1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên công nghệ thông tin

131 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu xem xét tác động của các yếu tố đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên CNTT, bao gồm: Động cơ tự làm chủ, Sự đảm bảo và Gánh nặng công việc, Lẩn tránh trách nhiệm, Kiểm soát hàn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐHQG -HCM

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thu Hiền

Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ)

1 Chủ tịch: TS Nguyễn Mạnh Tuân

2 Thư ký: TS Trương Minh Chương

3 Phản biện 1: TS Phạm Xuân Kiên

4 Phản biện 2: TS Nguyễn Thị Đức Nguyên

5 Ủy viên: TS Dương Quỳnh Nga

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Trưởng Khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: Võ Ngọc Quỳnh Trân MSHV: 12170977 Ngày, tháng, năm sinh: 20/09/1984 Nơi sinh: Đồng Nai Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số : 60 34 01 02

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên công nghệ thông tin

II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

 Xác định các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên CNTT

 Xác định mức độ tác động của các yếu tố này đến ý định khởi nghiệp của sinh viên CNTT

 Phân tích và đánh giá sự khác biệt giữa sinh viên các trường đại học trong và ngoài ĐHQG TP.HCM đối với vấn đề nghiên cứu

III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 19/01/2015

IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 16/5/2015

V CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS Nguyễn Thu Hiền

Tp HCM, ngày 16 tháng 5 năm 2015

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

(Họ tên và chữ ký)

TS Nguyễn Thu Hiền

CHỦ NHIỆM BỘ MÔN ĐÀO TẠO

(Họ tên và chữ ký)

TRƯỞNG KHOA

(Họ tên và chữ ký)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn cô TS Nguyễn Thu Hiền đã dành thời gian quý báu để tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm cho tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô Khoa Quản lý Công nghiệp, Khoa Khoa học

và Kỹ thuật máy tính, Phòng Công tác – Chính trị sinh viên Đại học Bách Khoa TP.HCM đã hỗ trợ tôi trong việc tiến hành khảo sát các bạn sinh viên CNTT

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến anh Lê Nhật Quang, anh Trần Nam Quốc, bạn Bùi Văn Thế Vinh, bạn Nguyễn Quốc Phong đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập dữ liệu

Và cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình tôi, những người đã thương yêu, thông cảm và ủng hộ tôi trong suốt quá trình tôi theo học MBA và hoàn thành luận văn này

TP.HCM, ngày 16 tháng 5 năm 2015

Võ Ngọc Quỳnh Trân

Trang 5

TÓM TẮT

Mục đích chính của nghiên cứu này nhằm: (1) Xác định các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên CNTT, (2) Xác định mức độ tác động của các yếu tố này đến ý định khởi nghiệp của sinh viên CNTT (3) Phân tích và đánh giá sự khác biệt giữa sinh viên các trường đại học trong và ngoài ĐHQG TP.HCM đối với vấn

đề nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 430 sinh viên CNTT năm 3, năm 4 được chia làm 3 nhóm : (1) Đại học Bách Khoa TP.HCM, (2) Đại học CNTT, Đại học Quốc tế

và Đại học Khoa học tự nhiên, (3) Đại học Sài Gòn và Đại học Công nghệ TP.HCM

Mô hình và giả thuyết của nghiên cứu sau khi phân tích nhân tố EFA đã được điều chỉnh lại Nghiên cứu xem xét tác động của các yếu tố đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên CNTT, bao gồm: Động cơ tự làm chủ, Sự đảm bảo và Gánh nặng công việc, Lẩn tránh trách nhiệm, Kiểm soát hành vi, Sự hỗ trợ của môi trường học thuật, Môi trường cho khởi nghiệp, Hoàn cảnh kinh tế

Kết quả phân tích ANOVA cho thấy có sự khác biệt về Động cơ tự làm chủ, Sự đảm bảo và Gánh nặng công việc, Môi trường cho khởi nghiệp giữa 3 nhóm sinh viên

Phân tích hồi quy xác định các yếu tố có tác động đến Ý định khởi nghiệp là: Động

cơ tự làm chủ (β = 0.118, sig = 0.008), Sự đảm bảo và Gánh nặng công việc (với β

= -0.126, sig = 0.004), Kiểm soát hành vi (β = 0.504, sig = 0.000), Sự hỗ trợ của môi trường học thuật (β = 0.087, sig = 0.036) Các yếu tố còn lại không tác động đến Ý định khởi nghiệp

Tuy còn một số hạn chế nhưng nghiên cứu đã cung cấp một tài liệu tham khảo quan trọng cho ban lãnh đạo các trường, ban quản lý các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và những người làm chính sách trong việc thiết kế những chương trình hành động nhằm thúc đẩy ý định khởi nghiệp của sinh viên

Trang 6

ABSTRACT

The main objectives of this study are: (1) Identifying the factors affecting to the entrepreneurial intention of IT students, (2) Identifying how these factors affect to the entrepreneurial intention of IT students, (3) Analysizing and estimating differences among the universities of VNU-HCM and the others

The data was collected from 430 3rd and 4th year IT students from 3 groups: (1) HCMC University of Technology, (2) HCMC University of Information Technology, International University and University of Science, (3) Saigon University and Hutech University

After factor analyses, model and hypotheses have been adjusted This study assessed the effects of motives for becoming self-employment, security and work load, avoid responsibility, perceived behavioral control, academic support, environment for entrepreneurship, economic climate to entrepreneurial intention One way ANOVA analyses results showed that there are differences in motives for becoming entrepreneur, security and work loads, environment for entrepreneurship factors among 3 student groups

Multiple regression analyses results showed that motives for becoming entrepreneur (β = 0.118, sig = 0.008), security and work loads (β = -0.126, sig = 0.004), perceived behavioral control (β = 0.504, sig = 0.000), academic support (β = 0.087, sig = 0.036) were the determinants of entrepreneurial intention The others had not affected to entrepreneurial intention

Although having some limitations, this study provides an important reference document for board committee of universities, manager board of entrepreneurial support organizations and policy makers for creating acting programs to promote entrepreneurial intention of students

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên công nghệ thông tin” là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi

Ngoài những thông tin tham khảo thứ cấp có liên quan đến nghiên cứu đã được trích nguồn, toàn bộ kết quả được trình bày trong luận văn được phân tích từ nguồn

dữ liệu điều tra do cá nhân tôi thực hiện Tất cả dữ liệu đều trung thực và nội dung luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Tác giả

Võ Ngọc Quỳnh Trân

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

TÓM TẮT ii

ABSTRACT iii

LỜI CAM ĐOAN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC HÌNH x

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xi

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Lý do hình thành đề tài 1

1.2 Mục tiêu đề tài 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa của đề tài 2

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 4

2.1 Các khái niệm liên quan 4

2.1.1 Khởi nghiệp 4

2.1.2 Các giai đoạn của khởi nghiệp 4

2.1.3 Ý định khởi nghiệp 5

2.1.4 Vườn ươm doanh nghiệp (Business Incubator) 5

2.2 Lý thuyết nền tảng của các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp 7

2.2.1 Thuyết hành vi hoạch định TPB của Ajzen (1991) 7

2.2.2 SEE (Shapero’s Entrepreneurial Event) của Shapero và Sokol năm 1982 8

2.2.3 Thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory) của Bandura năm 1986 9 2.3 Tình hình nghiên cứu về ý định khởi nghiệp 10

2.3.1 Tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới 10

2.3.2 Các nghiên cứu liên quan trong nước 13

2.3.3 Mô hình tham khảo chính – mô hình của Gurbuz và Aykol (2008) 19

Trang 9

2.4 Xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 21

2.4.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 21

2.4.2 Các giả thuyết nghiên cứu 23

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 24

3.1 Đối tượng nghiên cứu 24

3.2 Quy trình nghiên cứu 24

3.3 Xây dựng thang đo 25

3.4 Nghiên cứu sơ bộ 28

3.4.1 Nghiên cứu sơ bộ định tính 29

3.4.2 Nghiên cứu sơ bộ định lượng 35

3.5 Nghiên cứu chính thức 35

3.5.1 Thiết kế mẫu 35

3.5.2 Quy trình phân tích dữ liệu 36

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

4.1 Đặc điểm mẫu khảo sát 39

4.2 Mã hóa dữ liệu 39

4.3 Mô tả thống kê 3 nhóm sinh viên CNTT 40

4.3.1 Thống kê số lượng sinh viên có ý định khởi nghiệp cùng đặc điểm giới tính, bối cảnh gia đình của 3 nhóm đối tượng 40

