Luận văn được thực hiện nhằm cung cấp dữ liệu về hiện trạng nghề nuôi nghêu lụa thương phẩm tại tỉnh Kiên Giang và nghiên cứu nhằm tìm ra các thông số kỹ thuật thích hợp hình thức nuôi v
Trang 1i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
HUỲNH VĂN QUÝT
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NHU CẦU CON GIỐNG NGHÊU LỤA
VÀ NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NUÔI VỖ, KÍCH THÍCH SINH SẢN
NGHÊU LỤA (Paphia undulata Born, 1778) TẠI KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2ii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
HUỲNH VĂN QUÝT
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NHU CẦU CON GIỐNG NGHÊU LỤA VÀ NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NUÔI VỖ, KÍCH THÍCH SINH SẢN NGHÊU
LỤA (Paphia undulata Born, 1778) TẠI KIÊN GIANG
KHÁNH HÒA - 2019
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu của chính bản thân Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ nghiên cứu nào Đề tài này là một phần nội dung thuộc đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh: “Nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo và thí điểm
nuôi thương phẩm nghêu lụa (Paphia undulata Born, 1778) tại Kiên Giang” và đã
được chủ nhiệm đề tài đồng ý cho sử dụng một phần số liệu
Học viên thực hiện
Huỳnh Văn Quýt
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới quý thầy, cô Trường Đại học Nha Trang, đặc biệt quý thầy, cô giảng dạy lớp CHNTTS 2017-1 tại trường Đại học Kiên Giang Tôi cũng xin bày tỏ sự cám ơn chân thành tới thầy TS Lê Anh Tuấn, người đã hướng dẫn tận tình cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này Đồng thời tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến ThS Vũ Trọng Đại - chủ nhiệm đề tài NCKH cấp Tỉnh:
“Nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo và thí điểm nuôi thương
phẩm nghêu lụa (Paphia undulata Born, 1778) tại Kiên Giang” đã giúp đỡ để thực
hiện thành công luận văn này
Tôi xin gửi lời cám ơn vô hạn tới Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhân viên chức trại thực nghiệm giống thủy sản Ba Hòn, Kiên Lương, Kiên Giang đã giúp đỡ tôi tận tình về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị để thí nghiệm cho công trình nghiên cứu này
Tôi xin gửi lời cám ơn tới Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ công chức Hội Nông dân huyện An Biên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm đề tài
Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin gửi tới bạn bè, đồng nghiệp, những người đã luôn động viên, giúp đỡ cổ vũ rất nhiều trong suốt thời gian học tập
Cuối cùng, với lòng biết ơn vô hạn, tôi xin được dành cho gia đình, bố mẹ - những người đã có công sinh thành, giáo dưỡng để tôi có được như ngày hôm nay Những lời động viên và chia sẻ từ vợ và các con tôi là nguồn sinh lực vô hạn giúp tôi vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống cũng như học tập
Kiên Giang, tháng 03 năm 2019
Tác giả
Huỳnh Văn Quýt
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số đặc điểm sinh học của nghêu lụa 3
1.1.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái cấu tạo 3
1.1.2 Đặc điểm phân bố 3
1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 4
1.1.4 Đặc điểm sinh sản 5
1.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống và nuôi thương phẩm nghêu lụa 7
1.2.1 Trên thế giới 7
1.2.2 Tại Việt Nam 8
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 10
2.2 Nội dung nghiên cứu 11
2.3 Phương pháp nghiên cứu 12
2.3.1 Phương pháp điều tra, khảo sát 12
Trang 6iv
2.3.2 Nghiên cứu kỹ thuật nuôi vỗ thành thục nghêu lụa bố mẹ 14
2.3.3 Nghiên cứu kỹ thuật kích thích sinh sản nghêu lụa bố mẹ 15
2.3.4 Phương pháp thu mẫu và xác định các chỉ tiêu môi trường 16
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 17
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19
3.1 Hiện trạng nghề nuôi nghêu lụa thương phẩm tại Kiên Giang 19
3.1.1 Đặc điểm phân bố của nghêu lụa 19
3.1.2 Hiện trạng nghề nuôi nghêu lụa thương phẩm 20
3.1.3 Hiện trạng nghề khai thác nghêu lụa 21
3.1.4 Hiệu quả kinh tế của nghề khai thác và nuôi thương phẩm nghêu lụa 22
3.2 Kỹ thuật nuôi vỗ thành thục nghêu lụa bố mẹ 23
3.2.1 Kỹ thuật tuyển chọn nghêu lụa bố mẹ 23
3.2.2 Kết quả nuôi vỗ thành thục đàn nghêu lụa bố mẹ 24
3.3 Kỹ thuật kích thích sinh sản nghêu lụa bố mẹ 30
CHƯƠNG 4 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35
4.1 Kết luận 35
4.2 Kiến nghị 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
PHỤ LỤC 39
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3 1 Các yếu tố môi trường tại bãi phân bố nghêu lụa 19
Bảng 3 2 Diện tích và lượng giống nghêu lụa thả nuôi những năm gần đây 20
Bảng 3 3 Thông tin khai thác nghêu lụa tự nhiên 21
Bảng 3 4 Hiệu quả kinh tế nghề khai thác và nuôi thương phẩm nghêu lụa 22
Bảng 3 5 Kết quả tuyển chọn nghêu lụa bố mẹ 23
Bảng 3 6 Điều kiện môi trường trong quá trình nuôi vỗ 25
Bảng 3 7 Kết quả nuôi vỗ thành thục nghêu lụa bố mẹ 28
Bảng 3 8 Thông số đầu vào đàn nghêu lụa bố mẹ (n= 600) 30
Bảng 3 9 Kết quả kích thích sinh sản nghêu lụa 31
