận rủi ro ở mức hợp lý chứ không phải run sợ, né tránh rủi ro

Trang 14

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 14

Quản lý rủi ro là điều cần thiết để xây dựng các hoạt động giảm thiểu thiệt hại và tăng cường lợi nhuận Rủi ro xây dựng nói chung được coi là sự kiện ảnh hưởng đến mục tiêu của chi phí, thời gian và chất lượng của dự án Phân tích rủi ro

và quản lý xây dựng phụ thuộc chủ yếu vào trực giác, phán đoán và kinh nghiệm

Kỹ thuật phân tích và quản lý rủi ro chính thức hiếm khi được sử dụng do thiếu kiến thức và dễ nghi ngờ về sự phù hợp của các kỹ thuật cho các hoạt động trong ngành công nghiệp xây dựng Các phản ứng cho các chiến lược để đối phó với những rủi

ro trong xây dựng chỉ ra rằng ngành công nghiệp xây dựng chủ yếu là rủi ro không mong muốn Các nhà thầu thường chuyển rủi ro cho nội bộ bên trong của mình, các thầu phụ và thông qua bảo hiểm Mặc dù, việc đó nói chung được công nhận rằng nguy cơ nên được chuyển giao cho bên đó là ở vị trí tốt nhất để đối phó với những rủi ro đó Quá trình như vậy, khi mà một nhà thầu chuyển tất cả các rủi ro trong một

dự án không không phải luôn là một việc làm tốt cho ý tưởng đổi mới trong ngành công nghiệp Nhà thầu có xu hướng thuê thầu tất cả các gói công việc liên quan đến một dự án để các nhà thầu phụ và thực hiện "hợp đồng quản lý như là một phần của một chiến lược để giảm hoặc loại bỏ rủi ro của họ Do đó có nghĩa là những tổng thầu với các phương tiện để làm như vậy, hoặc là không hoặc không có động cơ để thực hiện nghiên cứu như là một phần của chiến lược nhằm giảm rủi ro liên quan với hoạt động kinh doanh xây dựng của họ Mặc dù các kỹ thuật quản lý rủi ro đã được sử dụng trong các ngành công nghiệp khác trong một thời gian dài, ngành xây dựng đã tiếp cận quản lý rủi ro về mặt cá nhân trực giác, phán đoán và kinh nghiệm thu được từ các hợp đồng trước đó Nhược điểm lớn nhất của các kỹ thuật phân tích rủi ro là các kỹ thuật mạnh mẽ và tinh tế hơn, càng nhiều dữ liệu và thời gian là cần thiết Hoạt động công nghiệp xây dựng bị hạn chế bởi thời gian vì sản xuất xây dựng là chủ yếu được sử dụng chỉ trong thời gian cho nhu cầu sản xuất của khách hàng Nó là ngạc nhiên khi một số người được hỏi đã xác định dự án hạn chế thời gian là một trong những lý do chính để không sử dụng phân tích rủi ro và quản lý

kỹ thuật.[2]

Có thể phân biệt Rủi ro theo các tiêu thức sau:

- Rủi ro tĩnh và rủi ro động

Trang 15

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 15

- Rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt

- Rủi ro thuần túy và rủi ro đầu cơ Rủi ro động và rủi ro tĩnh:

Rủi ro động là những rủi ro liên quan đến sự luôn thay đổi, đặc biệt là trong nền kinh tế Đó là những rủi ro mà hậu quả của nó có thể có lợi, nhưng cũng có thể

sẽ mang đến sự tổn thất (sự thay đổi về thị hiếu khách hàng có thể phù hợp với sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh hay không, sự thay đổi về công nghệ kĩ thuật có phù hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp hay không, sự thay đổi

đó có quá nhanh hay không? )

Rủi ro tĩnh là những rủi ro, mà hậu quả của nó chỉ liên quan đến sự xuất hiện tổn thất hay không, chứ không có khả năng sinh lời, và không chịu sự ảnh hưởng của những thay đổi trong nền kinh tế Những rủi ro tĩnh thường liên quan đến các đối tượng: tài sản, con người, trách nhiệm dân sự

Hình 2.1: Quy trình cơ bản quản lý rủi ro

Là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro và bất định của một

tổ chức Các hoạt động nhận dạng nhằm phát triển thông tin về nguồn rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa, và nguy cơ rủi ro.[3]

Trang 16

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 16

Có năm loại chiến lược cổ điển nhằm làm giảm thiểu rủi ro: chấp nhận, tránh

né, giám sát, chuyển giao, giảm nhẹ rủi ro

Giám đốc dự án nói: “ Tôi biết rằng rủi ro tồn tại và ý thức được những hệ quả khả dĩ Tôi đang sẵn lòng chờ đợi và nhìn thấy cái gì sẽ xảy ra Tôi chấp nhận hậu quả có thể xuất hiện”

Chấp nhận rủi ro là chấp nhận sự tồn tại, hiểu biết về hậu quả xảy ra của nó,

và quyết định không thực hiện bất cứ điều gì khi gặp rủi ro đó Đây là một chiến lược phổ biến mà hậu quả hay xác suất của một vấn đề gây ra là tương đối nhỏ Khi các hậu quả gây ra thấp hơn chi phí ứng phó, chiến lược này được xem là hữu dụng

Trong quản lý dự án, tránh rủi ro có thể được phản ánh trong sự chọn lọc các

ý tưởng và kiểm soát nguồn gốc của nhà thầu Tuy nhiên, không phải rủi ro nào cũng có thể tránh được

Có thể thực hiện chiến lược này bằng cách không thực hiện một phần của dự

án Việc xóa bỏ đi một phần của dự án có thể ảnh hưởng nhiều hơn đến dự án dẫn đến công việc kinh doanh có thể bị ảnh hưởng Việc tránh các rủi ro trong dự án cũng có cùng tác động – rủi ro thấp, lợi nhuận thấp

2.1.4.3 Giám sát rủi ro và chẩn bị các kế hoạch dự phòng

Giám đốc dự án phát biểu: “Tôi sẽ có biện pháp cần thiết cần phải có để

kiểm soát rủi ro này bằng cách tiếp tục đánh giá lại nó và phát triển các kế hoạch đối phó”

Giám sát một rủi ro bằng cách chọn một số chỉ tiêu khi dự án tiến gần đến điểm rủi ro Có thể chuẩn bị các kế hoạch dự phòng, thông thường phổ biến nhất là dành một khoản gọi là quỹ dự phòng về chi phí hoặc thời gian để sử dụng trong trường hợp cần thiết

Trang 17

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 17

Một yếu tố đòi hỏi sự khéo léo trong việc giám sát rủi ro là khả năng dự báo rủi ro đúng lúc để có thể ứng phó được Đối với các rủi ro được biết trước trong một

dự án, cần tiến hành đánh giá về khả năng có thể phát hiện được theo một thang đo mang tính chủ quan

2.1.4.4 Dịch chuyển rủi ro

Giám đốc dự án phát biểu: “Tôi sẽ chia sẽ rủi ro này cho những người khác hoặc chuyển toàn bộ rủi ro cho họ.”