4.3.2 Thống kê các loại hình có hiệu quả thúc đẩy sinh viên gia tăng ý định khởi nghiệp 42

4.3.3 Thống kê các loại hình thúc đẩy sinh viên khởi nghiệp hiệu quả 43

4.4 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 45

4.4.1 Thang đo về Sự tự chủ 45

4.4.2 Thang đo về Cơ hội kinh tế và Thử thách 46

4.4.3 Thang đo về Sự ghi nhận bản thân và Sự tham gia 46

4.4.4 Thang đo về Sự đảm bảo và Gánh nặng công việc 47

4.4.5 Thang đo về Lẩn tránh trách nhiệm 47

4.4.6 Thang đo về Nghề nghiệp 47

4.4.7 Thang đo về Chuẩn mực xã hội 48

Trang 10

4.4.8 Thang đo về Sự tin tưởng nhận thức 48

4.4.9 Thang đo về Kiểm soát hành vi 49

4.4.10 Thang đo về Sự hỗ trợ của môi trường học thuật 49

4.4.11 Thang đo về Môi trường cho khởi nghiệp 49

4.4.12 Thang đo về Ý định khởi nghiệp 50

4.5 Phân tích nhân tố EFA 50

4.6 Phân tích ANOVA cho 3 nhóm sinh viên 56

4.6.1 Yếu tố Động cơ tự làm chủ 56

4.6.2 Yếu tố Sự đảm bảo và Gánh nặng công việc 57

4.6.3 Yếu tố Lẩn tránh trách nhiệm 59

4.6.4 Yếu tố Kiểm soát hành vi 59

4.6.5 Yếu tố Sự hỗ trợ của môi trường học thuật 59

4.6.6 Yếu tố Môi trường cho khởi nghiệp 59

4.6.7 Yếu tố Hoàn cảnh kinh tế 60

4.6.8 Biến phụ thuộc Ý định khởi nghiệp 61

4.7 Phân tích tương quan 61

4.8 Phân tích hồi quy tuyến tính 62

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

5.1 Tóm tắt kết quả 66

5.2 Đóng góp của đề tài 67

5.3 Kiến nghị 67

5.4 Hạn chế và các hướng nghiên cứu tiếp theo 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 1: CÁC THANG ĐO GỐC 73

PHỤ LỤC 2: NỘI DUNG THẢO LUẬN CHO NCĐT 77

PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN TAY ĐÔI 83

PHỤ LỤC 4: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT 87

PHỤ LỤC 5: BẢNG MÃ HÓA DỮ LIỆU 91

PHỤ LỤC 6: PHÂN TÍCH NHÂN TỐ 93

PHỤ LỤC 7: PHÂN TÍCH ĐỘ TIN CẬY CÁC YẾU TỐ MỚI 108

Trang 11

PHỤ LỤC 8: PHÂN TÍCH ANOVA 111 PHỤ LỤC 9: PHÂN TÍCH HỒI QUY 116

Trang 12

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp 11

Bảng 3 1: Danh sách chuyên gia tham gia thảo luận tay đôi 29

Bảng 4 1: Kết quả thu thập dữ liệu 39

Bảng 4 2: Thống kê số lượng sinh viên có ý định khởi nghiệp kinh doanh 40

Bảng 4 3: Cronbach's Alpha của các biến Sự tự chủ 45

Bảng 4 4: Cronbach's Alpha của các biến Cơ hội kinh tế và Thử thách 46

Bảng 4 5: Cronbach's Alpha của các biến Sự ghi nhận bản thân và Sự tham gia 46

Bảng 4 6: Cronbach's Alpha của các biến Sự đảm bảo và Gánh nặng công việc 47

Bảng 4 7: Cronbach's Alpha của các biến Lẩn tránh trách nhiệm 47

Bảng 4 8: Cronbach's Alpha của các biến Nghề nghiệp 47

Bảng 4 9: Cronbach's Alpha của các biến Chuẩn mực xã hội 48

Bảng 4 10: Cronbach's Alpha của các biến Sự tin tưởng nhận thức 48

Bảng 4 11: Cronbach's Alpha của các biến Kiểm soát hành vi 49

Bảng 4 12: Cronbach's Alpha của các biến Sự hỗ trợ của môi trường học thuật 49

Bảng 4 13: Cronbach's Alpha của các biến Môi trường cho khởi nghiệp 49

Bảng 4 14: Cronbach's Alpha của các biến Ý định khởi nghiệp 50

Bảng 4 15: Phân tích nhân tố EFA lần 1 51

Bảng 4 16: Phân tích nhân tố EFA lần 6 52

Bảng 4 17: Cronbach's Alpha của các yếu tố mới được tổng hợp 54

Bảng 4 18: Kết quả phân tích tương quan 61

Bảng 4 19: Tóm tắt kết quả hồi quy tuyến tính 64

Trang 13

DANH MỤC HÌNH

Hình 2 1: Thuyết hành vi hoạch định TPB (Nguồn Ajzen, 1991) 7

Hình 2 2: Mô hình SEE (Nguồn Ngugi và ctg, 2012) 8

Hình 2 3: Thuyết nhận thức xã hội của Bandura (Nguồn McStay, 2008) 9

Hình 2 4: Mô hình của Gurbuz và Aykol (2008) 19

Hình 2 5: Mô hình nghiên cứu đề xuất 23

Hình 3 1: Quy trình nghiên cứu của đề tài 24

Hình 4 1: Biểu đồ thống kê các loại hình có hiệu quả thúc đẩy sinh viên gia tăng ý định khởi nghiệp 42

Hình 4 2: Biểu đồ thống kê các loại hình thúc đẩy sinh viên khởi nghiệp hiệu quả44 Hình 4 3: Mô hình nghiên cứu điều chỉnh 55

Trang 14

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

IT : Information Technology

ITP : Information Technology Park

: (Khu Công nghệ Phần mềm ĐHQG TP.HCM)

: (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế)

VNU-HCM : Vietnam National University - Ho Chi Minh City

: (Đại học quốc gia TP.HCM)

Trang 15

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

Khởi nghiệp từ lâu đã luôn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, khi có sự xuất hiện của một doanh nghiệp mới đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều việc làm được tạo

ra, dẫn tới tỷ lệ thất nghiệp giảm, điều này góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế

Ở Việt Nam ngày càng có nhiều người quan tâm đến khởi nghiệp, đặc biệt là giới trẻ và sinh viên Khởi nghiệp là một quá trình lâu dài và đầy thử thách, không phải

ai khởi nghiệp cũng sẽ thành công và đem lại nhiều đóng góp cho xã hội Sự thành công của doanh nhân chịu tác động của nhiều yếu tố như: kiến thức, khả năng, tính cách, thái độ, kinh nghiệm, môi trường kinh doanh… Đối với sinh viên, sự thử thách này còn khó khăn hơn bởi kiến thức và kinh nghiệm của phần lớn các bạn là chưa nhiều Nhưng vì lực lượng sinh viên là nguồn lực quan trọng cho khởi nghiệp (Wang và Wong, 2004), nên xã hội cần phải quan tâm và tận dụng hiệu quả nguồn lực phong phú này

Vì vậy, nhiều tổ chức và doanh nghiệp Việt Nam đang cố gắng tạo mọi điều kiện để

hỗ trợ cho sinh viên từ khâu ý tưởng đến khâu thực hiện khởi nghiệp, trong đó có thể kể đến ITP (Khu công nghệ Phần mềm ĐHQG TP.HCM) Hiện nay, ITP đang triển khai dự án hỗ trợ khởi nghiệp cho cộng đồng nói chung và sinh viên nói riêng với nhiều tiện ích, tư vấn và huấn luyện khởi nghiệp, nhằm tạo ra một hệ sinh thái khởi nghiệp khép kín cùng với mong muốn phát triển mạnh cộng đồng khởi nghiệp

và sáng tạo trong sinh viên ngành công nghệ, đặc biệt là sinh viên CNTT và truyền thông tại Việt Nam

Tuy nhiên, do các nghiên cứu về khởi nghiệp trong nước không nhiều, đặc biệt là rất ít nghiên cứu về khởi nghiệp của sinh viên (chỉ có “Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tính cách cá nhân đến tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên” của Bùi và ctg, 2011); nên việc thu thập thông tin và đưa ra các giải pháp hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp hiệu quả còn nhiều hạn chế Vì vậy, để ITP và các tổ chức liên quan có thể

hỗ trợ và xây dựng các dịch vụ nền tảng cần thiết trong việc tạo ra môi trường khởi nghiệp công nghệ, ĐHQG có thể thiết kế chương trình đào tạo, quản trị cho sinh