Trang 9vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 2 1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 11
Hình 3 1 Nghêu bố mẹ sau khi được tuyển chọn………24
Hình 3 2: Ao nuôi thành thục nghêu lụa bố mẹ 26
Hình 3 3 Bể nuôi thành thục nghêu lụa bố mẹ 27
Hình 3 4 Kích thích nghêu lụa bố mẹ sinh sản 31
Hình 3 5 Phôi giai đoạn đa bào và ấu trùng chữ D của nghêu lụa 33
Trang 10viii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Nghêu lụa Phaphia undulata là đối tượng có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế
cao, tuy nhiên hiện nay, nghề nuôi nghêu lụa nói riêng và nuôi động vật thân mềm hai mảnh vỏ nói chung tại Kiên Giang chưa phát triển là do người dân vẫn chưa chủ động được con giống, vì nguồn cung cấp giống nghêu cho nuôi thương phẩm đều được khai thác từ tự nhiên Nguồn giống nghêu không ổn định vì khai thác quá mức và chất lượng thấp do kích cỡ nghêu giống quá nhỏ dẫn đến tỷ lệ sống thấp khi nuôi thương phẩm Luận văn được thực hiện nhằm cung cấp dữ liệu về hiện trạng nghề nuôi nghêu lụa thương phẩm tại tỉnh Kiên Giang và nghiên cứu nhằm tìm ra các thông số kỹ thuật thích hợp (hình thức nuôi vỗ thành thục và phương pháp kích thích sinh sản) trong sinh sản nhân tạo nghêu lụa bố mẹ tại Kiên Giang
Kết quả điều tra cho thấy: những năm gần đây, lượng con giống nghêu lụa tại Kiên Giang có xu hướng ngày càng suy giảm, từ 105 tấn nghêu giống/năm (2016) giảm còn 35 tấn nghêu giống/năm (2018) Nghề nuôi thương phẩm nghêu lụa cho lợi nhuận cao nhưng chưa bền vững do con giống thu từ tự nhiên Kết quả từ các thí nghiệm là: đàn nghêu bố mẹ được tuyển chọn có chiều dài trung bình 38,93 ± 2,12mm tương ứng khối lượng khoảng 120 – 150con/kg và ngoài tự nhiên nghêu thành thục tốt trong khoảng từ tháng 2 đến tháng 7 hàng năm
Nghêu lụa được nuôi vỗ trong bể composite cho kết quả thành thục tốt với tỷ lệ sống trung bình 76 ± 2,9%, tỷ lệ thành thục đạt 89,7 ± 5,3% Khi tiến hành kích thích sinh sản bằng phương pháp kích thích qua sử dụng dung dịch amoniac cho kết quả sức sinh sản thực tế đạt cao nhất (0,5 ± 0,02 trứng/ml) so với phương pháp dùng oxy già (0,29 ± 0,04 trứng/ml) và phương pháp sốc nhiệt (0,41 ± 0,02 trứng/ml) Phương pháp kích thích sinh sản bằng cách sốc nhiệt cho tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở của trứng cao hơn hai phương pháp còn lại (tương ứng là 77,3 ± 4,33% và 70,3 ± 2,91%)
Các kết quả nghiên cứu của luận văn đã cung cấp các thông tin cơ bản về hiện trạng nguồn giống và nghề thương phẩm nghêu lụa tại Kiên Giang, làm cơ sở quan trọng cho nhà quản lý xây dựng các chính sách qui hoạch và phát triển đối tượng này tại địa phương theo hướng bền vững Bên cạnh đó, kết quả của luận văn cũng cung cấp
Trang 11ix
những thông số kỹ thuật cơ bản trong quá trình nghiên cứu vỗ thành thục và kích thích sinh sản nghêu lụa bố mẹ,qua đó, làm tiền đề cho việc nghiên cứu xây dựng thành công quy trình sản xuất giống nhân tạo đối tượng này tại địa phương
Từ khóa: Nghêu lụa, Phaphia undulata, mùa vụ khai thác, nuôi thương phẩm, kích thích sinh
sản
Trang 121
MỞ ĐẦU
Kiên Giang là địa phương nằm trong vùng ĐBSCL có vị trí thuận lợi và tiềm năng phát triển thủy sản rất lớn Tổng diện tích NTTS tỉnh Kiên Giang liên tục tăng từ 153.920 ha trong năm 2011 lên 221.580 ha vào năm 2016, trong đó diện tích nuôi động vật thân mềm là 19.372 ha Tổng sản lượng NTTS tỉnh Kiên Giang liên tục tăng
từ 110.498 tấn năm 2011, tăng lên 196.049 tấn năm 2016, trong đó sản lượng của các đối tượng động vật thân mềm hai mảnh vỏ là 57.960 tấn Nghêu lụa là đối tượng có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, có phân bố tự nhiên với trữ lượng lớn tại địa phương Tuy nhiên hiện nay, nghề nuôi nghêu lụa nói riêng và nuôi động vật thân mềm hai mảnh vỏ nói chung tại Kiên Giang chưa phát triển là do người dân vẫn chưa chủ động được con giống, vì nguồn cung cấp giống nghêu lụa cho nuôi thương phẩm đều được khai thác từ tự nhiên Nguồn giống nghêu lụa không ổn định và chất lượng thấp do kích cỡ nghêu lụa giống quá nhỏ dẫn đến tỷ lệ sống thấp khi nuôi thương phẩm Mặt khác, thực tế cho thấy do việc khai thác một cách bừa bãi, không theo qui hoạch nên các bãi nghêu lụa giống ngoài tự nhiên ngày càng ít đi, kết quả là lượng giống cung cấp ngày càng ít, không đáp ứng được nhu cầu cho nuôi thương phẩm nên nhiều diện tích bãi triều có thể nuôi nghêu lụa đang bị bỏ hoang do thiếu con giống Bên cạnh đó, trong quy trình kỹ thuật sản xuất giống nghêu lụa hiện nay mức độ thành công phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của nguồn nghêu lụa bố mẹ hay chính là phụ thuộc vào mức độ thành thục của nghêu lụa bố mẹ Trong tự nhiên, nghêu lụa bố mẹ chỉ thành thục sinh dục và sinh sản rộ 2 lần trong năm, do đó trong kỹ thuật sản xuất giống hiện nay khi kích thích cho nghêu lụa bố mẹ sinh sản nếu không trùng vào thời điểm mùa vụ sinh sản rộ của chúng thì tỷ lệ thành công rất thấp Do đó, việc nghiên cứu kỹ thuật nuôi vỗ thành thục nhằm tăng tỷ lệ thành thục sinh dục của nghêu lụa bố
mẹ, và tìm ra phương pháp tốt nhất để kích thích nghêu lụa bố mẹ sinh sản, nâng cao hiệu quả sinh sản là vấn đề cần thiết và cấp bách để xây dựng thành công quy trình sản xuất giống nhân tạo đối tượng này
