Vớivai trò trung gian tài chính, NHTM tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗitrong nền kinh tế và phân phối chúng cho các nhu cầu hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp theo
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT
ĐÔNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I.SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
Ngân hàng ra đời bắt nguồn từ những người thợ kim hoàn khoảng thế kỷXV.Những người giàu có, có một lượng lớn tiền; các thương gia hàng hoá buônbán hàng hoá giữa các địa phương với nhau thu đươc nhiều loại tiền khác nhau (vìmỗi địa phương dùng một loai tền riêng) nên dể đổi tiền thì phải mua hàng ởnhững nơi có tiền đó Vì vậy họ gửi tiền cho những người thợ kim hoàn và nhậndược một giấy chứng nhận gửi tiền Thương gia tiền tệ ra đời với nhiệm vụ giữ hộtiền và thu phí, trong két của họ luôn có lượng tiền dư nên họ nảy sinh ý kiến chovay để nhận lãi và ngày càng muốn thu được nhiều lợi nhuận hơn đã khuyến khích
họ cần có nhiều tiền hơn, dẫn đến thu hút lượng tiền gửi bằng cách giảm phí gữitiền rồi không thu phí, cuối cùng là trả lãi cho người gửi Những người thợ kimhoàn trở thành người kinh doanh tiền tệ Thương gia hàng hoá lợi dụng vai trò gữi
hộ tiền để thanh toán hộ mình qua giấy tờ họ phát hành, đây chính là hoạt độngthanh toán hộ
Khi có một tổ chức thực hiện cả 3 nghiệp vụ: huy động vốn, cho vay vàtrung gian thanh toán thì được gọi là Ngân hàng
Trong thế kỷ XV-XVII, hệ thống ngân hàng gồm các Ngân hàng tư nhân tồn tạiđộc lập với nhau, đăc thù các Ngân hàng thời kì này là ngoài 3 nghiệp vụ trên còn
có thể phát hành tiền trên cơ sở số vàng dự trữ
Giai đoạn từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XX, xảy ra hiên tượng do sự pháttriển mạnh mẽ về kinh tế đã kích thích các Ngân hàng tư nhân chạy theo lợi nhuận
mà phát hành ồ ạt tiền giấy không căn cứ vào lượng vàng dự trữ hoặc cho vay gầnhết số vốn huy động được làm cho khả năng thanh toán của Ngân hàng thườngxuyên bị đe doạ Khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, một loạt các Ngân hàng sụp đổgây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế Chính phủ các quốc gia quyết định canthiệp, hạn chế số ngân hàng đuợc phép phát hành tiền Từ đây hệ thống Ngân hàngphân ra làm 2 loại:
Trang 2+Các ngân hàng phát hành: là các Ngân hàng đựơc phép phát hành tiền Về
sau thì chỉ có duy nhất 1 ngân hàng phát hành và được giao thêm nhiệm vụ quản lýcác ngân hàng khác, ngày nay được gọi là NHTW (Việt Nam: NHNN)
+ Ngân hàng thương mại: không dược phép phát hành tiền, chỉ được kinh
doanh trong lĩnh vực tiền tệ
NHTM ra đời và phát triển qua một quá trình lâu dài của lịch sử xã hội loàingười Nó tồn tại và phát triển trên cơ sở sản xuất và lưu thông hàng hoá Với chứcnăng làm trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền đề đểphục vụ cho nền kinh tế quốc dân
