Ảnh hưởng của hCG và LHRH-a lên đặc điểm sinh lý sinh sản cá dìa siganus guttatus Đây là công trình nghiên cứu thuộc đề tài “Nghiên cứu sự biến động hàm lượng Testosterone và Estradiol
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHẠM HUY TRƯỜNG
ẢNH HƯỞNG CỦA HUMAN CHORIONIC GONADOTROPIN (hCG), LEUTINIZING HORMON RELEASING HORMON (LHRH) + ANTIDOPAMINE LÊN HÀM LƯỢNG ESTRADIOL
17-β TRONG HUYẾT TƯƠNG CÁ DÌA
Siganus guttatus (Bloch, 1787)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHẠM HUY TRƯỜNG
ẢNH HƯỞNG CỦA HUMAN CHORIONIC GONADOTROPIN (hCG), LEUTINIZING HORMON RELEASING HORMON (LHRH) + ANTIDOPAMINE LÊN HÀM LƯỢNG ESTRADIOL
17-β TRONG HUYẾT TƯƠNG CÁ DÌA
Siganus guttatus (Bloch, 1787)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả của luận văn “Ảnh hưởng của Human Chorionic
Gonadotropin (hCG), Leutinizing Hormone Releasing Hormone (LHRH) + Antidopamine lên hàm lượng estradiol 17-β trong huyết tương cá dìa
(Siganus guttatus, Bloch, 1787)” được thực hiện từ tháng 05 năm 2017 đến
tháng 06 năm 2018 là chính xác Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực và một phần kết quả nghiên cứu của luận văn này đã được công bố trong trong Tạp Chí Khoa Học công nghệ Thủy Sản số 3/2018, chuyên mục thông báo khoa học
Ảnh hưởng của hCG và LHRH-a lên đặc điểm sinh lý sinh sản cá dìa
(siganus guttatus)
Đây là công trình nghiên cứu thuộc đề tài “Nghiên cứu sự biến động
hàm lượng Testosterone và Estradiol 17- trong chu kỳ sinh sản cá dìa
Siganus guttatus (Bloch, 1787)” mã số đề tài là: NAFOSTED 106.05-2017.40 ,
sử dụng kinh phí từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia - do PGS.TS Phạm Quốc Hùng làm chủ nhiệm đề tài và tôi được chủ nhiệm đề tài cho phép
sử dụng kết quả nghiên cứu với tư cách là thành viên nghiên cứu của đề tài
Khánh Hòa, ngày 01 tháng 01 năm 2019
Tác giả luận văn
Phạm Huy Trường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng, ban Trường Đại học Nha Trang, Viện Nuôi trồng Thủy sản đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này
Tôi xin cảm ơn PGS.TS Phạm Quốc Hùng người đã gợi ý cho tôi ý tưởng, định hướng nghiên cứu, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi, cũng như hỗ trợ kinh phí thực hiện đề đề tài trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè
đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin tri ân tất cả những tình cảm và sự giúp đỡ quý báu đó!
Khánh Hòa, ngày 01 tháng 03 năm 2019
Tác giả luận văn
Phạm Huy Trường
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1 Một số đặc điểm sinh học cá dìa 3
1.1 Phân loại và hình thái cá dìa 3
1.2 Phân bố và sinh thái 4
1.3 Sinh trưởng và dinh dưỡng 5
1.4 Sinh sản 7
2 Tình hình nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá biển trên thế giới 9
3 Hiện trạng sản xuất giống cá dìa tại Việt Nam 11
4 Hormon điều khiển sinh sản ở cá 12
4.1 Hormon phóng thích KDT của não bộ (GnRH) 12
4.2 Kích dục tố của tuyến yên (Gonadotropin) 13
4.2.1 Kích dục tố điều khiển chức năng của tinh sào 14
4.2.2 Điều khiển quá trình tổng hợp và tiết steroid ở tinh sào 14
4.2.3 Điều khiển quá trình phát triển và thành thục của tinh sào 15
4.2.4 Kích dục tố điều khiển chức năng của buồng trứng 16
4.3 Hormon steroid của tuyến sinh dục 17
4.3.1 Điều khiển quá trình phát triển tinh sào Quá trình phát triển và thành thục sinh dục ở cá đực (tinh sào) cũng được điều khiển bởi các KDT tuyến yên .17
4.3.2 Điều khiển quá trình phát triển buồng trứng 18
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 20
2.2 Bố trí thí nghiệm và sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 20
Trang 62.2.1 Bố trí thí nghiệm 20
2.2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Đàn cá bố mẹ 23
2.3.2 Phương pháp thu mẫu và cố định mẫu 23
2.3.3 Xác định các chỉ tiêu sinh học sinh sản 24
2.3.4 Quan sát tuyến sinh dục 24
2.3.4.1 Phương pháp làm tiêu bản mô học tuyến sinh dục 24
2.3.4.2 Đọc kết quả trên kính hiển vi 25
2.3.5 Xác định thành phần sinh hóa trứng cá dìa qua các giai đoạn 25
2.3.6 Phương pháp phân tích hàm lượng estradiol 17-β trong huyết tương 26
2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 32
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Một số đặc điểm sinh học sinh sản trên đàn cá nghiên cứu 33
3.1.1 Kích thước đàn cá thí nghiệm 33
3.1.2 Sức sinh sản và kích thước noãn bào 34
3.1.3 Đặc điểm tổ chức học buồng trứng và tinh sảo đàn cá nghiên cứu 35
3.1.4 Hệ số thành thục (GSI) và hệ số gan (HIS) 37
3.2 Ảnh hưởng của hCG và LHRH-A lên steroid huyết tương và thành phần sinh hóa của tuyến sinh dục 38
3.2.1 Biến động hàm lượng Testosterone 38
3.2.2 Biến động hàm lượng Estradiol 17- 39
3.2.3 Thành phần sinh hóa 40
3.3 Đánh giá mức độ thành thục của cá sau khi tiêm hormon 41
3.3.1 Cá cái 41
3.3.2 Cá đực 42
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 44
4.1 Kết luận 44
4.2 Đề xuất 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nồng độ Estradiol 17-β chuẩn (pg/ml) 28
Bảng 2.2 Trình tự đưa dung dịch vào các giếng 29
Bảng 3.1 Kích thước trung bình đàn cá nghiên cứu 33
Bảng 3.2 Sức sinh sản tuyệt đối và tương đối của đàn cá nghiên cứu 34
Bảng 3.3 Kích thước noãn bào qua các giai đoạn phát triển 34
Bảng 3.4 Hệ số thành thục và hệ số gan cá cái 37
Bảng 3.5 Hệ số thành thục và hệ số gan cá đực 38
Bảng 3.6 Biến động hàm lượng Testosterone (pg/mL) trong huyết tương cá dìa đực sau khi tiêm 1500 IU hCG/kg và 50 µg LHRH-A/kg + 5 mg DOM 39
Bảng 3.7 Biến động hàm lượng Estradiol 17- (E2) (pg/mL) trong huyết tương cá dìa cái sau khi tiêm 1500 IU hCG/kg và 50 µg LHRH-A/kg + 5 mg DOM 39
Bảng 3.8 Biến động thành phần sinh hóa trong buồng trứng cá dìa cái 40
Bảng 3.9 Biến động thành phần sinh hóa trong buồng trứng cá dìa cá cái 40
Bảng 3.10 Biến động thành phần sinh hóa tinh sào cá dìa cá đực 41
Bảng 3.11 Biến động thành phần sinh hóa tinh sào cá dìa cá đực 41
Bảng 3.12 Mức độ thành thục của cá cái sau khi tiêm hormone 41
Bảng 3.13 Mức độ thành thục của cá đực sau khi tiêm hormone 42
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Hình thái ngoài cá dìa Siganus guttatus (Bloch, 1787) 4
Hình 1.2 Phân bố địa lý cá dìa Siganus guttatus (Bloch, 1787) trên thế giới 4
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 22
Hình 2.2 Lồng tạm giữ cá dìa để chuẩn bị thu mẫu 23
Hình 2.3 Hóa chất trong bộ KIT Estradiol ELISA 26
Hình 2.4 Cách pha các dung dịch hormone chuẩn ở các nồng độ khác nhau 27
Hình 2.5 Đĩa 96 giếng trước và sau khi ủ 28
Hình 2.6 Sơ đồ bố trí các giếng 29
Hình 2.7 Chiết xuất, ủ và đọc mẫu trên máy ELISA ở bước sóng 405 nm 30
Hình 2.8 Đường cong chuẩn E2 31
Hình 2.9 Đường cong chuẩn T 31
Hình 3.1 Tổ chức buồng trứng đàn cá thí nghiệm 35
Hình 3.2 Tổ chức tinh sào đàn cá thí nghiệm 36
Hình 3.3 Phân loại độ thành thục của buồng trứng cá dìa 42
Hình 3.4 Phân loại độ thành thục của tinh sào cá dìa 42
Trang 9KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ELISA Enzyme Linked Immunosorbent Asay Phân tích miễn dịch liên kết enzym FSH Follicle Stimulating Hormone Hormone kích nang trứng
GnRH Gonadotropin – releasing hormone Hormon phóng thích KDT
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Nghề nuôi cá biển ở nước ta phát triển từ những năm của thập niên 80 cho đến nay có thể nói nghề nuôi cá biển đã và đang phát triển, đặc biệt chú trọng nhiều đến
những loài cá có giá trị kinh tế cao Cá dìa Siganus guttatus (Bloch, 1787) là một trong