Từ những vấn đề cấp thiết nói trên, được sự cho phép và phân công của Viện
NTTS, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng nghề nuôi và thử nghiệm sinh sản
nhân tạo nghêu lụa Paphia undulata(Born, 1778) tại Kiên Giang”
Trang 132
Mục tiêu của đề tài:
- Đánh giá hiện trạng nghề nuôi thương phẩm nghêu lụa tại Kiên Giang
- Xác định được các biện pháp kỹ thuật trong nuôi vỗ thành thục nghêu lụa bố mẹ
- Xác định được các phương pháp kích thích cho hiệu quả sinh sản tốt nhất cho nghêu lụa bố mẹ
Nội dung:
- Hiện trạng nghề nuôi thương phẩm nghêu lụa
- Ảnh hưởng của hình thức nuôi vỗ thành thục đến hiệu quả sinh sản của nghêu lụa bố mẹ
- Ảnh hưởng của phương pháp kích thích đến hiệu quả sinh sản của nghêu lụa bố mẹ
Ý nghĩa của đề tài:
Về mặt khoa học
Cung cấp dữ liệu về hiện trạng nghề nuôi nghêu lụa thương phẩm tại tỉnh Kiên Giang và các thông số kỹ thuật thích hợp (hình thức nuôi vỗ thành thục và phương pháp kích thích sinh sản) trong sinh sản nhâ tạo nghêu lụa bố mẹ tại Kiên Giang
Về mặt thực tiễn
- Cung cấp các thông tin quan trọng về hiện trạng nghề nuôi thương phẩm nghêu lụa tại Kiên Giang, làm cơ sở cho nhà quản lý xây dựng các chính sách qui hoạch và phát triển đối tượng này tại địa phương theo hướng bền vững
- Giúp người nuôi chọn được hình thức nuôi vỗ thành thục và phương pháp kích thích sinh sản nghêu lụa bố mẹ tốt nhất,qua đó, làm cơ sở cho việc xây dựng thành công quy trình sản xuất giống nhân tạo đối tượng này tại địa phương
Trang 143
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số đặc điểm sinh học của nghêu lụa
1.1.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái cấu tạo
Theo Habevà Sadao (1966), vị trí phân loại của nghêu lụa như sau[19]:
Đặc điểm hình thái cấu tạo của các loài trong họ nghêu lụa Veneridae đã được
mô tả bởi Purchon (1977), Quayle and Newkirk (1989) [22, 23] Theo các tác giả này thì hình thái cấu tạo ngoài của nghêu lụa cũng có các đặc điểm chung giống như các loài khác trong họ Veneridae như sau: nghêu lụa có hai vỏ dày, chắc chắn, có dạng thon dài, dính chặt vào nhau bằng một bản lề và góc vỏ có các răng khớp rất khít
Chanrachkij (2009) đã mô tả hình thái cấu tạo của nghêu lụa P undulata như sau:
nghêu lụa có 2 vỏ thon dài, chắc chắn và đồng dạng với nhau Đỉnh vỏ hơi nhô cao và ngả về phía sau, mặt lưng vỏ lõm vào theo hướng nhô lên của đỉnh vỏ Vỏ nghêu lụa trơn nhẵn, mặt ngoài màu nâu nhạt, mặt trong màu trắng ngà Phía trên vỏ có các đường vân sinh trưởng song song với nhau, uốn cong theo miệng vỏ với tâm là đỉnh
vỏ Tầng xà cừ trên vỏ có những đường vân màu nâu đen bao phủ và nối với nhau như hình mạng lưới Mặt trong của vỏ có màu trắng và hai vỏ được nối với nhau bởi bản lề
có cấu tạo bằng chất sừng [16]
1.1.2 Đặc điểm phân bố
Trên thế giới, nghêu lụa phân bố ở các vùng biển từ Biển Đỏ tới Úc và Nhật Bản [12] Loài này cũng phổ biến ở vịnh Thái Lan và trở thành một trong những nguồn lợi
Trang 154
thân mềm hai mảnh vỏ quan trọng của Thái Lan [24] Ở Việt Nam nghêu lụa phân bố nhiều nhất ở khu vực vùng biển nông ven biển miền Trung đến Nam Bộ và sống vùi trong nền đáy bùn cát Chúng tập trung chủ yếu ở vùng biển Kiên Lương, An Biên, An Minh, quần đảo Bà Lụa (tỉnh Kiên Giang) và vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận Nghêu lụa cũng đang được nuôi bằng cách khoanh vùng bãi phân bố tự nhiên để bảo quản và thu hoạch ở một số vùng ở xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang
và hiện nay chưa có nơi nào nuôi thương phẩm từ nguồn giống nhân tạo Ở Bình Thuận, Nghêu lụa phân bố từ Phan Rí đến Hàm Tân Từ năm 2006 trở lại đây, Nghêu lụa xuất hiện khá nhiều và trở thành đối tượng khai thác mới ở vùng nước biển ven bờ Tây tỉnh Cà Mau Sản lượng khai thác hiện tại khoảng 1.000 – 4.000 tấn/năm ở huyện
U Minh và huyện Phú Tân [3]
Nghêu lụa P.undulata sống ở vùng nước ven biển, độ mặn cao (>32ppt), nước
trong, từ vùng dưới triều đến vùng biển nông Nghêu phân bố ở độ sâu từ 5–24m, chất đáy của vùng phân bố sơ bộ được xác định là cát, cát bùn, cát mịn và cả ở những nơi cát có pha vỏ động vật thân mềm cùng mùn bã hữu cơ [7]
Nhiệt độ là yếu tố sinh thái quan trọng ảnh hưởng tới mật độ phân bố của nghêu
lụa P Undulata tại Thái Lan Theo đó nhiệt độ tầng mặt của nước biển thích hợp cho
nghêu lụa dao động trong khoảng từ 22°C – 34°C, pH nước 6,5 – 8,5, các yếu tố môi trường đặc trưng của bãi nghêu lụa biến đổi theo mùa rõ rệt, chúng phụ thuộc vào lượng mưa lũ tràn qua vùng rừng ngập mặn đổ ra các bãi nghêu lụa [4]
1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Đặc điểm dinh dưỡng của nghêu lụa cũng giống như các loài động vật hai mảnh
vỏ khác, đã được nhiều tác giả nghiên cứu như Purchon (1977), Quayle and Newkirk (1989)… [22, 23] Theo đó, thức ăn của ấu trùng nghêu lụa là các loài vi khuẩn, mùn
bã hữu cơ, tảo đơn bào có kích thước nhỏ Đến giai đoạn con non và trưởng thành thì thức ăn chính của nghêu lụa là các loài tảo đa bào, ấu trùng của các loài giáp xác, nguyên sinh động vật và mùn bã hữu cơ có kích thước lớn
Hoạt động bắt mồi của nghêu lụa nói riêng và các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ nói chung là giống nhau theo phương thức lọc bị động nhờ vào hoạt động của
Trang 165
các tấm mang Trong quá trình hô hấp, nước mang theo thức ăn đi qua mang, ở đó có các tiêm mao nằm trên tia mang bắt lấy thức ăn nhờ vào dịch nhờn Do phương thức bắt mồi là bị động nên nghêu lụa không có khả năng chọn lọc theo loại thức ăn nhưng chúng vẫn có khả năng chọn lựa thức ăn theo kích thước Theo đó, những loại thức ăn
có kích thước lớn bị thải ra ngoài, còn những loại thức ăn có kích thước nhỏ (< 10 µm)
sẽ được làm mềm và cuốn thành viên chuyển vào miệng Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục (1994) cho thấy, thức ăn chính của nghêu lụa là tảo silic chiếm 65% và mùn bã hữu cơ chiếm 35%; bên cạnh tảo silic thì tảo giáp, tảo lam, tảo lục… cũng là nguồn thức ăn chính cho nghêu lụa [1]
1.1.4 Đặc điểm sinh sản
Các nghiên cứu về đặc điểm sinh sản của nghêu lụa cho thấy chúng là loài phân tính đực cái riêng biệt, tuy nhiên trong quần đàn nghêu lụa ngoài tự nhiên luôn luôn tồn tại tỷ lệ nhỏ nghêu lụa lưỡng tính Việc xác địnhgiới tính của nghêu lụa chỉ có thể được phân biệt sau khi giải phẫu, thông qua màu sắc tuyếnsinh dục có thể phân biệt giai đoạn thành thục sinh dục của nghêu bằng mắt thường Tuy nhiên, kiểm tra bằng kính hiển vi mới có thể khẳng định chính xác giới tính của nghêu lụa Để đánh giá mức độ thành thục, cần quan sát tế bào sinh dục (trứng và tinh trùng) và quan sát tiêu bản mô học [23] Sự thành thục sinh dục của nghêu lụa phụ thuộc vào độ tuổi, kích thước và địa lý phân bố Nghêu lụa đạt kích thước khoảng 50mm sẽ bắt đầu thành thục sinh dục và có thể tham gia sinh sản lần đầu Bằng phương pháp cắt mô tế bào sinh dục, có thể phân chia sự phát triển của cơ quan sinh dục ĐVTM hai mảnh vỏ nói chung thành 5 giai đoạn [15, 20, 23]và có thể tóm tắt như sau:
- Giai đoạn 0 (Không xác định): Tuyến sinh dục không rõ ràng, chưa có sự hiện diện của nang follicule, ở giai đoạn này không xác định được giới tính Mô leydig chiếm toàn bộ tuyến sinh dục
- Giai đoạn I (Tiền giao tử): Quá trình tạo giao tử bắt đầu với sự xuất hiện của các nang follicule chen lẫn trong các mô leydig Tế bào sinh dục phát triển trên vách nang
Trang 176
- Giai đoạn II (Phát triển tích cực, sắp chín): Nang follicule phình to chiếm gần hết khối nội tạng, mô leydig giảm nhanh, các giao tử hình thành nhưng chưa chín Noãn bào gia tăng kích thước và đạt giai đoạn chín
- Giai đoạn III (Chín, sinh sản): Nang tinh phồng lên và hầu hết chứa trứng vàtinh trùng, vách nang mỏng dần, tuyến sinh dục ở trạng thái chín Trứng sẵn sàng thụ tinh và tinh trùng có khả năng hoạt động
- Giai đoạn IV (Giai đoạn nghỉ): Sau khi sinh sản, vách nang bị rách, bên trong còn sót lại một ít tinh trùng và trứng Giai đoạn này mô sinh dục bị thay thế dần bởi mô leydig Cũng giống như các loài động vật thân mềm hải mảnh vỏ khác, nghêu lụa là loài sinh sản theo phương thức noãn sinh Mùa vụ sinh sản của các loài thân mềm hai mảnh
vỏ có liên quan đến các yếu tố môi trường như: độ mặn, thủy triều, dòng chảy, đặc biệt là yếu tố nhiệt độ Ở vùng ôn đới, mùa sinh sản của nghêu lụa thường là mùa xuân Trong thủy vực vùng ôn đới chu kỳ phát triển cơ quan sinh dục liên quan đến sự gia tăng nhiệt độ vào mùa xuân, cơ quan sinh dục hoàn toàn chín khi nhiệt độ đạt đến ngưỡng sinh sản ĐVTM hai mảnh vỏ ở vùng nhiệt đới có mùa sinh sản kéo dài và kém tập trung hơn so với vùng ôn đới [23] Trong mùa sinh sản, nghêu lụa thành thục chứa đầy trứng và tinh trùng trong các ống dẫn, khi gặp các điều kiện môi trường thuận lợi (thay đổi về nhiệt độ, dòng chảy, mưa gió…) nhờ sự co giãn của cơ khép vỏ,
vỏ mở ra và khép lại rất nhanh, mạnh tạo thành áp lực ép đẩy tinh trùng hoặc trứng thoát ra ngoài qua ống siphon Tinh trùng có kích thước rất nhỏ 3-4 µm chuyển động rất nhanh trong nước Trứng nghêu lụa có đường kính từ 75-80 µm, ban đầu trứng có hình quả lê nhưng sau khi tiếp xúc với môi trường nước trứng bị trương nước và chuyển sang hình cầu Sức sinh sản của nghêu lụa, kích thước trứng, tinh trùng và sự hình thành giao tử liên quan đến kích thước của nghêu bố mẹ, nhiệt độ nước, số lượng
và chất lượng thức ăn 20 phút sau khi thụ tinh, nhân tế bào tan biến, ở cực động vật xuất hiện cực diệp thứ nhất, 5 phút sau cực diệp thứ 2 xuất hiện, sau đó trứng bắt đầu phân cắt 2, 4, 8 tế bào Quá trình phát triển phôi nang, phôi vị kéo dài trong khoảng 10 đến 16 giờ tùy vào điều kiện nhiệt độ của môi trường sau đó chuyển sang ấu trùng chữ
D kích thước 80 x 70µm (Veliger – đỉnh vỏ thẳng) Ấu trùng nghêu lụa trải qua giai đoạn phù du (giai đoạn bơi tự do) khoảng 8-10 ngày, phụ thuộc vào nguồn thức ăn và
Trang 18Mùa sinh sản của nghêu lụa hầu như quanh năm, nhưng mùa sinh sản tập trung vào tháng 3 đến tháng 6 - 7 hàng năm Nghêu lụa ở nhóm chiều cao 11 – 15mm đã có tuyến sinh dục phát triển ở giai đoạn I Tuy nhiên, nhóm kích thước chiều cao 16 – 20mm với xuất hiện một số cá thể thành thục sinh dục và tham gia sinh sản lần đầu [8]
1.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống và nuôi thương phẩm nghêu lụa
1.2.1 Trên thế giới
Trung Quốc là nước dẫn đầu về sản lượng nuôi thương phẩm ĐVTM hai mảnh
vỏ trong đó có nghêu lụa Sản lượng nuôi thương phẩm động vật thân mềm của Trung Quốc tăng từ 86.900 tấn năm 1950 lên 15,5 triệu tấn năm 2009, chiếm 80,3% tổng sản lượng, trong đó sản lượng của các đối tượng hai mảnh vỏ như hàu, nghêu, sò chiếm gần 85% Tại đây, quy trình nuôi nghêu lụa trong ao đất được chia ra làm 2 giai đoạn, thả nghêu lụa giống cỡ 16-20 vạn con/kg nuôi lên cỡ 600-1.000 con/kg; nuôi trong 2 năm nghêu lụa đạt kích cỡ 30-60 con/kg [13]
Ở Thái Lan, nghề nuôi nghêu lụa bắt đầu từ những năm 1973, nguồn giống được nhập từ Malaysia về nuôi tại tỉnh Satun, từ đó nuôi nghêu lụa thương phẩm phát triển lan rộng ở các tỉnh phía Nam Thái Lan Tại đây nghêu lụa là một trong 3 loài nghêu lụa được
khai thác chính, đó là P undulata, P alapapilionis và P crassisulca, trong đó loài nghêu lụa P undulata là loài có giá trị kinh tế nhất Quá trình nuôi được tiến hành theo các bước
như: Thu giống → chuẩn bị bãi nuôi → thả giống → quản lý, chăm sóc → thu hoạch [21]
Tại Trung Quốc, Yi và CTV (2010) đã thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo nghêu lụa và công bố điều kiện môi trường thích hợp cho ấu trùng và nghêu lụa giống như sau: nhiệt độ 23-29,6oC, độ mặn 28-34 ppt, pH 7,8 – 8,4 và DO 4 – 7 mg/l Giai đoạn ấu
Trang 198
trùng chữ D hình thành khoảng 17h tính từ khi trứng được thụ tinh với chiều dài 180 μm [27]
1.2.2 Tại Việt Nam
Hiện nay tình hình nghiên cứu nuôi nghêu lụa ở nước ta mới chỉ có các công trình nghiên cứu thăm dò ban đầu, chưa có công bố chính thức Tuy nhiên, về cơ bản thì các biện pháp kỹ thuật trong qui trình nuôi thương phẩm nghêu lụa thường khá giống nhau cho các loài trong họ nghêu Veneridae Do đó, các phương pháp kỹ thuật trong nghiên cứu nuôi vỗ thành thục và kích thích sinh sản nghêu lụa được thực hiện trong luận văn này sẽ được kế thừa từ các phương pháp nghiên cứu đã được thực hiện trên đối tượng nghêu Bến Tre
Nghiên cứu về sản xuất giống nhân tạo nghêu Bến Tre M lyrata lần đầu
tiênđược thực hiện bởi Nguyễn Đình Hùng và CTV (2003) Kết quả cho thấy nghêu bố mẹđược tuyển chọn trong mùa sinh sản và kích thích sinh sản bằng phương pháp sốc nhiệt khô sẽ cho hiệu quả tốt nhất [5] Tại Khánh Hòa,Vũ Trọng Đại (2016) đã nghiên cứu nuôi nghêu bố mẹ thành thục trong bể composite bằng thức ăn là tảo tươi Kết quả cho thấy tỷ lệ sống trung bình của nghêu bố mẹ là 84,6 ± 4,55, tỷ lệ thành thục là 71,6± 2,9% [4]
Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của nghêu lụa phân bố ở Bình Thuận cho thấy nghêu lụa là loài không đồng tăng trưởng và có tốc độ tăng trưởng khối lượng nhanh hơn chiều cao Độ béo của nghêu lụa ở Hàm Tân cao hơn so với hai vùng còn lại là Phan Thiết và Phan Rí Nghêu lụa phát triển thuận lợi nhất trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 12 (trong và sau thời kỳ có hiện tượng nước trồi) và bất lợi nhất trong tháng 4-5 [10] Các thông số sinh trưởng của nghêu lụa theo phương trình sinh trưởng Von Bertalanffy cho thấy, chiều cao cực đại của nghêu nằm trong khoảng 46,09 – 53,89 mm Nghêu lụa sau 1 năm tuổi đạt kích thước trong khoảng 28,5 – 30,6mm, và đạt kích thước cực đại sau 6+ năm tuổi Kích thước trung bình của đàn nghêu lụa khai thác hiện nay là 29,04mm, tức đạt 1 + tuổi Bài nghiên cứu cũng đã đưa ra dẫn liệu về đặc điểm sinh trưởng cùng với những dẫn liệu về mùa vụ và kích thước sinh sản lần đầu để qui định
về kích thước và mùa vụ khai thác hợp lý nguồn lợi [10]
Trang 209
Đỗ Chí Sỹ (2007) đã đưa ra được những kết luận cơ bản về đặc tính sinh trưởng,
sinh sản, dinh dưỡng và kích thước của nghêu lụa ven biển Tây Cà Mau, đồng thời đề
xuất phương pháp, phương tiện, mùa vụ, sản lượng khai thác hợp lý đối với nghêu lụa:
Mùa sinh sản của nghêu lụa hầu như quanh năm, nhưng mùa sinh sản tập trung vào
tháng 3 đến tháng 6 - 7 hàng năm Nghêu lụa ở nhóm chiều cao 11 – 15mm đã có
tuyến sinh dục phát triển ở giai đoạn I Tuy nhiên, nhóm kích thước chiều cao 16 –
20mm với xuất hiện một số cá thể thành thục sinh dục và tham gia sinh sản lần đầu [8]
Nghêu lụa là đối tượng động vật thân mềm hai mảnh võ mới được khai thác ở
nước ta trong những năm gần đây, vì vậy mà các nghiên cứu về đối tượng này không
nhiều
Tại Kiên Giang tình hình khai thác nghêu lụa giống và nuôi nuôi thương phẩm
nhiều nhất trong nhiều năm qua, nuôi nghêu lụa thương phẩm dễ nuôi có lợi nhuận
cao; nhưng năm 2017, 2018 do khai thác quá mức nên nguồn nghêu giống giảm nhiều,
đồng nghĩa với việc cung cấp con giống cho nghề nuôi thương phẩm không đủ
Trang 2110
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nghêu lụa (Paphia undulata Born, 1778) được lựa chọn
trực tiếp từ các bãi nghêu lụa tự nhiên tại huyện Kiên Lương, Kiên Giang do ngư dân đánh bắt về
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 3/2018 đến tháng 12/2018
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm điều tra: Tại 03 địa phương: huyện An Minh, huyện Kiên Lương và huyện An Biên
Các thí nghiệm được bố trí tại trại thực nghiệm và sản xuất giống thủy sản
Ba Hòn, Trung tâm Khuyến nông Kiên Giang.Địa chỉ: Quốc lộ 80, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang
2.1.4 Chuẩn bị các điều kiện thí nghiệm
Nguồn nước
Nguồn nước được lấy từ biển vào trại giống qua lọc thô (lọc cát) để loại bỏ bớt tạp chất bẩn và chứa trong bể lắng 30m3 sau đó để lắng 2-3 ngày Nước thường được lấy vào trại khi con nước lớn để đảm bảo nước trong và sạch Khi sử dụng cho nước chảy qua lọc bông kích thước 1 µm, 5µm
Nguồn nước cấy tảo được xử lý bằng Chlorine 25 ppm trong 2 ngày, sau đó phơi nắng và trung hòa bằng Natrithiosulfate với tỉ lệ 1:1
Thiết bị, dụng cụ
- Dụng cụ nuôi nghêu lụa bao gồm: bể composite 2m3, 4m3, máy sục khí, ống dẫn khí, van khí, đá bọt, máy bơm nước, đường ống, van nước, túi lọc, thiết bị lọc nước có kích thước 1µm, 5µm, các loại vợt ấu trùng, túi lưới thay nước…
- Hệ thống ao nuôi, bể lọc và bể chứa dùng chung cho toàn trại
Trang 2211
- Khu nuôi tảo sinh khối ngoài trời gồm các bể nuôi composite 2m3, thùng nhựa
200 lít, túi nylon để nuôi được nhiều loại tảo trong nhiều đợt khác nhau
- Trang thiết bị bao gồm: Máy khúc xạ kế, máy đo nhiệt độ, máy đo độ mặn, các
bộ test (NH4+/NH3, NO2-, NO3-, kiềm, pH), kính hiển vi, cân điện tử để cân thức ăn, thước đo, đèn soi ấu trùng, đèn tuýp chiếu sáng, xô nhựa 220 lít, thùng xốp
2.2 Nội dung nghiên cứu
Hình 2 1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Kỹ thuật nuôi vỗ
thành thục nghêu lụa bố mẹ
Kỹ thuật kích thích sinh sản nghêu lụa
bố mẹ
Nuôi vỗ
trong
ao
Đánh giá hiện trạng nghề nuôi và thử nghiệm sinh sản nhân tạo nghêu lụa Paphia
undulata (Born, 1778) tại Kiên Giang
Kết luận và kiến nghị
Nuôi vỗ
trong
bể
Phương pháp sốc nhiệt
Phương pháp ngâm NH40H
Phương pháp ngâm ôxy già
Trang 2312
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra, khảo sát
Điều tra, khảo sát, thu thập thông tin sơ cấp và thứ cấp về đặc điểm phân bố, nhu cầu con giống, tình hình nuôi, khai thác, tiêu thụ nghêu lụa
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Trong phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp điều tra qua phiếu (QS- Phụ lục) được sử dụng nhằm thu thập thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả [18, 25] Trước hết, tham khảo các phiếu điều tra thông dụng và điều kiện thực tế nghề nuôi nghêu lụa của địa phương xây dựng bộ phiếu điều tra về đánh giá hiện trạng nghề nuôi nghêu lụa thương phẩm tại Kiên Giang Tiến hành phỏng vấn trực tiếp 113 hộ của 3 huyện An Minh, Kiên Lương,
An Biên bằng cách trả lời các câu hỏi trong phiếu và phỏng vấn thêm các thông tin có liên quan nhằm tìm hiểu và đánh giá đúng hiện trạng nghề nuôi nghêu lụa thương phẩm tại địa phương
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: số liệu thứ cấp được thu thập từ các bài báo, báo cáo tổng kết của Sở Nông nghiệp và PTNT, các Phòng Kinh tế/Nông nghiệp của 03 địa phương trên
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Tiến hành điều tra tại 3 địa phương là huyện
An Minh, huyện Kiên Lương và huyện An Biên với các nội dung sau:
+ Phỏng vấn cán bộ phụ trách lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tại mỗi địa phương,
số lượng 01 phiếu/địa phương
+ Phỏng vấn người dân nuôi trồng/khai thác nghêu lụa và các đại lý thu mua, buôn bán hải sản, số lượng người phỏng vấn/địa phương được tính toán qua công thức Yamane (1967) : n = N/(1 + N x β2) [26]
Trong đó: n là kích cỡ mẫu; N là tổng thể (tổng số người dân nuôi/khai thác/đại
lý ở mỗi địa phương); β là xác suất phạm sai lầm loại II (thường là 10%) Ngoài ra, số người được phỏng vấn ở mỗi địa phương có thể thêm 10% để dự phòng
Trang 24Số cơ sở nuôi được điều tra
Thêm 10%
Tổng cộng
- Điều tra thực địa: Tại mỗi địa phương tiến hành điều tra thực địa để xác định các chỉ tiêu về đặc điểm phân bố của nghêu lụa:
+ Vị trí, số lượng các bãi có nghêu lụa phân bố
+ Điều kiện môi trường bãi phân bố:
• pH: Đo bằng máy đo pH
• Độ mặn: Đo bằng khúc xạ kế với độ chính xác 0,1 ‰
• Nhiệt độ: Đo bằng nhiệt kế với độ chính xác 0,1°C
+ Đặc điểm nền đáy của bãi phân bố: Xác định loại chất đáy, một số loài sinh vật đáy (động vật thân mềm, rong biển, cỏ biển) đặc trưng phân bố vùng nghêu lụa
+ Xác định mật độ (con/m2) và khối lượng (kg/m2) của nghêu lụa tại các bãi phân bố: Sử dụng khung thu mẫu có diện tích 10m2 để tiến hành thu mẫu nghêu lụa Tại mỗi địa phương tiến hành thu ngẫu nhiên tại 3 địa điểm, mỗi địa điểm thu 3 mẫu để xác định mật độ và khối lượng của nghêu lụa
+ Xác định hình thức và kỹ thuật nuôi thương phẩm nghêu lụa tại các địa phương trên
Trang 2514
2.3.2 Nghiên cứu kỹ thuật nuôi vỗ thành thục nghêu lụa bố mẹ
Chọn nghêu lụa bố mẹ có phân bố tự nhiên ở các vùng biển của địa phương, tùy thuộc vào thời gian mà nghêu lụa bố mẹ có mức độ thành thục khác nhau với các đặc điểm hình thái ngoài như sau: Khối lượng đạt kích cỡ thành thục sinh dục, khỏe mạnh, màu sắc tự nhiên, không có các dấu hiệu bệnh lý
Đánh giá mức độ thành thục sinh dục ban đầu của nghêu lụa sau khi chọn: Tiến hành mổ thử 30 cá thể nghêu sau khi chọn tại bãi, dựa vào đặc điểm về màu sắc, hình dạng, kích thước cơ quan sinh dục đưa ra đánh giá ban đầu về độ thành thục sinh dục Chia lượng nghêu sau khi lựa chọn về trại thành 2 phần bố trí thành 2 hình thức nuôi vỗ thành thục trong ao đất và trong bể composite Nghêu lụa được xếp đều vào rổ nhựa hình chữ nhật (kích thước 80 cm x 40 cm x 20cm), sau đó treo lập thể trong bể hoặc trong ao để nuôi thành thục Khi nuôi trong ao, vì số lượng ao hạn chế nến tiến hành treo 3 rổ nhựa, mỗi rỗ 200 cá thể nghêu lụa tương ứng với 3 lần lặp
Sử dụng 2 nghiệm thức thí nghiệm tương ứng với 2 hình thức nuôi là:
+ Nuôi trong bể composite, thể tích 2m3, mật độ nuôi 200 con/bể
+ Nuôi trong trong ao diện tích 3.000m2.Mỗi ao treo 3 rổ nhựa, mỗi rổ 200 cá thể nghêu tương ứng với 3 lần lặp
Bể nuôi được vệ sinh sạch sẽ bằng xà phòng sau đó rửa lại bằng nước ngọt, phơi
bể 2- 3 ngày Cấp nước biển lọc sạch vào bể, lắp sục khí, duy trì điều kiện môi trường nước có các yếu tố môi trường phù hợp cho sinh trưởng của nghêu lụa như: độ mặn 25
± 2‰, nhiệt độ 30 ± 2oC, pH 7,5 – 8,5
Ao nuôi là ao chứa có sẵn trong trại, kiểm tra các yếu tố môi trường Vệ sinh bờ
ao, phát quang bụi rậm xung quanh bờ
Đối với hình thức nuôi trong bể, nghêu lụa bố mẹ được cho ăn 2 lần/ngày (7h00 và
16h00), thức ăn là các loài tảo tươi được nuôi sinh khối N oculata, Chlorella sp, I galbana với mật độ 15.000-30.000 tế bào/ml Định kỳ thay nước kết hợp si phông tùy
theo chất lượng nước của bể nuôi Đối với hình thức nuôi trong ao, thức ăn của nghêu lụa là các loại tảo tự nhiên và mùn bã hữu cơ sẵn có trong ao Tiến hành thu mẫu thực
Trang 262.3.3 Nghiên cứu kỹ thuật kích thích sinh sản nghêu lụa bố mẹ
Bể đẻ là bể composite thể tích 4m3,bể được vệ sinh sạch sẽ bằng formalin 15ppm, sau đó bằng xà phòng và rửa lại bằng nước ngọt Phơi bể 1 – 2 ngày, sau đó chà lại bằng giấy nhám và nước ngọt sao cho sạch hết formalin, cấp nước đầy vào bể
và lắp sục khí Dây khí và đá bọt sau mỗi đợt sản xuất đều được xử lý bằng formalin với 50ml formalin hòa với 50 lít nước ngọt rồi cho đá bọt và dây khí vào ngâm Bể đẻ được cấp nước biển lọc sạch có các yếu tố môi trường giống bể nuôi vỗ thành thục: độ mặn 25 ± 2‰, nhiệt độ 30 ± 2oC, pH 7,5 – 8,5 và được duy trì ổn định trong suốt quá trình thí nghiệm
Kích thích sinh sản cho nghêu lụa bố mẹ được thực hiện khi nghêu lụa đã thành thục sinh dục (tỷ lệ thành thục sinh dục trên 65%), sử dụng 3 nghiệm thức thí nghiệm tương ứng với 3 phương pháp kích thích sinh sản: phương pháp sốc nhiệt, phương pháp ngâm trong dung dịch Oxy già (H2O2) và phương pháp ngâm trong dung dịch amoniac (NH4OH) Mỗi phương pháp thí nghiệm sử dụng 100 cặp nghêu lụa bố mẹ Cách tiến hành:
- Phương pháp kích thích sinh sản sốc nhiệt: Nghêu lụa bố mẹ được vệ sinh sạch, xếp vào khay nhựa phía trên có phủ miếng gạc thấm nước rồi phơi trong bóng râm khoảng 30 phút (nhiệt độ 30 - 35oC) Sau đó, nghêu lụa được chuyển vào bể có nhiệt
độ nước thấp hơn 3 - 5oC trong 30 phút, tiếp theo chuyển nghêu lụa bố mẹ vào bể đẻ
Sự chênh lệch nhiệt độ sẽ kích thích cho nghêu lụa sinh sản, kết hợp sục khí nhẹ
Trang 2716
- Phương pháp kích thích bằng Oxy già: nghêu bố mẹ được vệ sinh sạch rồi xếp vào các khay nhựa có kích thước 60cm – 30cm – 15cm, sau đó đem ngâm trong dung dịch Oxy già 1% trong 20 - 30 phút Sau khi lấy khay chứa nghêu bố mẹ ra khỏi dung dịch oxy già tiến hành rửa qua nước biển sạch và chuyển vào treo lơ lửng trong bể đẻ (treo lập thể) kết hợp sục khí mạnh
- Biện pháp kích thích bằng dung dịch NH4OH: Nghêu lụa bố mẹ được vệ sinh sạch rồi xếp vào các khay nhựa có kích thước 60cm – 30cm – 15cm, ngâm nghêu trong dung dịch NH4OH 1% trong 20 - 30 phút, tiến hành rửa qua nước biển sạch sau
đó treo nghêu vào bể đẻ kết hợp sục khí mạnh
Các chỉ tiêu đánh giá: Số lượng trứng, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tỷ lệ nghêu lụa bố mẹ sinh sản (tỷ lệ đẻ), thời gian đẻ sau khi kích thích Các thí nghiệm được bố trí lặp lại 3 lần
2.3.4 Phương pháp thu mẫu và xác định các chỉ tiêu môi trường
Các yếu tố môi trường được xác định:
- Nhiệt độ: Được xác định bằng nhiệt kế và được điều chình bằng nước đá
- Độ mặn: Được đo bằng khúc xạ kế (refractometer) của Nhật
- pH: pH của nước được đo bằng pH test kit
Phương pháp xác định giới tính và tỷ lệ thành thục sinh dục của nghêu lụa: Tiến hành lấy mẫu ngẫu nhiên 50 cá thể nghêu lụa bố mẹ để kiểm tra độ thành thục của nghêu lụa bằng cách giải phẫu và quan sát cơ quan sinh dục Nghêu lụa đã thành thục sinh dục là nghêu lụa có cơ quan sinh dục đang phát triển ở giai đoạn 3 và 4 Quan sát bằng mắt thường cho thấy khi thành thục cơ quan sinh dục của nghêu lụa phát triển bao trùm lên phần nội tạng, cơ quan sinh dục của nghêu lụa đực có màu trắng sữa, cơ quan sinh dục của nghêu lụa cái có màu vàng nhạt Quan sát dưới kính hiển vi thì sản phẩm sinh dục của nghêu lụa cái khi thành thục là trứng có hình tròn, kích thước đều nhau; sản phẩm sinh dục của nghêu lụa đực là tinh trùng vận động linh hoạt
Kết quả kiểm tra mức độ thành thục sinh dục của nghêu lụa bố mẹ nếu đạt tỷ lệ
từ 75% tổng số cá thể có cơ quan sinh dục phát triển ở giai đoạn 4 trở lên thì sẽ tiến
Trang 2817
hành kích thích sinh sản ngay Nếu tỷ lệ thành thục sinh dục của nghêu lụa thấp hơn thì chúng sẽ được đánh giá là chưa thành thục sinh dục
Thời gian nghêu lụa sinh sản: Là khoảng thời gian tính từ khi cho nghêu lụa vào
bể đẻ sau khi kích thích sinh sản cho tới khi quan sát thấy nghêu lụa đã sinh sản trong
bể đẻ Khi nghêu lụa sinh sản thì quan sát thấy bề mặt của bể đẻ sẽ có nhiều bọt nổi lên, có mùi tanh nhẹ
Phương pháp thu mẫu xác định số lượng trứng: sau khi nghêu lụa bố mẹ đẻ, để sục khí bình thường, dùng cốc đong 250 ml múc 03 lần mẫu nước ở bể đẻ, sau đó trộn đều thể tích nước thu được, lấy ngẫu nhiên 50 ml nước mẫu để đếm tổng số lượng trứng
2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được thu thập, tính toán và trình bày dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn (MEAN±SD) trên phần mềm Microsoft Office Excel 2010 và SPSS 20.0 Sử dụng phép phân tích phương sai một yếu tố (one-way ANOVA) để kiểm định sự khác nhau của các giá trị trung bình giữa các nghiệm thức Đánh giá sự sai khác của các giá trị trung bình sau phân tích phương sai (Post Hoc Test) bằng phương pháp kiểm định Duncan Khác nhau giữa các giá trị được xác định ở mức ý nghĩa p < 0,05 Phương pháp xác định tỷ lệ đẻ: Sau khi sinh sản, tiến hành mổ 50 cá thể nghêu lụa bố mẹ, quan sát tuyến sinh dục để đánh giá Tỷ lệ đẻ được xác định theo công thức CT1
Phương pháp xác định độ béo: Độ béo của nghêu lụa được xác định bằng cách tiến hành cân khối lượng cá thể nghêu lụa, sau đó giải phẩu tách riêng phần thân mền
và vỏ, cân lần lược vỏ và thân mền để xác định khối lượng từng phần Độ béo của nghêu lụa được tính theo công thức CT2
Tỷ lệ sống nghêu lụa bố mẹ: được xác định bằng cách đếm tổng số nghêu lụa thu được sau khi hoàn thành thí nghiệm Được tính theo công thức CT3
Phương pháp thu mẫu xác định tỷ lệ thụ tinh: Sau khi nghêu lụa bố mẹ đẻ, để sục khí bình thường, dùng cốc đong 250 ml múc 03 lần mẫu nước ở bể đẻ, sau đó trộn đều
Trang 2918
thể tích nước thu được, lấy ngẫu nhiên 50 ml nước mẫu để đếm tổng số lượng trứng, trong đó xác định số lượng trứng đã thụ tinh, đang diễn ra quá trình phân cắt trứng Tỷ
lệ thụ tinh được xác định theo công thức CT4
Phương pháp thu mẫu xác định tỷ lệ nở: Lấy ngẫu nhiên mẫu (cốc đong 250 ml múc 03 lần mẫu nước) ở bể đẻ, sau đó trộn đều thể tích nước thu được, lấy ngẫu nhiên
50 ml nước mẫu để đếm tổng số lượng trứng ấu trùng, trong đó xác định số lượng ấu trùng chuyển sang giai đoạn trôi nổi (veliger) Tỷ lệ thụ tinh được xác định theo công thức CT5
Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi và khai thác nghêu lụa được xác định theo công thức CT6 (Lợi nhuận) và CT7 (Lợi nhuận biên)
Các công thức tính toán:
- CT6: Lợi nhuận = Tổng thu – tổng chi
- CT7: Lợi nhuận biên (%) = 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 × 100
Trang 3019
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiện trạng nghề nuôi nghêu lụa thương phẩm tại Kiên Giang
3.1.1 Đặc điểm phân bố của nghêu lụa
Kết quả điều tra cho thấy tại Kiên Giang, nghêu lụa phân bố với trữ lượng lớn ở các vùng biển nông dọc theo ven biển từ Kiên Lương tới An Biên, An Minh Nghêu lụa
là loài sống vùi trong nền đáy (độ sâu 10-15cm), với độ sâu phân bố từ 5 – 24 m, chất đáy là cát, cát bùn, cát mịn và cả ở những nơi cát có pha vỏ sinh vật cùng mùn bã hữu
cơ
Kết quả điều tra thực địa tại 3 địa phương trong tỉnh Kiên Giang cho thấy nghêu lụa phân bố với trữ lượng lớn ở huyện Kiên Lương với mật độ trung bình 1.120 con/m2 và sinh lượng 7,5 kg/m2 Tại địa phương này nghêu lụa phân bố chủ yếu ở các bãi bồi ven biển, nơi có chất đáy là cát bùn, độ sâu từ 5- 20 m
Ở huyện An Biên, An Minh nghêu lụa phân bố ít hơn, chủ yếu ở các bãi bồi ven biển, nơi có chất đáy là chất bùn với mật độ là 140 con/m2 và sinh lượng 0,7 kg/m2, ở
độ sâu từ 2-4m Kết quả điều tra cũng cho thấy tại các bãi phân bố của nghêu lụa, loại chất đáy chủ yếu là bùn cát hoặc cát bùn Nơi có nền đáy là cát sỏi hay cát mịn không thấy có sự xuất hiện của nghêu lụa Các thông số điều kiện môi trường tại bãi phân bố của nghêu lụa được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3 1 Các yếu tố môi trường tại bãi phân bố nghêu lụa
Địa điểm Nhiệt độ (°C) Độ mặn (S‰) pH Chấtđáy
An Minh 24,5 - 30
26,5 ± 7,5
20 - 30 25,5 ± 2,5
7,4 - 8,2 7,7 ± 1,0
Bùn nhuyễn KiênLương 25 - 30,5
28,5 ± 4,2
16 - 28
22 ± 2,8
7,0 - 8,2 7,8 ± 0,5
Cát bùn
An Biên 25 - 31
27,5 ± 5,2
10 - 27 16,5 ± 4,0
7,5 - 8,5 7,9 ± 1,0
Bùn nhuyễn
Trang 3120
sinh trưởng và phát triển của các loài động vật thân mềm nói chung và nghêu lụa nói riêng Tuy nhiên, nghêu lụa là loài có khả năng thích nghi rất tốt với sự thay đổi của điều kiện môi trường Khi nhiệt độ hay độ mặn thay đổi đột ngột hoặc quá lớn thì chúng sẽ vùi mình sâu xuống nền đáy để tránh những ảnh hưởng bất lợi của điều kiện môi trường
3.1.2 Hiện trạng nghề nuôi nghêu lụa thương phẩm
Tại các ấp Bãi Giếng, Hòn Trẹm, Hòn Chông thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương có hơn 39 hộ nuôi nghêu lụa thương phẩm.Những hộ nuôi nghêu lụa ở đây nuôi
ở bãi triều có đất bùn pha cát.Bắt dầu vào thời vụ chuẩn bị thả nghêu lụa giống, người dân ở đây dùng máy động cơ nhỏ vệ sinh bãi nuôi, đồng thời dùng cây tràm và lưới bao xung quanh, nhằm xác định ranh giới của các hộ nuôi để quản lý Mùa vụ thả con giống từ tháng 1 đến tháng 5 hằng năm.Sau thời gian nuôi 10 - 12 tháng là thu hoạch
Bảng 3 2 Diện tích và lượng giống nghêu lụa thả nuôi những năm gần đây