NHTM hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàngvới trách nhiệm hoàn trả Ngân hàng sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiệnnhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán NHTM hoạt động kinh doanhvừa với danh nghĩa là một doanh nghiệp tổ chức hạch toán kinh tế – kinh doanh,vừa với vai trò trung gian tài chính, trung gian thanh toán trong nền kinh tế Vớivai trò trung gian tài chính, NHTM tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗitrong nền kinh tế và phân phối chúng cho các nhu cầu hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp theo nguyên tắc tín dụng (hoàn trả và thu lợi nhuậngóp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển hàng hoá - tiền tệ trong nền kinh tế Vớichức năng làm trung gian thanh toán, NHTM thực hiện mọi khoản thanh toán chitrả về hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường tăng nhanh thông qua mở tàikhoản cho khách hàng thanh toán bằng các phương thức khác nhau (séc, uỷ nhiệmchi, uỷ nhiệm thu, L/C …) Nó tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ thanh toán giữacác tổ chức kinh tế trong nước và các tổ chức trong xã hội, giảm được khối lượngtiền mặt trong lưu thông và giảm được chi phí thanh toán, chi phí lưu thông tiềnmặt Do đó, hoạt động của NHTM gắn bó mật thiết với hệ thống lưu thông tiền tệ
và hệ thống thanh toán trong nước, đồng thời có mối quan hệ quốc tế
Chức năng tạo tiền: là khả năng mở rộng tiền gửi làm nhiều lần của hệ thốngNHTM Quá trình tạo tiền là quá trình liên kết chặt chẽ giữa hoạt động tín dụng vàhoạt động thanh toán không dùng tiền mặt của hệ thống NHTM Nhờ đó mà từ mộtkhoản tiền gửi ban đầu sẽ đựơc nhân lên rất nhiều lần (phụ thuộc vào hệ số giatăng tiền gửi) mặc dù một NHTM chỉ có thể cho vay vốn trong phạm vi tiền gửi
Trang 3mình có Chức năng tạo tiền làm tăng thêm nguồn vốn để phục vụ sản xuất lưuthông hàng hoá, đồng thời tiết kiệm được tiền mặt trong lưu thông.
II.CÁC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NHTM.
1 Hoạt động huy động vốn.
Hoạt động huy động vốn là hoạt động quan trọng, là cơ sở cho các hoạt độngkhác của ngân hàng Thông qua hoạt động này, Ngân hàng tập hợp được nhữngkhoản tiền nhỏ lẻ, phân tán tạm thời chưa sử dụng với những thời hạn hết sức khácnhau thành một khoản tiền lớn nhằm tài trợ lại cho nền kinh tế, cho những cá nhân
có nhu cầu sử dụng tiền khi chưa có thu nhập
Nguồn vốn của NHTM gồm:
Vốn tự có: (còn gọi là vốn chủ sở hữu) được tạo lập bằng cách phát hành cổphiếu hoặc do NSNN cấp, bằng các quỹ như: Quỹ dự trữ, phần lợi nhuận chưa chiahoặc các qũy đặc biệt khác chưa sử dụng như Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ;Quỹ khen thưởng; Quỹ phúc lợi; Quỹ khấu hao tài sản cố định; Quỹ khác… Vốn tự
có của ngân hàng nhỏ, nhưng lại có ý nghĩa quan trọng nó thể hiện thế lực tài chínhcủa mình, là cơ sở để mở rộng quá trình tập trung huy động vốn, cho vay, mở rộngphạm vi hoạt động Vốn tự có còn được coi là “cái đệm” để chống đỡ các tổn thất,các khoản giảm giá bên tài sản có, tránh cho Ngân hàng bị phá sản
Vốn huy động: là nguồn vốn do ngân hàng thu hút được qua nghiệp vụ nhậntiền gửi và các ngiệp vụ khác để tạo vốn kinh doanh Các khoản tiền gửi này khôngthuộc quyền sở hữu của Ngân hàng, nhưng Ngân hàng được quyền sử dụng đối vớinhững khoản tiền tạm thời nhàn rỗi Đây là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớnnhất trong tổng nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng Tuy nhiên, trong đó có một
bộ phận đáng kể luôn luôn biến động, do vậy khi sử dụng, Ngân hàng phải luôn dựtrự để đảm bảo khả năng thanh toán chi trả Ngoài ra, các NHTM còn huy độngvốn từ việc vay NHNN, vay trên thị trường liên ngân hàng, vay từ thị trường vốnthế giới hoặc vốn do được tài trợ, nhận uỷ thác đầu tư…
2.Hoạt động sử dụng vốn.