Trang 16

viên, theo định hướng thúc đẩy ý định khởi nghiệp cho sinh viên ngành CNTT nói riêng, sinh viên ĐHQG TP.HCM nói chung thì cần có những nghiên cứu cụ thể về ý định khởi nghiệp của sinh viên và các yếu tố tác động lên ý định khởi nghiệp đó Chính vì vậy, đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên công nghệ thông tin” được xây dựng nhằm cung cấp phần nào thông tin cho những mục đích nói trên

 Xác định các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên CNTT

 Xác định mức độ tác động của các yếu tố này đến ý định khởi nghiệp của sinh viên CNTT

 Phân tích và đánh giá sự khác biệt giữa sinh viên các trường đại học trong và ngoài ĐHQG TP.HCM đối với vấn đề nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên CNTT trong và ngoài ĐHQG TP.HCM

 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2014 đến tháng 5/2015

 Đối với ITP và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp: Nghiên cứu giúp nhận diện được thực trạng về nhu cầu khởi nghiệp của các bạn sinh viên CNTT, nhận biết được các nhân tố nào cần được tác động để nâng cao ý định khởi nghiệp,

từ đó ITP và các tổ chức liên quan có thể hỗ trợ và xây dựng các dịch vụ nền tảng cần thiết để tạo ra môi trường khởi nghiệp phù hợp nhất cho các bạn sinh viên

 Đối với ĐHQG TP.HCM: Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các nhà quản trị của các trường Đại học thành viên của ĐHQG TP.HCM thiết kế chương trình đào tạo, quản trị cho sinh viên, theo định hướng thúc đẩy ý định khởi nghiệp cho sinh viên ngành CNTT nói riêng, sinh viên ĐHQG TP.HCM nói chung

Trang 17

 Đối với sinh viên: Nghiên cứu chỉ ra những nhân tố có tác động đến ý định khởi nghiệp của bản thân sinh viên, từ đó có thể giúp sinh viên chủ động hơn trong việc thu thập thông tin, tích lũy kiến thức và tìm kiếm những nguồn hỗ trợ

1.5.1 Lựa chọn phương pháp nghiên cứu

 Kết hợp nghiên cứu tại bàn và nghiên cứu khảo sát

 Nghiên cứu tại bàn: Thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp phục vụ cho mục tiêu đề tài

 Nghiên cứu khảo sát: Sử dụng phương pháp định tính và định lượng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên CNTT trong

và ngoài ĐHQG TPHCM

1.5.2 Nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập

 Dữ liệu thứ cấp: Đề tài sử dụng các nguồn tài liệu chính sau:

 “The Theory of Planned Behaviour” của Icek Ajzen đăng trên

Organizational Behavior and Human Decision Processes năm 1991

 “Entrepreneurial Intentions of Young Educated Public in Turkey” của

Gulruh Gurbuz và Sinem Aykol đăng trên Journal of Global Strategic

 Khảo sát định lượng: thu thập ý kiến cá nhân thông qua các bảng khảo sát

về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên CNTT trong và ngoài ĐHQG TP.HCM

1.5.3 Công cụ phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 21 để phân tích dữ liệu

Trang 18

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH

Theo sự tổng hợp của Bùi và ctg (2011), quá trình khởi nghiệp là tạo dựng một tổ chức kinh doanh và người khởi nghiệp là người sáng lập nên doanh nghiệp đó

2.1.2 Các giai đoạn của khởi nghiệp

Global Entrepreneurship Monitor (GEM) là một chương trình phi chính phủ do Babson College liên kết với ĐH London Business thành lập vào năm 1997 GEM thực hiện các nghiên cứu và cung cấp những thông tin sơ cấp chính xác về tinh thần doanh nhân, những đo lường về thái độ, hoạt động và những đặc điểm của các cá nhân tham gia vào các giai đoạn khác nhau của sự khởi nghiệp trên khắp thế giới Báo cáo đầu tiên của GEM vào năm 1999, được tiến hành khảo sát từ 10 nước thành viên của OECD, báo cáo lần thứ 15 vào năm 2013 số lượng nước được khảo sát và thống kê đã lên đến 100 nước

Theo GEM, quá trình khởi nghiệp được chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn hình thành

ý tưởng khởi nghiệp; giai đoạn doanh nghiệp lúc khởi đầu gồm xây dựng thiết lập

Trang 19

hoạt động kinh doanh và thử thách kinh doanh trong khoảng thời gian khoảng 3.5 năm; giai đoạn doanh nghiệp hoạt động ổn định từ khoảng 3.5 năm trở đi

2.1.3 Ý định khởi nghiệp

Các nhà tâm lý học xác nhận rằng sự đánh giá ý định là cách rõ ràng nhất để dự đoán hành vi (ví dụ như Ajzen, 1991) Trong những tình huống khác nhau, ý định được xem là thiết bị dự báo hành vi hiệu quả nhất, ví dụ như những hoạt động tìm kiếm công việc và lựa chọn nghề nghiệp

Trong ngữ cảnh của khởi nghiệp, hành vi những nhà mạo hiểm mới tạo ra những giá trị mới chính là đầu ra của ý định khởi nghiệp (Bird, 1988)

Vậy có thể nói: ý định khởi nghiệp (entrepreneurial intention) là sự sẵn sàng thực hiện những hoạt động kinh doanh hoặc nói cách khác là tự làm chủ (self employed) Ngược lại với tự làm chủ là trở thành một cá nhân được trả lương (theo Tkachev và Kolvereid (1999), được dẫn lại trong nghiên cứu của Gurbuz và Aykol (2008))

2.1.4 Vườn ươm doanh nghiệp (Business Incubator)

Theo tổng hợp của Raheem và Akhuemonkhan (2014), khái niệm “vườn ươm” bắt đầu xuất hiện từ năm 1959 tại Hoa Kỳ, gắn với sự kiện khai trương Trung tâm công nghiệp Batavia (Batavia Industrial Centre), New York Sự ươm mầm doanh nghiệp bắt đầu hình thành ở Mỹ những năm 1960, sau đó phát triển ở Anh và Châu Âu với nhiều hình thức liên quan như: trung tâm sáng tạo, công viên khoa học…

Vườn ươm cung cấp cho các doanh nghiệp mới bắt đầu một hệ thống các phương tiện: không gian, các dịch vụ chia sẻ, tư vấn kinh doanh và pháp lý, và đầu vào tài chính… để tạo điều kiện cho họ sáng tạo và hỗ trợ họ cho đến khi họ “tốt nghiệp”,

có năng lực để “sống sót” trong môi trường cạnh tranh bên ngoài Các gói dịch vụ được cung cấp bởi vườn ươm doanh nghiệp được thiết kế để nâng cao tỷ lệ thành công và tăng trưởng của các doanh nghiệp mới

Theo NBIA (National Business Incubators Association), ươm tạo doanh nghiệp là một quá trình hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển thành công các công ty mới thành lập và non trẻ bằng cách cung cấp cho các doanh nhân một loạt các nguồn tài nguyên và dịch vụ mục tiêu Các dịch vụ này thường được phát triển hoặc được sắp xếp bởi quản lý vườn ươm và được cung cấp thông qua mạng lưới các địa chỉ liên lạc Mục

Trang 20

tiêu chính của một vườn ươm doanh nghiệp là tạo ra các công ty thành công mà khi rời khỏi chương trình có thể tồn tại và tự do đứng vững về mặt tài chính Những người tốt nghiệp vườn ươm có tiềm năng để tạo ra công ăn việc làm, đem lại sức sống mới cho khu dân cư, thương mại hóa các công nghệ mới, củng cố nền kinh tế địa phương và quốc gia

Nói chung, vườn ươm là một nơi cung cấp hệ thống các dịch vụ xác định cho các cá nhân hoặc các công ty nhỏ, có thể bao gồm các loại hình cụ thể của không gian văn phòng, các hợp đồng cho thuê linh hoạt, quyền truy cập công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật

và tài chính (VD: tiếp thị, pháp lý, tài chính, nhân sự và các dịch vụ phát triển kinh doanh khác) Bằng cách sắp xếp các đối tượng tương tự hoặc có thể bổ sung cho nhau ở gần nhau, vườn ươm có thể cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển giao kiến thức chính thức và không chính thức

