1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại thành phố nha trang, tỉnh khánh hòa

78 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” là công trình nghiên cứu của cá nhân

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

PHAN THỊ CHÂU KHUÊ

TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

PHAN THỊ CHÂU KHUÊ

TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Tác động của chi tiêu công đến

tăng trưởng kinh tế tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” là công trình nghiên

cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Khánh Hòa, tháng 3 năm 2019

Tác giả luận văn

Phan Thị Châu Khuê

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và có được luận văn này, ngoài nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ tận tình của các thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn quý phòng ban trường Đại học Nha Trang, các thầy cô giảng dạy lớp cao học Kinh tế phát triển đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu, giúp tôi hoàn thành khóa học tại trường

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thành Cường, giảng viên trường Đại học Nha Trang, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Khánh Hòa, tháng 3 năm 2019

Tác giả luận văn

Phan Thị Châu Khuê

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC HÌNH VẼ x

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu 3

1.6.1 Về lý thuyết 3

1.6.2 Về thực tiễn 3

1.7 Kết cấu của luận văn 3

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5

2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHI TIÊU CÔNG 5

2.1.1 Khái niệm chi tiêu công 5

2.1.2 Đặc điểm của chi tiêu công 5

2.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 7

2.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế 7

2.2.2 Vai trò của tăng trưởng kinh tế 8

Trang 6

2.2.3 Các thước đo tăng trưởng kinh tế 8

2.2.4 Các chỉ tiêu đo lường chất lượng tăng trưởng kinh tế 9

2.2.5 Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 10

2.3 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI TIÊU CÔNG VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 15

2.3.1 Tình hình nghiên cứu Quốc tế 15

2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 17

2.4 KHUNG PHÂN TÍCH, MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 18

2.4.1 Khung phân tích chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế 18

2.4.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 19

2.4.3 Các giả thuyết nghiên cứu 20

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 20

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 21

3.2 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THU THẬP DỮ LIỆU 22

3.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 24

3.3.1 Xử lý dữ liệu 24

3.3.2 Các phương pháp kiểm định 24

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 27

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 28

4.1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ NHA TRANG 28

4.1.1 Đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 28

4.1.2 Đặc điểm về kinh tế, xã hội 29

4.2 THỰC TRẠNG VỀ CHI TIÊU CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NHA TRANG 31

4.2.1 Tình hình tăng trưởng kinh tế 31

4.2.2 Về tình hình chi tiêu công trên địa bàn thành phố Nha Trang 34

4.2.3 Mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế trên địa bàn thành phố Nha Trang 37

Trang 7

4.3 KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH 41

4.3.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 41

4.3.2 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu 42

4.3.3 Kiểm định đồng liên kết của các biến 43

4.3.4 Kiểm định mô hình ECM (Error Correction Mechanism) 46

4.3.5 Kiểm định nhân quả Granger 48

4.4 BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 53

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 54

5.1 KẾT LUẬN 54

5.2 CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH 54

5.2.1 Một số định hướng liên quan đến tăng trưởng kinh tế và chi ngân sách thành phố Nha Trang đến năm 2020 54

5.2.2 Gợi ý một số hàm ý về chính sách 56

5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 58

TÓM LƯỢC CHƯƠNG 5 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GDP : Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm trong nước) GNP : Gross National Product (Tổng sản phẩm quốc dân) ICOR : Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

NSNN : Ngân sách Nhà nước

ECM : Error Correction Model (Mô hình hiệu chỉnh sai số)

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố Nha Trang giai đoạn 1998-2017 23

Bảng 4.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2005-2016 32

Bảng 4.2: Một số chỉ tiêu về quy mô kinh tế thành phố Nha Trang năm 2016 so với năm 2000, năm 2005 và năm 2010 33

Bảng 4.3: Quy mô chi tiêu công qua các năm 35

Bảng 4.4: Số liệu GDP, chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên thành phố Nha Trang từ năm 1998-2017 38

Bảng 4.5: Hệ số tương quan giữa GDP với tổng chi tiêu công, chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên 40

Bảng 4.6: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 41

Bảng 4.7: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị chuỗi dữ liệu ban đầu I(0) 43

Bảng 4.8: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị chuỗi dữ liệu I(1) 43

Bảng 4.9: Kết quả hồi quy 44

Bảng 4.10 : Kiểm định ADF phần dư của mô hình 44

Bảng 4.11: Kết quả kiểm định sự phù hợp của mô hình 45

Bảng 4.12: Kết quả hồi quy mô hình ECM 46

Bảng 4.13: Kết quả kiểm định sự phù hợp của mô hình ECM 47

Bảng 4.14: Kết quả kiểm định nhân quả Granger 48

Bảng 4.15: Tổng hợp và so sánh kết quả nghiên cứu của tác giả với các nghiên cứu trước đây 52

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Đường cong Rahn 7

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 21

Hình 4.1: Tốc độ tăng trưởng tỉnh Khánh Hòa và Nha Trang 32

Hình 4.2: Chi tiêu công thành phố Nha Trang từ năm 1998 - 2017 (tỷ đồng) 34

Hình 4.3: Sự thay đổi tỷ lệ chi đầu tư phát triển so với tổng chi và GDP trên địa bàn thành phố Nha Trang 36

Hình 4.4: Sự thay đổi tỷ lệ chi thường xuyên so với tổng chi và GDP trên địa bàn thành phố Nha Trang 37

Hình 4.5: Tương quan giữa GDP và tổng chi tiêu công 39

Hình 4.6: Tương quan giữa GDP và chi đầu tư phát triển 39

Hình 4.7: Tương quan giữa GDP và chi thường xuyên 40

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Trong những năm qua, chi tiêu công của thành phố Nha Trang có xu hướng tăng dần Giai đoạn từ năm 2011-2017, chi ngân sách thành phố Nha Trang tăng 3,24 lần Như vậy, việc sử dụng nguồn ngân sách nhà nước vào chi tiêu công của thành phố Nha Trang đã mang lại những kết quả nào và có tác động như thế nào đến phát triển

kinh tế-xã hội của thành phố Nha Trang Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Tác

động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” để đánh giá tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế của thành

phố Nha Trang, qua đó giúp các nhà quản lý phân bổ nguồn lực một cách hợp lý, đúng mục đích nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chi tiêu của khu vực công cũng như việc quản lý nguồn ngân sách nhà nước hướng đến mục tiêu đảm bảo tăng trưởng kinh tế tại thành phố Nha Trang thực sự cần thiết và cấp bách

Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của chi tiêu công đến tăng trường kinh tế của thành phố Nha Trang trong thời gian qua, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách nhằm giúp các nhà quản lý nâng cao hiệu quả của chi tiêu công, có chính sách hợp lý để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại thành phố Nha Trang

Phương pháp nghiên cứu tác giả sử dụng trong đề tài gồm phương pháp định tính và định lượng Để phân tích dữ liệu chuỗi thời gian, tác giả thực hiện theo thứ tự các bước như sau: Kiểm định tính dừng của dữ liệu; Kiểm định đồng liên kết; Phân tích hồi qui với mô hình ECM; Kiểm định nhân quả Granger và Kiểm định sự phù hợp của mô hình

Dựa vào số liệu thu thập giai đoạn 1998-2017, kết quả nghiên cứu đã phát hiện những điểm nổi bật sau đây:

Thứ nhất, Tổng chi tiêu công có tác động thuận chiều đến tăng trưởng kinh tế

cả trong ngắn hạn và dài hạn Song, hiệu ứng trong dài hạn (0,2549) lớn hơn hiệu ứng trong ngắn hạn (0,0897);

Thứ hai, Đầu tư tư nhân có tác động thuận chiều đến tăng trưởng kinh tế cả

trong ngắn hạn và dài hạn Song, hiệu ứng trong dài hạn (0,0845) lớn hơn hiệu ứng trong ngắn hạn (0,0480);

Thứ ba, Chi thường xuyên có tác động thuận chiều một cách có ý nghĩa thống

kê trong dài hạn, nhưng không có quan hệ với tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn;

Trang 12

Thứ tư, Không tồn tại mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển, lao động và tăng

trưởng kinh tế cả trong ngắn hạn và dài hạn trên địa bàn thành phố Nha Trang;

Thứ năm, khoảng 55,24% sai biệt giữa giá trị thực tế và giá trị dài hạn của tổng

sản lượng (GDP) được điều chỉnh sau mỗi năm và có ý nghĩa thống kê;

Thứ sáu, đã phát hiện được mối quan hệ nhân quả giữa GDP với chi tiêu công,

chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, đầu tư tư nhân và lao động

Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các hàm ý chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thành phố Nha Trang một cách ổn định và bền vững, đồng thời quan tâm đến bảo vệ môi trường, an sinh xã hội, nhận được sự đồng thuận cao từ nhân dân vào sự lãnh đạo và điều hành kinh tế của chính quyền địa phương

Từ khóa: Chi tiêu công, Chi thường xuyên, Chi đầu tư phát triển, Tăng trưởng kinh tế

Trang 13

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thành phố Nha Trang là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Khánh Hòa, luôn dẫn đầu trong phát triển kinh tế-xã hội, liên tục đóng góp lớn trong tăng trưởng kinh tế của tỉnh nhà Trong những năm qua tiềm lực kinh tế của thành phố Nha Trang không ngừng lớn mạnh, kinh tế-xã hội đạt được những thành tựu đáng kể: tăng trưởng kinh tế đạt mức khá cao; hạ tầng đô thị được hoàn thiện hơn; lĩnh vực dịch

vụ, du lịch phát huy được tiềm năng thế mạnh, thu hút nhiều sự kiện quốc tế đến với Nha Trang; các khu, cụm công nghiệp đang phát huy hiệu quả; đời sống dân cư không ngừng được nâng cao,… tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn toàn tỉnh Trong đó vấn đề tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu hướng tới của các địa phương Tăng trưởng kinh tế cao sẽ góp phần nâng cao đời sống người dân, tăng nguồn phúc lợi xã hội nhằm xóa đói giảm nghèo, đảm bảo cho người dân ngày càng tiếp cận tốt hơn các dịch vụ y tế, giáo dục, an ninh xã hội…

Để đảm bảo tốc độ phát triển, việc huy động các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế luôn là mối quan tâm hàng đầu của chính quyền thành phố Nha Trang Nguồn lực tài chính là một trong những yếu tố quan trọng cho sự phát triển toàn diện của một quốc gia; tương tự, sự phát triển của một thành phố cũng đòi hỏi một nguồn tài chính

để chi tiêu ổn định góp phần đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, an sinh xã hội

và tạo niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo và điều hành kinh tế của chính quyền địa phương Vấn đề quản lý, sử dụng hiệu quả chi ngân sách nhà nước, không lãng phí để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từng giai đoạn là thách thức lớn của chính quyền thành phố Nha Trang

Những năm qua, chi tiêu công của thành phố Nha Trang có xu hướng tăng dần Trong phạm vi đề tài này, chi tiêu công được hiểu là chi ngân sách nhà nước, bao gồm chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển Năm 2011, chi ngân sách thành phố là 722,6

tỷ đồng, trong đó chi đầu tư phát triển là 148,8 tỷ đồng, chiếm 20,6% Đến năm 2017, chi ngân sách thành phố là 2.344,33 tỷ đồng, chi đầu tư phát triển chiếm 13,51% tương ứng với 316,69 tỷ đồng Giai đoạn từ năm 2011-2017, chi ngân sách thành phố Nha Trang tăng 3,24 lần Như vậy, việc sử dụng nguồn ngân sách nhà nước vào chi tiêu công của thành phố Nha Trang đã mang lại những kết quả nào và có tác động như thế nào đến phát triển kinh tế-xã hội của thành phố Nha Trang Chính vì vậy, tác giả đã

Trang 14

chọn đề tài “Tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại thành phố Nha

Trang, tỉnh Khánh Hòa” để đánh giá tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh

tế của thành phố Nha Trang, qua đó giúp các nhà quản lý phân bổ nguồn lực một cách hợp lý, đúng mục đích nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chi tiêu của khu vực công cũng như việc quản lý nguồn ngân sách nhà nước hướng đến mục tiêu đảm bảo tăng trưởng kinh tế tại thành phố Nha Trang

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tác động của chi tiêu công đến tăng trường kinh tế của thành phố Nha Trang trong thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giúp các nhà quản lý nâng cao hiệu quả của chi tiêu công, có chính sách hợp lý để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại thành phố Nha Trang

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Để đáp ứng mục tiêu tổng quát đặt ra, các mục tiêu cụ thể bao gồm:

 Mục tiêu 1: Xác định các nhân tố liên quan đến việc đánh giá tác động của

chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại thành phố Nha Trang

 Mục tiêu 2: Đánh giá tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại

thành phố Nha Trang

 Mục tiêu 3: Đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả của chi

tiêu công hướng đến thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại thành phố Nha Trang

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Để đáp ứng mục tiêu cụ thể đặt ra, các câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết bao gồm:

 Câu hỏi 1: Những nhân tố nào liên quan đến tác động của chi tiêu công đến

tăng trưởng kinh tế tại thành phố Nha Trang?

 Câu hỏi 2: Chi tiêu công có tác động đến tăng trưởng kinh tế tại thành phố

Nha Trang như thế nào?

 Câu hỏi 3: Để nâng cao hiệu quả của chi tiêu công hướng đến thúc đẩy tăng

trường kinh tế tại thành phố Nha Trang cần những giải pháp, chính sách nào?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về chi tiêu công, tăng trưởng kinh tế và tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế

Trang 15

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

 Về không gian: Nghiên cứu vấn đề liên quan đến chi tiêu công và tăng

trường kinh tế tại thành phố Nha Trang

 Về thời gian: Dữ liệu thu thập sử dụng trong phân tích giai đoạn 1998-2017

1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện luận văn, tác giả áp dụng các phương pháp chủ yêu sau:

 Phương pháp tổng hợp: dựa trên cơ sở lý thuyết, nguồn tài liệu trong và

ngoài nước nghiên cứu xây dựng mô hình và các giả thuyết, thống kê phân tích được thực trạng của chi tiêu công, đánh giá tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh

tế và tìm ra các giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả của chi tiêu công góp phần tăng trưởng kinh tế tại địa phương nghiên cứu

 Phương pháp nghiên cứu định lượng: kiểm định mô hình nghiên cứu, dựa

vào các số liệu thu thập được, sử dụng phương pháp phân tích tương quan, hồi quy, nhân quả để phân tích mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế

1.6 Ý NGHĨA CỦA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

 Trên cơ sở này, đề tài góp phần giúp các nhà quản lý nắm được sát thực hơn

về tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại thành phố Nha Trang, từ đó đưa ra các chính sách, giải pháp nhằm phát huy hiệu quả của chi tiêu công gắn với tăng trưởng kinh tế

1.7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có kết cấu gồm 5 chương như sau:

 Chương 1: Giới thiệu: Trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên

cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý

nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài và kết cấu của luận văn

Trang 16

 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Trình bày các khái

niệm và cơ sở lý thuyết về chi tiêu công, tăng trưởng kinh tế, tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa chi tiêu công với tăng trưởng kinh tế, mô hình và các giả thiết của nghiên cứu

 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trình bày quy trình và cách tiếp

cận nghiên cứu, phương pháp và quy mô chọn mẫu, loại dữ liệu, cách thu thập dữ liệu

và các công cụ phân tích dữ liệu

 Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận: Khái quát về thực trạng chi

tiêu công và tình hình tăng trưởng kinh tế tại thành phố Nha Trang trong thời gian qua, kiểm định mô hình mối quan hệ về tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại thành phố Nha Trang

 Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách: Trình bày tóm tắt kết quả

nghiên cứu, đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả chi tiêu công, tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế ổn định và phát triển bền vững

Trang 17

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHI TIÊU CÔNG

2.1.1 Khái niệm chi tiêu công

Chi tiêu công là một trong những thuộc tính vốn có khách quan của khâu tài chính công, phản ánh sự phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính công của Nhà nước trong quá trình cung cấp hàng hóa công

Chi tiêu công tạo ra sự tái phân phối giữa các khu vực trong nền kinh tế Chính phủ đóng vai trò là trung tâm trong quá trình tái phân phối thu nhập Thông qua chi tiêu công, Chính phủ lại cung ứng cho xã hội những khoản thu nhập đã lấy đi của xã hội bằng việc cung cấp những hàng hóa công cần thiết mà khu vực tư không có khả năng cung cấp hoặc cung cấp không hiệu quả Với cơ chế này, Chính phủ thực hiện tái phân phối thu nhập của xã hội công bằng hơn, khắc phục được khuyết tật của cơ chế thị trường, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định

Trong phạm vi của đề tài này, chi tiêu công được hiểu là chi ngân sách nhà nước (NSNN), bao gồm chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển

Theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015:

 Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản: chi đầu tư phát triển; chi dự trữ quốc gia; chi thường xuyên; chi trả nợ lãi; chi viện trợ; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