Hoạt động sử dụng vốn được tiến hành thông qua hoạt động ngân quỹ, hoạtđộng tín dụng và hoạt động đầu tư
Trang 4Một NHTM, để tồn tại và phát triển, trước tiên phải đảm bảo khả năng thanhtoán Nếu Ngân hàng không thanh toán được cho khách hàng sẽ dẫn đến sự ồ ạt rúttiền trong dân chúng và sự sụp đổ là điều khó có thể tránh Để tránh rủi ro này,Ngân hàng luôn có hoạt động về ngân quỹ nhằm đảm bảo khả năng thanh toán Vìvậy, hoạt động ngân quỹ là sự bảo hiểm cho Ngân hàng trước những chi phí khi cóluồng tiền mặt lớn rút ra.
Xét trên góc độ kinh doanh, thì hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất,quyết định sự tồn tại của Ngân hàng Nếu không cho vay được, sẽ không có thunhập thì Ngân hàng sẽ bị phá sản Hoạt động tín dụng bao gồm: hoạt động cho vay,hoạt động chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tàichính và các hình thức khác theo quy định của NHNN Phần lớn nguồn vốn củaNHTM được sử dụng để cho vay (chiếm khoảng 70%) Có nhiều loại cho vay khácnhau tuỳ theo phương thức phân lọai: theo thời hạn cho vay, theo mục đích sửdụng vốn vay, theo đối tượng vay, theo hình thức bảo đảm vốn vay… Vì đây lànguồn mang lại lợi nhuận chủ yếu nhưng có độ rủi ro cao nên các Ngân hàng cầnphải quan tâm nâng cao chất lượng của hoạt động này
Hoạt động đầu tư: chủ yếu tập trung vào thị trường chứng khoán, thông thườngNgân hàng mua bán chứng khoán có chất lượng cao và tương đối dài hạn trên thịtrường như tín phiếu kho bạc, các giấy tờ có giá khác và thu lãi thông qua chênhlệch giá bán và giá mua Mặt khác, NHTM cũng đầu tư thông qua mua bán cácchứng khoán có tính lỏng cao nhằm thu lợi nhuận và hỗ trợ cho dự trữ Ngân hàng
3.Hoạt động trung gian thanh toán.
Ngân hàng thực hiện các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng, thông qua đónhận được thu nhập dưới dạng phí dịch vụ hay hoa hồng Qua sự uỷ thác của kháchhàng, Ngân hàng chuyển tiền, thu- chi hộ các khoản tiền căn cứ vào chứng từ màkhách hàng giao cho Các dịch vụ chủ yếu như: dịch vụ thanh toán hộ, dịch vụchuyển tiền, đại lý phát hành và bán chứng khoán cho các công ty, dịch vụ tư vấn,dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá,cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch
vụ khác theo quy định của pháp luật
Các họat động này có độ rủi ro thấp hơn hoạt động tín dụng trong khi vẫnđem lại nguồn thu nhập lớn cho Ngân hàng
Trang 5Tóm lại, tất cả các hoạt động của NHTM đều rất quan trọng và liên quanchặt chẽ với nhau Hoạt động huy động vốn là tiền đề tạo vốn tích lũy cho các hoạtđộng khác Hoạt động tín dụng và đầu tư đem lại thu nhập cho Ngân hàng Còn cáchoạt động dịch vụ thu hút thêm khách hàng, tạo điều kiện cho việc mở rộng hoạtđộng huy động tiền gửi và kinh doanh của NHTM Tuy nhiên, hoạt động tín dụngvẫn là hoạt động quan trọng nhất quyết định đến kết quả kinh doanh của mộtNHTM.
III HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
Còn theo Mark, nói lên bản chất bên trong của tín dụng: “ Tín dụng là sựvận động của tư bản cho vay”
Trong lịch sử, tín dụng đã xuất hiện từ khi xã hội có phân công lao động, sảnxuất và trao đổi hàng hoá Trong quá trình trao đổi hàng hoá đã hình thành những
sự kiện nợ nần lẫn nhau, phát sinh những quan hệ vay mượn để thanh toán Đâychính là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất kinh doanh thực hiện dưới hìnhthức mua bán chịu hàng hoá hay còn đuợc gọi là tín dụng thương mại Tuy nhiên,hình thức tín dụng này có những mặt hạn chế mà chỉ có tín dụng ngân hàng mớikhắc phục được, nó thể hiện:
Tín dụng thương mại là tín dụng hàng hoá do vậy có những hạn chế về khônggian địa lý
Tổng số tín dụng bị giới hạn bởi quy mô của vốn tín dụng tạm thời nhàn rỗitrong các đơn vị có quan hệ mua bán hàng hoá với nhau
Cán cân tín dụng thương mại bị giới hạn bởi sự luân chuyển đều đặn hay khôngcủa vốn trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá Do dó, tín dụng thươngmại mang tính chất thời điểm, khi nhu cầu sản xuất tăng thì họ đòi thanh toánngay
Trang 6Tín dụng thương mại bị giới hạn về mục đích sử dụng Nó chỉ diễn ra với cácđơn vị liên quan trực tiếp với nhau trong mua bán hàng hoá
Như vậy tín dụng thương mại tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá, thúc đẩysản xuất kinh doanh phát triển nhưng nó vẫn có giới hạn nhất định Do dó, đòi hỏiphải có sự ra đời của tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay (ngân hàng)
và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) , trong đó bên cho vaychuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo cácđiều kiện đảm bảo thoả thuận giữa hai bên, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốngốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
Có thể hiểu là, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng cao nhất của nền kinh
tế hàng hoá, nó biểu hiện mối quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngânhàng – tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, với một bên là tất cả các tổchức cá nhân trong xã hội Quan hệ này được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, bìnhđẳng và cùng có lợi
Như vậy, tín dụng luôn là một quan hệ kinh tế của nền sản xuất hàng hoá- tiền
tệ Mục đích và tính chất của tín dụng do mục đích và tính chất của nền sản xuấthàng hoá trong xã hôi quyết định Sự vận động của tín dụng luôn luôn chịu sự chiphối của các quy luật kinh tế, phương thức sản xuất trong xã hội đó Nền kinh tếsản xuất hàng hoá càng phát triển thì tín dụng càng giữ vai trò quan trọng trongviệc thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá Do chuyên môn hoá trong kinhdoanh, tín dụng ngân hàng đã phát triển ngày càng mạnh, phạm vi hoạt động ngàycàng rộng và tập trung phần lớn hoạt động tín dụng trong xã hội
Bản chất của tín dụng ngân hàng là sự vận động của vốn tiền tệ thông quangân hàng Ngân hàng bằng các nghiệp vụ với các hình thức huy động vốn khácnhau, huy động lượng tiền nhàn rỗi trong lưu thông, tạo thành nguồn vốn lớn.Đồng thời, ngân hàng sử dụng chính nguồn vốn này đem cho vay với lãi suất caohơn lãi suất huy động vào
Quan hệ tín dụng ngân hàng cũng như các quan hệ tín dụng khác đều mang
3 đặc trưng cơ bản:
Chỉ thay đổi quyền sử dụng mà không thay đổi quyền sở hữu vốn tín dụng
Trang 7Có thời hạn tín dụng được xác định do thoả thuận giữa người cho vay và người
2 Tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường là tất yếu khách quan.
Trong nền kinh tế thị trường tiền tệ trở thành một phạm trù kinh tế chủ đạo,mọi quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hoá Với các chức năng vốn có của mình, nótham gia vào quá trình tuần hoàn vốn và trong quá trình đó tại một thời điểm sẽphát sinh tình trạng nhàn rỗi tạm thời và tạm thời thiếu vốn ở từng doanh nghiệpcũng như toàn bộ nền kinh tế
Nguyên nhân dẫn tới tình trạng tạm thời thừa vốn.
- Do việc thu và chi Ngân sách không xảy ra đồng thời, thông thường cáckhoản thu thì tập trung, theo định kỳ, còn các khoản chi thì lại tiến hành dần dần,cho nên trong một thời gian nhất định có tiền tệ tạm thời nhàn rỗi Mặt khác,trong quá trình thực hiện việc tổ chức và quản lý nền kinh tế, quản lý xã hội Nhà nước hình thành quỹ dự trữ tiền tệ tập trung
- Nguồn vốn bằng tiền trong các doanh nghiệp không ngừng vận động qua cáckhâu của quá trình sản xuất kinh doanh Trong quá trình luân chuyển này, trongtừng giai đoạn từng khâu sẽ xuất hiện các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi như: lươngcông nhân chưa đến kỳ phải trả, tiền chưa trả do mua chịu hàng hoá, lợi nhuậncủa doanh nghiệp chưa chia
- Vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các tầng lớp dân cư
Trong quá trình tái sản xuất xã hội và phân phối thu nhập quốc dân đã tạo chocác tầng lớp dân cư những khoản thu nhập bằng tiền Các khoản thu nhập này, mộtphần chi tiêu trong thời gian ngắn và một phần tích luỹ lại với thời gian lâu hơn
Trang 8phục vụ cho nhu cầu chi tiêu lớn hoặc chi tiêu trong tương lai Phần này hình thànhnên một lượng tiền tệ nhàn rỗi.
- Cuối cùng là vốn tiền tệ của các chủ thể nước ngoài tạm thời nhàn rỗi
Một Chính phủ nước ngoài vì một lý do nào đấy muốn tham gia vào một tổchức quốc tế hay để đảm bảo an toàn cho nền kinh tế cũng như ổn định đồng tiềnnước họ thường dự trữ một khoản tiền tại một Ngân hàng ở nước khác hay mộtđịnh chế tài chính quốc tế Một cá nhân, doanh nghiệp muốn tạo điều kiện thuậnlợi cho thanh toán quốc tế, thường gửi tiền của mình tại một Ngân hàng có uy tín ởnước ngoài
Các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trên không thể để chúng nằm yên, bởi
vì không đem lại thu nhập cho người sở hữu chúng Thực tế đòi hỏi chúng cần phảiđược gửi vào các cơ quan tín dụng để đem lại thu nhập
Ngược lại trong quá trình tuần hoàn vốn của xí nghiệp, tổ chức kinh tế ngườisản xuất kinh doanh, cá nhân tiêu dùng cũng như trong toàn xã hội có lúc lại phátsinh tình trạng thiếu vốn tiền tệ Tình trạng này tồn tại do một số nguyên nhân
- Đối với các doanh nghiệp:
+ Thiếu vốn cố định: Tài sản cố định đóng vai trò rất cần thiết đối với nền sản
xuất xã hội Tăng cường tài sản cố định đối với một đơn vị kinh tế cũng như đốivới toàn bộ nền sản xuất quốc dân là điều kiện rất quan trọng để nâng cao năngsuất lao động, tăng cường tiềm lực kinh tế Song không phải lúc nào trong quátrình tái sản xuất số tiền trích khấu hao và các nguồn vốn khác thuộc vốn cố địnhcũng đủ để chi cho các chi phí về sửa chữa và mua sắm tài sản cố định Vì vậy dẫnđến hiện tượng nhu cầu cần vay vốn của các doanh nghiệp
+ Thiếu vốn lưu động: Vốn lưu động là số vốn ứng trước về tài sản lưu động sản
xuất và lưu thông Trong doanh nghiệp và trong các tổ chức kinh doanh vốn lưuđộng là nguồn không thể thiếu của quá trình sản xuất kinh doanh, nó được phân bổtrên các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất và được thể hiện dưới nhiềuhình thức khác nhau Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn rathông suốt, các doanh nghiệp phải duy trì lượng vốn lưu động ở một mức nhấtđịnh Đặc điểm của vốn lưu động là luân chuyển không ngừng, luôn thay đổi hìnhthái biểu hiện và hoàn thành 1 vòng tuần hoàn trong một chu kỳ sản xuất Trong
Trang 9quá trình luân chuyển của vốn lưu động, đôi khi chúng có thể thiếu và ngay lập tứccần được bổ sung, do đó xuất hiện nhu cầu vay vốn.