Theo Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia (NCEIF), hiện nay Việt Nam hiện có 47 cơ sở ươm tạo công nghệ (VD: TBI – Vườn ươm Doanh nghiệp Khoa học Công nghệ ĐH Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh, QTSC - Công viên phần mềm Quang Trung, VTIN – Câu lạc bộ ươm tạo và thương mại hóa công nghệ…) Về cơ bản, để ươm tạo doanh nghiệp các vườn ươm cung cấp 2 loại dịch

vụ chính là: dịch vụ cho thuê văn phòng chất lượng cao và dịch vụ phát triển kinh doanh

Các vườn ươm doanh nghiệp có thể tồn tại dưới những hình thức cơ bản như sau: (1) Các vườn ươm doanh nghiệp được thành lập do một trường đại học, một viện nghiên cứu, hoặc một ban ngành nào đó của chính phủ hoặc chính quyền địa phương

(2) Các vườn ươm doanh nghiệp được thành lập dưới sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ, hoặc các nhà tài trợ nước ngoài

(3) Các vườn ươm doanh nghiệp được thành lập bởi những tổ chức phi lợi nhuận (4) Các vườn ươm doanh nghiệp được hình thành dưới sự phối hợp của tất cả các

tổ chức trên

Trang 21

2.2 Lý thuyết nền tảng của các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp

Theo McStay (2008), các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp thường dựa trên các học thuyết sau: Thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behavior – TPB) của Ajzen (1991), Mô hình sự kiện khởi nghiệp (Shapero’s Entrepreneurial Event) của Shapero và Sokol năm 1982, Thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory) của Bandura năm 1986

2.2.1 Thuyết hành vi hoạch định TPB của Ajzen (1991)

Mô hình TPB được mở rộng từ mô hình “Thuyết hành động hợp lý” (The Theory of reasoned action) – một mô hình dự đoán về ý định hành vi do Ajzen và Fishbern phát triển năm 1975 (sau đó có sửa đổi vào năm 1980)

TPB xây dựng 3 thành tố khái niệm tiền đề của ý định Thứ nhất là Thái độ hướng đến hành vi, ám chỉ mức độ mà một người đánh giá là tán thành hoặc không tán thành hành vi được hỏi Thứ hai là các nhân tố xã hội được đặt tên là Chuẩn mực xã hội, nó ám chỉ nhận thức về áp lực xã hội đến việc thực hiện hoặc không thực hiện hành vi Tiền đề thứ ba là Kiểm soát hành vi, ám chỉ nhận thức về sự dễ dàng hay khó khăn của việc thực hiện hành vi và nó phản ánh kinh nghiệm quá khứ cũng như những trở ngại, sự cản trở biết trước

Hình 2 1: Thuyết hành vi hoạch định TPB (Nguồn Ajzen, 1991)

Trang 22

Nhìn chung, thái độ tán thành càng cao và chuẩn mực xã hội càng tôn trọng hành vi,

thì sự kiểm soát hành vi càng lớn, ý định thể hiện hành vi có cân nhắc càng mạnh

Mối quan hệ của Thái độ, Chuẩn mực xã hội và Kiểm soát hành vi trong việc dự

đoán ý định được mong đợi là sẽ thay đổi tùy theo hành vi và tình huống Vì vậy,

trong một vài ứng dụng, chỉ có Thái độ có ảnh hưởng đáng kể đến ý định, có những

trường hợp Thái độ và Kiểm soát hành vi chỉ đủ để giải thích cho ý định, và các

trường hợp còn lại, ba thiết bị dự đoán này lại có những đóng góp độc lập với nhau

2.2.2 SEE (Shapero’s Entrepreneurial Event) của Shapero và Sokol năm 1982

Theo thông tin được tổng hợp lại trong nghiên cứu của Ngugi và ctg (2012), mô

hình SEE đã được Shapero và Sokol xây dựng vào năm 1982, đây là một mô hình

về những gì liên quan đến ý định khởi nghiệp, gọi là mô hình “sự kiện khởi nghiệp”

Shapero cho rằng Sự khát khao, Thiên hướng và Sự khả thi để hành động là những

nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến ý định bắt đầu một việc mạo hiểm Hơn nữa, sự

khát khao rõ ràng và sự tự tin vào năng lực bản thân (self-efficacy) được mô tả là

nền tảng quan trọng cho sự nhận thức tính khả thi, tương ứng với mỗi sự khát khao

Trong mối quan hệ này, 1 biến phụ thuộc là Ý định khởi nghiệp, nó đại diện cho

hành vi khởi nghiệp được mong đợi của sinh viên đại học; 3 biến độc lập đại diện

cho thái độ cá nhân của các đáp viên là Sự khát khao nhận thức được, Thiên hướng

hành động và Sự khả thi nhận thức được

Hình 2 2: Mô hình SEE (Nguồn Ngugi và ctg, 2012)

Trang 23

Mô hình đơn giản này có ý nghĩa thiết thực đáng kể, nó có thể đánh giá được một cách cụ thể các hành vi có kế hoạch, có mục đích (ví dụ như: bắt đầu một việc kinh doanh), thậm chí mô hình này còn được dùng để đo lường những đặc trưng có thể

so sánh được hơn là những đặc trưng ôn hòa Trong thực tế, mô hình này nắm bắt được những động cơ hành vi ý định cơ bản tốt hơn những mô hình sử dụng phương pháp xem lại quá khứ

2.2.3 Thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory) của Bandura năm 1986

Theo tổng hợp trong luận án tiến sỹ của McStay (2008), Thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory – SCT) được mở rộng từ Thuyết học tập xã hội (Social Learning Theory) vào năm 1986 SCT xác định hành vi của con người là một sự tương tác giữa các yếu tố cá nhân, hành vi và môi trường Học thuyết này cung cấp một mô hình để hiểu và dự đoán nhiều loại hành vi của con người Ngoài ra, SCT cũng nghiên cứu sự học tập xuất hiện như thế nào thông qua những thay đổi trạng thái tinh thần của con người

Hình 2 3: Thuyết nhận thức xã hội của Bandura (Nguồn McStay, 2008)

Trong mô hình SCT, sự tương tác giữa con người và môi trường tạo ra niềm tin và năng lực nhận thức của một người, những thứ được phát triển và ảnh hưởng bởi môi trường vật chất và xã hội Các yếu tố cá nhân bao gồm: các sự kiện, biến cố nhận thức, cảm xúc và sinh học… Môi trường xã hội bao gồm: các thành viên trong gia đình, bạn bè và các hình mẫu tiêu biểu Môi trường vật chất bao gồm những thứ xung quanh cá nhân và sự tiếp cận các nguồn lực Sự kết hợp của môi trường và hành vi, liên quan đến hành vi của cá nhân, trên cơ sở tác động của môi trường và

Trang 24

đồng thời cũng bị thay đổi bởi môi trường Điều này không có nghĩa là tất cả các cá nhân sẽ hành xử theo cùng một khuôn mẫu trong cùng một môi trường, bởi vì các

cá nhân sẽ diễn giải các tác nhân kích thích theo những cách khác nhau tùy thuộc vào niềm tin và năng lực nhận thức của họ Sự tương tác giữa cá nhân và một hành

vi cụ thể cần phải có sự ảnh hưởng của suy nghĩ và hành động của cá nhân đó Ba yếu tố hành vi, môi trường và con người có ảnh hưởng liên tục lẫn nhau Tuy nhiên những yếu tố này không nhất thiết phải là kết quả của nhau nếu có sự tồn tại của các yếu tố can thiệp (intervening factors)

Một trong những yếu tố có thể can thiệp vào nhận thức là sự tự tin vào năng lực bản thân (self-efficacy) của con người Bandura (1977) (theo McStay, 2008) lưu ý rằng

tư tưởng tự tham khảo bản thân (self-referent) có thể can thiệp vào giữa kiến thức

và hành vi, và các cá nhân có thể thuyết phục bản thân họ rằng họ thiếu khả năng thực hiện một nhiệm vụ hoặc một hành vi cụ thể mặc dù họ có kiến thức cần thiết Theo McStay (2008) tổng hợp, sự tự tin vào năng lực bản thân nhìn chung là niềm tin của một cá nhân rằng họ có khả năng thực hiện thành công nhiều tình huống khác nhau Nếu thiếu sự tự tin vào năng lực bản thân, cá nhân có thể tự giới hạn mình theo đuổi một hành động nào đó mặc dù họ có những kỹ năng cần thiết