 Chi đầu tư phát triển là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các chương trình, dự

án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

 Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh

2.1.2 Đặc điểm của chi tiêu công

Theo Đặng Văn Cường và Bùi Thanh Hoài (2014), chi tiêu công có một số đặc điểm như sau:

Trang 18

 Chi tiêu công phục vụ lợi ích chung của cộng đồng dân cư ở các vùng hay các quốc gia Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế-xã hội của Nhà nước Trong quá trình thực hiện chức năng này, Nhà nước cung cấp một lượng hàng hóa khổng lồ cho nền kinh tế

 Chi tiêu công luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh

tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước thực hiện Các khoản chi tiêu công do chính quyền Nhà nước các cấp đảm nhiệm theo các nội dung đã được quy định trong phân cấp quản

lý ngân sách Nhà nước và các khoản chi tiêu này nhằm đảm bảo cho các cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý, phát triển kinh tế-xã hội Các cấp của cơ quan quyền lực Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi tiêu công nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước

 Chi tiêu công mang tính chất công cộng, tương ứng với những đơn đặt hàng của Chính phủ về mua hàng háo, dịch vụ nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Đó cũng là những khoản chi cần thiết và phát sinh tương đối ổn định như chi lương cho đội ngũ cán bộ công chức, chi hàng hóa, dịch vụ công đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng công cộng của dân cư

 Chi tiêu công mang tính chất không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp

và thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ

cụ thể đều được hoàn lại dưới hình thức các khoản chi tiêu công

2.1.3 Các lý thuyết về chi tiêu công

Theo Đặng Văn Cường và Bùi Thanh Hoài (2014): các lý thuyết thường không chỉ ra một cách rõ ràng tác động của chi tiêu công đối với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất với nhau rằng: Trong một số trường hợp, việc cắt giảm hay gia tăng quy mô chi tiêu công đều có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

2.1.3.1 Đường cong Rahn

Richard Rahn (1986) đã xây dựng đường cong Rahn phản ánh mối quan hệ giữa quy mô chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế Đường cong Rahn (Hình 2.1) hàm ý tăng trưởng sẽ đạt tối đa khi chi tiêu công là vừa phải và được phân bổ hết cho những hàng hóa công cộng cơ bản như cơ sở hạ tầng, bảo vệ luật pháp và quyền sở hữu Khi vượt quá mức giới hạn này, chi tiêu công lại có hại đối với tăng trưởng kinh tế

Trang 19

Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Hình 2.1: Đường cong Rahn

Nguồn: Dẫn theo Đặng Văn Cường và Bùi Thanh Hoài (2014)

2.1.3.2 Trường phái của John Maynard Keynes

Các nhà kinh tế học theo trường phái của Keynes cho rằng: Chi tiêu công - đặc biệt là các khoản chi tiêu thông qua vay nợ có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhờ làm tăng sức mua (tổng cầu) của nền kinh tế Nhưng lý thuyết của trường phái Keynes

đã bỏ qua một sự thật là chính phủ không thể bơm sức mua vào nền kinh tế trước khi làm giảm nó thong qua thuế và vay nợ

2.1.3.3 Các trường phái kinh tế khác

Các nhà kinh tế khác cho rằng việc cắt giảm thâm hụt ngân sách sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Họ lập luận rằng việc cắt giảm chi tiêu công sẽ dẫn đến việc cắt giảm thâm hụt ngân sách Điều này dẫn đến việc giảm lãi suất, tăng đầu tư

và tăng năng suất Và cuối cùng, kết quả này sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh

tế Lập luận này sẽ đúng nếu như mối quan hệ giữa các biến số trên là chặt chẽ Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng giả thiết trên đã đề cao quá mức mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách, lãi suất, đầu tư và tăng trưởng kinh tế

2.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

2.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định Trong đó, tổng sản phẩm quốc nội (Gross

Trang 20

Domestic Products, GDP) hay tổng sản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả các sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính) Tổng sản lượng quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằng tiền của tất cả các sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Tổng thu nhập bình quân đầu người (PCI) là tổng sản lượng quốc gia chia cho dân số

2.2.2 Vai trò của tăng trưởng kinh tế

 Tăng trưởng kinh tế thể hiện bằng sự tăng lên về số lượng, chất lượng hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất ra nó, do đó tăng trưởng kinh tế là tiền đề vật chất

để giảm bớt tình trạng đói nghèo Tăng trưởng kinh tế nhanh là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi quốc gia trên con đường vượt lên để khắc phục sự lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng

 Tăng trưởng kinh tế làm cho mức thu nhập của dân cư tăng, phúc lợi xã hội

và chất lượng cuộc sống của cộng đồng được cải thiện như: kéo dài tuổi thọ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em, giúp cho giáo dục, y tế, văn hoá, phát triển

 Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, giảm thất nghiệp Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên nhân quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động Vì vậy, tăng trưởng kinh tế nhanh thì thất nghiệp có xu hướng giảm

 Tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề vật chất để củng cố an ninh quốc phòng, củng cố chế độ chính trị, tăng uy tín và vai trò quản lý của nhà nước đối với xã hội

 Đối với các nước chậm phát triển như nước ta, tăng trưởng kinh tế còn là điều kiện tiên quyết để khắc phục sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước đang phát triển và phát triển

2.2.3 Các thước đo tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) được tính dựa trên 3 phương pháp:

 Phương pháp sản xuất: GDP được xác định bằng cách tổng hợp các giá trị gia tăng của mọi doanh nghiệp (hoặc ngành) cộng với thuế nhập khẩu hàng hóa, dịch

vụ từ nước ngoài

 Phương pháp thu nhập:

GDP = W + R + I + Pr + Ti + De Trong đó: W là tiền lương; R là tiền thuê; i là tiền lãi; Pr là lợi nhuận; Ti là thuế gián thu ròng; De là phần hao mòn (khấu hao) tài sản cố định

Trang 21

 Phương pháp chi tiêu:

GDP = C + I + G + X - M Trong đó: C là các khoản chi tiêu của các hộ gia đình về hàng hóa, dịch vụ I là tổng đầu tư công của Chính phủ, đầu tư của khu vực tư nhân (không tính khoản đầu tư tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền gửi tiết kiệm) G là chi tiêu Chính phủ X-M: là xuất khẩu ròng (giá trị xuất khẩu - giá trị nhập khẩu)

Tăng trưởng kinh tế được biểu thị bằng số tuyệt đối hoặc tương đối, được thể hiện qua công thức:

+ Mức tăng trưởng kinh tế: ∆Y = Yt - Y0

Trong đó: Y là GDP; Yt là GDP tại năm t của kỳ phân tích; Y0 là GDP tại thời điểm gốc của kỳ phân tích; ∆Y là mức tăng trưởng

+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế giữa năm t so với thời điểm gốc:

+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình giai đoạn được tính bằng công thức:

) 1 (

2.2.4 Các chỉ tiêu đo lường chất lượng tăng trưởng kinh tế

Thường xem xét GDP với các chỉ tiêu khác, có thể khái quát như sau:

 Xét trên góc độ các yếu tố kinh tế: Tăng trưởng gắn liền với chuyển đổi

cơ cấu kinh tế; gắn với hiệu quả của các yếu tố tác động đến tăng trưởng; và gắn liền với cạnh tranh lành mạnh Được thể hiện qua các chỉ tiêu:

+ Chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế: được xem xét qua ba góc độ

là cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu theo loại hình sở hữu Cụ thể:

- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng hiện đại là tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP;

- Chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ phải phát triển cân đối, hài hòa giữa các vùng để đảm bảo tính bền vững, đồng thời phát triển vùng là yếu tố thúc đẩy vùng khác phát triển;

Trang 22

- Chuyển dịch cơ cấu theo loại hình sở hữu xem cơ cấu của các loại hình kinh tế ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế

+ Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế: Hiệu quả sản xuất của nền kinh tế được

thể hiện dưới góc độ sử dụng các yếu tố đầu vào là vốn (K), lao động (L) và đóng góp của yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP: công nghệ sản xuất, năng lực tổ chức,

kỹ năng quản lý…) với tăng trưởng kinh tế, được tính qua hàm sản xuất Cobb – Dougle như sau: GDP = A x f(K, L)

Tăng trưởng theo chiều sâu là xem xét đóng góp của yếu tố TFP phải cao và không ngừng gia tăng trong GDP Tăng trưởng theo chiều rộng hay quy mô là đóng góp của vốn, lao động trong GDP cao

Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (hệ số ICOR) được thể hiện qua phương trình ICOR = I /∆GDP Trong đó: ICOR là hệ số đầu tư, I là tổng vốn đầu tư xã hội, ∆GDP

là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, hệ số này phản ánh hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư tới tăng trưởng kinh tế Theo quy luật về lợi tức biên giảm dần, khi nền kinh tế tăng trưởng (có nghĩa GDP hay GDP/người tăng lên) thì ICOR sẽ tăng lên, có nghĩa là để duy trì cùng một tốc độ tăng trưởng phải cần một tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP cao hơn

+ Chỉ tiêu phản ánh khả năng cạnh tranh: môi trường đầu tư được đo bằng chỉ

số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), thông qua phân tích 10 chỉ số thành phần

 Xét trên góc độ xã hội: Tăng trưởng kinh tế đi đôi với nâng cao đời sống

vật chất tinh thần của người dân, xóa đói nghèo, tạo việc làm cho lao động, đảm bảo công bằng xã hội Thường được đánh giá qua chỉ số phát triển con người (HDI) Đây

là thước đo tổng hợp có giá trị trung bình cộng của ba phương diện: sức khỏe (tuổi thọ trung bình) - kiến thức (tỷ lệ người biết chữ, tỷ lệ nhập học ở các cấp học) - mức sống (GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương) HDI có giá trị từ 0 đến 1, trong đó 1 là cao nhất, còn 0 là thấp nhất

 Xét trên góc độ môi trường: Tăng trưởng kinh tế bền vững phải gắn với

việc bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên Các thước đo chất lượng kinh tế liên quan đến môi trường, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân… không được trình bày trong bài viết do phạm vi của đề tài

2.2.5 Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế

Cho đến nay, các nhà kinh tế học đã đưa ra nhiều mô hình khác nhau trong phân tích tăng trưởng kinh tế Trong phần này giới thiệu một số mô hình chủ yếu như sau:

Trang 23

2.2.5.1 Mô hình Rostow

Rostow (1960) đã phân tích theo tiến trình lịch sử phát triển từ những bước khởi đầu của nền kinh tế, lý thuyết này còn có tên gọi khác là “mô hình suy diễn lịch sử” hay “lý thuyết cất cánh” Theo mô hình Rostow, các nước trong quá trình phát triển kinh tế có thể trải qua năm giai đoạn (thậm chí có thể có giai đoạn thứ sáu) Ứng với mỗi giai đoạn là một dạng cơ cấu của nền kinh tế đặc trưng thể hiện bản chất phát triển của giai đoạn ấy Tuy chưa đề cập đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong từng ngành cụ thể nhưng trên góc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế với quá trình phát triển thì

mô hình này chỉ ra sự lựa chọn hợp lý về dạng cơ cấu ngành tương ứng với mỗi giai đoạn phát triển của từng quốc gia

Theo mô hình Rostow, năm giai đoạn trong quá trình phát triển kinh tế bao gồm: Giai đoạn 1 - Xã hội truyền thống cũ Giai đoạn này được định nghĩa là giai đoạn dựa trên khoa học, công nghệ tiền Newton với các đặc trưng là năng suất lao động thấp do sản xuất chủ yếu bằng thủ công, kỹ thuật lạc hậu, mang tính tự cung tự cấp Trong giai đoạn này, nền kinh tế tăng trưởng chậm, cơ cấu ngành kinh tế chủ yếu là nông nghiệp Giai đoạn 2 - Chuẩn bị cất cánh Giai đoạn này được coi là thời kỳ quá độ giữa

xã hội truyền thống cũ và cất cánh Vào giai đoạn này, khoa học kỹ thuật bắt đầu được

áp dụng, nền giáo dục được mở rộng và có những cải tiến phù hợp với sự phát triển Cầu đầu tư tăng lên thúc đẩy sự ra đời của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng, trao đổi hàng hóa không chỉ trong nước mà còn xuất khẩu, do đó hình thành nên cơ sở

hạ tầng về vận tải, thông tin liên lạc Cơ cấu kinh tế giai đoạn này vẫn là nông - công nghiệp với năng suất thấp

Giai đoạn 3 - Cất cánh Đây là giai đoạn phát triển hiện đại và ổn định Những yếu tố cơ bản đảm bảo cho sự cất cánh: Huy động được vốn đầu tư cần thiết làm cho

tỷ lệ tiết kiệm vượt 10% thu nhập quốc dân thuần túy, đồng thời huy động được vốn bên ngoài Nhờ đó, áp dụng được khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến Ngành công nghiệp giữ vai trò đầu tàu, kéo theo sự thay đổi của các ngành khác, cơ cấu ngành của giai đoạn này là công nghiệp - nông nghiệp và dịch vụ Đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, cùng với việc phát triển hợp tác hóa, thương mại hóa

Giai đoạn 4 - Trưởng thành về kinh tế Tỷ lệ đầu tư tăng liên tục, chiếm khoảng

10 - 20% thu nhập quốc dân thuần túy Khoa học công nghệ được sáng tạo, du nhập và chuyển hóa nhanh vào các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội Năng suất lao động cao,

Trang 24

nhu cầu xuất nhập khẩu tăng mạnh, nền kinh tế trong nước hòa nhập với thế giới Cơ cấu kinh tế giai đoạn này là công nghiệp - dịch vụ và nông nghiệp

Giai đoạn 5 - Tiêu dùng cao Thu nhập bình quân đầu người tăng kéo theo cầu hàng hóa và chất lượng dịch vụ tăng lên Cơ cấu lao động thay đổi theo hướng nhân lực chất lượng cao tăng lên, dân cư tăng nhanh ở đô thị Các chính sách hướng vào tăng phúc lợi xã hội, kích thích tiêu dùng hàng chất lượng và giảm bớt bất bình đẳng đồng thời đa dạng hóa nền kinh tế Cơ cấu ngành có thể là dịch vụ - công nghiệp Ngoài năm giai đoạn trên, Rostow còn dự báo còn có thể có giai đoạn 6 với tên gọi “Theo đuổi chất lượng cuộc sống”

2.2.5.2 Mô hình Ricardo

Mô hình này cho thấy đất đai sản xuất nông nghiệp là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế Ông cho rằng giới hạn của đất đai làm cho lợi nhuận của người sản xuất có xu hướng giảm do chi phí sản xuất lương thực thực phẩm cao, giá hàng hóa tăng, tiền lương danh nghĩa tăng và giới hạn của đất làm cho năng suất lao động nông nghiệp thấp, xuất hiện thừa lao động trong nông nghiệp, do đó hiệu quả sử dụng lao động thấp làm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

2.2.5.3 Mô hình hai khu vực (Lewis và Oshima)

Lewis và Oshima cho rằng, đối với khu vực nông nghiệp, do đất đai ngày càng hiếm trong khi người lao động ngày càng tăng sẽ có tình trạng dư thừa lao động, hệ quả là sản phẩm biên của lao động nông nghiệp bằng không, mức tiền lương ở mức tối thiểu Đối với khu vực công nghiệp, do tiền lương của khu vực này cao hơn khu vực nông nghiệp nên có thể thu hút lao động dư thừa ở khu vực nông nghiệp, quá trình này diễn ra đến khi thu hút hết lao động dư thừa Đến một lúc nào đó, lợi nhuận khu vực công nghiệp giảm, bắt buộc nhà tư bản công nghiệp sẽ lựa chọn yếu tố khác thay thế lao động (công nghiệp thâm dụng vốn) quá trình tăng trưởng sẽ tiếp tục

2.2.5.4 Mô hình Harrod - Domar

Mô hình này đưa ra mối quan hệ hàm giữa vốn (ký hiệu là K) và tăng trưởng sản lượng (ký hiệu là Y) và cho rằng sản lượng của bất kỳ một thực thể kinh tế nào đều phụ thuộc vào số lượng vốn đã đầu tư vào thực thể kinh tế đó, được biểu diễn dưới dạng hàm: Y = K/k, trong đó k là hằng số, được gọi là hệ số vốn sản lượng

Hệ số k gọi là hệ số ICOR (Incremental Capital-Output Ratio) Hệ số này cho ta biết là để tăng được một đồng GDP thì cần phải đầu tư bao nhiêu đồng vốn

Trang 25

ICOR được xem là thước đo độ hiệu quả của đầu tư Nếu phân bổ vốn đầu tư hiệu quả, thì với cùng một mức đầu tư, sản lượng sẽ tăng thêm và do đó ICOR thấp hơn Nói cách khác, ICOR cao thể hiện đầu tư không hiệu quả và ngược lại Để đẩy nhanh tăng trưởng cần tăng tiết kiệm để gia tăng đầu tư nhưng nếu GDP/người thấp, thì khó nâng cao tỷ lệ tiết kiệm Đây là trở ngại của nhiều quốc gia có thu nhập thấp,