Rủi ro sẽ được dịch chuyển cho người khác thông qua hợp đồng

Mục đích của phương án này là chuyển giao những rủi ro có thể gặp phải nhằm đảm bảo dự án đạt những mục tiêu đã định

Mua bảo hiểm là phương pháp trực tiếp phổ biến nhất để dịch chuyển các rủi

ro

Thực hiện hợp đồng với đơn giá cố định kèm theo điều kiện thanh toán Với các hợp đồng có giá trị cố định, người quản lý dự án biết chính xác chi phí của khoản phí này là bao nhiêu, có thể đưa vào các điều khoản tiền phạt khi bị trễ hạn

2.1.4.5 Giảm nhẹ rủi ro

Giám đốc dự án phát biểu: “Tôi sẽ phát triển các kế hoạch thử nghiệm.”

Giảm nhẹ rủi ro là việc chủ động bằng các biện pháp thích hợp nhằm hạn chế khả năng xảy ra đồng thời giảm nhẹ tổn thất do rủi ro mang lại Để giảm nhẹ rủi ro, chúng ta có thể thực hiện các công việc sau:

Có chính sách đào tạo, tập huấn cán bộ để nâng cao năng lực chuyên

môn phòng tránh rủi ro trong công việc

Tuyển chọn nhân viên có năng lực tốt về làm việc, tham khảo ý kiến

chuyên gia có kinh nghiệm khi thực hiện công việc

Nghiên cứu năng lực các bên tham gia cẩn thận

Dùng các công cụ và phương tiện có khả năng giảm nhẹ tác động của rủi ro: phát triển các chương trình mô phỏng để dự đoán khả năng xảy ra rủi ro, thiết lập mạng lưới thông tin về rủi ro, giảm các liên kết ràng buộc nhằm ngăn chặn rủi ro tiềm tàng có thể cộng hưởng vào những rủi ro đang gặp phải

Triển khai thử nghiệm công việc

Trang 18

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 18

Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên để thực hiện một, một số hay toàn bộ công việc trong hoạt động xây dựng [6]

Hợp đồng tư vấn xây dựng (gọi tắt là hợp đồng tư vấn) là hợp đồng để thực hiện một, một số hay toàn bộ công việc tư vấn trong hoạt động xây dựng[6]

b) Khi áp dụng hợp đồng trọn gói, giá gói thầu để làm căn cứ xét duyệt trúng thầu phải bao gồm cả chi phí cho các yếu tố rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng, chi phí dự phòng trượt giá Giá dự thầu phải bao gồm tất cả các chi phí cho các yếu tố rủi ro và chi phí trượt giá có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng;

c) Hợp đồng trọn gói là loại hợp đồng cơ bản Khi quyết định áp dụng loại hợp đồng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, người phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu phải bảo đảm loại hợp đồng này phù hợp hơn so với hợp đồng trọn gói Đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn đơn giản; gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ phải áp dụng hợp đồng trọn gói;

d) Đối với gói thầu xây lắp, trong quá trình thương thảo, hoàn thiện hợp đồng, các bên liên quan cần rà soát lại bảng khối lượng công việc theo thiết kế được

Trang 19

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 19

duyệt; nếu nhà thầu hoặc bên mời thầu phát hiện bảng số lượng, khối lượng công việc chưa chính xác so với thiết kế, bên mời thầu báo cáo chủ đầu tư xem xét, quyết định việc điều chỉnh khối lượng công việc để bảo đảm phù hợp với thiết kế;

đ) Khi áp dụng hợp đồng trọn gói, chủ đầu tư đối với dự án, bên mời thầu đối với mua sắm thường xuyên, đơn vị mua sắm tập trung hoặc đơn vị có nhu cầu mua sắm đối với mua sắm tập trung chịu trách nhiệm về tính chính xác của số lượng, khối lượng công việc Trường hợp sử dụng nhà thầu tư vấn để lập hồ sơ thiết kế, hồ

sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu thì trong hợp đồng giữa chủ đầu tư, bên mời thầu, đơn vị mua sắm tập trung hoặc đơn vị có nhu cầu mua sắm với nhà thầu tư vấn phải có quy định về trách nhiệm của các bên trong việc xử lý, đền bù đối với việc tính toán sai

số lượng, khối lượng công việc

- Hợp đồng theo đơn giá cố định:

Hợp đồng theo đơn giá cố định là hợp đồng có đơn giá không thay đổi trong suốt thời gian thực hiện đối với toàn bộ nội dung công việc trong hợp đồng Nhà thầu được thanh toán theo số lượng, khối lượng công việc thực tế được nghiệm thu theo quy định trên cơ sở đơn giá cố định trong hợp đồng

- Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh:

Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh là hợp đồng có đơn giá có thể được điều chỉnh căn cứ vào các thỏa thuận trong hợp đồng đối với toàn bộ nội dung công việc trong hợp đồng Nhà thầu được thanh toán theo số lượng, khối lượng công việc thực

tế được nghiệm thu theo quy định trên cơ sở đơn giá ghi trong hợp đồng hoặc đơn giá đã được điều chỉnh

- Hợp đồng theo thời gian:

Hợp đồng theo thời gian là hợp đồng áp dụng cho gói thầu cung cấp dịch vụ

tư vấn Giá hợp đồng được tính trên cơ sở thời gian làm việc theo tháng, tuần, ngày, giờ và các khoản chi phí ngoài thù lao Nhà thầu được thanh toán theo thời gian làm việc thực tế trên cơ sở mức thù lao tương ứng với các chức danh và công việc ghi trong hợp đồng.[7]

Ngoài ra, căn cứ theo Nghị định số 37/NĐ-CP do Chính phủ ban hành năm

2015 việc phân loại hợp đồng được quy định như sau:

Trang 20

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 20

1 Theo tính chất, nội dung công việc hợp đồng xây dựng có các loại sau: a) Hợp đồng tư vấn xây dựng (viết tắt là hợp đồng tư vấn) là hợp đồng để thực hiện một, một số hay toàn bộ công việc tư vấn trong hoạt động đầu tư xây dựng;

b) Hợp đồng thi công xây dựng công trình (viết tắt là hợp đồng thi công xây dựng) là hợp đồng để thực hiện việc thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình hoặc phần việc xây dựng theo thiết kế xây dựng công trình; hợp đồng tổng thầu thi công xây dựng công trình là hợp đồng thi công xây dựng để thực hiện tất cả các công trình của một dự án đầu tư;

c) Hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ (viết tắt là hợp đồng cung cấp thiết bị) là hợp đồng thực hiện việc cung cấp thiết bị để lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế công nghệ; hợp đồng tổng thầu cung cấp thiết bị công nghệ là hợp đồng cung cấp thiết bị cho tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng;

d) Hợp đồng thiết kế và thi công xây dựng công trình (tiếng Anh là Engineering - Construction viết tắt là EC) là hợp đồng để thực hiện việc thiết kế và thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình; hợp đồng tổng thầu thiết kế và thi công xây dựng công trình là hợp đồng thiết kế và thi công xây dựng tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng;

đ) Hợp đồng thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ (tiếng Anh là Engineering - Procurement viết tắt là EP) là hợp đồng để thực hiện việc thiết kế và cung cấp thiết bị để lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế công nghệ; hợp đồng tổng thầu thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ là hợp đồng thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ cho tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng;

e) Hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình (tiếng Anh là Procurement - Construction viết tắt là PC) là hợp đồng để thực hiện việc cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình; hợp đồng tổng thầu cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình là hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng;

Trang 21

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 21

g) Hợp đồng thiết kế - cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình (tiếng Anh là Engineering - Procurement - Construction viết tắt là EPC)

là hợp đồng để thực hiện các công việc từ thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ đến thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình; hợp đồng tổng thầu EPC là hợp đồng thiết kế - cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng;

h) Hợp đồng chìa khóa trao tay là hợp đồng xây dựng để thực hiện toàn bộ các công việc lập dự án, thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình của một dự án đầu tư xây dựng;

i) Hợp đồng cung cấp nhân lực, máy và thiết bị thi công là hợp đồng xây dựng để cung cấp kỹ sư, công nhân (gọi chung là nhân lực), máy, thiết bị thi công

và các phương tiện cần thiết khác để phục vụ cho việc thi công công trình, hạng mục công trình, gói thầu hoặc công việc xây dựng theo thiết kế xây dựng;

k) Các loại hợp đồng xây dựng khác

2 Theo hình thức giá hợp đồng, hợp đồng xây dựng có các loại sau:

a) Hợp đồng trọn gói;

b) Hợp đồng theo đơn giá cố định;

c) Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh;

d) Hợp đồng theo thời gian;

đ) Hợp đồng theo giá kết hợp là hợp đồng xây dựng sử dụng kết hợp các loại giá hợp đồng nêu từ Điểm a đến Điểm d Khoản này

3 Theo mối quan hệ của các bên tham gia trong hợp đồng, hợp đồng xây dựng có các loại sau:

a) Hợp đồng thầu chính là hợp đồng xây dựng được ký kết giữa chủ đầu tư với nhà thầu chính hoặc tổng thầu

b) Hợp đồng thầu phụ là hợp đồng xây dựng được ký kết giữa nhà thầu chính hoặc tổng thầu với nhà thầu phụ

c) Hợp đồng giao khoán nội bộ là hợp đồng giữa bên giao thầu và bên nhận thầu thuộc một cơ quan, tổ chức

Trang 22

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 22

d) Hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài là hợp đồng xây dựng được ký kết giữa một bên là nhà thầu nước ngoài với nhà thầu trong nước hoặc chủ đầu tư trong nước [8]

2.1.5.2 Hồ sơ hợp đồng

Căn cứ theo luật đấu thầu số 43/2013/QH13 quy định như sau:

1 Hồ sơ hợp đồng bao gồm các tài liệu sau đây:

a) Văn bản hợp đồng;

b) Phụ lục hợp đồng gồm danh mục chi tiết về phạm vi công việc, biểu giá, tiến độ thực hiện (nếu có);

c) Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu

Tùy theo quy mô, tính chất của gói thầu, hồ sơ hợp đồng có thể bao gồm một hoặc một số tài liệu sau đây:

a) Biên bản hoàn thiện hợp đồng;

b) Văn bản thỏa thuận của các bên về điều kiện của hợp đồng, bao gồm điều kiện chung, điều kiện cụ thể;

c) Hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất và các tài liệu làm rõ hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất của nhà thầu được lựa chọn;

d) Hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu và các tài liệu sửa đổi, bổ sung hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu;

đ) Các tài liệu có liên quan [7]

Theo điều 19 của nghị định số 63/2014/NĐ-CP về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, việc thương thảo hợp đồng cần tuân thủ các quy định sau đây:

- Nhà thầu xếp hạng thứ nhất được mời đến thương thảo hợp đồng Trường hợp nhà thầu được mời đến thương thảo hợp đồng nhưng không đến thương thảo hoặc từ chối thương thảo hợp đồng thì nhà thầu sẽ không được nhận lại bảo đảm dự thầu

- Việc thương thảo hợp đồng phải dựa trên cơ sở sau đây:

Trang 23

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 23

a) Báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu;

b) Hồ sơ dự thầu và các tài liệu làm rõ hồ sơ dự thầu (nếu có) của nhà thầu; c) Hồ sơ mời thầu

- Nguyên tắc thương thảo hợp đồng:

a) Không tiến hành thương thảo đối với các nội dung mà nhà thầu đã chào thầu theo đúng yêu cầu của hồ sơ mời thầu;

b) Việc thương thảo hợp đồng không được làm thay đổi đơn giá dự thầu của nhà thầu sau khi sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch và trừ đi giá trị giảm giá (nếu có) Trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu và thương thảo hợp đồng, nếu phát hiện khối lượng mời thầu nêu trong bảng tiên lượng mời thầu thiếu so với hồ sơ thiết kế thì bên mời thầu yêu cầu nhà thầu phải bổ sung khối lượng công việc thiếu đó trên

cơ sở đơn giá đã chào; trường hợp trong hồ sơ dự thầu chưa có đơn giá thì bên mời thầu báo cáo chủ đầu tư xem xét, quyết định việc áp đơn giá nêu trong dự toán đã phê duyệt đối với khối lượng công việc thiếu so với hồ sơ thiết kế hoặc đơn giá của nhà thầu khác đã vượt qua bước đánh giá về kỹ thuật nếu đơn giá này thấp hơn đơn giá đã phê duyệt trong dự toán gói thầu;

c) Việc thương thảo đối với phần sai lệch thiếu thực hiện theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 17 của Nghị định này (nghị định nghị định số 63/2014/NĐ-CP)

- Nội dung thương thảo hợp đồng:

a) Thương thảo về những nội dung chưa đủ chi tiết, chưa rõ hoặc chưa phù hợp, thống nhất giữa hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu, giữa các nội dung khác nhau

trong hồ sơ dự thầu có thể dẫn đến các phát sinh, tranh chấp hoặc ảnh hưởng đến

trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng;

b) Thương thảo về các sai lệch do nhà thầu đã phát hiện và đề xuất trong hồ

sơ dự thầu (nếu có), bao gồm cả các đề xuất thay đổi hoặc phương án thay thế của

Trang 24

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 24

nhà thầu nếu trong hồ sơ mời thầu có quy định cho phép nhà thầu chào phương án thay thế;

c) Thương thảo về nhân sự đối với gói thầu xây lắp, hỗn hợp:

Trong quá trình thương thảo, nhà thầu không được thay đổi nhân sự chủ chốt

đã đề xuất trong hồ sơ dự thầu để đảm nhiệm các vị trí chủ nhiệm thiết kế, chủ nhiệm khảo sát (đối với gói thầu xây lắp, hỗn hợp có yêu cầu nhà thầu phải thực hiện một hoặc hai bước thiết kế trước khi thi công), vị trí chỉ huy trưởng công trường, trừ trường hợp do thời gian đánh giá hồ sơ dự thầu kéo dài hơn so với quy định hoặc vì lý do bất khả kháng mà các vị trí nhân sự chủ chốt do nhà thầu đã đề xuất không thể tham gia thực hiện hợp đồng Trong trường hợp đó, nhà thầu được quyền thay đổi nhân sự khác nhưng phải bảo đảm nhân sự dự kiến thay thế có trình

độ, kinh nghiệm và năng lực tương đương hoặc cao hơn với nhân sự đã đề xuất và nhà thầu không được thay đổi giá dự thầu;

d) Thương thảo về các vấn đề phát sinh trong quá trình lựa chọn nhà thầu (nếu có) nhằm mục tiêu hoàn thiện các nội dung chi tiết của gói thầu;

đ) Thương thảo về các nội dung cần thiết khác

- Trong quá trình thương thảo hợp đồng, các bên tham gia thương thảo tiến hành hoàn thiện dự thảo văn bản hợp đồng; điều kiện cụ thể của hợp đồng, phụ lục hợp đồng gồm danh mục chi tiết về phạm vi công việc, biểu giá, tiến độ thực hiện (nếu có)

- Trường hợp thương thảo không thành công, bên mời thầu báo cáo chủ đầu

tư xem xét, quyết định mời nhà thầu xếp hạng tiếp theo vào thương thảo; trường hợp thương thảo với các nhà thầu xếp hạng tiếp theo không thành công thì bên mời thầu báo cáo chủ đầu tư xem xét, quyết định hủy thầu theo quy định tại Khoản 1 Điều 17 của Luật Đấu thầu

Trang 25

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 25

Nhà thầu giám sát thi công xây dựng được lựa chọn phải có đề xuất về giải pháp giám sát và quy trình kiểm soát chất lượng, khối lượng, tiến độ, an toàn lao động, bảo vệ môi trường, quy trình kiểm tra và nghiệm thu, biện pháp quản lý hồ sơ tài liệu trong quá trình giám sát và nội dung cần thiết khác [9]

Tuy nhiên, có sự khác biệt trong việc định nghĩa đơn vị Tư Vấn Giám Sát giữa các quốc gia khác nhau Trong tài liệu Construction Supervision- (Jerald L Rounds, Robert O Segner - nxbJohn Wiley and Sons (2011), Tư Vấn Giám Sát (superviser):

Là một giám đốc điều hành có nhiệm vụ chính bao gồm việc quản lý một bộ phận thông thường hoặc một phân khu; là người đốc thúc việc của hai hay nhiều nhân viên; có quyền thuê hoặc sa thải nhân viên khác, hoặc có đề xuất và kiến nghị những việc thuê và sa thải “An executive whose primary duty consists of the management of a customarily recognized department or subdivision; who customarily directs the work of two or more employees; who has the authority to hire or fire other employees, or whose suggestions and recommendations as to the hiring and firing, and as to the advancement and promotion or any other change of status, will be given particular weight; who customarily and regularly exercises discretionary powers; and who does not devote more than twenty percent of his work to activities which are not closely related to the work described above.” [10]

[Một giám sát viên là] bất kỳ cá nhân có thẩm quyền, vì lợi ích của nhà tuyển dụng, thuê, chuyển, đình chỉ, sa thải, thu hồi, thúc đẩy, chỉ định, khen thưởng, hay kỷ luật nhân viên khác, hoặc chịu trách nhiệm để trực tiếp cho họ, hoặc để điều chỉnh những than phiền của họ “[A supervisor is] any individual having authority, in the interest of the employer, to hire, transfer, suspend, lay off, recall, promote, discharge, assign, reward, or discipline other employees, or responsibility

to direct them, or to adjust their grievances, or to effectively recommend such action

if, in connection with the foregoing, the exercise of such authority is not merely of a routine or clerical nature, but requires the use of independent judgment.” [10]

2.1.7.1 Yêu cầu công việc của TVGS:

Nhà thầu giám sát thi công xây dựng công trình có các nghĩa vụ sau:

Trang 26

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 26

- Thực hiện giám sát theo đúng hợp đồng;

- Không nghiệm thu khối lượng không bảo đảm chất lượng; không phù hợp với tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật và theo yêu cầu của thiết kế công trình;

- Từ chối nghiệm thu khi công trình không đạt yêu cầu chất lượng;

- Đề xuất với chủ đầu tư những bất hợp lý về thiết kế xây dựng;

- Giám sát việc thực hiện các quy định về an toàn, bảo vệ môi trường;

- Bồi thường thiệt hại khi làm sai lệch kết quả giám sát đối với khối lượng thi công không đúng thiết kế, không tuân theo tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật, nhưng người giám sát không báo cáo với chủ đầu tư hoặc người có thẩm quyền xử

lý và hành vi vi phạm khác do mình gây ra;

- Các nghĩa vụ khác theo quy định của hợp đồng và quy định của pháp luật

có liên quan

2.1.7.2 Quyền của TVGS

Nhà thầu giám sát thi công xây dựng công trình có các quyền sau:

- Tham gia nghiệm thu, xác nhận công việc, công trình đã hoàn thành thi công xây dựng;

- Yêu cầu nhà thầu thi công xây dựng công trình thực hiện đúng thiết kế được phê duyệt và hợp đồng thi công xây dựng đã ký kết;

- Bảo lưu ý kiến đối với công việc giám sát do mình đảm nhận;

- Tạm dừng thi công trong trường hợp phát hiện công trình có nguy cơ xảy ra mất an toàn hoặc nhà thầu thi công sai thiết kế và thông báo kịp thời cho chủ đầu tư

để xử lý;

- Từ chối yêu cầu bất hợp lý của các bên có liên quan;

- Các quyền khác theo quy định của hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan

Trang 27

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 27

nhiên, trong đó các nút đại diện cho các biến, còn các cạnh đại diện cho các phụ thuộc có điều kiện Phân phối xác suất đồng thời (joint probability distribution) của các biến được xác định bởi cấu trúc đồ thị của mạng Mô tả đồ thị của mạng Bayes dẫn tới các mô hình dễ giải thích, và tới các thuật toán toán học và suy luận hiệu quả Trong trường hợp tổng quát hơn, các nút có thể đại diện cho các loại biến khác, một tham số đo được, một biến ẩn (latent variable) hay một giả thuyết, chứ không nhất thiết phải đại diện cho các biến ngẫu nhiên

Mạng Bayesian (BBNs) đã được đề xuất lần đầu tiên bởi Pearl (J Pearl

"Fusion,propagation and structuring in belief network,"Artificial Intelligence, vol

29, 1986, pp 228-241,) BBNs là các công cụ đồ họa được sử dụng để đại diện cho một không gian phân phối xác suất cao cấp Công cụ có những thuận lợi cho việc thực hiện các kết luận về trạng thái không chắc chắn khi thông tin hạn chế có sẵn Cho đến nay, BBN đã được sử dụng cho làm cho chẩn đoán trong dược và kỹ thuật ứng dụng, lỗi dự đoán, trí tuệ nhân tạo, và được phổ biến trong hệ thống đánh giá độ tin cậy Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cần phải được thực hiện trong lĩnh vực kỹ thuật dân sự, đặc biệt là trong quản lý rủi ro xây dựng (Bayesian Network Inference

on Risks of Construction Schedule-Cost).[12]

Trong một nghiên cứu của Murphy, K (2001), mô hình Bayesian Belief Networks (BBNs) còn gọi là Bayesian Networks (BNs) hay Belief Networks (BNs) được cho là được phát triển đầu tiên vào cuối những năm 1970s ở Đại học Stanford BBNs là mô hình đồ thị (graphical model) thể hiện mối quan hệ nhân – quả (cause – effect) giữa các biến BBNs chủ yếu dựa trên lý thuyết xác suất có điều kiện hay còn gọi là lý thuyết Bayes (Bayesian theory, hay Bayes’ theory) Chính vì thế, kỹ thuật này có tên gọi là Bayesian Belief Networks (BBNs) BBNs còn là một dạng của biểu đồ ảnh hưởng (influence diagram), kết hợp hài hòa giữa lý thuyết xác suất

và lý thuyết đồ thị để giải quyết hai vấn đề quan trọng: tính không chắc chắn và tính phức tạp, được ứng dụng rộng rãi trong toán học và kỹ thuật.[11]

Trang 28

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 28

BBNs dựa trên lý thuyết xác suất có điều kiện của Thomas Bayes, ông này

đã đưa ra qui luật cơ bản của xác suất, do đó gọi là công thức Bayes, công thức đơn giản nhất như sau:

Trong đó:

A và B là hai sự kiện có thể xảy ra và phụ thuộc với nhau

P(A) là xác suất của sự kiện A; P(B) là xác suất của sự kiện B;

P(B/A) là xác suất có điều kiện của B khi biết trước A đã xảy ra; và P(A/B)

là xác suất có điều kiện của A khi biết trước B đã xảy ra

- Dạng tổng quát của công thức Bayesian Belief Network:

- Công thức xác suất đầy đủ:

P(F) = P(A1)*P(F/A1) + P(A2)*P(F/A2)+….+P(An)*P(F/An)

Trong đó A1 -> An là nhóm đầy đủ các biến cố (các biến này đôi một xung khắc và ít nhất một biến trong chúng xảy ra); F là biến cố bất kỳ

BBNs là mô hình trực tiếp mà mỗi biến được đại diện bởi một nút, mối quan

hệ nhân quả giữa 2 biến đó với nhau được biểu thị bằng mũi tên, mũi tên hướng từ nút nguyên nhân đến nút kết quả Nút kết quả phụ thuộc có điều kiện vào nút nguyên nhân Mỗi nút có một trạng thái tùy thuộc đặc trưng của biến đó

Mỗi nút luôn được gắn với một bảng xác suất có điều kiện (conditional probability table: CPT) dựa vào những thông tin ban đầu hay dữ liệu, kinh nghiệm trong quá khứ

Trong nghiên cứu này, BBN’s được sử dụng như ví dụ ở sơ đồ dưới:

Trang 29

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 29

CÁC NÚT

NGUYÊN NHÂN

NÚT KẾT QUẢ

liên kết

Hình 2.2: Sơ đồ mối quan hệ “Nguyên nhân – hệ quả”

Trong nghiên cứu của Liu (2010) “Bayesian Network Inference on Risks of Construction” cấu trúc BBN của rủi ro chi phí theo tiến độ được xây dựng bằng

Hình 2.3 Sơ đồ BBN’s cho rủi ro Tiến độ - Chi phí

Tiến độ Đúng(OT) Trễ(D)

CÁC NGUYÊN NHÂN DO CHỦ ĐT

RỦI RO CHO HỢP ĐỒNG TVGS

CÁC NGUYÊN NHÂN DO NHÀ THẦU

Trang 30

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 30

cách sử dụng mối quan hệ nguyên nhân và kết quả giữa các xác suất về tình hình thời tiết, hiệu suất lao động, rủi ro theo tiến độ và rủi ro chi phí thu được từ các chuyên gia hội thảo [13]

Tiến độ

(S)

Bảng 2.1: Bảng xác suất của tiến độ

Các xác suất sau của rủi ro theo tiến độ và rủi ro chi phí sẽ thu được như sau: P(S=OT)= P(S=C| W = tốt, LE=H)P(W=tốt) P(LE=H) + P( S=OT| W=tốt,LE=L)P(W=tốt)P(LE=L) +P( S=OT|W = xấu, LE = H)P(W=xấu)P(LE=H) + P(S=OT| W=xấu, LE =L)P(W=xấu)P(LE=L) = 1×0.76×0.69 + 0.48×0.76×0.31 + 0.59×0.24×0.69 + 0 = 0.735

Vì vậy, P (S = D) = 0.265 và bằng cách tương tự ta được P (DC = bình thường) = 0.735, P (DC = gia tăng) = 0.265

Có rất nhiều phần mềm để hỗ trợ trong tính toán mạng BBNs, như là BNet.Builder, Hugin Explorer, MSBNx (của hãng Microsoft)… Có thể download tại các địa chỉ sau:

Trang 31

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 31

- Lê Quang Phúc (2009) trong đề tài luận văn Thạc sĩ “Nhận dạng các loại rủi

ro chính trong dự án xây dựng công trình giao thông - Các giải pháp nhằm kiểm soát và phòng ngừa”, các loại rủi ro được chia thành 4 nhóm:

 Các yếu tố rủi ro do yếu tố khách quan

- Trình độ đội ngũ kỹ sư và công nhân lao động còn yếu kém

- Trình độ tổ chức của cán bộ quản lý nói chung còn yếu

- Trình tự thủ tục đầu tư xây dựng quá rườm rà

- Địa hình, địa chất, thủy văn khu vực xây dựng phức tạp

- Quy hoạch xây dựng thiếu tầm nhìn xa, dự báo kém

- Các yếu tố rủi ro do chủ đầu tư gây ra

- Lập dự án đầu tư không đầy đủ, chi tiết còn mang tính hình thức

- Không tổ chức tốt khâu đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư

- Đánh giá sai tính khả thi của dự án

- Thay đổi chủ trương đầu tư do công tác dự báo kém

- Công tác thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán chưa tốt

- Ấp lực rút ngắn tiến độ

- Các yếu tố rủi ro do đơn vị tư vấn gây ra

- Thiết kế còn nhiều sai sót, phải thay đổi bổ sung thiết kế

- Công tác lập tổng mức đầu tư, dự toán còn sai sót

- Năng lực hoạt động xây dựng và hành nghề xây dựng không đảm bảo

- Khả năng chuyên môn của đội ngũ kỹ sư hành nghề tư vấn kém

- Khảo sát còn nhiều sai sót

- Các yếu tố rủi ro do nhà thầu xây lắp gây ra

- Năng lực quản lý nhà thầu yếu kém

- Hồ sơ dự thầu tính toán không hợp lý về biện pháp thi công và tiến độ thực hiện

- Trình độ đội ngũ kỹ sư và công nhân lao động của nhà thầu còn hạn chế

- Năng lực tài chính của nhà thầu không đảm bảo

Trang 32

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 32

Nghiên cứu tập trung vào các yếu tố rủi ro tác động đến 3 mục tiêu chính trong quản lý dự án đầu tư xây dựng là chất lượng, tiến độ và chi phí.Phương pháp nghiên cứu ở đây là Thống kê mô tả cùng với công cụ hỗ trợ là phần mềm SPSS.Các yếu tố rủi ro được xếp hạng dựa trên giá trị thống kê trung bình (mean) từ kết quả khảo sát.Cuối cùng là đề xuất các biện pháp giảm thiểu rủi ro đối với các yếu tố rủi ro được xếp hạng cao

- Nguyễn Văn Tuấn (2006) trong đề tài Thạc sỹ: “Nghiên cứu định lượng rủi

ro Tiến độ xây dựng bằng Mô hình Bayesian Belief Networks”:

Trong luận văn, tác giả Nguyễn Văn Tuấn đã thiết lập được mô hình xác định mức

độ rủi ro tiến độ của dự án ở khu vực Tp.Hồ Chí Minh, từ kết quả đó áp dụng cho

dự án trong cả nước Đề tài cũng xác định được 16 yếu tố chính ảnh hưởng đến chậm trể tiến độ của dự án, đó là:

- Khó khăn tài chính của Chủ đầu tư

- Nhà thầu thiếu năng lực và kinh nghiệm

- Cung ứng vật tư chậm, không kip thời

- Khó khăn tài chính của nhà thầu

- Bàn gia mặt bằng thi công chậm

- Chi trả tạm ứng, thanh toán chậm

- Giá trúng thầu thấp

- Biện pháp thi công không hợp lý

- Sai sót trong thi công và làm lại

- Giá cả thị trường nhiều biến động

- Tư vấn giám sát thiếu năng lực, trách nhiệm

- Thời tiết bất lợi

- Khó khăn trong đền bù, giải phóng mặt bằng

- Chủ đầu tư, BQLDA thiếu năng lực, kinh nghiệm

- Đội ngũ thiết kế thiếu năng lực, kinh nghiệm

- Thiếu máy móc, thiết bị thi công

Sau khi xác định được các yếu tố trên, tiến hành xác định mối quan hệ “nhân quả” giữa các yếu tố này Từ đó áp dụng vào mô hình BBN’s để xây dựng một mô hình

Trang 33

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 33

định lượng rủi ro chậm trể tiến độ cho dự án Tác giả cũng đã tiến hành kiểm nghiệm trên dự án cụ thể nhằm kiểm tra tính họp lý, chính xác của mô hình

Hạn chế của đề tài: Đề tài dựa trên ý kiến chuyên gia để xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến sự chậm trễ của dự án Do vậy, việc đánh giá các yếu tố thường mang yếu tố chủ quan, phụ thuộc nhiều vào các đặc điểm khác nhau về năm kinh nghiệm, đơn vị công tác, vị trí công tác…… của người được khảo sát, nên kết quả khảo sát cần phải được thực hiện các kiểm định sự thống nhất giữa các nhóm được khảo sát

Trần Việt Thành (2005) đề tài thạc sĩ:” Định lượng rủi ro chi phí của dự án bằng mô hình Bayes Belief Networks và hồi quy tuyến tính bội”: dựa vào dữ liệu của các dự án đã được thực hiện trong quá khứ (34 dự án) tác giả Trần Việt Thành

đã xây dựng được mô hình hồi quy tuyến tính y=0.012 +0.098x1 +0.961x2 +1.14x3 +0.067x4 để dự báo số % chi phí có thể bị vượt cho một dự án, với các biến ảnh hưởng tới khả năng vượt chi phí (y) là giá cả thị trường biến động (x1), sai sót trong thi công (x2) Giá dự thầu không chính xác (x3) và thời gian thực hiện dự án (x4) Tác giả cũng đã sử dụng mô hình Bayesian Belief Networks để xác định xác suất xảy ra vượt chi phí cho dự án Dựa vào mối quan hệ nhân quả của 12 yếu tố ảnh hưởng tới chi phí dự án, qua khảo sát ý kiến chuyên gia, tác giả xác định được 13 mối quan hệ nhân quả để xây dựng mô hình định lượng rủi ro vượt chi phí dự án Luận văn đã cung cấp một cách nhìn tổng quát về các nguyên nhân gây ra vượt chi phí của dự án xây dựng tại Việt Nam và công cụ hữu ích cho các nhà quản lý trong việc định lượng phần rủi ro chi phí đó

Hạn chế của luận văn: cả hai phương pháp Hồi quy tuyến tính bội và Bayesian belief Networks đều được tác giả xây dựng dựa trên việc thu thập ý kiến chuyên gia nên còn mang nhiều yếu tố chủ qua, phụ thuộc lớn vào đối tượng được khảo sát Ngoài ra, việc thu thập dữ liệu cho mô hình Hồi quy tuyến tính dựa vào thông tin của 34 dự án (mẫu) cũng chưa đảm bảo tính đại diện cho tính chất đặc trưng, phức tạp của dự án xây dựng

- Trần Khoa (2009) đề tài Thạc sỹ: “Mô hình phân tích biến động thời gian và chi phí dự án xây dựng dân dụng & công nghiệp bằng phương pháp BBN’s”: với

Trang 34

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 34

mục tiêu xây dưng được một mô hình định lượng sự biến động thời gian và chi phí của dự án xây dựng, tác giả từng bước xác định được các các yếu tố rủi ro tác động tới chi phí và thời gian của dự án dân dụng và công nghiệp: xác định 38 yếu tố rủi

ro ảnh hưởng tới chi phí và thời gian của dự án, sau đó thực hiện khảo ý kiến chuyên gia còn lại 17 yếu tố chính gây rủi ro đến chi phí và thời gian của dự án là:1.Nhà thầu thiếu năng lực và kinh nghiệm; 2.Khó khăn tài chính của CĐT; 3 Khó khăn trong đền bù GPMB; 4.Sai sót trong khảo sát; 5 Sai sót trong thi công và làm lại; 6.Khó khăn tài chính của nhà thầu; 7 Giá cả thị trường nhiều biến động; 8.CĐT, BQLDA thiếu kinh nghiệm; 9 Đội ngũ thiết kế thiếu năng lực; 10 Chi trả tạm ứng, thanh toán chậm; 11.Bàn giao mặt bằng thi công chậm; 12 Thiếu máy móc, thiết bị; 13 Biện phán thi công không hợp lý; 14.Tiến độ không hợp lý; 15 Cung ứng vật tư chậm; 16.TVGS thiếu năng lực, kinh nghiệm; 17 Thay đổi thiết

kế, công năng sửa dụng trong quá trình thi công Để thiết lập được mô hình định lượng rủi ro thời gian và chi phí bằng công cụ Bayesian Belief Networks tác giả cũng đã xác định các mối quan hệ nhân quả giữa 17 yếu tố, kết quả xác định được

29 mối quan hệ giữa các yếu tố trên

- Nghiên cứu của Trần Ngọc Thắng ( 2010) về “Quản lý hợp đồng thi công xây dựng tại khu vực Tp.Hồ Chí Minh”: luận văn nghiên cứu về sự hiểu biết của người soạn thảo hợp đồng thi công Được thực hiện dựa trên phân tích, so sánh giữa hợp đồng FIDIC và mẫu hợp đồng do Bộ Xây Dựng ban hành cùng với một số mẫu hợp đồng thực tế Luận văn cung cấp cho nhà quản lý những kiến thức chi tiết về các nội dung trong hợp đồng xây dựng và những hiểu biết trong công tác quản lý hợp đồng ở khu vực Tp.Hồ Chí Minh, như: hiểu biết về thứ tự ưu tiên trong hợp đồng chưa được hiểu sâu; Các vấn đề chuyển nhượng cho bên thứ 3 và yếu tố thời tiết xấu bất thường chưa được quan tâm; Yếu tố bảo lãnh hợp đồng, điều kiện được thanh toán bảo hiểm hợp đồn chưa được người soạn thảo hợp đồng hiểu rõ ý nghĩa; điều kiện được quan tâm nhất trong hợp đồng là Điều kiện thanh toán,……Qua đó, luận văn cũng chỉ ra rằng những hiểu biết về quản lý hợp đồng không phụ thuộc vào yếu tố số năm kinh nghiệm của người thực hiện hợp đồng[14] Tuy nhiên, do việc

Trang 35

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 35

nghiên cứu khảo sát chỉ thực hiện lấy mẫu ở một công ty trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh nên chưa đảm bảo tính khách quan đại diện cho tổng thể các đơn vị thi công trên địa bàn

- Nghiên cứu của Trần Lê Nguyên Khánh (2012) về “Quản lý rủi ro trong hợp đồng tư vấn quản lý dự án trong điều kiện Việt Nam”: luận văn nghiên cứu tìm ra các yếu tố ảnh hưởng tới thành công của đơn vị tư vấn quản lý dự án, phân tích các rủi ro cũng như tìm hiểu quy trình quản lý rủi ro có liên quan đến hợp đồng của Tư Vấn Quản lý dự án Qua việc nghiên cứu các luận văn trước, các bài báo, tài liệu khoa học, tác giả đã xác định được 48 yếu tố rủi ro ban đầu đối với hợp đồng Tư vấn QLDA Bằng phương pháp phỏng vấn, tham khảo ý kiến chuyên gia, sau khi thực hiện phương pháp phân tích nhân tố để sử lý dữ liệu thu thập được, tác giả đã xác định được 5 nhân tố rủi ro như sau:

1 Quy định về phạm vi công việc, quyền và nghĩa vụ của tư vấn QLDA

2 Quy định về nhân lực của tư vấn QLDA và các vấn đề liên quan đến tạm dừng và chấm dứt hợp đồng với CĐT

3 Quy định về quyền và nghĩa vụ với CĐT

4 Quy định về điều chỉnh tiến độ hợp đồng

5 Quy định về điều chỉnh giá hợp đồng

giải quyết các tranh chấp trong hợp đồng xây dựng”: Tác giả nhận định vấn đề tranh chấp trong hợp đồng xây dựng gây ra nhiều thiệt hại cho các bên tham gia dự án, từ Chủ đầu tư, nhà thầu, nhà tư vấn và bản thân dự án Để giải quyết vấn đề, tác giả Ngọc đã xây dựng đề tài, tìm hiểu các chiến lược để giải quyết vấn đề tranh chấp trên cơ sở giảm thiệt hại tối đa cho các bên Thông qua các bước thực hiện, tác giả Ngọc đã đã lần lượt giải quyết các vấn đề như: xác định nguyên nhân dẫn tới tranh chấp hợp đồng, các chiến thuật giải quyết tranh chấp, kết quả thu được sau tranh chấp Đề tài đã xác định 23 nguyên nhân dẫn tới tranh chấp trong hợp đồng xây dựng tại Việt Nam và 19 chiến thuật được sử dụng trong đàm phán tranh chấp và 11 kết quả nhận được sau tranh chấp[15] Với kết quả nhận được, tác giả Ngọc thực hiện các phân tích nhân tố khám phá và phân tích nhân tố khẳng định để rút gọn lại còn:

Trang 36

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 36

8 nhân tố chính dẫn tới tranh chấp (trong đó: hợp đồng không quy định rõ chi phí và giá chiếm 31%, Năng lực thầu phụ chiếm 27% các nguyên nhân dẫn tới tranh chấp);

4 nhân tố chiến thuật đàm phán (Hai chiến thuật thường được sử dụng là Tập trung giải quyết vấn đề (57%) và Lấn át (20%)) và 3 nhân tố kết quả sau tranh chấp: win-win, win-lose, lose-lose Từ việc xác định được các nguyên nhân, chiến thuật, và kết quả, tác giả tiếp tục xây dựng được 96 mô hình hồi quy để dự đoán kết quả tranh chấp Với các mô hình dự đoán kết quả thu được, tác giả cũng đã đưa ra một quy trình giúp chủ đầu tư và nhà thầu xác định chiến thuật trước khi đàm phán để đạt kết

quả mong muốn

- Nghiên cứu của Trần Anh Tuấn (2013) về “Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác tư vấn giám sát và đề xuất hệ thống quản lý toàn diện cho tổ TVGS”: theo tác giả Tuấn, chất luộng công tác tư vấn giám sát được đánh giá bằng chất lượng công trình, chất lượng thi công xây dựng[16] Kết quả đề tài xác định 10 yếu tố được xếp hạng cao nhất trong việc ảnh hưởng tới chất lượng công tác TVGS là:

1 Năng lực chuyên môn của GS

2 Năng lực tổ chức của TVGS

3 Đạo đức nghề nghiệp của TVGS

4 Năng lực nhà thầu

5 Nhà thầu không tuân thủ quy trình, biện pháp thi công

6 Đơn vị TVGS không kiểm tra bản vẽ thiết kế thi công trước khi thi công –

7 Giải pháp thiết kế không hợp lý do khảo sát không kỹ dẫn đến khó khăn trong quá trình thi công

8 Giám sát viên không bám sát quá trình thi công

10 Mối quan hệ của TVGS với CĐT, nhà thầu

Ngoài ra tác giả còn đề xuất các mô hình quản lý chất lượng toàn diện cho tổ chức TVGS

- Nghiên cứu của Huỳnh Công Ngọc (2012) về “Đánh giá mức độ hài lòng của Chủ Đầu Tư đối với dịch vụ Tư Vấn Giám Sát – Trường hợp áp dụng công ty

Trang 37

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 37

SCQC”: từ việc xác định những mục tiêu trong quá trình nghiên cứu của đề tài như: xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của CĐT đối với dịch vụ Giám sát thi công xây dựng, khảo sát mức độ hài lòng của CĐT đối với dịch vụ TVGS do công ty SCQC cung cấp, đề xuất mô hình cải thiện mức độ hài lòng của CĐT đối với dịch vụ của TVGS Đề tài thực hiện khảo sát 32 yếu tố về mức độ hài lòng của CĐT về dịch vụ TVGS, kết quả thu được sau khảo sát được qua các tính toán, kiểm định tác giả Ngọc đã chỉ ra được có 8 thành phần chính là:

1 Khả năng hiểu biết của TVGS về văn bản pháp quy trong quản lý chất lượng và kiểm tra năng lực nhà thầu;

2 Kinh nghiệm TVGS về giám sát chất lượng và khối lượng;

3 Khả năng giám sát tiến độ, an toàn lao động và Vệ sinh môi trường;

4 Sự đáp ứng về thời gian làm việc và phát hiện sai sót của thiết kế;

5.Giám sát việc phối hợp và thay đổi thiết kế;

6 Kỹ năng giao tiếp và kiểm tra khối lượng của tư vấn giám sát;

7 Khả năng quản lý thông tin trong công trình;

1 Vì nhà thầu cũng có hệ thống quản lý chất lượng riêng, do vậy Đơn vị tư vấn giám sát nên cung cấp cho nhà thầu biết về hệ thống quản lý chất lượng của mình trước khi thực hiện dự án để hai bên có thể phối hợp tốt hơn

Trang 38

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 38

2 Đơn vị tư vấn giám sát cần phải thường xuyên cập nhật các tiêu chuẩn mới vào hệ thống quản lý chất lượng

3 Nhà thầu đóng vai trò quan trọng trong chất lượng của công trình nên cần

có một chính sách chất lượng cho riêng mình, xem chất lượng là một tiêu chuẩn trong công việc

4 Tài chính của Chủ đầu tư đóng vai trò quan trọng để nhà thầu có thể hoàn thành công trình đúng với tiến độ trong hợp đồng[18]

- Nghiên cứu của Krima, Najat Abdallah, Wood, Ghassan F (2007)

“Assessing the performance of Libyan supervising engineers“ – Đánh giá hiệu suất của kỹ sư giám sát Libyan: Trong ngành công nghiệp xây dựng Libya, kỹ sư giám sát đóng một vai trò quan trọng trong việc kiểm tra tiến độ và bảo vệ khách hàng của mình khỏi sự chậm trễ tiến độ và các khiếu nại liên quan Nhưng lại không

có cách thức nào để xác định trình độ của các Tư Vấn Giám Sát để thực hiện nhiệm

Kết quả chỉ ra rằng các kỹ sư giám sát Libya hiện đang thiếu một số lĩnh vực: đặc biệt là kỹ năng giao tiếp ( chỉ đạt hiệu quả 33%); kiến thức khoa học, kỹ thuật và pháp lý (34%); kiến thức trong việc đối phó với những yêu sách (36%); Kinh nghiệm trước đây (37%); kiến thức và sử dụng các kỹ thuật hiện đại (37%);…

Trang 39

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 39

CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 40

HVTH: PHAN LÊ ANH Trang 40

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

Định lượng rủi ro hợp đồng TVGS ở giai đoạn chuẩn bị thương thảo hợp đồng

Lập bảng ma trận tác động (nxn) các yếu tố rủi ro cho Hợp đồng TVGS

Xây dựng mô hình tổng quát mối quan hệ các yếu tố rủi ro hợp đồng TVGS đưa vào công cụ BBN’s

Kiểm tra kết quả khảo sát

Ý kiến chuyên gia

Phỏng vấn chuyên gia về việc có hay không các liên hệ giữa các yếu tố

Xây dựng mô hình sơ bộ thể hiện mối

liên hệ của các yếu tố

Lập bảng câu hỏi khảo sát, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố

Ngày đăng: 26/01/2021, 21:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w