những đối tượng được người nuôi quan tâm rất nhiều Việc nuôi loài cá này chủ yếu vẫn còn phụ thuộc vào con giống khai thác tự nhiên, điều này có thể dẫn tới suy giảm nguồn lợi và không bền vững Hiện tại nhu cầu con giống rất lớn nhưng việc sinh sản nhân tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của người nuôi Nguyên nhân được cho là chưa nghiên cứu đầy đủ tập tính sinh sản, sự biến động của hàm lượng hormone sinh dục ảnh hưởng đến quá trình sinh sản, chất lượng sản phẩm sinh dục trong điều kiện nuôi nhốt
Hoạt động sinh sản ở cá chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường và sự điều khiển của hệ thần kinh nội tiết sinh sản Vì vậy, nghiên cứu sự biến động hàm lượng hormone steroid trong huyết tương, sự phát triển của tuyến sinh dục trong chu kỳ sinh sản tự nhiên là nền tảng và là cơ sở cho các nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn sản xuất
Chính vì vậy, đề tài “Ảnh hưởng của Human Chorionic Gonadotropin
(hCG), Leutinizing Hormone Releasing Hormone (LHRH) + Antidopamine lên
hàm lượng estradiol 17-β trong huyết tương cá dìa (Siganus guttatus)” (Bloch,
1787)” được thực hiện nhằm góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận để ứng dụng trong
kiểm soát hoạt động sinh sản của cá dìa trong điều kiện nhân tạo
Kết quả cho thấy, khi bắt đầu vào mùa sinh sản nhu cầu dinh dưỡng của cá tăng lên nhằm tích lũy và tổng hợp thành protein nuôi duỡng các tế bào sinh dục phát triển; Hệ số thành thục GSI dao động từ 0,24% đến 2,04%, cao nhất vào tháng 4, thấp nhất vào tháng 6; Hệ số gan HSI dao động từ 0,85 % đến 1,72 % , cao nhất vào tháng
1, thấp nhất vào tháng 11 và tháng 4 Sự biến động GSI và HSI là trái ngược nhau và phù hợp với mùa sinh sản của cá dìa; sức sinh sản cá dìa tương đối lớn, trung bình đạt 877.845 ± 56.167 trứng/kg cá cái
Hàm lượng protein trong trứng cá tăng dần, hàm lượng lipid giảm dần khi trứng thành thục; hàm lượng lipid trong huyết tương ít biến động trong chu kỳ sinh sản cho thấy cá dìa có chu kỳ rụng trứng ngắn và hoạt động tích lũy chất noãn hoàng diễn ra thường xuyên
Trang 11Hàm lượng E2 trong huyết tương tăng trong suốt quá trình phát triển của buồng trứng, và đạt cực đại khi cá tới giai đoạn thành thục, giảm mạnh khi cá tham gia sinh sản; và không có sự tương quan giữa hàm lượng E2 với các chỉ tiêu GSI, HIS, chiều dài
và khối lượng cá dìa
Từ khóa: cá dìa, Siganus guttatus, sinh sản, hormon Domperidone, hormone khác
Khánh Hòa, ngày 20 tháng 05 năm 2019
PGS TS PHẠM QUỐC HÙNG PHẠM HUY TRƯỜNG
Trang 12
MỞ ĐẦU
Khánh Hòa và một số tỉnh Nam Trung Bộ có điều kiện tự nhiên thuận lợi như nguồn nước biển luôn trong sạch độ mặn cao ổn định, có nhiều đảo nhỏ, eo vịnh kín gió, diện tích mặt nước ven biển phong phú, người dân có nhiều kinh nghiệm về nuôi hải sản Đây là điều kiện rất thuận lợi cho sản xuất giống các đối tượng cá biển cũng như phát triển nuôi các đối tượng này nói riêng và hải sản nói chung Cá dìa được nuôi nhiều ở Khánh Hòa, thường nuôi ghép với tôm sú, cá nuôi sau 1 năm có thể đạt 0,4 - 0,8 kg
Thành công trong sinh sản nhân tạo các loài cá biển phụ thuộc vào nội tiết sinh sản, biến động về hormone huyết tương trong chu kỳ sinh sản và môi trường để từ đó điều khiển sinh sản theo ý muốn chủ quan [2] Việc nghiên cứu chức năng và cơ chế tác dụng của các hormon lên quá trình phát triển, thành thục và chín muồi tế bào sinh dục là rất quan trọng Gần đây ngày càng có nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng thời kỳ đầu của quá trình phát triển phôi được quyết định rất nhiều bởi những đặc điểm hình thái và sinh hóa của trứng, những đặc điểm được hình thành trong thời kỳ mà sự tạo trứng chịu ảnh hưởng của hormon [43,45] Do đó, việc nghiên cứu cơ chế hormon kích thích sự hình thành các tính chất của trứng chín muồi, nhất là ở giai đoạn cuối của quá trình tạo trứng, là một bộ phận không thể bỏ qua của sinh học phát triển
Cá dìa đẻ được trong điều kiện không tiêm hormone và ngay cả khi kích thích
cá cái bằng hormone hCG cũng có hiệu quả rất tốt Quá trình kích thích trứng chín tùy thuộc vào kích cỡ trứng cá ban đầu và tiêm hCG riêng lẻ hoặc nhiều loại kích dục tố
Những nghiên cứu trên một số loài cá khác cho thấy, việc xác định sự biến động của một số hormone kiểm soát hoạt động sinh sản ở cá sẽ làm cơ sở cho xây dựng các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả trong sinh sản cá
Do vậy, đề tài “Ảnh hưởng của Human Chorionic Gonadotropin (hCG),
Leutinizing Hormone Releasing Hormone (LHRH) + Antidopamine lên hàm
lượng estradiol 17-β trong huyết tương cá dìa (Siganus guttatus, Bloch, 1787)”
được thực hiện là hết sức cần thiết nhằm góp phần làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình nuôi vỗ và cho sinh sản nhân tạo cá dìa
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Xác định sự ảnh hưởng của các hormon lên
hàm lượng estradiol 17-β trong huyết tương cá dìa (Siganus guttatus Bloch, 1787)
Trang 13trong điều kiện nuôi nhốt Nhằm xác định liều lượng và chủng loại hormon sử dụng để kích thích sinh sản cá dìa, làm tiền đề cho các nghiên cứu ứng dụng xây dựng quy trình nuôi vỗ, sinh sản nhân tạo loài cá này
Để đạt được mục tiêu trên đề tài thực hiện các nội dung nghiên cứu sau:
Nội dung 1: Đo hàm lượng estradiol 17- trong huyết tương sau khi tiêm
Human Chorionic Gonadotropin (hCG), Leutinizing Hormone Releasing Hormone
(LHRH) + Antidopamine
Nội dung 2: Đặc điểm sinh sản trong chu kỳ: GSI, HIS, mùa vụ, kích thước
noãn bào qua các giai đoạn, làm tiêu bản mô học các giai đoạn phát triển trứng, tỷ lệ thành thục
Nội dung 3: Mối quan hệ giữa hàm lượng estradiol 17- trong huyết tương với
các đặc điểm sinh dục và sinh sản
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: Hoạt động sinh sản ở cá chịu ảnh hưởng của
các yếu tố môi trường và sự điều khiển của hệ thần kinh nội tiết sinh sản Vì vậy, nghiên cứu sự biến động hàm lượng hormon steroid trong huyết tương và sự phát triển của tuyến sinh dục trong chu kỳ sinh sản tự nhiên là nền tảng và là cơ sở cho các nghiên cứu ứng dụng
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Một số đặc điểm sinh học cá dìa
1.1 Phân loại và hình thái cá dìa
Tên tiếng Việt: Cá dìa công, cá dìa chấm
Tên tiếng Anh: Golden rabbitfish, Goldlined spinefoot
Trên thế giới có 30 loài cá dìa được biết đến và trong số đó có nhiều loài là những loài có giá trị kinh tế cao [22]
Việc xác định các loài ở cá dìa rất khó, vì có ít điểm khác nhau giữa các loài Các mô tả hiện có về sự khác nhau giữa các loài chủ yếu dựa vào màu sắc của cá [12] Nhưng màu sắc của cá cũng thay đổi phụ thuộc vào độ tuổi, tình trạng cá còn sống hay chết cũng như phương pháp bảo quản
Đặc điểm phân loại của cá dìa (Siganus guttatus, Bloch, 1787) là có hình bầu
dục dài và dẹt hai bên trên thân có nhiều chấm màu vàng nâu đều đặn, Màu sắc bên ngoài của cá từ màu vàng nhạt đến màu nâu 2 bên đầu có vẩy đường bên hoàn toàn Mỗi bên mõm đều có 2 lỗ mũi, miệng bé (Bloch, 1787)
Da cá thô nhưng vảy trơn, nhỏ và nhám vì vậy nhiều người nhầm tưởng cá dìa công không có vẩy Vây ngực hình tròn, Vây bụng ở dưới ngực Vây đuôi bằng phẳng hoặc hơi chia thuỳ Cá dìa công có 13 tia vây lưng, 7 tia vây hậu môn và 2 tia vây bụng [17] Cá dìa Công có công thức vây lưng D (XIII,10); vây hậu môn A (VII, 9); vây bụng V (II, 3); vây ngực P (15); có 13 đốt sống; các gai cứng có độc Lưng cá có màu xanh thẫm, mặt bụng có màu bạc, có một chấm vàng sáng nằm gần gốc tia vây lưng cuối cùng Phần đầu có nhiều sọc và chấm [15,17]
Trang 15Hình 1.1 Hình thái ngoài cá dìa Siganus guttatus (Bloch, 1787) [60].
1.2 Phân bố và sinh thái
Cá dìa (Siganus spp) phân bố rất rộng ở vùng Ấn Ðộ - Thái Bình Dương, từ vùng biển phía Đông châu Phi tới Polynesia; phía Nam Nhật Bản tới bắc Australia [12], và đông Địa Trung Hải
Hình 1.2 Phân bố địa lý cá dìa Siganus guttatus (Bloch, 1787) trên thế giới [1]
Trang 16Loài cá dìa Công Siganus guttatus phân bố ở Đông Ấn Độ Dương - Tây Thái
Bình Dương: Quần đảo Andaman, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Australia, Indonesia (bao gồm cả Irian Jaya), Việt Nam, Ryukyu (Nhật Bản), miền Nam và miền Đông Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, và Palau Ở Việt Nam có các vùng ven biển
từ vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan
Khu vực phân bố của cá dìa chịu tác động lớn của nhiệt độ, trong tự nhiên, có thể đánh bắt cá dìa ở các vùng nước có nhiệt độ từ 24 – 28oC Cá dìa nói chung có thể chịu đựng được sự thay đổi độ mặn và nhiệt độ khá rộng [12], cá có thể thích nghi dần dần khi
độ mặn thấp xuống 5‰, nhiệt độ 25 - 34°C [29]
Về mặt sinh thái, cá dìa thường sống ở vùng cỏ biển hoặc rạn san hô, những nơi
có nhiều thức ăn là rong biển hoặc rêu mọc trên đá Ấu trùng cá dìa có thể được tìm thấy trong khu vực rừng ngập mặn, vịnh nước nông hoặc cửa sông [29]
Cá dìa Siganus guttatus, Bloch, 1787 là loại di cư, ở giai đoạn còn nhỏ, cá
thường sống ở vùng đầm phá cửa sông, vịnh nông, nơi có nhiều nguồn thức ăn là phiêu sinh động, thực vật; khi trưởng thành chúng bơi ra biển và tìm các ghềnh đá, bãi san hô, quanh bờ đá của hải đảo để định cư Cá dìa có tập tính khác với các loài cùng
họ, chúng hoạt động và kiếm mồi vào ban đêm [17]
Vùng nước cá sinh sống thường có độ sâu khoảng 1,6 m với chất đáy là cát, cát bùn hoặc các rạn đá ven bờ, nơi có nhiều thức ăn là rong biển hoặc rêu bám trên đá Cá dìa công là loài di cư, cá bột và cá con sống quanh quẩn ở vùng đầm phá cửa sông, vịnh nông; khi trưởng thành chúng rời khỏi vùng cửa sông nhưng cũng được tìm thấy
ở các bãi san hô có độ sâu xuống 6m [2]
1.3 Sinh trưởng và dinh dưỡng
Ngoài môi trường tự nhiên, cá dìa có thể đạt kích thước chiều dài đến 8 cm trong
3 tháng và đến cỡ 14 cm trong vòng khoản 7 – 8 tháng [29] Trong điều kiện nuôi nhốt, cho thấy kết quả,cá dìa S guttatus có thể đạt chiều dài tối đa từ 36cm đến 38 cm
và trọng lượng tương ứng là 0,75 – 1,10 kg trong thời gian 320 ngày và sự tương quan giữa chiều dài toàn thân và trọng lượng ở 6 loài cá dìa khác nhau trong đó loài S guttatus cho tốc độ sinh trưởng tốt nhất và là đối tượng nuôi rất có tiềm năng [56]
Ở nhiệt độ 28 – 30o C Giai đoạn ấu trùng mới nở(có kích thước nhỏ 1,5 – 1,6
mm), cá dựa vào nguồn dinh dưỡng từ noãn hoàng và giọt dầu là chủ yếu Sau 36 giờ
từ khi trứng nở, Ấu trùng cá dìa Công (Siganus guttatus) mở miệng và noãn hoàng
tiêu biến sau 72 giờ [10] Cá bắt đầu tập ăn vào lúc 60 giờ Với thức ăn là Branchionus
Trang 17(luân trùng siêu nhỏ brachionus plicatils với kích thước nhỏ hơn 90 μm là một trong những đối tượng rất quang trọng trong nghề nuôi trồng thủy sản, là thức ăn rất lý tưởng của ấu trùng do chúng có kích thước nhỏ, bơi chậm và sống lơ lửng trong nước) Với mật độ 10-20 con/mL sẽ nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng [26]
Ở giai đoạn ấu trùng, cá dìa chủ yếu ăn động vật phù du nhưng sang giai đoạn con non và trưởng thành dinh dưỡng hoàn toàn bằng thực vật thủy sinh [54] Trong tự nhiên, cá dìa thường rỉa thực vật ở đáy biển, đầu chúc xuông dưới và có thể ăn cả ngày lẫn đêm [19]
Giai đoạn con non và trưởng thành: Cũng giống như các loài cá dìa khác, giai đoạn con non và trưởng thành, cá dìa công ăn hoàn toàn thực vật thủy sinh [50] Chúng ăn bằng cách rỉa thực vật biển, thường gặm chồi non với đầu hướng xuống vào ban ngày và buổi tối [19;37] Các loại rong biển ưa thích của cá dìa bao gồm
Enteromorpha, Chaetomorpha, Gracilaria, Halophila và Cymodocea Cá trưởng thành
trong điều kiện nuôi nhốt có thể nuôi bằng thức ăn viên tổng hợp (chứa 42% protein) [26] Nhiều nghiên cứu về dinh dưỡng của cá dìa được đề cập và đều khẳng định cá dìa cả giai đoạn con non và trưởng thành đều ăn thực vật Điều này phù hợp với các đặc điểm hình thái cấu tạo cơ quan tiêu hóa của cá dìa (răng và cơ quan tiêu hóa): miệng nhỏ; răng trên mỗi hàm thường nhỏ, tù; răng hầu khá phát triển, thành bao tử dày, ruột rộng, dài, dày vời nhiều nếp gấp [23;48;50] Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu khác, ở giai đoạn ấu trùng, thức ăn chủ yếu của loài cá này là sinh vật phù du, bao gồm cả thực vật và động vật phù du [29]
Thành phần thức ăn trong dạ dày của loài S spinus trưởng thành thức ăn của loài cá này chủ yếu là tảo đáy như: Padina, Cladophoropsis, Gelidium, Hypnea,
Dictyota, Sphacelaria, Ectocarpus và Jania Trong môi trường có nhiều giống tảo mà
hai loài cá này ưa thích, chúng sẽ ăn hết loài tảo mà ưa thích nhất sau đó mới chuyển
sang loài thứ hai Thứ tự ưu tiên các loài tảo mà chúng ăn lần lượt là Enteromorpha,
Feldmannia, Derbesia và Cladophoropsis [54]
Tuy nhiên, một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cá dìa không hoàn toàn chỉ là loài
cá ăn thực vật mà chúng có thể sử dụng được một số loại thức ăn khác Loài S
argenteus có thể sử dụng được thức ăn là thịt cắt nhỏ [23], quan sát cho thấy dạ dày của
loài S lineatus có một lượng lớn các thành phần thức ăn gồm bọt biển và thịt cá nhỏ
[21] Ngoài ra còn phát hiện dạ dày và ống tiêu hóa của cá dìa bao gồm: amphipoda,
Trang 18copepoda, bọt biển, trùng có lỗ [23] ấu trùng cá, ấu trùng giáp xác, ciliate [29], đôi khi chúng có thể ngẫu nhiên lọt vào hệ thống tiêu hóa của cá dìa
Trong điều kiện nuôi nhốt, loài S canaliculatus được ghi nhận là có thể ăn được tất
cả các loại thức ăn được cung cấp như cỏ lươn (Enhalus sp), bột sắn, cỏ nước ngọt (Hydrilla sp.), thức ăn viên của gà, cơm, bột thịt tôm cá [16] Hiện tượng này cũng được quan sát trên loài S rivulatus với các loại thức ăn như thịt cá hay động vật thân mềm cắt
nhỏ, bột cá, thức ăn viên, rong biển và rau diếp [11] Do đó, cá dìa cho thấy tiềm năng lớn
có thể thuần hóa để chuyển sang ăn tạp trong điều kiện nuôi nhốt mặc dù ngoài tự nhiên chúng hầu như chỉ ăn rong tảo Điều này có ý nghĩa quan trọng trong nỗ lực sinh sản nhân tạo và sản xuất giống loài cá này trong điều kiện nuôi nhốt [29]
Ngoài môi trường tự nhiên, cá dìa có thể đạt kích thước chiều dài đến 8 cm trong
3 tháng và đến cỡ 14 cm trong vòng khoản 7 – 8 tháng, trong điều kiện nuôi nhốt cá
dìa S guttatus có thể đạt chiều dài tối đa từ 36-38 cm trọng lượng tương ứng là 0,75 –
1,10 kg trong thời gian 320 ngày [29,54]
1.4 Sinh sản
Phân biệt giới tính: Rất khó phân biệt cá dìa đực, cái nếu như chỉ dựa vào hình
thái ngoài Tuy nhiên, vào mùa sinh sản có thể quan sát phần bụng để xác định con cái nhờ hình dáng tròn trịa hoặc thăm trứng, còn con đực khi vuốt nhẹ sẽ có sẹ (tinh dịch) màu trắng chảy ra Bên cạnh đó, những con đực thường nhỏ hơn so với con cái và con cái ít hoạt động hơn so với con đực vào mùa sinh sản Có thể thành thục trong điều kiện nuôi nhốt nếu điều kiện môi trường thuận lợi và được cung cấp thức ăn đầy đủ và chất lượng [26,42] Ở Singapore, cá dìa có thể sinh sản làm hai mùa trong năm là tháng 2 –
5 và tháng 8 – 10 Ở Philippines hai mùa sinh sản thường là tháng 3 – 4 và tháng 8 – 9 [26], các quan sát trên cá dìa cho thấy, loài cá này có thể sinh sản quanh năm [46]
Thông tin này chưa được kiểm chứng trong điều kiện Việt Nam Tuy vậy, việc quan sát thực tế hàng năm cho thấy cá dìa con kích thước 1,5 – 2,0 cm thường xuất hiện vào tháng 4 – 5 âm lịch ít nhất tại hai khu vực là phá Tam Giang – Cầu Hai (Thừa Thiên Huế) và đầm Thị Nại (Bình Định) [5] Theo nghiên cứu Nguyễn Văn An tại Khánh Hòa, mùa vụ sinh sản của cá dìa tập trung 2 lần trong năm: lần 1 (từ tháng 4 đến tháng 7), lần 2 (từ tháng 9 đến tháng 11); với mùa vụ chính tập trung vào lần 1(từ tháng 4 đến tháng 7) [1]
Trang 19Trứng cá dìa S guttatus thuộc loại trứng dính, hình cầu, có nhiều giọt dầu, chìm
trong nước Các trứng đã thụ tinh có đường kính từ 0,42 – 0,70 mm và mất khoảng 18 – 35 giờ để nở ở nhiệt độ 22 – 30o C [49]
Bãi đẻ: các thông tin về bãi đẻ của cá dìa mới chỉ được mô tả sơ lược trên một
số loài Ở Phillipines, loài S canaliculatus đẻ trứng trên nền đáy của các vùng nước
nông, đặc biệt là trong hay xung quanh rạn san hô Ở Palau, loài cá này được cho là đẻ
trứng ở vùng viền sóng phía ngoài của các rạn san hô [21,32] trong khi đó loài S
lineatus thường đẻ ở gần vùng rừng ngập mặn [17]
Kích cỡ và tuổi thành thục sinh dục: Chưa có nghiên cứu cụ thể nào về tuổi
thành thục của cá dìa ngoài tự nhiên nhưng quan sát thấy sự thành thục lần đầu của cá
dìa S guttatus cái nuôi nhốt, cá dìa đực có thể thành thục ở 10 tháng tuổi với kích
thước chiều dài 19 cm, khối lượng 200 g, cá cái thành thục ở 12 tháng tuổi với chiều
dài 21,5 cm, khối lượng 260 g [26,47] Loài S canaliculatus là 11 – 14 cm với con đực
và 13 – 21 cm với con cái [17] Ở loài S lineatus kích thước thành thục nhỏ nhất của
cá cái khoảng 22 cm [23]
Sức sinh sản: Cá cái khối lượng 300 gam, hệ số thành thục 13,8, sức sinh sản thực
tế 0,8 triệu trứng; cá cái khác 520 gam, hệ số thành thục 12,6, sức sinh sản thực tế 1,2 triệu trứng [47] Cá cái có hệ số thành thục lớn hơn 7 có thể cho đẻ được Sức sinh sản của
cá dìa dao động từ 300.000 - 400.000 trứng tùy thuộc vào kích thước của cá [17]
Hoạt động đẻ trứng: Trong điều kiện nuôi nhốt khi chuyển cá thành thục sinh
dục hoàn toàn vào bể, hoạt động đẻ trứng diễn ra ngay sau đó Sinh sản trên loài S
rivulatus trong điều kiện nuôi nhốt, khoảng 12% tổng số trứng trong cơ thể cá dìa cái
được đẻ ra trong mỗi lần đẻ tự nhiên [11] Sự sinh sản của cá dìa có liên quan chặt chẽ với thủy triều, cá thường đẻ vào ban đêm (từ 23 giờ đến 3 giờ sáng trước giờ trăng), khi thủy triều xuống ở gần tầng mặt của vùng nước mở [47]
Quan sát chu kỳ sinh sản của loài S canaliculatus nhận thấy cá con xuất hiện trong
mùa sinh sản đạt đỉnh vào tháng 3 – 4, phát triển để đạt đến kích thước trưởng thành trước tháng 12, tuyến sinh dục bắt đầu thành thục hoàn toàn trước tháng 1 và 2 Mùa vụ đẻ sẽ bắt đầu cho đến hết tháng 4 Sau thời gian này, cá đẻ trứng xong không thấy xuất hiện và
có thể chúng đã chết sau khi đẻ trứng [29]
Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi nhốt stress có thể là nguyên nhân gây thoái hóa trứng Việc vận chuyển gây ra bởi các tác động cơ học, thay đổi nhiệt độ hay suy giảm
Trang 20chất lượng nước là nguyên nhân chính làm thoái hóa trứng và cá bỏ ăn trên loài S
canaliculatus [29] Các biểu hiện khi cá bị căng thẳng trong nuôi vỗ được ghi nhận
như cá ít vận động, bỏ ăn, chảy sẹ, cá núp trong các góc khuất… Chính vì vậy, việc tạo
ra môi trường và dinh dưỡng thích hợp đồng thời loại bỏ các yếu tố gây căng thẳng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành thục của cá dìa trong điều kiện nuôi nhốt
2 Tình hình nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá biển trên thế giới
Cá dìa có thể đẻ trứng trong điều kiện nuôi nhốt một cách tự nhiên hoặc được can thiệt bởi yếu tố ngoại sinh [26] Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh sản, quá
trình phát triển phôi và ấu trùng cá dìa S.guttatus [56] stress có ảnh hưởng đến khả
năng sinh sản của cá bố mẹ và sự sống sót của ấu trùng cá dìa và kết quả cho thấy mức
độ stress tăng đáng kể ở con cái khi nuôi nhốt nhưng lại không ảnh hưởng đáng kể đến
sự sống còn của ấu trùng [11] Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sống sót của
ấu trùng ở các trại sản xuất giống Ngoài ra, ông còn chứng minh được sự cần thiết của ganadotropin ngoại sinh trong việc đảm bảo khả năng sinh sản 100% hàng tháng ở cá dìa cái Tác dụng củah hCG đến quá trình đẻ trứng của cá dìa cho thấy kích thước noãn bào tối thiểu để cá cái đẻ trứng mà không tiêm hormone là 0,46 mm và đối với cá cái có kích thước noãn bào <0,45 mm thì cần phải sử dụng hCG để gây cảm ứng, hormone tuyến giáp có thể đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ đầu phát triển của ấu trùng cá dìa và thyroxin là tác nhân giúp nâng cao hormone tuyến giáp ở cá dìa [16] Mối tương quan giữa hormone steroid trong huyết tương, quá trình sinh noãn hoàng và chu kỳ mặt trăng cho thấy, sự thay đổi hàng tuần của hệ số thành thục (GSI) đạt mức cao nhất vào tuần đầu tiên của tháng 6 và tháng 7, đây cũng là khoảng thời gian hình thành tế bào trứng Hormone steroid trong huyết tương và mức sinh noãn hoàng thay đổi song song với những thay đổi của GSI Do đó, mặt trăng là yếu tố chính trong việc kích thích hoạt động sinh sản ở cá dìa [26]
Việc sử dụng hormone cho sinh sản nhân tạo ở các loài cá có vây vùng nhiệt đới
cho thấy: cá dìa Siganus canaliculatus, S.rivulatus và S.argenteus đã được cho đẻ bằng
việc tiêm hCG một liều hoặc nhiều liều Liều lượng được sử dụng cho các loài cá này giống nhau và dao động từ 250 đến 300 IU/kg khối lượng thân [20] Việc tiêm nhiều liều được khuyến cáo sử dụng trong vòng 24 giờ Cá dìa S.canaliculatus cái được vuốt
trứng sau 5-10 giờ kể từ liều tiêm cuối cùng trong khi đó cá dìa S.rivulatus và
Trang 21S.argenteus lại đẻ sau 36 giờ kể từ liều tiêm đầu tiên Cá dìa S.guttatus cái đẻ trứng có
đường kính 0,46mm và đẻ sau một lần tiêm với liều lượng 2.000 IU/kg hCG trong khi
đó với liều lượng này trứng có kích thước nhỏ hơn (0,43mm hoặc nhỏ hơn) khi tiến hành tiêm nhiều lần hoặc cá cái không đẻ [31]
Một số công trình nghiên cứu trên các đối tượng cá biển khác cũng làm cơ sở để
nghiên cứucho cá dìa như các vấn đề nghiên cứu trên cá Vền (Dentex dentex) việc xác
định chất lượng trứng bằng việc sử dụng đường kính trứng, đường kính noãn hoàng và giọt dầu từ lần phân chia đầu tiên đến khi nở giữa thời gian đẻ tự nhiên và thời gian đẻ
có chiếu sáng Kết quả cho thấy tỷ lệ nở ước tính khoảng 92% đối với thời gian đẻ tự nhiên và 61% đối với thời gian đẻ có chiếu sáng Tương tự như vậy với đường kính trứng và đường kính noãn hoàng của thời gian đẻ tự nhiên to hơn nhiều so với trứng ở thí nghiệm thời gian đẻ có chiếu sáng [29]
Lipid và thành phần acid béo trong khẩu phần ăn của cá bố mẹ quyết định sự thành công của quá trình sinh sản nhân tạo Các acid béo không no (HUFA) với hơn
20 cacbon có ảnh hưởng đến sự thành thục của cá một cách trực tiếp hoặc thông qua quá trình trao đổi chất trong cơ thể cá bố mẹ Đối với một số loài, các HUFA có trong khẩu phần ăn của cá mẹ làm tăng sức sinh sản, quá trình thụ tinh và chất lượng trứng [55] Thời gian qua việc sử dụng mực và cá làm nguồn protein cho thức ăn với hàm lượng HUFA tối ưu có thể cải thiện chất lượng trứng [46], các acid béo và vitamin trong khẩu phần ăn của cá đến chất lượng trứng ở cá bơn bố mẹ Kích thước trứng và kích thước giọt dầu trong chu kỳ sinh sản có sự thay đổi nhẹ ở các cá thể mẹ được cho
ăn thức ăn không bổ sung vitamin Trong khi đó, đối với nhóm cá được cho ăn thức ăn
có bổ sung vitamin thì kích thước trứng và kích thước giọt dầu tăng lên đáng kể Tuy nhiên những quan sát này không có mối tương quan với bất kỳ đặc điểm của quá trình thụ tinh và nở của trứng Kích thước trứng cũng thay đổi khi bổ sung vào khẩu phần
ăn, ví dụ khẩu phần ăn của cá thể mẹ được bổ sung hàm lượng HUFA cao giúp tăng đường kính trứng, đường kính giọt dầu cũng như tỷ lệ thụ tinh
Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của hàm lượng vitamin C, vitamin E và acid béo không no lên đặc điểm sinh học của tuyến sinh dục, tỷ lệ nở và sự thành công của
quá trình thụ tinh ở cá vàng (Carassius auratus Gibelio) sử dụng vitamin C, vitamin E
và HUFA trong thức ăn sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến đường kính trứng và hệ số thành thục của cá (P<0,05) Cụ thể, cá được cho ăn khẩu phần ăn vitamin C1000+HUFA,
Trang 22C100+HUFA, C100-HUFA và C100 + E1000 + HUFA cho kết quả tốt nhất và thấp nhất ở khẩu phần C100+E1000-HUFA Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở cao nhất khi cá được ăn thức
ăn chứa C1000+HUFA, C100+HUFA, C100+E1000+HUFA và E100+HUFA và thấp nhất ở C-E+HUFA và C-E-HUFA [59] cũng làm cơ sở cho nghiên cứu như vậy trên cá dìa
3 Hiện trạng sản xuất giống cá dìa tại Việt Nam
Các nghiên cứu về cá dìa ở Việt Nam tương đối ít, cá dìa được mô tả đặc điểm phân loại và ghi vào danh mục các loài cá biển Việt Nam và nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản ở vùng đầm Thị Nại [5] Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá dìa ở
cho thấy, cá dìa Công Siganus guttatus là loài có sức sinh sản cao từ 1,088 – 2,02 triệu
trứng/kg cá cái; tỷ lệ thành thục từ tháng 1 đến tháng 8 cao (cá đực >89%, cá cái
>96%); ấu trùng nở ra chỉ sống được 3 - 4 ngày, đến ngày thứ 5 tỷ lệ sống chỉ còn 5%
và chết hoàn toàn ở ngày thứ 7 [4]
Năm 2014, Võ Thị Ngọc Giàu đã nghiên cứu và xác định Tỷ lệ pha loãng, pH, nhiệt độ, nồng độ thẩm thấu và nồng độ cation tối ưu cho hoạt lực tinh trùng cá dìa
quánh đạt 91, 71 ± 3,35% và hoạt lực tinh trùng tốt nhất ở môi trường có tỷ lệ pha loãng 1:50, pH dao động từ 8-8,25 và nồng độ thẩm thấu 400 mOsm/kg với thời gian hoạt lực và phần trăm hoạt lực lần lượt là 362,14 ± 37,8 giây, 96,29 ± 1,7% [3]
Năm 2007, Trong khuôn khổ dự án IMOLA - Trung tâm khuyến ngư Thừa Thiên Huế đã tiến hành thử nghiệm mô hình nuôi cá dìa giống nhân tạo kết hợp nuôi
ghép với rong câu chỉ vàng Gracilaria verrucosa và tôm sú Penaeus monodon, đã đạt
được kết quả tích cực [5]
Năm 2009 - 2013, Phan Văn Út và cộng sự đã nghiên cứu các thông số kỹ
thuật, xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá dìa Siganus guttatus
(Bloch, 1787) và đã thu được một số kết quả quan trọng Mùa vụ sinh sản của cá dìa tại Khánh Hòa diễn ra 2 lần/năm từ tháng 4 - 11 Hệ số thành thục GSI của cả cá cái và đực dao động từ 7,5 - 8,8 [7] Bên cạnh đó, nghiên cứu của Trương Quang Tuấn đã chỉ
ra rằng, trong quá trình ương cá dìa giai đoạn giống (2-4 cm): thức ăn NRD 3/5 (INVE, Thái Lan) với khẩu phần 14% khối lượng thân và mật độ ương 4 con/L với độ mặn trong khoảng 15‰ - 25‰ là thích hợp nhất [6]
Trang 23Từ các kết quả nghiên cứu về cá dìa Siganus guttatus (Bloch, 1787) ta thấy còn rất
ít Vì vậy vấn đề nghiên cứu chuyên sâu hơn các vấn đề có liên quan đến cá dìa là cần thiết
ở Việt Nam
4 Hormon điều khiển sinh sản ở cá
Thần kinh nội tiết đóng vai trò quan hết sức trọng cho hoạt động điều khiển trong chu kỳ sinh sản ở cá xương, bao gồm não bộ, tuyến yên, gan và tuyến sinh dục
Để quá trình thành thục và đẻ trứng ở con cái và tiết tinh ở con đực thành công, các bộ phận trong hệ thống thần kinh nội tiết sinh sản phải thực hiện hoàn chỉnh và đồng bộ chức năng của chúng trong suốt chu kỳ hoạt động tiết các hormon từ GnRH, FSH, LH đến các steroid là cần thiết cho hoạt động đẻ trứng và tiết tinh Nếu rối loạn một trong các khâu nào ở trên hay thiếu một trong các thành phần hormon trên cũng có thể làm thoái hóa hay cá không thể thành thục hoàn toàn và dẫn đến việc đẻ trứng và tiết tinh
sẽ không xảy ra Các yếu tố chủ yếu như cá bị stress, môi trường không thích hợp có thể gây ảnh hưởng đến sự điều tiết của các hormon trong hệ thần kinh nội tiết và như vậy ức chế sự thành thục Trong các công trình nghiên cứu nhiều năm qua, trên nhiều loài cá đã cho ta thấy vai trò của các hormon trong việc kích thích quá trình phát triển tuyến sinh dục là hết sức quan trọng
4.1 Hormon phóng thích KDT của não bộ (GnRH)
GnRH là hormon quan trọng nhất của não bộ tham gia điều hòa hoạt động tổng hợp và tiết KDT của tuyến yên Ở cá xương, GnRH là một hormon thần kinh được tổng hợp bởi các tế bào thần kinh trong các vùng đặc biệt của não bộ Các GnRH được các sợi thần kinh truyền trực tiếp đến tuyến yên và được phóng thích vào các vùng phụ cận gần với các tế bào kích dục, gắn vào các thụ thể đặc hiệu trên màng và kích thích sinh tổng hợp và tiết cả hai KDT là FSH và LH
Ngày nay người ta đã xác định có đến 24 loại GnRH tự nhiên khác nhau [27], trong đó 14 loại ở động vật có xương sống, 10 loại ở động vật không xương (9 loại ở động vật có bao Tunicata và 1 loại ở nhuyễn thể chân đầu) [24,8] Việc xác định trình
tự các amino acid trong cấu tạo của các GnRH tự nhiên cho phép so sánh hoạt tính gây tiết KDT của chúng trên cá Từ đó, người ta đã tổng hợp những chất tương tự như GnRH tự nhiên và gọi là GnRH-A (A là chữ viết tắt của Analog: chất tương tự) GnRH-A có hoạt tính cao hơn và cho thấy có nhiều ưu điểm hơn so với các GnRH tự nhiên nên đã được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn sản xuất
Trang 24Ngoài GnRH, sự tiết KDT của tuyến yên còn chịu sự kiểm soát của một chất ức chế khác, gọi là Dopamine (DA) DA ức chế lên cả não bộ và tuyến yên Trong hệ thống GnRH của não bộ, DA ức chế sự tổng hợp và tiết GnRH Trong tuyến yên, DA
ức chế không những sự tiết KDT cơ bản hay tự phát mà còn ức chế cả sự tiết KDT dưới ảnh hưởng kích thích của GnRH DA có thể điều khiển các thụ thể của GnRH và
ức chế tiết LH của tuyến yên [57] Hoạt tính ức chế sự tiết LH của tuyến yên đã được nghiên cứu trên nhiều nhóm động vật có xương Cường độ và thời gian hoạt tính của
nó khác nhau ở các loài khác nhau, phụ thuộc và đặc điểm sinh sản của từng loài Ở các loài cá nước ngọt.DA ức chế rất mạnh sự tiết LH của tuyến yên Ngược lại, khả năng ức chế của DA lại yếu hoặc không có ở hầu hết các loài cá biển
Ở các loài cá có hệ thống DA hoạt động tích cực, việc ức chế sự rụng trứng bằng cách tăng cường hoạt động của DA và làm giảm hoạt tính của GnRH Ngược lại, đối với các loài cá có hệ thống DA hoạt động yếu, sự rối loạn sinh sản chủ yếu do hoạt tính của GnRH bị giảm đi
4.2 Kích dục tố của tuyến yên (Gonadotropin)
Tuyến yên là cơ quan nội tiết, tham gia điều khiển nhiều hoạt động sống của cơ thể, trong đó có hoạt động sinh sản thông qua việc kích thích tổng hợp steroid và tạo giao tử của tuyến sinh dục hai loại KDT (FSH và LH) đã được biết đến Ở động vật có
vú và cả hai KDT này đều tham gia điều khiển các chức năng sinh sản ở con cái và con đực Ở cá xương, người ta đã phát hiện và xác định được hai loại KDT khác nhau tồn tại trong tuyến yên [51, 52] và được định danh là Gonadotropic Hormone I (GTH-I) và Gonadotropic Hormone II (GTH-II) Gần đây, nhờ sự phát triển các kỹ thuật phân tích trong sinh học phân tử, hóa sinh và miễn dịch phóng xạ, người ta đã chiết xuất được 2 loại KDT khác nhau từ tuyến yên trên một số loài cá cũng như xác định được hoạt tính sinh học và cấu tạo phân tử của chúng Trên cơ sở các loài cá đã nghiên cứu và thông tin có được ngày càng nhiều về sự tương đồng về hoạt tính sinh học và phân tử giữa GTH-I với FSH và GTH-II với LH, các nhà khoa học đã thống nhất đề cập thuật ngữ GTH-I tương đương với FSH và GTH-II tương đương với LH [53,58]
Trên một số loài cá có thể thấy hàm lượng FSH huyết tương tăng lên trong thời
kỳ tích lũy noãn hoàng hay tạo tinh và giảm đi trong thời kỳ thành thục và đẻ trứng Ngược lại hàm lượng LH trong huyết tương thấp hoặc không xác định được trong thời
kỳ tích lũy noãn hoàng hay tạo tinh và tăng lên trong thời kỳ thành thục, đẻ trứng hoặc tiết tinh Vì vậy LH đóng vai trò kích thích quá trình thành thục và phóng thích sản
Trang 25phẩm sinh dục, trong khi đó FSH giữ vai trò điều khiển quá trình tích lũy noãn hoàng hay tạo tinh Tuy nhiên, trên thực tế, ở mỗi loài cá khác nhau, sự phát triển của tổ chức buồng trứng khác nhau cũng như hình thức sinh sản khác nhau dẫn đến sự điều khiển chu kỳ sinh sản của các KDT là không giống nhau Đối với những loài cá đẻ một lần trong đời hoặc trong năm, sự thay đổi hàm lượng KDT trong chu kỳ sinh sản được thể hiện khá rõ Trong đó, FSH đảm nhận chức năng kiểm soát giai đoạn đầu của quá trình tạo giao tử còn LH điều khiển quá trình thành thục và chín muồi của giao tử [52,53] Ngược lại đối với những loài cá đẻ nhiều lần trong năm, sự biến động về hàm lượng FSH và LH khá phức tạp và có sự biến đổi qua lại thường xuyên trong suốt chu kỳ sinh sản [25] Khả năng điều khiển chức năng của tuyến sinh dục của KDT tuyến yên không chỉ phụ thuộc vào hàm lượng của KDT có trong máu mà còn phụ thuộc vào số lượng các thụ thể được hình thành trên bề mặt các tế bào đích trong tuyến sinh dục Vì vậy hiểu được đặc tính sinh lý và vai trò của KDT tuyến yên trong quá trình điều khiển sinh sản ở cá là rất cần thiết
4.2.1 Kích dục tố điều khiển chức năng của tinh sào
Trong chu kỳ sinh sản, KDT tuyến yên đảm nhận chức năng kích thích quá trình tổng hợp steroid sinh dục và điều khiển sự tạo tinh trong tinh sào Tuy nhiên, KDT không tác động trực tiếp lên tinh sào mà điều khiển quá trình sinh tổng hợp các steroid từ tinh sào ở từng giai đoạn phát triển khác nhau Từ đó, các steroid này kích thích sự tạo tinh và tiết tinh ở cá đực Dưới ảnh hưởng của KDT, steroid được tạo ra bởi các tế bào Leydig, một loại tế bào sinh dưỡng (không phải tế bào sinh dục) hay còn gọi là tế bào kẽ nằm xen kẽ giữa các ống sinh tinh Các steroid tác động lên các tế bào sinh dục bên cạnh theo cơ chế cận tiết Đồng thời steroid cũng được phóng thích vào máu để kích thích sự phát triển các đặc điểm sinh dục thứ cấp và điều hòa hoạt động tiết hormon của tuyến yên (còn được gọi là Feedback) trong đó có KDT
4.2.2 Điều khiển quá trình tổng hợp và tiết steroid ở tinh sào
Quá trình sinh tổng hợp steroid của tinh sào được điều khiển bởi các KDT tuyến yên Bằng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ, người ta đã xác định được 2 loại KDT (FSH và LH) trong huyết tương cá Hồi đực và hàm lượng của chúng có quan hệ với các giai đoạn phát triển của tinh sào [52,44] Điều này cho thấy vai trò của FSH và LH trong quá trình điều khiển sinh tổng hợp steroid của tinh sào Trong thời kỳ giữa và cuối của quá trình tạo tinh, hàm lượng FSH và 11-KT trong huyết tương tăng lên Tuy
Trang 26xuống và hàm lượng LH cùng với 17α, 20β-P trong huyết tương tăng lên Ở cá Hồi đực cũng như một số loài cá xương khác, hàm lượng T và 11-KT trong huyết tương tăng lên trong suốt giai đoạn tạo tinh và giảm xuống khi cá đực thành thục hoàn toàn
và bắt đầu tiết tinh, đồng thời hàm lượng 17α, 20β-P cũng tăng lên Quá trình tạo tinh
ở cá Hồi Nhật Bản (Hucho perryi) cũng có thể được kích thích bằng 11-KT in vitro [33] Tuy nhiên quá trình tiết tinh và hoạt lực của tinh trùng lại được kích thích bởi 17α, 20β-P [34] KDT tuyến yên kích thích sự tạo T và 11-KT trong các tế bào sinh dưỡng trong tinh sào và khả năng tổng hợp các steroid này tăng lên trong thời kỳ tạo tinh Trong giai đoạn đầu và giữa của quá trình tạo tinh, cả FSH và LH đều có hiệu lực như nhau trong việc kích thích tinh sào tiết T, 11-KT và 17α, 20β-P Tuy nhiên ở giai đoạn cuối và trong thời kỳ tiết tinh, hiệu lực LH mạnh hơn FSH [44] Hiệu lực của FSH và LH trong thời kỳ đầu như nhau có thể có liên quan đến sự có mặt của một loại thụ thể của KDT Thụ thể này có thể liên kết với cả FSH và LH [35] Thụ thể này đã được xác định trên các tế bào Sertoli nằm trong tinh sào, nhưng cũng có thể chúng có mặt trong các tế bào Leydig Trong thời kỳ tiết tinh, khi mà hiệu lực của LH tăng lên, thụ thể thứ hai sẽ xuất hiện và liên kết đặc hiệu với LH trên các tế bào Leydig Như vậy, ở cá Hồi trong thời kỳ tiết tinh và tăng cường hoạt lực của tinh trùng, cá đực chịu
sự chi phối của LH chứ không phải FSH Trong giai đoạn này LH trong huyết tương tăng lên, thụ thể của LH xuất hiện trong các tế bào Leydig và khả năng tiết 17α, 20β-P của tinh sào tăng lên dưới ảnh hưởng của LH Ngược lại, trong thời kỳ tạo tinh, tinh sào chịu sự điều khiển bởi FSH thông qua việc kích thích tạo 11-KT vì hàm lượng của FSH và 11-KT trong huyết tương tăng lên và duy trì ở mức cao trong khi đó hàm lượng LH thấp, thậm chí không xác định được [52]
4.2.3 Điều khiển quá trình phát triển và thành thục của tinh sào
Quá trình phát triển tế bào sinh dục đực có thể được chia thành 4 thời kỳ: (1) thời kỳ sinh sản; (2) thời kỳ sinh trưởng; (3) thời kỳ thành thục và (4) thời kỳ biệt hóa quá trình phát sinh và phát triển của tinh trùng cá xương chịu sự chi phối của KDT tuyến yên Thời kỳ sinh sản hay nguyên phân để tạo vô số tinh nguyên bào là bước phát triển khởi đầu và rất quan trọng trong quá trình tạo tinh ở cá đực
Trong nhiều năm qua, những hiểu biết về quá trình phát triển và thành thục tế bào sinh dục đực dưới sự điều khiển bởi KDT tuyến yên chủ yếu rút ra từ các kết quả nghiên cứu trên cá Chình Nhật Bản, một loài được xem như là mô hình phù hợp để
Trang 27nghiên cứu về nội tiết quá trình tạo tinh Ở một số loài cá xương khác, vai trò chính của FSH là kích thích quá trình tạo tinh Trên cá Hồi Vân, FSH kích thích sự sinh sôi của tinh nguyên bào [30] FSH cũng kích thích quá trình tạo tinh ở cá Hồi Nhật Bản [9] và cá Hồi Thái Bình Dương (Onchorhynchus spp) [13] Hàm lượng 11-KT trong huyết tương cá Hồi thành thục tăng lên cùng với sự xuất hiện của của các tinh bào cấp
I, điều đó cho thấy quá trình tạo tinh đã bắt đầu [30] Ở cá Hồi Thái Bình Dương, hàm lượng FSH tăng lên đáng kể trước khi 11-KT được tiết ra [13] Ngoài ra, sự sinh sôi của các tinh nguyên bào trong tinh sào ở cá Hồi Nhật Bản đã được chứng minh dưới ảnh hưởng của KDT tuyến yên và 11-KT [9]
Các nghiên cứu về khả năng kích thích tạo 11-KT của FSH và sự xuất hiện các thụ thể của FSH trong tinh sào trong thời kỳ tạo tinh cho phép kết luận FSH đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo tinh ở cá Hồi [36] Kết quả tương tự cũng được tìm thấy trên cá Trê Phi [14] Vào cuối giai đoạn tạo tinh, tinh sào cũng chịu sự điều khiển bởi KDT Các thí nghiệm in vivo trên nhiều loài cá cho thấy việc sử dụng các chế phẩm KDT tuyến yên hoặc GnRH-A cho kết quả là thu được tinh dịch [41] Ngoài ra, trong điều kiện tự nhiên, hàm lượng LH, 11-KT và 17α,20βP trong huyết tương tăng lên trong thời kỳ tiết tinh trên nhiều loài cá [38,52]
Ngày nay người ta biết rằng, trong giai đoạn chín của tinh sào, các thụ thể của LH tăng lên cùng với hàm lượng 11-KT và 17α,20βP Do đó, chúng ta có thể kết luận rằng, 11-KT và 17α,20βP được tiết ra dưới ảnh hưởng của LH và có thể có vai trò quan trọng trong thời kỳ tiết tinh ở cá đực
4.2.4 Kích dục tố điều khiển chức năng của buồng trứng
Ở cá cái, KDT tuyến yên (FSH và LH) cũng là hormon chính điều khiển chức năng của buồng trứng Ngoài nhiệm vụ tạo trứng, buồng trứng còn có chức năng tổng hợp và tiết các steroid tham gia điều khiển quá trình phát triển, thành thục, chín muồi
và rụng trứng Buồng trứng cá xương bao gồm các noãn nguyên bào, các noãn bào đang lớn lên với các tế bào nang bao quanh mỗi noãn bào, mô liên kết, mạch máu và
mô thần kinh Trong quá trình lớn lên của noãn bào, các tế bào nang phân chia và tạo thành một lớp tế bào, hay còn gọi là lớp tế bào hạt (granulosa layer) Đồng thời, các bộ phận mô liên kết bao quanh cũng tạo thành một lớp bên ngoài hay gọi là lớp tế bào vỏ (thecal layer) Vì vậy, cũng giống như những động vật có xương khác, các noãn bào được bao bọc bởi 2 lớp tế bào chính: lớp ngoài là lớp tế bào vỏ và lớp trong là lớp tế
Trang 28bào hạt và 2 lớp này tách biệt nhau bởi một lớp màng cơ sở [39] Như vậy nang trứng gồm có 3 lớp tế bào: Lớp vỏ, lớp màng cơ sở và lớp hạt Bằng kỹ thuật đơn giản, người ta có thể tách lớp vỏ và lớp hạt dễ dàng để nghiên cứu và làm sáng tỏ vai trò của mỗi lớp tế bào và KDT trong toàn bộ quá trình tổng hợp và tiết hormon steroid [8] Nghiên cứu in vitro cho thấy cả 2 lớp tế bào này có sự kết hợp lẫn nhau trong quá trình tạo steroid, kích thích sự lớn lên và chín của noãn bào
4.3 Hormon steroid của tuyến sinh dục
4.3.1 Điều khiển quá trình phát triển tinh sào Quá trình phát triển và thành thục sinh dục ở cá đực (tinh sào) cũng được điều khiển bởi các KDT tuyến yên
Tuy nhiên, hoạt tính của hormon steroid tiết từ tinh sào có ảnh hưởng mạnh hơn Androgen 11-KT là hormon steroid chính điều khiển quá trình phát triển của tinh bào và MIS điều khiển sự thành thục của tinh trùng Cả hai hormon steroid này đều được tổng hợp bởi các tế bào sinh dưỡng trong tinh sào dưới ảnh hưởng của KDT tuyến yên LH là KDT tham gia chủ yếu vào quá trình kích thích tổng hợp androgen trong tế bào Leydig vì thế còn có tên là ICSH Trong khi đó FSH tham gia nhiều chức năng khác nhau trong tinh sào, kích thích tổng hợp androgen trong tế bào Leydig và điều khiển hoạt động của tế bào Sertoli trong quá trình tạo tinh Mặc dù cơ chế hoạt động của FSH đến nay vẫn chưa được biết đến một cách đầy đủ, nhưng chức năng của FSH trong tinh sào là kích thích sự gia tăng và biệt hóa các tế bào Sertoli và tổng hợp các yếu tố sinh trưởng Các yếu tố này tác động theo cơ chế tự tiết và cận tiết trong quá trình gia tăng và biệt hóa các tế bào Sertoli và phát triển của các tế bào mầm Trước khi quá trình tạo tinh bắt đầu, quá trình tạo các tế bào mầm của tinh nguyên bào được điều khiển bởi E2, tác động lên các tế bào Sertoli [40] Ở một thời điểm nhất định, KDT tuyến yên (chủ yếu là FSH) kích thích sự dịch chuyển quá trình tạo tế bào mầm sang quá trình sinh sôi của các tinh nguyên bào Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình tạo tinh FSH tác động lên các tế bào Sertoli và kích thích sinh tổng hợp 11-KT thông qua hoạt hóa các enzym 11β-hydroxylase và 11βhydroxysteroid dehydrogenase
Từ đó, 11-KT có vai trò điều khiển toàn bộ quá trình tạo tinh Ở cá đực, hàm lượng FSH trong huyết tương cao ở giai đoạn đầu quá trình tạo tinh và đạt cực đại trong suốt thời kỳ phát triển của tinh sào và sau đó giảm xuống sau khi sinh sản Hàm lượng LH trong huyết tương thấp trong thời kỳ đầu quá trình tạo tinh, bắt đầu tăng lên trong thời
kỳ phát triển và đạt cực đại trong lúc sinh sản Khi quá trình tạo tinh kết thúc, LH được
Trang 29tiết ra từ tuyến yên kích thích sự chuyển dịch quá trình tạo hormon steroid của tinh sào sang tổng hợp MIS MIS đến lượt mình điều khiển sự thành thục của tình trùng Trong thời kỳ thành thục, 17α hydroxyprogesterone tổng hợp từ các tế bào Leydig sẽ chuyển thành MIS trong tinh sào do hoạt động của enzym 20β-hydroxysteroid dehydrogenase Hoạt tính của MIS không trực tiếp tác động lên sự thành thục của tinh trùng mà thông qua các enzym đặc hiệu làm tăng pH huyết tương từ đó làm tăng hoạt lực và sự biệt hoá của tinh tử thành tinh trùng Ở cá đực, trong thời kỳ thành thục, hàm lượng androgen luôn được duy trì ở mức cao trong huyết tương
4.3.2 Điều khiển quá trình phát triển buồng trứng
Ở cá cái, E2 điều khiển sự phát triển của noãn bào, đặc biệt là giai đoạn tích lũy Vtg dưới ảnh hưởng của KDT tuyến yên (FSH) Trong buồng trứng, E2 được tổng hợp theo mô hình 2 kiểu tế bào Trong quá trình tích lũy noãn hoàng, lớp tế bào vỏ tổng hợp T từ cholesterol, sau đó chuyển T vào lớp tế bào hạt, ở đó dưới tác dụng của enzym aromatase, T được chuyển thành E2 Trong thời kỳ tích lũy noãn hoàng, E2 thực hiện hai chức năng chính, một là điều khiển sự phát triển của noãn bào và hai là kích thích tế bào gan tổng hợp Vtg Khi quá trình tích lũy noãn hoàng kết thúc, tuyến yên bắt đầu tăng tiết LH, kích thích sự chuyển dịch hoạt động sinh tổng hợp hormon steroid trong buồng trứng bằng cách giảm sản xuất T và E2, đồng thời tăng cường sinh tổng hợp hormon steroid gây chín (MIS) Điều này được thực hiện thông qua sự giảm hoạt động của enzym aromatase và tăng hoạt động của enzym tạo MIS Hai hormon steroid gây chín đã được xác định ở cá là 17,20βP hoặc DHP và 20βS Cả hai 17,20βP
và 20βS đều có vai trò gây chín noãn bào như nhau ở nhiều loài cá Tuy nhiên một trong hai chất trên có tính năng vượt trội hơn ở những loài cá khác nhau 17,20βP là MIS chính ở một vài loài cá Hồi và một số loài không thuộc họ cá Hồi, trong khi đó, 20βS là MIS chính đối với các loài Micropogonias undulatus, Cynoscion nebulosus, Morone saxatilis và Acanthopagrus schlegelii
Quá trình tổng hợp MIS cũng được thực hiện theo mô hình hai kiểu tế bào Ở
đó, enzym 17α hydroxyprogesterone được tổng hợp ở lớp tế bào vỏ và chuyển thành 17,20βP tại lớp tế bào hạt dưới tác dụng của enzym 20β-hydosysteroid dehydrogenase Như vậy LH và MIS cùng điều khiển quá trình thành thục của buồng trứng MIS không trực tiếp kích thích sự thành thục tuyến sinh dục mà thông qua sự tương tác của nhiều yếu tố khác nhau bao gồm các prostaglandin (PGE1, PGE2, PGF1α, PGF2α),
Trang 30IGF-I và IGF-II (insulin-like growth factor), activin B và các yếu tố khác [18] Trong thời kỳ cá thành thục, MIS tăng lên, nhưng các hormon steroid khác cũng không giảm
đi Vì vậy ở nhiều loài cá, hàm lượng các estrogen trong máu vẫn duy trì ở mức cao trong giai đoạn thành thục Ở các loài cá đẻ nhiều lần trong năm và một vài loài đẻ một lần trong năm, hàm lượng MIS trong huyết tương có quan hệ chặt chẽ với chu kỳ thành thục và hàm lượng E2 được duy trì trong toàn bộ thời kỳ thành thục
Vì vậy định hướng Xác định sự ảnh hưởng của các hormon Human Chorionic Gonadotropin (hCG), Leutinizing Hormone Releasing Hormone (LHRH) + Antidopamine lên hàm lượng estradiol 17-β trong huyết tương cá dìa (Siganus
guttatus Bloch, 1787) là hợp lí
Trang 31CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: cá dìa Siganus guttatus (Bloch, 1787)
- Thời gian nghiên cứu: tháng 05/2017 – 06/2018
- Địa điểm nghiên cứu: Phòng thí nghiệm Sinh học nghề cá – Viện Nuôi trồng Thủy sản – Trường Đại học Nha Trang, cơ sở sản xuất tại 154b Nguyễn Trọng Kỷ- Cam Linh- Thành Phố Cam Ranh- tỉnh Khánh Hòa
2.2 Bố trí thí nghiệm và sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Đàn cá bố mẹ tuổi 1+, có chiều dài toàn thân dao động 28-30 cm và khối lượng 450-600 g/con được nuôi trên biển ở nhiệt độ nước trong nuôi trung bình: 28-320C; độ mặn: 29-34 ‰; pH: 7,8-8,6 và oxy hòa tan (DO): 3,5-4,6 mg/l Mật độ nuôi bình quân
3 kg/m3 với tỷ lệ đực cái ước tính 1:1
Đàn cá thí nghiệm được tiêm các loại chế phẩm hormone tương ứng với các nghiệm thức như sau:
Thí nghiệm 1 (hCG): 1500 IU hCG/kg
Thí nghiệm 2 (LHRH-A)50 µg LHRH-A/kg cá + DOM 5mg/kg cá
Nghiệm thức 3 (Đối chứng): 0,5 ml nước muối sinh lý/kg
Để phân tích hàm lượng estradiol 17- trong máu , ở mỗi nghiệm thức, chúng
tôi thu mẫu máu ở các mốc thời gian 6, 12,18 và 24 giờ sau khi tiêm
Thí nghiệm 1: chọn 20 con cá khỏe mạnh đồng cỡ, tiêm 1500 IU hCG/kg
Trang 32Trước khi tiêm lấy máu
Sau khi tiêm, thu máu ở các thời điểm: sau 6, 12,18 và 24 giờ
Tương tự như vậy đối với LHRH-A + DOM ở thí nghiệm 2 và 3
Liều lượng tiêm của cá đực bằng một phần tư đến một nữa liều tiêm cho cá cái, nhưng trong thí nghiệm này việc xác định giới tính của cá dìa rất khó khăn Nên liều lượng tiêm cho cá là như nhau và mang tính ngẫu nhiên, khi đến thời gian thu mẫu thì triển khai giải phẫu mới xác định rõ giới tính của từng cá thể
Ngoài việc thu mẫu máu, chúng ta cần thu buồng trứng để đánh giá mức độ thay đổi, phát triển của trứng có tốt không sau khi tiêm
Trong nghiên cứu này, cá cái được xem là thành thục khi có một số dấu hiệu như bụng to tròn, mềm đều và lỗ sinh dục nở rộng kết hợp với quan sát buồng trứng sau khi mổ cá Trong một vài trường hợp khi vuốt nhẹ ở bụng, trứng có thể chảy ra ngoài qua lỗ sinh dục Trước khi tiêm hormone, chúng tôi giải phẫu ngẫu nhiên 10 cá cái để đánh giá mực độ thành thục của buồng trứng, cũng như xác định một số đặc điểm sinh lý, sinh học sinh sản Sau khi cá được tiêm hormon, 12 giờ và sau 24 giờ Chúng tôi tiến hành giải phẩu 5 cá thể cho một nghiệm thức ở các mốc thời gian để đánh giá mức độ thành thục và phân tích thành phần sinh hóa của buồng trứng để so sánh với trước khi tiêm
Trang 332.2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Đo hàm lượng estradiol 17- trong máu sau khi tiêm hormon
trên cá dìa (Siganus guttatus Bloch, 1787)
Đặc điểm phát triển tuyến
sinh dục trong chu kỳ:
GSI, HIS, mùa vụ, kích
thước noãn bào, tiêu bản
mô học các giai đoạn phát
triển tinh, tỷ lệ thành
thục…
Đo hàm lượng estradiol 17-
trong máu sau khi tiêm Human
Chorionic Gonadotropin (hCG), Leutinizing Hormone Releasing Hormone (LHRH) +
Sự biến động của estradiol 17- trong huyết tương, ứng dụng vào việc sinh
sản nhân tạo cá dìa
Nhận xét và kết luận
Phương pháp làm tiêu bản
tổ chức tuyến sinh dục;
Bậc thang phân biệt các giai
đoạn phát triển tuyến sinh
dục;
Phương pháp xác định đặc
điểm sinh học sinh sản
Phân tích hàm lượng hormon steroid trong huyết tương;
Phân tích hàm lượng lipid trong huyết tương
Quan hệ giữa các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục với GSI và với hàm lượng hormon steroid trong huyết tương