để khắc phục thì cần thu hút đầu tư nước ngoài Mô hình Harrod – Domar chỉ quan tâm đến yếu tố vốn mà chưa thể hiện vai trò của lao động, công nghệ và chính sách

2.2.5.5 Mô hình Cobb-Douglas

Hàm sản xuất có dạng: Y=A.Lα.Kβ

Trong đó: L là lao động; K là vốn; A là hệ số tăng trưởng công nghệ, còn gọi là năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP: Total Factor Productivity); α và β là các hệ số co giãn thepo sản lượng lần lượt của lao động và vốn

Nếu α + β = 1 thì hàm sản xuất có lợi tức không đổi theo quy mô

Nếu α + β < 1 thì hàm sản xuất có lợi tức giảm dần theo quy mô

Nếu α + β > 1 thì hàm sản xuất có lợi tức tăng dần theo quy mô

2.2.5.6 Mô hình Moise Syrquin

Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy quá trình phát triển kinh tế cũng đồng nghĩa với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến lên nền kinh tế công nghiệp hóa và dần chuyển sang nền kinh tế phát triển Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế của M Syrquin gồm ba giai đoạn: sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hóa và nền kinh tế phát triển

Giai đoạn 1: Trong giai đoạn này, đặc trưng chính là sự thống trị của các hoạt động của khu vực khai thác, đặc biệt là nông nghiệp - nông nghiệp đóng góp phần lớn vào GDP Bên cạnh đó, tỷ lệ tích lũy tư bản thấp nên tỷ lệ đầu tư thấp, tốc độ tăng trưởng cao của lực lượng lao động và tốc độ tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) rất thấp

Giai đoạn 2: Được gọi là giai đoạn công nghiệp hóa Nền kinh tế được chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực chế biến và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung được tăng lên Sự dịch chuyển này xuất hiện ở các nước phụ thuộc vào nguồn tài nguyên sẵn có và chính sách ngoại thương của nước đó Xét ở mặt cung, sự đóng góp vào tăng trưởng của nhân tố tích lũy tư bản vẫn được giữ ở mức cao trong hầu hết giai đoạn 2 do có sự gia tăng mạnh của tỷ lệ đầu tư

Trang 26

Giai đoạn 3: Giai đoạn của nền kinh tế phát triển Tỷ trọng của khu vực công nghiệp giảm trong cơ cấu GDP và khu vực dịch vụ trở thành khu vực quan trọng nhất

và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP cũng như cơ cấu lao động Trong giai đoạn này, nhân tố đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng là TFP

Có thể nói, lý thuyết chuyển dịch cơ cấu của Moise Syrquin là một bức tranh tổng thể khá chính xác về sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới thời

kỳ hiện đại Thực tiễn phát triển kinh tế thế giới thời gian qua đã cho thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới đã và đang chuyển qua bốn giai đoạn: Nông nghiệp

- Công nghiệp - Dịch vụ; Công nghiệp - Nông nghiệp - Dịch vụ; Công nghiệp - Dịch

vụ - Nông nghiệp và Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp

2.2.5.7 Mô hình tăng trưởng tân cổ điển

Solow (1956) đã phát triển một mô hình có tính cách mạng về tăng trưởng kinh

tế Solow nhận ra rằng các đầu vào vốn vật chất và lao động không gói gọn tất cả những thông tin có liên quan đến sự hiểu biết về quy mô sức mạnh và tiềm lực tăng trưởng của một nền kinh tế Solow là người tiên phong trong việc đưa tiến bộ công nghệ như một nhân tố quan trọng tác động đến tăng trưởng của một nền kinh tế

Solow đã đưa công nghệ vào phương trình hàm sản xuất Tuy nhiên, ông đã thêm nó như một biến ngoại sinh từ phương trình hàm sản xuất của mô hình tân cổ điển, Biến công nghệ ngoại sinh này có ý nghĩa trong việc giải thích những khác biệt giữa những mức vốn và lao động được xem như là sản lượng và sản lượng thực tế, đặc biệt là trong so sánh giữa các quốc gia Đặc biệt, nó cung cấp một phương tiện để giải thích tỷ lệ tăng trưởng theo thời gian Tuy nhiên, có một điểm yếu lớn trong mô hình Solow Việc đặt biến công nghệ như một biến ngoại sinh ngoài hàm sản xuất, mô hình Solow không thể giải thích công nghệ đến từ đâu, tại sao và bằng cách nào, vì thế mô hình thiếu một chút thuyết phục Tuy nhiên, thiếu sót này nhanh chóng được nhận ra

và nhiều nghiên cứu đã đặt những giả thuyết khác nhau để lý giải về công nghệ và tiến

bộ kỹ thuật

Một điểm nhấn quan trọng trong công trình của Solow là lý thuyết về thu nhập hội tụ Sự hội tụ dựa trên cơ sở lợi nhuận trên vốn giảm dần được phát hiện đầu tiên bởi Malthus và Ricardo Lý thuyết hội tụ cho rằng khoảng cách giữa các quốc gia sẽ thu hẹp lại theo thời gian do lợi nhuận trên vốn giảm dần Tuy nhiên, đây là một sự đơn giản hóa tổng quát về sự khác biệt và thực tế của nền kinh tế Sự hội tụ kinh tế không đúng tuyệt đối, song có thể chấp nhận nó đúng với một só điều kiện Về cơ bản,

Trang 27

sự hội tụ là một tác động quan trọng, tuy nhiên tác động của nó chỉ đúng khi tất cả các biến không thay đổi (Barro và Sala-Martin, 1992, 1995, Mankiw, Romer và Weil,

1992, McCallun, 2003)

Mô hình Solow dẫn đầu trong việc tìm kiếm những lý giải về tăng trưởng kinh

tế, nhưng lại không đủ khả năng giải thích sản lượng và dự đoán về tăng trưởng kinh

tế Thiếu sót cơ bản nhất là tỷ lệ tăng trưởng vốn trong dài hạn được xác định hoàn toàn bởi một yếu tố, là tỷ lệ tiến bộ công nghệ, một biến nằm ngoài mô hình Tỷ lệ tăng trưởng dài hạn cũng phụ thuộc vào tỷ lệ tăng trưởng dân số, một yếu tố ngoại sinh khác trong lý thuyết cơ bản Vì vậy, các nhà kinh tế vẫn tiếp tục cải tiến và thay thế cách giải thích về sản lượng và tăng trưởng kinh tế theo thời gian

Cần lưu ý rằng những phân tích trên không có nghĩa là những phân tích trong lý thuyết tân cổ điển không có hiệu quả Ngược lại, nó đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển mô hình cân bằng tổng thể, là cơ sở cho nhiều lý thuyết kinh tế hiện nay

2.3 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI TIÊU CÔNG VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế là một vấn đề được nghiên cứu khá rộng rãi trên phương diện lý thuyết và kiểm định thực nghiệm Trong luận văn này sẽ giới thiệu một số nghiên cứu điển hình trong và ngoài nước như sau:

2.3.1 Tình hình nghiên cứu quốc tế

Nhìn chung, có hai trường phái về vai trò của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế (Ram, 1986) Trường phái thứ nhất cho rằng vai trò của chính phủ là tiêu cực: hoạt động của chính phủ thường không có hiệu quả, các quy định áp đặt chi phí và gánh nặng quá mức cho nền kinh tế, nhiều chính sách tài chính và tiền tệ có khuynh hướng bóp méo những ưu đãi và giảm bớt năng suất của nền kinh tế Trường phái thứ hai ngược lại, ủng hộ vai trò của chính phủ cho rằng: Chính phủ hòa hợp những mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội, chính phủ bảo vệ nhân dân khỏi sự khai thác của nước ngoài, chính phủ bảo đảm sự gia tăng hiệu quả trong đầu tư và cung cấp một hướng tối ưu về mặt xã hội cho tăng trưởng và phát triển Trong lý thuyết tăng trưởng kinh tế tân cổ điển, các chính sách tài chính không làm thay đổi tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Mô hình tăng trưởng nội sinh kết luận ngược lại: các chính sách tài chính có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn (Barro và Sala-Martin, 1992) Các nghiên cứu giải thích tăng trưởng nội sinh của kinh tế trong dài hạn mở đầu