Sự tự tin vào năng lực bản thân, các yếu tố cá nhân, các yếu tố môi trường sau này được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp như: nghiên cứu

“Familial Factors, Personality Traits And Self-Efficacy As Determinants Of Entrepreneurial Intention Among Vocational Based College Of Education Students

In Oyo State, Nigeria” của Akanbi (2013), nghiên cứu “The Influence of Some Personality Factors on Entrepreneurial Intentions” của Olakitan (2014)…

2.3 Tình hình nghiên cứu về ý định khởi nghiệp

2.3.1 Tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới

Một số nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp trên thế giới được trích ra từ nghiên cứu của Remeikiene và ctg (2013) như bảng bên dưới

Trang 25

Bảng 2 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp

Pruett và ctg

(2009)

Văn hóa/ Quốc gia

Chủ nghĩa cá nhân/ chủ nghĩa tập thể, khoảng cách quyền lực, sự bác bỏ không chắc chắn, nữ tính/ nam tính

Các hình mẫu cá nhân tiêu biểu

Các thành viên gia đình, bạn bè thân tự doanh,

sự ủng hộ của gia đình

Khuynh hướng kinh doanh Sự tự tin vào năng lực bản thân Nhận thức về động

Lòng tin cá nhân, sự quả quyết vào niềm tin, ý định hành động

Nhận thức về rào cản

Rào cản đầu vào hoặc bắt đầu, bao gồm thiếu kiến thức, vốn khởi nghiệp hoặc rủi ro hoạt động

Lee và ctg

(2005)

Giáo dục khởi nghiệp

Kiến thức và kỹ năng liên quan đến tinh thần doanh nhân, kinh nghiệm làm việc nhóm

ra nơi làm việc, quản lý nhân viên, có nhiều thời gian rảnh, cơ hội kiếm được nhiều tiền hơn làm một công việc được thuê, đạt được một vị trí xã hội cao hơn, khó tìm được một công việc phù hợp nhất, yêu quý truyền thống gia đình

Rào cản

Những hoạt động quá mạo hiểm, thiếu vốn, thiếu khả năng kinh doanh, hoàn cảnh kinh tế không thuận lợi, sợ phá sản, thu nhập không

Trang 26

hợp pháp, thiếu kiến thức, thiếu kỹ năng kế toán và quản lý và những rào cản khác

Falck và ctg

(2012)

Những người cùng địa vị Tính đồng nhất Shook và

Các biến bối cảnh gia đình và cá nhân Cha mẹ doanh nhân

Dohse, Walter,

(2012)

Ý định khởi nghiệp cấp độ cá nhân

Tìm kiếm phương thức, tìm kiếm người làm, tìm kiếm sự hỗ trợ nguyên liệu, nhu cầu thành đạt, nhu cầu độc lập, thiên hướng chấp nhận rủi ro, kinh nghiệm làm việc, sự nhận thức cơ hội, kiến thức

Kiểm soát cấp vùng

Sự thất nghiệp trong các công ty lớn chất lượng cao, thị phần của các công ty lớn, mật

Sự hỗ trợ của Bối cảnh gia đình, sự ủng hộ của bạn bè

Trang 27

người thân Sánchez

và ctg (2012)

Môi trường cơ quan

Nhận thức về sự khả thi, các nhân tố ảnh hưởng và làm cho khởi nghiệp khó khăn hơn, hình tượng doanh nhân

De

Jorge-Moreno và ctg

(2012)

Chương trình giáo dục Quản trị kinh doanh và kinh tế học

Sự khát khao nhận thức được

Ý tưởng tạo ra một công ty, kế hoạch có việc kinh doanh của riêng mình, sự cống hiến thời gian và sự nỗ lực

Sự khả thi của việc bắt đầu kinh doanh

cá nhân

Say mê được công nhận trong công việc hoặc học tập, say mê là người giỏi nhất trong số các sinh viên, sẵn sàng chấp nhận rủi ro hoặc lập

kế hoạch cho những hành động đi trước thời gian…

(Nguồn Remeikiene và ctg, 2013)

2.3.2 Các nghiên cứu liên quan trong nước

Các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp trong nước không nhiều, có thể đến kể đến luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân đến ý định khởi nghiệp của giới trẻ ở TP.HCM” của Phạm (2010), luận văn thạc sĩ “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của phụ nữ ở Việt Nam” của Nam (2011) Ngoài ra, các nghiên cứu tương đối có liên quan khác như: “Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tính cách cá nhân đến tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên” của Bùi và ctg (2011) đăng trên Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ; nghiên cứu “Tinh thần doanh nhân

và các yếu tố ảnh hưởng – Một nghiên cứu trong sinh viên ngành Kinh tế - Quản lý tại TP.HCM” của Dương và ctg (2013) đăng trên Tạp chí Khoa học ĐH Mở TP.HCM

Trang 28

2.3.2.1 Luận văn thạc sĩ của Phạm (2010)

Luận văn thạc sĩ "Ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân đến ý định khởi nghiệp của giới trẻ ở TP.HCM" được Phạm (2010) thực hiện nhằm khám phá ra các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của chúng đến ý định khởi nghiệp của giới trẻ TP.HCM

Ý định khởi nghiệp trong nghiên cứu của Phạm (2010) được mô tả như sau: Ý định khởi nghiệp dựa trên nhận thức, sự chuẩn bị các nguồn lực cần thiết để khởi nghiệp, các hành động thể hiện ý định Bao gồm thời gian dự định khởi nghiệp; trang bị kiến thức kinh doanh; hành động chuẩn bị; ý tưởng kinh doanh; chuẩn bị vốn kinh doanh Hình thành sàng lọc ý tưởng kinh doanh (nguyên tắc động não hình thành ý tưởng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thành công của ý tưởng kinh doanh, sàng lọc lựa chọn ý tưởng) Ước tính vốn để khởi sự kinh doanh (cần bao nhiêu tiền để khởi sự, các loại vốn, vốn đầu tư ban đầu và vốn lưu động, nguồn huy động, đánh giá thị trường và kế hoạch marketing) Tổ chức sản xuất kinh doanh (nhân sự, hình thức pháp lý, kế hoạch doanh thu và lợi nhuận, dự báo rủi ro, kế hoạch trả nợ) Dựa trên mô hình Entrepreneur Scan (E-Scan) của Martijn P Driessen và Peter S Zwart, nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của 8 nhóm yếu tố: (1)-Khả năng (mức độ)

am hiểu thị trường + Khả năng (mức độ) am hiểu định hướng xã hội + Xu hướng chấp nhận rủi ro, (2)-Sự (mức độ) chịu đựng nhẫn nại + Sự (mức độ) tự tin, (3)-Nhu cầu quyền lực, (4)-Khả năng (mức độ) sáng tạo, (5)-Khả năng (mức độ) thích ứng, (6)-Nhu cầu tự chủ, (7)-Nhu cầu thành đạt so với người khác, (8)-Nhu cầu thành đạt

so với bản thân đến Ý định khởi nghiệp của giới trẻ TP.HCM

Nghiên cứu được thực hiện trên 219 cá nhân có quan tâm đến việc thành lập doanh nghiệp, có công ty nhỏ hay vừa, có dự án kinh doanh, đang tham gia học tập MBA, đăng ký khởi nghiệp tại vườn ươm hoặc vừa mới thành lập doanh nghiệp trong thời gian 1 năm Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm yếu tố (1), (2), (4), (8) có tác động đáng kể và tác động dương đến ý định khởi nghiệp (phù hợp với nghiên cứu của Driessen và Zwart), trong đó các yếu tố (1) chiếm hệ số tác động cao nhất (β = 0.518); nhóm yếu tố (5) và (7) có tác động đáng kể và tác động âm đến ý định khởi nghiệp, nhóm (3) và (6) không có tác động đến ý định khởi nghiệp (không phù hợp với kết quả nghiên cứu của Driessen và Zwart)

Trang 29

Như vậy, các cá nhân càng quan tâm đến thị trường, khách hàng và nhu cầu xã hội;

có xu hướng chấp nhận rủi ro cao; nhu cầu thành đạt của bản thân cao thì ý định khởi nghiệp kinh doanh càng chắc chắn

Tuy còn một số hạn chế, nhưng nghiên cứu đã đóng góp nhiều thông tin bổ ích để giới trẻ TP.HCM nhận diện được những đặc điểm cá nhân nào nổi bật, những yếu tố nào cần phải bổ sung để có được sự tự tin trong khởi nghiệp Ngoài ra nghiên cứu cũng có giá trị tham khảo, cung cấp thêm thông tin để các vườn ươm, hội bảo trợ doanh nghiệp, quỹ đầu tư cho các doanh nhân tiềm năng có cơ sở để phân bổ nguồn lực hợp lý và hiệu quả cho các hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp

2.3.2.2 Luận văn thạc sĩ của Nguyễn (2011)

Luận văn thạc sĩ “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của phụ nữ ở Việt Nam” được thực hiện nhằm mục đích xác định các yếu tố và đo lường mức độ ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của phụ nữ Việt Nam

8 yếu tố được xem xét trong nghiên cứu là: Động cơ kinh doanh (đẩy), Động cơ kinh doanh (kéo), Thị trường và mạng thông tin, Môi trường hoạt động, Nguồn vốn khởi nghiệp, Đặc điểm cá nhân, Ảnh hưởng từ gia đình, Hỗ trợ từ chính phủ Khái niệm và thang đo biến phụ thuộc Ý định khởi nghiệp trong nghiên cứu này kế thừa

từ nghiên cứu của Phạm (2010)

Tổng hợp mẫu của nghiên cứu là 228 mẫu, là những phụ nữ hiện đang không làm chủ doanh nghiệp Mẫu khảo sát tập trung vào các đối tượng tham gia tổ chức khởi nghiệp, các câu lạc bộ doanh nghiệp, các vườn ươm doanh nhân, sinh viên, học viên các khóa học quản trị kinh doanh của các trường đại học

Kết quả nghiên cứu cho thấy 6 yếu tố có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp, đạt mức ý nghĩa p = 0.05, giải thích được 39.9% biến thiên của biến phụ thuộc 6 yếu tố tác động theo thứ tự là: (1)-Nguồn vốn khởi nghiệp (β = 0.411, sig = 0.000), (2)-Đặc điểm cá nhân (β = 0.381, sig = 0.000), (3)-Động cơ kinh doanh (kéo) (β = 0.227, sig = 0.000), (4)-Môi trường hoạt động (β = 0.138, sig = 0.016), (5)-Hỗ trợ

từ chính phủ (β = 0.131, sig = 0.022), (6)-Ảnh hưởng từ gia đình (β = 0.129, sig= 0.029) Còn 2 yếu tố Động cơ kinh doanh (đẩy) và Thị trường và mạng thông tin không có tác động đến ý định khởi nghiệp

Trang 30

Ngoài ra, kết quả phân tích phương sai một yếu tố cho thấy không có sự khác biệt đối với các nhóm của các biến thuộc tính (mức ý nghĩa 0.05) Nếu chấp nhận độ tin cậy của phép kiểm định là 90% (mức ý nghĩa 0.1) thì có sự khác biệt về ý định khởi nghiệp giữa các nhóm kinh nghiệm và học vấn khác nhau Nhóm kinh nghiệm từ 1-

6 năm có ý định khởi nghiệp hơn những người có kinh nghiệm dưới 1 năm (mới đi làm hoặc chưa đi làm) Nhóm có trình độ học vấn càng cao thì ngại khởi nghiệp hơn nhóm có trình độ học vấn thấp hơn

Tuy còn một số hạn chế nhưng nghiên cứu đã hoàn thành mục tiêu, cung cấp thông tin tham khảo và đóng góp một số kiến nghị đáng xem xét cho cá nhân, tổ chức, đoàn thể có quan tâm đến việc khởi nghiệp của phụ nữ Việt Nam

2.3.2.3 Nghiên cứu của Bùi và ctg (2011)

“Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tính cách cá nhân đến tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên” nhằm mục đích tìm hiểu các yếu tố tác động đến tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên thông qua mô hình Entrepreneur Scan (E-Scan) do Driessen và Zwart phát triển, cùng các nghiên cứu khác

Các yếu tố tính cách cá nhân được xem xét trong nghiên cứu là: (1)-Nhu cầu thành đạt, (2)-Nhu cầu tự chủ, (3)-Nhu cầu quyền lực, (4)-Định hướng xã hội, (5)-Sự tự tin, (6)-Tính nhẫn nại, (7)-Chấp nhận rủi ro, (8)-Khả năng am hiểu thị trường, (9)-Khả năng sáng tạo, (10)-Khả năng thích ứng

Biến phụ thuộc trong nghiên cứu là Tiềm năng khởi nghiệp Tiềm năng khởi nghiệp diễn đạt sự sẵn sàng khởi nghiệp của một con người Một sinh viên có tiềm năng khởi nghiệp là người có khả năng trong tương lai sẽ thành lập, quản lý doanh nghiệp mới thành lập của mình Người có tiềm năng khởi nghiệp cao là người luôn suy nghĩ về các ý tưởng kinh doanh, chọn lựa ý tưởng tốt để theo đuổi

Đối tượng nghiên cứu là sinh viên ĐH Bách Khoa TP.HCM (200 sinh viên khối kỹ thuật, 200 sinh viên khoa Quản lý công nghiệp) và 200 sinh viên Khoa Quản trị kinh doanh thuộc ĐH Hoa Sen và ĐH kinh tế

Quy trình phân tích dữ liệu gồm hai công đoạn: công đoạn thứ nhất phân tích 400 mẫu của sinh viên ĐH Bách Khoa nhằm kiểm chứng tác động của các nhóm yếu tố tính cách cá nhân lên tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên thông qua mô hình hồi

Trang 31

quy, công đoạn thứ hai phân tích 600 mẫu (tổng thể mẫu) nhằm so sánh tiềm năng khởi nghiệp và các yếu tố tính cách cá nhân giữa các nhóm sinh viên (nhóm 1: sinh viên khối kỹ thuật ĐH Bách Khoa, nhóm 2: sinh viên Khoa Quản lý công nghiệp

ĐH Bách Khoa, nhóm 3: sinh viên Khoa Quản trị kinh doanh ĐH Hoa Sen và ĐH Kinh tế)

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: 6 nhóm tính cách (1)-Nhu cầu thành đạt, (4)-Định hướng xã hội, (5)-Sự tự tin, (8)-Khả năng am hiểu thị trường, (9)-Khả năng sáng tạo, (10)-Khả năng thích ứng ảnh hưởng dương đến mô hình (trong đó Nhu cầu thành đạt có ảnh hưởng nhiều nhất đến Tiềm năng khởi nghiệp); (2)-Nhu cầu tự chủ có ảnh hưởng âm đến mô hình (ngược với giả thuyết); 3 nhóm tính cách (3)-Nhu cầu quyền lực, (6)-Tính nhẫn nại, (7)-Chấp nhận rủi ro không có tác động đến Tiềm năng khởi nghiệp

7 nhóm tính cách có ảnh hưởng đến Tiềm năng khởi nghiệp nêu trên được sử dụng trong nghiên cứu sâu về sự khác biệt giữa 3 nhóm sinh viên cho kết quả như sau: có

sự khác biệt giữa Nhu cầu thành đạt và Tiềm năng khởi nghiệp của nhóm sinh viên khối Kỹ thuật ĐH Bách Khoa và nhóm sinh viên Khoa Quản trị kinh doanh thuộc

ĐH Hoa Sen và ĐH Kinh tế, các yếu tố khác không có sự khác biệt giữa các nhóm Giới hạn của đề tài:

 Thứ nhất: giới hạn khả năng tổng quát hóa các kết luận về tác động của các yếu tố tính cách cá nhân đến Tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên do chỉ phân tích 400 mẫu của sinh viên ĐH Bách Khoa (thay vì 600 mẫu tổng) trong phân tích dữ liệu công đoạn 1

 Thứ hai: kết quả cho thấy các yếu tố tính cách cá nhân chỉ giải thích được 36% Tiềm năng khởi nghiệp, cần có thêm các nghiên cứu về các yếu tố khác

 Thứ ba: mục đích của E-scan được sử dụng để đánh giá Tiềm năng khởi nghiệp của một cá nhân, nên cần cẩn trọng khi rút ra các hàm ý quản lý giáo dục

Tuy còn một số hạn chế nhưng nghiên cứu cũng là một tài liệu tham khảo quan trọng để nhà trường, các cơ quan ban ngành có thể sử dụng để xây dựng các môn học, hoạt động ngoại khóa để thúc đẩy Tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên

Trang 32

2.3.2.4 Nghiên cứu của Dương và ctg (2013)

Nghiên cứu nhằm khám phá các yếu tố tác động lên tinh thần doanh nhân của sinh viên khối ngành kinh tế - quản lý tại TP.HCM Từ đó, xác định mức độ tác động của từng yếu tố, cũng như yếu tố có tác động mạnh nhất Dữ liệu được thu thập từ

532 sinh viên thuộc 14 trường đại học tại TP.HCM

“Tinh thần doanh nhân” được định nghĩa là thái độ phản ánh động lực và năng lực của một cá nhân về việc xác định cơ hội kinh doanh và theo đuổi cơ hội đó, nhằm tạo ra sản phẩm mới có giá trị cho xã hội hay thành công về kinh tế

Mô hình xem xét tác động của 4 nhóm yếu tố đến Tinh thần doanh nhân bao gồm: (1)-Yếu tố cá nhân (Năng lực của bản thân), (2)-Yếu tố gia đình (Định hướng kinh doanh của gia đình, Khả năng tài chính của gia đình), (3)-Giáo dục-Đào tạo (Phương pháp giảng dạy ở trường Đại học, Nội dung chương trình đào tạo), (4)-Yếu

tố xã hội (Chính sách kinh tế của nhà nước, Mối quan hệ xã hội trong cộng đồng, Phương tiện truyền thông thông tin về doanh nhân)

Kết quả phân tích bằng SEM đưa ra các kết luận sau:

 Thứ nhất, tinh thần doanh nhân của sinh viên khối ngành kinh tế - quản lý chịu ảnh hưởng của 4 yếu tố đó là: Năng lực nhận thức của sinh viên (β = 0.35), Nội dung chương trình đào tạo đại học (β = 0.33), Định hướng kinh doanh của gia đình (β = 0.24) và Khả năng tài chính của gia đình (β= 0.16); trong đó yếu

tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến Tinh thần doanh nhân là Năng lực nhận thức của chính bản thân sinh viên

 Thứ hai, yếu tố Nội dung đào tạo có tác động đến Năng lực nhận thức của bản thân (β = 0.29)

 Thứ ba, yếu tố Khả năng tài chính của gia đình có ảnh hưởng đến Định hướng kinh doanh của gia đình (β = 0.52)

Tuy vẫn còn một số hạn chế (tính đại diện chưa cao do mẫu chỉ được thu thập ở TP.HCM, chưa tiếp cận các đối tượng được đào tạo ở các trường kỹ thuật công nghệ, chưa có sự so sánh kết quả nghiên cứu với các quốc gia khác…), nhưng nghiên cứu vẫn là một tài liệu tham khảo tốt cho những ai muốn nghiên cứu sâu hơn

về “Tinh thần doanh nhân”

Trang 33

2.3.3 Mô hình tham khảo chính – mô hình của Gurbuz và Aykol (2008)

Mô hình của Gurbuz và Aykol (2008) đươc xây dựng theo mô hình TPB của Ajzen (1991) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Thổ Nhĩ Kỳ Bảng câu hỏi khảo sát được thu thập từ 324 sinh viên của một trường đại học bang Istanbul Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Giới tính, Có cha mẹ làm kinh doanh, Chuẩn mực xã hội, Kiểm soát hành vi, Thái độ, Điều kiện môi trường thuận lợi và Sự hỗ trợ của môi trường học thuật là những yếu tố quyết định ý định khởi nghiệp

Hình 2 4: Mô hình của Gurbuz và Aykol (2008)

Bảng câu hỏi khảo sát của Gurbuz và Aykol (2008) được soạn làm bốn phần như sau: Các yếu tố nhân chủng học, TPB, Các yếu tố ngữ cảnh và Ý định khởi nghiệp

Trang 34

với tổng cộng 46 câu hỏi Bên trong TPB gồm có 3 phần: Thái độ lựa chọn nghề nghiệp, Chuẩn mực xã hội và Kiểm soát hành vi

Mục lục Thái độ lựa chọn nghề nghiệp sử dụng theo phân chia của Kolvereied (1996), nhằm đo lường thái độ hướng đến việc tự làm chủ (self-employment), bao gồm 5 động cơ chọn làm công cho công ty và 6 động cơ cho việc tự làm chủ, thang

đo gồm 33 câu hỏi Thang đo được thiết kế liên quan đến các yếu tố: Sự tự chủ (Autonomy), Quyền lực (Authority), Cơ hội kinh tế (Economic Opportunity), Thử thách (Challenge), Sự đảm bảo (Security), Gánh nặng công việc (Work load), Lẩn tránh trách nhiệm (Avoid Responsibility), Sự ghi nhận bản thân (Self Realization),

Sự tham gia vào toàn quá trình (Participation in the whole process), Môi trường xã hội (Social environment), Nghề nghiệp (Career) Đáp viên được hỏi về mức độ đồng ý của họ với các phát biểu trong phần này với thang đo 6 điểm, tương ứng với

“chắc chắn không đồng ý” = 1 và “chắc chắn đồng ý” = 6

Các hạng mục dùng để đo Chuẩn mực xã hội có 3 hạng mục được lấy từ nghiên cứu của Kolvereied (1996) và 1 hạng mục được thêm vào từ nghiên cứu của Autio và ctg (2001), các hạng mục này nhằm đo lường niềm tin của đáp viên về sự ủng hộ của xã hội nếu họ theo đuổi công việc tự làm chủ, ví dụ câu hỏi đầu tiên là “Nếu tôi trở thành một doanh nhân, gia đình tôi sẽ xem đó là một việc tốt” Thang đo 6 điểm tương ứng với mức “chắc chắn không đồng ý” = 1 và “chắc chắn đồng ý” = 6 Tương tự, Kiểm soát hành vi cũng được đo bằng 6 hạng mục tham khảo từ Kolvereied (1996) và Autio và ctg (2001), với thang đo 6 điểm tương ứng với mức

“chắc chắn không đồng ý” = 1 và “chắc chắn đồng ý” = 6

Các yếu tố ngữ cảnh bao gồm: Sự hỗ trợ của môi trường học thuật và Môi trường cho khởi nghiệp Sự hỗ trợ của môi trường học thuật đo lường theo nghiên cứu của Autio và ctg (2001), Các yếu tố môi trường đo theo nghiên cứu của Verheul và ctg (2005), tổng cộng có 8 câu hỏi với thang đo 6 điểm tương ứng với mức “chắc chắn không đồng ý” = 1 và “chắc chắn đồng ý” = 6

Trong nghiên cứu này, Các yếu tố nhân chủng học như giới tính, bối cảnh gia đình chỉ là các nhân tố chỉ thị của Ý định khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp trong nghiên cứu này là biến phụ thuộc và được đo lường theo mục lục của Davidsson (1995) với

Trang 35

các câu hỏi sau: (1) “Bạn có từng cân nhắc thành lập công ty của riêng mình?”; (2)

“Bạn cho rằng công ty sẽ như thế nào trong vòng 1 năm nếu bạn bắt đầu vận hành công ty của mình từ bây giờ?”; (3) “Bạn cho rằng công ty sẽ như thế nào trong vòng

5 năm nếu bạn bắt đầu vận hành công ty của mình từ bây giờ?” Thang đo được sử dụng là thang 6 điểm tương ứng với mức “chắc chắn không đồng ý” = 1 và “chắc chắn đồng ý” = 6

Dữ liệu được thu thập từ 324 sinh viên năm thứ 3 và 4 thuộc Khoa Kinh tế và Quản trị, Khoa Khoa học và Công nghệ của một trường đại học bang Istanbul Sở dĩ lựa chọn sinh viên năm thứ 3 và 4 vì đây là nhóm đối tượng đang ở giai đoạn ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân

2.4.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Mô hình nghiên cứu của đề tài dựa theo mô hình nghiên cứu của Gurbuz và Aykol (2008) Mô hình gồm 5 nhóm chính với 4 nhóm biến độc lập (3 nhóm yếu tố thuộc TPB, 1 nhóm yếu tố thuộc ngữ cảnh), 1 biến phụ thuộc (ý định khởi nghiệp) Tuy nhiên thang đo sử dụng trong nghiên cứu này là thang đo Likert 5 điểm thay vì 6 điểm như nghiên cứu của Gurbuz và Aykol (2008), bởi vì thang đo này được sử dụng phổ biến hơn trong các khảo sát của các trường đại học Việt Nam từ trước đến nay

Các khái niệm được sử dụng trong mô hình được dẫn lại từ nghiên cứu của Gurbuz

và Aykol (2008), cũng như từ các nghiên cứu mà Gurbuz và Aykol tham khảo như: Autio và ctg (2001), Verheul và ctg (2005)… bao gồm:

bối cảnh gia đình… Trong nghiên cứu này chỉ sử dụng yếu tố giới tính và bối cảnh gia đình phục vụ cho mục đích thống kê

chọn làm công cho một tổ chức và động cơ tự làm chủ (Gurbuz và Aykol,

2008) Nghiên cứu này xem xét các yếu tố sau:

Trang 36

 Nhóm động cơ tự làm chủ: Sự tự chủ, Quyền lực, Cơ hội kinh tế, Thử

thách, Sự ghi nhận bản thân, Sự tham gia vào toàn quá trình

 Nhóm động cơ chọn làm công cho một tổ chức: Sự đảm bảo, Gánh nặng

công việc, Lẩn tránh trách nhiệm, Môi trường xã hội, Nghề nghiệp

niềm tin của đáp viên về sự ủng hộ của xã hội mà họ nhận được khi họ theo

đuổi công việc tự làm chủ (Gurbuz và Aykol, 2008)

hiện hành vi (Ajzen, 1991), trong mô hình này là thực hiện việc tự làm chủ

nghiệp Hoàn cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa; sự phức tạp hành chính; có quyền tiếp cận các nguồn lực; cơ sở hạ tầng vật chất… có thể được xem như các yếu tố môi trường (Kristiansen và Indarti, 2004) Nghiên cứu này xét đến

Sự hỗ trợ của môi trường học thuật và Môi trường cho khởi nghiệp

Sự hỗ trợ của môi trường học thuật: ví dụ như tại trường đại học có việc

khuyến khích đưa ra ý tưởng riêng, cơ sở vật chất hỗ trợ cho công ty mới

khởi nghiệp… (Autio và ctg, 2001)

Môi trường cho khởi nghiệp Gurbuz và Aykol (2008) xem xét 4 yếu tố:

(1) Sự phức tạp hành chính: mức độ phức tạp của thủ tục hành chính trong việc thành lập doanh nghiệp

(2) Tìm kiếm thông tin: là sự sẵn có của những thông tin liên quan đến sáng lập, vận hành doanh nghiệp…

(3) Tìm kiếm tài chính: là khả năng một cá nhân có thể tìm kiếm nguồn

hỗ trợ tài chính để thành lập doanh nghiệp

(4) Hoàn cảnh kinh tế chung: sự sẵn có các cơ hội kinh doanh và các rủi

ro đi kèm

nói cách khác là tự làm chủ (theo Tkachev và Kolvereid (1999), được dẫn lại

trong nghiên cứu của Gurbuz và Aykol (2008))

Trang 37

Hình 2 5: Mô hình nghiên cứu đề xuất

2.4.2 Các giả thuyết nghiên cứu

H1: Thái độ có tác động đến ý định khởi nghiệp

H2: Chuẩn mực xã hội có tác động đến ý định khởi nghiệp H3: Kiểm soát hành vi có tác động đến ý định khởi nghiệp H4: Các yếu tố ngữ cảnh có tác động đến ý định khởi nghiệp

Trang 38

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sinh viên năm thứ 3 và năm thứ 4 ngành CNTT trong và ngoài ĐHQG TP.HCM Sở dĩ lựa chọn sinh viên CNTT là theo nhu cầu khảo sát của ITP, lựa chọn sinh viên năm thứ 3 và 4 vì đây là nhóm đối tượng đang trong giai đoạn ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp, và đây cũng là nhóm đối tượng

đã được hình thành những tư duy khoa học và tư duy hệ thống do đã trải qua một thời gian đào tạo tại trường đại học Đối tượng nghiên cứu được chia thành 3 nhóm như sau:

Nhóm 1: sinh viên ĐH Bách Khoa TP.HCM

 Nhóm 2: sinh viên ĐH CNTT, ĐH Quốc tế và ĐH Khoa học tự nhiên thuộc

ĐHQG TP.HCM

 Nhóm 3: sinh viên ngoài ĐHQG TPHCM: ĐH Sài Gòn (công lập) và ĐH

Công nghệ TP.HCM (tư thục)

Hình 3 1: Quy trình nghiên cứu của đề tài

Trang 39

3.3 Xây dựng thang đo

Bài nghiên cứu này áp dụng mô hình của Gurbuz và Aykol (2008), bộ tiêu chí gồm

51 câu được thừa kế, tổng hợp và hiệu chỉnh từ nhiều tác giả: Thái độ, Kiểm soát hành vi và Các yếu tố ngữ cảnh tham khảo từ Gurbuz và Aykol (2008); Chuẩn mực

xã hội tham khảo từ Autio và ctg (2001); Ý định khởi nghiệp tham khảo từ nghiên cứu của Othman và Mansor (2012); thang đo Likert 5 điểm tương ứng với “hoàn toàn không đồng ý” = 1 và “hoàn toàn đồng ý” = 5 Ngoài ra còn tham khảo và hiệu chỉnh thêm 5 câu hỏi thống kê khác từ nghiên cứu của Bùi và ctg (2011)

Bộ tiêu chí được xây dựng thành các phát biểu như sau:

Nhóm các yếu tố về thái độ (Gurbuz và Aykol, 2008)

 Nhóm động cơ tự làm chủ: Sự tự chủ, Quyền lực, Cơ hội kinh tế, Thử thách,

Sự ghi nhận bản thân, Sự tham gia vào toàn quá trình

Sự tự chủ và quyền lực (Autonomy and Authority)

1 Tôi muốn có quyền ra quyết định

2 Tôi muốn có quyền lực

3 Tôi muốn có thể chọn nhiệm vụ cho riêng mình

4 Tôi muốn là chủ của chính mình

5 Tôi muốn sự độc lập

6 Tôi muốn sự tự do

Cơ hội kinh tế và thử thách (Economic Opportunity and Challenge)

1 Tôi muốn có một công việc đầy thử thách

2 Tôi muốn có một công việc đầy kích thích

3 Tôi muốn có một công việc làm động cơ thúc đẩy

4 Tôi muốn nhận được sự đền bù theo công lao

5 Tôi muốn có một công việc thú vị

6 Tôi muốn giữ lại phần lớn kết quả/ thành tựu

7 Tôi muốn cơ hội kinh tế

8 Tôi muốn sự ghi nhận bản thân

Trang 40

Sự ghi nhận bản thân và Sự tham gia (Self Realization and Participation)

1 Tôi muốn sáng tạo ra cái gì đó

2 Tôi muốn tận dụng nhu cầu sáng tạo của bản thân

3 Tôi muốn theo dõi công việc từ A đến Z

4 Tôi muốn tham gia vào toàn bộ quá trình

 Nhóm động cơ chọn làm công cho một tổ chức: Sự đảm bảo, Gánh nặng công

việc, Lẩn tránh trách nhiệm, Môi trường xã hội, Nghề nghiệp

Sự đảm bảo và Gánh nặng công việc (Security and Work Load)

1 Tôi muốn sự ổn định công việc

2 Tôi muốn sự đảm bảo công việc

3 Tôi muốn không phải làm việc nhiều giờ

4 Tôi muốn có thời gian làm việc cố định

5 Tôi muốn không có một công việc căng thẳng

Lẩn tránh trách nhiệm (Avoid Responsibility)

1 Tôi muốn không giữ quá nhiều trách nhiệm

2 Tôi muốn tránh trách nhiệm

3 Tôi muốn tránh sự ràng buộc

4 Tôi muốn có một công việc đơn giản, không phức tạp

Môi trường xã hội và Nghề nghiệp (Social Environment and Career)

1 Tôi muốn tham gia vào môi trường xã hội

2 Tôi muốn là một thành viên của một tổ chức xã hội

3 Tôi muốn có cơ hội phát triển nghề nghiệp

4 Tôi muốn sự thăng chức

Chuẩn mực xã hội (Subjective Norm) (Autio và ctg, 2001)

1 Gia đình tôi sẽ xem đó là một việc tốt, nếu tôi trở thành một doanh nhân

2 Bạn bè thân thiết của tôi sẽ xem đó là một việc tốt, nếu tôi trở thành một doanh nhân

Ngày đăng: 26/01/2021, 21:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w