- Để phát triển đất nước Chính phủ thường đầu tư vào các dự án lớn như cơ sở hạtầng, các công trình mang tính sống còn đối với lợi ích quốc gia mà tư nhân không
có đủ khả năng và điều kiện thực hiện Nguồn vốn của Chính phủ được lấy từNgân sách Nhà nước, nhưng đôi khi Ngân sách Nhà nước không đủ và chính phủphải đi vay
- Với người tiêu dùng đôi khi có những khoản phải chi tiêu bất thường hoặcnhững khoản chi tiêu nằm ngoài khả năng tài chính hiện thời của họ nhưng họ cókhả năng bù đắp những thiếu hụt đó trong tương lai Điều này dẫn tới nhu cầu vaytiêu dùng của các cá nhân
Để cho cả những người thừa vốn và thiếu vốn cùng “giầu có” hơn, thì nhữngngười thừa vốn cần phải tiến hành cho những người cần vốn vay vốn Luồng vốn
từ những người thừa vốn chảy sang những người thiếu vốn theo hai con đường:Trực tiếp và Gián tiếp
Trực tiếp là việc những người cần vốn nhận được vốn từ những người thừa vốnbằng cách vay trực tiếp hoặc bằng cách phát hành các công cụ nợ
Gián tiếp là việc những người cần vốn nhận được khoản vốn mình cần từ nhữngngười thừa vốn thông qua một tổ chức tài chính trung gian như các Ngân hàngthương mại, các Công ty tài chính, Công ty bảo hiểm, các Quỹ tín dụng
Trên thực tế những người cần vốn chủ yếu nhận được khoản vốn mình cầnthông qua con đường gián tiếp này, trong đó nổi bật nhất vai trò của các NHTM
Sở dĩ các Ngân hàng thương mại làm được điều này là vì: Với đặc điểm và uy tíncủa mình Ngân hàng có ưu thế hơn các định chế tài chính khác trong việc huy độngcác nguồn vốn từ nhỏ tới lớn, từ tất cả các thành phần khác nhau trong xã hội và nócũng là tổ chức tích cực nhất trong việc tìm khách hàng cho mình từ phía nhữngngười cần vốn Trong nền kinh tế hiện đại thì các Ngân hàng thương mại là địnhchế không thể thiếu được nếu không nói là quan trọng nhất
Như vậy tín dụng ngân hàng xuất hiện là một tất yếu khách quan.
Trang 103 Vai trò tín dụng của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.
Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp để duy trì và
mở rộng quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Là trung gian điều hoà lượng cung cầu về vốn cho nền kinh tế, tín dụng ngânhàng làm nhiệm vụ dẫn đường cho nguồn vốn chảy từ nơi thừa tới nơi thiếu vốn
Vì trong hoạt động kinh doanh tại một thời điểm luôn phát sinh 2 loại nhu cầu: chovay vốn để hưởng lợi và nhu cầu vay vốn để tiến hành sản xuất kinh doanh là điềutất yếu Cả 2 nhu cầu này là ngược nhau nhưng có cùng mục tiêu an toàn, sinh lời
và đều là tạm thời Nếu được thoả mãn thì 2 bên cùng có lợi Tín dụng ngân hàng
đã thực hiện chức năng huy động tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi để đưa vào sửdụng theo nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi trong một khoảng thời gian nhất địnhvới tốc độ nhanh và hiệu quả hơn, thoả mãn nhu vốn tạm thời, bổ sung cho quátrình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tín dụng ngân hàng là công cụ đắc lực cho ngành kinh tế kém phát triển
và những ngành kinh tế mũi nhọn
Bằng việc sử dụng lãi suất ưu đãi đối với những ngành kinh tế mũi
nhọn cũng như những ngành kinh tế kém phát triển nhưng cần thiết cho quốc kếdân sinh, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy những ngành kinh tế này pháttriển Mặt khác với đặc trưng hoàn trả cả vốn lẫn lãi đã thể hiện sự ưu việt hơn củatín dụng ngân hàng so với việc ngân sách đầu tư vào lĩnh vực đó Vì khi được cấpvốn Ngân sách thì người sử dụng ít quan tâm đến việc sử dụng vốn một cách cóhiệu quả bởi nguồn vốn này được cấp phát mà không phải hoàn trả
Tín dụng ngân hàng có vai trò quyết định đến sự ổn định của lưu
thông tiền tệ.
Trong nền kinh tế thị trường việc chú trọng đến phát triển lưu thông hàng hoáphải luôn gắn với việc ổn định lưu thông tiền tệ Do tính ưu việt của mình tín dụngngân hàng đóng vai trò quan trọng quyết định đến sự ổn định của lưu thông tiền tệ.Trước hết Ngân hàng là kênh quan trọng để đưa tiền vào lưu thông, có khả năngkiểm soát được khối lượng tiền sao cho phù hợp với lưu thông hàng hoá Nếu tíndụng ngân hàng dược thực hiện một cách có hiệu quả sẽ đảm bảo khối lượng tiền
Trang 11cung ứng phù hợp Vì khi cho vay Ngân hàng đã đưa tiền vào lưu thông Mặc kháccùng với chức năng tạo tiền, các NHTM có khả năng mở rộng tiền gửi làm tăngkhối lượng tiền trong lưu thông Vì vậy NHTW phải sử dụng công cụ chính sáchtiền tệ để thực hiện điều tiết hoạt động tín dụng của các NHTM như: tỷ lệ dự trữbắt buộc, lãi suất chiết khấu, hạn mức tín dụng từ đó có thể quản lý được lượngtiền mặt trong lưu thông nhằm đạt mục tiêu mong muốn.
Tín dụng ngân hàng có vai trò kiểm soát nền kinh tế.
Xuất phát từ chức năng phân phối vốn tiền tệ, tín dụng ngân hàng có thể kiểmsoát được hoạt động kinh tế trong quá trình huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi đểcho vay Thông qua việc huy động vốn của các doanh nghiệp và các tầng lớp dân
cư trong xã hội và việc tổ chức thanh toán khách hàng, Ngân hàng có thể đánh giátình hình tiêu thụ sản phẩm, tình hình sản xuất cũng như khả năng chi trả củakhách hàng thông qua biến động số dư trong tài khoản Trong quá trình cho vay,Ngân hàng luôn phải đề phòng nguy cơ rủi ro có thể xảy ra, phải thường xuyênphân tích khả năng tài chính của khách hàng, giám sát kiểm tra hoạt động sản xuấtkinh doanh của họ để có thể điều chỉnh, tác động kịp thời khi cần thiết Từ đó,Ngân hàng có khả năng tập hợp được tình hình sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp đồng thời góp những ý kiến để điều chỉnh kịp thời khi có sự mất cân đổitrong cơ cấu kinh tế
Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại
Hiện nay với xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế của một quốc gia luôn gắn liềnvới nền kinh tế thế giới Đầu tư vốn ra nước ngoài và hoạt động xuất nhập khẩuhàng hoá đã và đang là 2 lĩnh vực hợp tác kinh tế thông dụng giữa các nước Vốn
là yếu tố quyết định đầu tiên cho sự hợp tác này Trong nền kinh tế hội nhập hiệnnay thì các đơn vị không thể chỉ vay vốn từ các tổ chức tín dụng trong nước mà cóthể vay vốn từ các tổ chức quốc tế Chúng ta đã và đang tham gia vào các tổ chứctài chính quốc tế như WB, IFM và các thị trường tài chính lớn trên thế giới cũngnhư có các đại lý Ngân hàng tại các nước khác nhau trên thế giới Tín dụng ngânhàng đã trở thành một phương tiện nối liền các nền kinh tế trên thế giới lại vớinhau Như vậy đối với những nước đang phát triển như nước ta thì tín dụng ngân