Trang 28

bởi Romer (1986) và Lucas (1988) Sau đó, nhiều nhà nghiên cứu đã giải thích tác động của chính sách tài chính công qua mô hình tăng trưởng nội sinh bằng mô hình với giả định rằng thuế được tái phân phối đến hộ gia đình Barro (1992) đã phát triển

mô hình đơn giản trong đó chính phủ dùng thuế như chi tiêu chính phủ và chi tiêu này đặt trong hàm sản xuất như một đầu vào hiệu quả Hơn thế nữa, Barro chứng minh rằng trong mô hình của ông, tối đa hóa tỷ lệ tăng trưởng kinh tế tương đương với tối

đa hóa phúc lợi xã hội

Ogiogio (1995) phát hiện ra mối quan hệ trong dài hạn giữa chi tiêu chính phủ

và tăng trưởng kinh tế Hơn nữa, tác giả tìm thấy rằng chi thường xuyên ảnh hưởng nhiều đến tăng trưởng kinh tế hơn chi đầu tư Devarajan và cộng sự (1996) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các thành phần chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế ở một nhóm nước đang phát triển Kết quả thu được đã minh họa cho ý chi đầu tư có một ý nghĩa tiêu cực với tăng trưởng GDP bình quân đầu người Tuy nhiên, chi thường xuyên có mối quan hệ tích cực với GDP thực bình quân đầu người Fajingbesi và Odusola (1999) nghiên cứu mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế ở Nigieria Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chi đầu tư công có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa với đầu ra thực tế Tuy nhiên, chi thường xuyên chỉ có tác động biên với tăng trưởng

Nghiên cứu của Barro (1991) đã sử dụng số liệu từ 98 quốc gia trên thế giới và mức tăng trưởng được tính toán trong giai đoạn 1960-1985 Để giải thích cho sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng giữa các nước, Barro sử dụng phân tích hồi quy bội với rất nhiều biến giải thích như: nguồn nhân lực, mức GDP ban đầu, lạm phát, tỷ trọng xuất khẩu/GDP, chi tiêu chính phủ, các biến phản ánh sự khác nhau về thể chế kinh tế và chính trị, mức độ bảo vệ quyền sở hữu Các biến được lựa chọn dựa trên lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển và dựa trên các dự đoán Kết quả nghiên cứu cho thấy tiêu dùng chính phủ có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế

Các kết quả nghiên cứu của Nghiên cứu của Devarajan, Swaroop và Zou (1996), Chen (2006), Ghosh và Gregoriou (2008) cho thấy sự gia tăng chi đầu tư có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, trong khi đó sự gia tăng chi thường xuyên lại có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Kết quả nghiên cứu của Mesghena Yasin (2003) đã cho thấy chi tiêu công, độ mở thương mại và đầu tư tư nhân có tác động tích cực và đáng kể lên tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, viện trợ nước ngoài và tỷ

lệ tăng trưởng dân số không có ý nghĩa thống kê

Trang 29

2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Đối với chủ đề này, cho đến nay cũng có khá nhiều nghiên cứu đã thực hiện Chẳng hạn:

Nghiên cứu của Sử Đình Thành (2011) về “Chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế

ở Việt Nam - Kiểm định nhận quả trong mô hình đa biến” Tác giả đã khảo sát mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1990-2010 Kết quả cho thấy, chi ngân sách nhà nước, vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, đầu tư tư nhân, độ mở thương mại có hiệu quả tích cực đến tăng trưởng kinh tế, còn hiệu ứng của lực lượng lao động lên tăng trưởng kinh tế ở mức thấp hơn Kết quả nghiên cứu này nghiêng về ủng hộ trường phái Keynes hơn là định luật Wagner với việc nhấn mạnh vai trò của Chính phủ và tác động của tài khóa đến tăng trưởng kinh tế Với phát hiện ODA có hiệu ứng lên đầu tư tư nhân với mức ý nghĩa 10% Hàm ý chính sách phát triển kinh tế tư nhân và thúc đẩy tự do hóa thương mại có đóng góp nhất định đến tăng trưởng kinh tế trong hai thập kỷ qua

Nghiên cứu của Nguyễn Quang Trung và Trần Phạm Khánh Toàn (2014) về

“Tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Nam Á” Nhóm tác giả đã nghiên cứu phân tích tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tếtại các quốc gia Đông Nam Á trong giai đoạn 1995-2012 Qua phân tích hồi quy dữ liệu bảng cho thấy tổng chi tiêu công, chi tiêu công cho y tế, cho an ninh quốc phòng

có tác động cùng chiều đến tăng trưởng kinh tế và chi tiêu công cho giáo dục có tác động ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, lực lượng lao động, đầu tư tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động cùng chiều lên tăng trưởng kinh tế, còn lạm phát và độ mở nền kinh tế thì tác động ngược chiều

Nghiên cứu của Đặng Văn Cường và Bùi Thanh Hoài (2014) về “Tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế: Minh chứng dữ liệu chuỗi tại TP Hồ Chí Minh” Các tác giả sử dụng mô hình hồi quy đồng tích hợp và mô hình ECM để ước lượng sự tác động của các yếu tố tăng trưởng kinh tế cả trong dài hạn và ngắn hạn với

dữ liệu thứ cấp, gồm chuỗi thời gian theo năm từ 1990 đến 2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy, chi thường xuyên không có quan hệ với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn nhưng tác động thuận chiều một cách có ý nghĩa thống kê trong ngắn hạn Tổng chi tiêu công cũng không tác động đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn nhưng tác động nghịch chiều trong ngắn hạn; chi đầu tư phát triển, đầu tư khu vực tư nhân và độ mở

Trang 30

nền kinh tế có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế cả trong ngắn hạn và dài hạn và không tồn tại mối quan hệ tăng trưởng lao động bình quân và tăng trưởng kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, sự sai biệt giữa giá trị thực tế và giá trị dài hạn của LnGDP (hay giá trị cân bằng của LnGDP) được điều chỉnh sau mỗi năm là 21,22% và

có ý nghĩa thống kê ở mức 10%

Nghiên cứu của Hoàng Khắc Lịch và Phan Thế Công (2016) về “Tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế” Nhóm tác giả đã phân tích tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế Trong đó, tốc độ tăng quy mô chi tiêu công và tỷ lệ Chi tiêu công/GDP được coi là biến giải thích trong mô hình hồi quy với dữ liệu bảng của

77 quốc gia trong giai đoạn 1990-2013 Kết quả cho thấy, một mặt chi tiêu công tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, mặt khác lại kìm hãm tăng trưởng Cụ thể, tốc

độ tăng chi tiêu công tác động tích cực đến tăng trưởng trong khi quy mô chi tiêu công lại tác động tiêu cực

Nghiên cứu của Đỗ Hữu Khánh Bình (2016) về “Tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh Khánh Hòa” Dựa trên bộ dữ liệu giai đoạn 1995-

2014, kết quả nghiên cứu cho thấy: Phân tích cân bằng dài hạn - phân tích đồng liên kết cho thấy tổng chi ngân sách, đầu tư tư nhân và lao động có tác động cùng chiều lên tăng trưởng kinh tế, trong khi đó đầu tư trực tiếp nước ngoài lại có tác động ngược chiều lên tăng trưởng kinh tế Còn lạm phát và độ mở thương mại không tác động một cách có ý nghĩa thống kê lên tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Tuy nhiên, phân tích cân bằng ngắn hạn - mô hình ECM, cho kết quả là sự thay đổi ngắn hạn của biến lạm phát có ảnh hưởng thuận chiều lên tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn Ngoài ra, sự sai biệt giữa giá trị thực tế và giá trị dài hạn của LnGDP (hay giá trị cân bằng của LnGDP) được điều chỉnh sau mỗi năm là không đáng kể (0,03 hay 3%) và không có ý nghĩa thống kê

2.4 KHUNG PHÂN TÍCH, MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

2.4.1 Khung phân tích chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế

Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu có liên quan ở nước ngoài và tại Việt Nam cho thấy đóng góp cho tăng trưởng ngoài nhân tố vốn, lao động còn nhiều nhân

tố khác gọi là “nhân tố tổng hợp” Các phương pháp kỹ thuật tính toán sự đóng góp riêng lẻ của nhân tố vốn, lao động và nhân tố tổng hợp gọi là hạch toán tăng trưởng (Growth accounting) Thực hiện phân tích hạch toán tăng trưởng kinh tế sẽ giúp ta xác

Trang 31

định tầm quan trọng của các nhân tố trong tăng trưởng, từ đó đề xuất các chính sách thích hợp nhằm phát huy tối đa hiệu quả sử dụng các nhân tố trong nền kinh tế phục vụ mục tiêu tăng trưởng (Sử Đình Thành, 2012)

Mô hình lý thuyết được xây dựng nếu bỏ qua yếu tố tổng hợp, hàm sản xuất Cobb-Douglas tổng quát được viết lại dưới dạng đơn giản như sau:

Trong đó: Y là mức sản lượng; K là đầu tư tư nhân; L là lực lượng lao động Khi có sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế, theo Grossman (1988) đưa chi tiêu công (G) vào hàm sản xuất tổng quát Khi đó, có thể viết lại phương trình (2.1) như sau:

2.4.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nhằm đo lường tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại thành phố Nha Trang, tác giả thực hiện mô hình nghiên cứu với giả định là tăng trưởng kinh tế chịu tác động của các biến kinh tế vĩ mô sau: Đầu tư tư nhân (INV), Tăng trưởng lao động bình quân (PRG), Tổng chi ngân sách (BS), Chi đầu tư phát triển (BI), Chi thường xuyên (BC) Phát triển từ phương trình (2.3), tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:

GDP = f(INV, PRG, BS, BC, BI) (2.4)

Để kiểm định mô hình, tác giả sử dụng phương trình tuyến tính log như sau: LnGDPt =β0+ β1LnINVt + β2LnPGRt + β3LnBSt + β4LnBCt + β5LnBIt + εt (2.5) Trong đó:

+ Biến phụ thuộc là GDP được đại diện cho tăng trưởng kinh tế tại địa phương,

đo bằng tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố Nha Trang, đơn vị tính là tỷ đồng

Trang 32

+ Các biến độc lập: INV là đầu tư tư nhân, BS là tổng chi ngân sách, BC là chi thường xuyên, BI là chi đầu tư phát triển có đơn vị tính là tỷ đồng; PRG là lao động bình quân, đơn vị tính là người

+ β0, β1, β2, β3, β4, β5 là các hệ số chứa đựng hiệu ứng của các biến ngoại sinh + ε là sai số thể hiện tác động của các biến bị bỏ qua (ε thay đổi theo thời gian)

2.4.3 Các giả thuyết nghiên cứu

Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu có liên quan ở nước ngoài và tại Việt Nam, đặc biệt dựa vào nghiên cứu của Đặng Văn Cường và Bùi Thanh Hoài (2014) vì

dữ liệu của nhóm tác giả có đặc điểm tương đồng với nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng tác động của các biến giải thích đối với biến phụ thuộc như thông qua các giả thuyết như sau:

Giả thiết H1: “Đầu tư tư nhân có tác động cùng chiều lên tăng trưởng kinh tế”

Giả thuyết H2: “Lao động có tác động cùng chiều lên tăng trưởng kinh tế”

Giả thuyết H3: “Tổng chi tiêu công có tác động cùng chiều lên tăng trưởng kinh tế” Giả thuyết H4: “Chi thường xuyên có tác động cùng chiều lên tăng trưởng kinh tế” Giả thuyết H5: “Chi đầu tư phát triển có tác động cùng chiều lên tăng trưởng kinh tế”

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Trong chương 2, tác giả đã hệ thống lý thuyết về cơ sở lý thuyết chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế, tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước đã chỉ ra mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế Đây là cơ sở để tác giả đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu mối quan hệ giữa chi tiêu công có tác động đến tăng trưởng kinh tế của thành phố Nha Trang trong giai đoạn 1998-2017

Trang 33

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

Quy trình nghiên cứu sử dụng trong luận văn bao gồm các bước cơ bản được thể hiện qua hình 3.1 sau đây:

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu: Việc xác định được vấn đề nghiên cứu là

một bước quan trọng quyết định sự thành công của một đề tài nghiên cứu Một vấn đề nghiên cứu được xác định đúng đắn, chính xác và phù hợp với đề tài nghiên cứu sẽ giúp cho người nghiên cứu xác định chính xác được mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và phương hướng thực hiện nghiên cứu Vấn đề nghiên cứu của luận

văn này là “Tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại thành phố Nha

Trang, tỉnh Khánh Hòa” Để thực hiện thành công được đề tài nghiên cứu này, tác

giả đưa ra các mục tiêu mà nghiên cứu cần đạt được dựa trên việc xây dựng các câu hỏi nghiên cứu

Xác định vấn đề nghiên cứu

Tổng quan cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực

nghiệm trước đây

Xây dựng mô hình nghiên cứu

Thu thập dữ liệu nghiên cứu

Phân tích dữ liệu

Báo cáo kết quả nghiên cứu

Trang 34

Bước 2: Tổng quan lý thuyết và những bằng chứng thực nghiệm trước đây:

Cơ sở lý thuyết hình thành nên khung lý thuyết của đề tài và định hướng nghiên cứu đề tài Đề tài tập trung nghiên cứu lý thuyết về chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế Tác giả dựa trên các thống kê và xem xét các công trình nghiên cứu trong nước, ngoài nước và các mô hình có liên quan đến đề tài đã được áp dụng thành công làm tiền đề xây dựng mô hình nghiên cứu của mình

Bước 3: Xây dựng mô hình nghiên cứu: Tác giả dựa trên cơ sở khung lý thuyết

đã xây dựng và tổng hợp, phân tích kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài để xây dựng mô hình nghiên cứu, từ đó tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu chính thức và các giả thuyết nghiên cứu để có thể xác định được tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Bước 4: Thu thập dữ liệu nghiên cứu: Thông qua các nguồn dữ liệu thứ cấp

khác nhau, tác giả xây dựng cấu trúc bảng dữ liệu, với công cụ Microsoft Excel và thu thập được các dữ liệu cần thiết cho mô hình nghiên cứu để tiến hành phân tích

Bước 5: Phân tích dữ liệu bằng phần mềm Stata: Căn cứ vào loại dữ liệu

chuỗi thời gian và giả thuyết nghiên cứu, tác giả sử dụng các kỹ thuật phân tích theo thứ tự: Kiểm định tính dừng của dữ liệu; Kiểm định đồng liên kết; Kiểm định mô hình ECM; Kiểm định nhân quả Granger Đồng thời các kiểm định để đánh giá sự phù hợp của mô hình cũng được áp dụng gồm: kiểm định tự tương quan, kiểm định phương sai thay đổi, kiểm định phân phối chuẩn của phần dư

Bước 6: Báo cáo kết quả nghiên cứu: Giải thích ý nghĩa của dữ liệu và các kết

quả phân tích về sự tương quan của các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu Trên cơ sở đó đưa ra được các kết luận về các giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra, từ đó đưa các hàm ý chính sách về hiệu quả chi tiêu công góp phần tăng trưởng kinh tế của thành phố Nha Trang trong giai đoạn tới

3.2 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THU THẬP DỮ LIỆU

Dữ liệu sử dụng cho mô hình là bộ dữ liệu theo chuỗi thời gian từ năm 1998 đến năm 2017 Để đảm bảo tính thống nhất, nguồn dữ liệu thu thập chính từ nguồn Cục thống kê tỉnh Khánh Hòa, Chi Cục thống kê thành phố Nha Trang, ngoài ra có tham khảo thêm dữ liệu từ Phòng Tài chính-Kế hoạch thành phố Nha Trang Như vậy,

số quan sát theo năm là 20 Các dữ liệu thu thập trong đề tài về GDP thành phố Nha Trang, đầu tư tư nhân của thành phố Nha Trang, số lao động, chi đầu tư phát triển, chi

Trang 35

thường xuyên và tổng chi ngân sách thành phố Nha Trang Dữ liệu thu thập được trình bày qua bảng sau đây

Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố Nha Trang giai đoạn 1998-2017

Ghi chú: GDP được đại diện cho tăng trưởng kinh tế tính theo giá so sánh năm 2010,

đơn vị tính là tỷ đồng; INV là đầu tư tư nhân, BS là tổng chi ngân sách, BC là chi thường xuyên, BI là chi đầu tư phát triển có đơn vị tính là tỷ đồng; PRG là lao động bình quân, đơn vị tính là người

Nguồn: Cục thống kê tỉnh Khánh Hòa, Chi Cục thống kê thành phố Nha Trang, Phòng Tài chính-Kế hoạch thành phố Nha Trang

Trang 36

3.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

3.3.1 Xử lý dữ liệu

Đối với giá trị GDP, để thống nhất dữ liệu trong tính toán, tác giả quy đổi tổng

sản phẩm trên địa bàn giai đoạn 1998-2017 về giá năm 2010 để so sánh tốc độ tăng

Đổi GDP hàng năm (từ 1998-2009) theo giá năm 2010 theo công thức:

Trong đó:

H: hệ số chuyển đổi, tính bằng tỷ lệ giữa GDP của năm 2010 tính theo giá năm

2010 so với GDP của năm 2010 tính theo giá năm 1994

Thay giá trị vào H ta có:

H = GDP 2010 (t) / GDP 1994 (t) = 18.810 / 8.753 = 2,149

3.3.2 Các phương pháp kiểm định

3.3.2.1 Kiểm định nghiệm đơn vị

Đối với chuỗi thời gian, trước khi tiến hành chạy thực nghiệm cần phải kiểm tra tính dừng của nó Bởi vì, một mẫu dữ liệu thời gian sẽ mang một tình tiết nhất định và chỉ thể hiện những hành vi cụ thể trong khoảng thời gian xem xét Nếu như một chuỗi thời gian không dừng, nó không cho phép khái quát hóa cho các giai đoạn thời gian khác Hơn nữa, trong mô hình hồi quy cổ điển, nếu chuỗi thời gian không dừng thì các kết quả trong phân tích hồi quy sẽ không có giá trị cho việc dự báo do gặp phải vấn đề tương quan giả mạo (Gujarati, 2003) Đối với các biến không dừng bậc 0, tác giả tiến

hành kiểm định tính dừng ở sai phân bậc 1

Để kiểm định tính dừng của các biến chuỗi thời gian, kiểm định Augmented Dickey - Fuller (ADF) truyền thống với giả thuyết: H0: ρ = 0  kết luận: Chuỗi có nghiệm đơn vị hoặc chuỗi không dừng; H1: ρ < 0  kết luận: Chuỗi không có nghiệm đơn vị hoặc chuỗi dừng Tiêu chí quan trọng đó là nếu thống kê t-stat (được tính toán trong mô hình) đối với ρ có giá trị âm lớn hơn giá trị tra bảng DF trong kiểm định Augmented Dickey - Fuller thì giả thuyết H0 bị bác bỏ hoặc biến có tính dừng hoặc không có nghiệm đơn vị

Trang 37

3.3.2.2 Kiểm định đồng liên kết của các biến

Granger (1983) ghi nhận “một kiểm định về sự đồng tích hợp có thể được coi

như một tiền kiểm định để loại bỏ tình huống hồi quy không xác thực” Hồi quy đồng

liên kết theo phương pháp phân tích phần dư (εt) hai bước của Engle – Granger: Bước một, nghiên cứu thiết lập mối tương quan cân bằng trong dài hạn của các biến; và Bước hai, nghiên cứu kiểm định tính liên kết của phần dư (εt) bằng cách dùng thống kê ADF Nếu kết quả kiểm định cho thấy phần dư là chuỗi dừng thì khẳng định tồn tại mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến trong mô hình đã thực hiện bước một

3.3.2.3 Kiểm định mô hình hiệu chỉnh sai số ECM

Theo Granger (1983, 1986) khái niệm cân bằng dài hạn chỉ định sự tương đương về mặt thống kê của đồng tích hợp Tất nhiên, trong bối cảnh ngắn hạn có thể

có sự mất cân bằng và sự mất cân bằng này có thể tồn tại quá trình điều chỉnh động ngắn hạn như cơ chế hiệu chỉnh sai số (Error Correction Mechanism) Cơ chế này sẽ đưa hệ thống trở lại cân bằng dài hạn Thực tế cho thấy, đồng tích hợp hàm ý sự tồn tại dạng hàm hiệu chỉnh sai số động trong xem xét quan hệ giữa các biến, do vậy mô hình ECM được sử dụng trong ước lượng sẽ cho phép xác định cân bằng dài hạn từ sự vận động ngắn hạn được xác định từ dữ liệu thực tế Mô hình ECM tổng quát như sau:

∆yt = γ1 ∆xt + γ2 ξt-1 + ωt Phương trình trên mô tả ∆yt được giải thích bởi ∆xt và ξt-1 ξt-1 là sai số cân bằng (equylibrium error) đã xảy ra trong thời gian trước đó ξt-1 thể hiện sự điều chỉnh hướng đến cân bằng dài hạn Nếu γ2 có ý nghĩa thống kê, thì nó cho ta biết một tỷ lệ mất cân đối trong một thời đoạn trước đó được hiệu chỉnh ở thời đoạn tiếp theo

3.3.2.4 Kiểm định nhân quả Granger

Kiểm định quan hệ nhân quả Granger giữa hai chuỗi thời gian Y và X được thực hiện như sau:

Xây dựng hai phương trình cho chuỗi thời gian Y và X như sau:

Yt = α0 + α1Yt-1 + … + αpYt-p + β1Xt-1 + … + βpXt-p + εt

Xt = α0 + α1Xt-1 + … + αpXt-p + β1Yt-1 + … + βpYt-p + εt

Để xem các biến trễ của X có giải thích cho Y (X tác động nhân quả Granger lên Y) và các biến trễ của Y có giải thích cho X (Y tác động nhân quả Granger lên X) hay không ta kiểm định giả thiết sau đây cho mỗi phương trình: H0 : β1 = β2 = … = βp = 0

Trang 38

Để kiểm định giả thiết đồng thời này, ta sử dụng thống kê F của kiểm định Wald

và cách quyết định như sau: Nếu giá trị thống kê F tính toán lớn hơn giá trị thống kê F phê phán ở một mức ý nghĩa xác định ta bác bỏ giả thiết H0 và ngược lại Có bốn khả năng như sau:

- Nhân quả Granger một chiều từ X sang Y nếu các biến trễ của X có tác động lên Y, nhưng các biến trễ của Y không có tác động lên X

- Nhân quả Granger một chiều từ Y sang X nếu các biến trễ của Y có tác động lên X, nhưng các biến trễ của X không có tác động lên Y

- Nhân quả Granger hai chiều giữa X và Y nếu các biến trễ của X có tác động lên

Y và các biến trễ của Y có tác động lên X

- Không có quan hệ nhân quả Granger giữa X và Y nếu các biến trễ của X không

có tác động lên Y và các biến trễ của Y không có tác động lên X

Mối quan hệ nhân quả giữa GDP và biến giải thích được kiểm định nhân quả thông qua thủ tục kiểm định Granger causality Wald test Mối quan hệ này có thể 1 chiều hoặc 2 chiều hoặc không tồn tại phụ thuộc vào thống kê Chi2 Nếu Prob > Chi2

có ý nghĩa thống kê thì sẽ tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa 2 biến, ngược lại sẽ không tồn tại mối quan hệ nhân quả khi Prob > Chi2 không có ý nghĩa thống kê Để

thực hiện kiểm định Granger causality Wald, tác giả sử dụng lệnh vargranger trong

phần mềm STATA 14.0

3.3.2.5 Kiểm định sự phù hợp của mô hình

Để kiểm định hiện tượng tự tương quan trong mô hình, tác giả sử dụng thủ tục

kiểm định Breusch-Godfrey LM bằng lệnh bgodfrey trong phần mềm STATA 14.0 Kết quả kiểm định cho thấy Prob>Chi2 > 5%, hàm ý rằng giả thuyết H0: “Không có

hiện tượng tự tương quan” được chấp nhận ở mức ý nghĩa 5% Nói cách khác, mô

hình nghiên cứu không có hiện tượng tự tương quan

Để kiểm tra hiện tượng phương sai thay đổi trong mô hình thực nghiệm, tác giả

sử dụng kiểm định Breusch-Pagan / Cook-Weisberg với lệnh estat hettest trong phần

mềm STATA 14.0 Kết quả kiểm định cho thấy Prob>Chi2 > 5%, hàm ý rằng giả

thuyết H0: “Không có hiện tượng phương sai thay đổi” được chấp nhận ở mức ý nghĩa 5% Nghĩa là, mô hình thực nghiệm không có hiện tượng phương sai thay đổi

Để kiểm tra phần dư trong mô hình thực nghiệm có phân phối chuẩn hay không,

tác giả sử dụng kiểm định Skewness / Kurtosis với lệnh sktest trong phần mềm

Trang 39

STATA 14.0 Kết quả kiểm định cho thấy thống kê Prob(Skewness) = >5% hoặc Prob

(Kurtosis) > 5%, hàm ý rằng giả thuyết H0: “Phần dư có phân phối chuẩn” được chấp nhận ở mức ý nghĩa 5%

TÓM TẮT CHƯƠNG 3

Trong chương 3, tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu gồm quy trình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu và phương pháp xử lý số liệu Phương pháp nghiên cứu này là cơ sở để tác giả thực hiện nghiên cứu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong chương 4

Ngày đăng: 26/01/2021, 20:50

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm