1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY MAY ĐỨC GIANG

59 522 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng về phương pháp phân tích tài chính của Công tyMay Đức Giang
Tác giả Nguyễn Thị Vân Khánh
Trường học Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Chuyên đề Thực tập Tài chính Doanh nghiệp
Thể loại Chuyên đề thực tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 339,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới đây là một số chỉ tiêu tổng hợp về tình hình của công ty trong 4năm gần đây: Bảng 1: Chỉ tiêu tổng hợp về tình hình tài chính của công ty may Đức Giang Đơn vị: 1000đồng Qua bảng tổ

Trang 1

THỰC TRẠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

CỦA CÔNG TY MAY ĐỨC GIANG I-TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY MAY ĐỨC GIANG

Công ty May Đức Giang, tên giao dịch quốc tế: DUCGIANG IMPORT - EXPORT - GARMENT COMANY Tên tắt là: DUGARCO

-Là một doanh nghiệp nhà nước, sản xuất và kinh doanh các sản phẩmmay mặc, trực thuộc Tổng công ty Dệt - May Việt Nam - Bộ công nghiệp Trụ sở chính của Công ty đặt tại: 59 Phố Đức Giang - Gia Lâm - HàNội

Thành lập ngày: 2/5/1989

Hiện nay có tổng số lao động: 3096 người

1-Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty may Đức giang

Năm 1989, trước tình hình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, nhiều doanhnghiệp đã bị giải thể hoặc phá sản do không thích ứng được với sự vận độngcủa cơ chế mới Từ chỗ nắm bắt được xu hướng phát triển của nền kinh tếthế giới và nhà nước, với những điều kiện hiện có, ngày 2 tháng 5 năm

1989 một phân xưởng may được thành lập trên diện tích của Tổng kho vận

I - Liên hiệp các xí nghiệp may tại Thị trấn Đức Giang - tiền thân của Công

ty May Đức Giang ngày nay Lúc đó cơ sở vật chất kỹ thuật còn rất nghèonàn lạc hậu, với 5 gian nhà kho đã hết khấu hao, trên 100 máy may cũ củaLiên Xô và một đội xe vận tải gồm 7 đầu xe, lực lượng lao động gồm 27công nhân coi kho và trên 20 cán bộ công nhân viên dôi ra qua sắp xếp lạibiên chế của Liên hiệp các xí nghiệp may Năm 1990 phân xưởng được Bộcông nghiệp nhẹ tổ chức thành lập “Xí nghiệp sản xuất và dịch vụ may ĐứcGiang” theo quyết định số 102/CNn-TCLĐ ngày 23/2/1990 của Bộ côngnghiệp nhẹ

Nguyễn thị Vân Khánh

Trang 2

Ngay từ khi mới thành lập, Xí nghiệp sản xuất và dịch vụ may ĐứcGiang gặp không ít khó khăn thách thức về đội ngũ kỹ thuật, máy móc thiết

bị, về bạn hàng, về thị trường Cụ thể thị trường cũ là Đông Âu và Liên Xô

từ những năm đầu của thập kỷ 90 không còn nữa, thị trường mới chưa có,yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng sản phẩm ngày càng cao Đứng trước tìnhhình đó, công ty mạnh dạn mua sắm đầu tư cho các dây chuyền sản xuấthiện đại, nhằm chiếm lĩnh thị trường Năm 1991 xí nghiệp thành lập 2 phânxưởng sản xuất mới với 16 dây chuyền, đầu tư 1 giàn máy thêu điện tửTAJIMA 12 đầu của Nhật

Năm 1992, trước yêu cầu thực tế trong quan hệ bạn hàng, Bộ côngnghiệp nhẹ đã cho phép xí nghiệp sản xuất và dịch vụ may Đức Giang đổitên thành Công ty May Đức Giang theo quyết định số 1274/QĐCNn -TCLĐ ngày 12/12/1992

Tháng 3/1993, Bộ trưởng bộ Công nghiệp nhẹ có quyết định số221/CNn-TCLĐ v/v “Thành lập doanh nghiệp nhà nước theo quy định 338/HĐBT ngày 20/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, nay là Thủ tườngChính phủ” Theo quyết định này, Công ty May Đức Giang đã chính thứctrở thành một doanh nghiệp Nhà nước, có con dấu riêng

Tháng 9/1993, công ty được cầp giấy phép kinh doanh xuất khẩu số102.1046/GP ngày 6/9/1993 của Bộ thương mại Từ đây Công ty May ĐứcGiang lấy tên giao dịch là Công ty xuất nhập khẩu May Đức Giang(DUCGIANG - IMPORT - EXPORT - GARMENT COMPANY)

Ngày 28/11/1/994, Bộ công nghiệp ra quyết định số 1247/CNn-TCLĐv/v “Chuyển đổi tổ chức bộ máy quản lý và cơ cấu sản xuất của Công tyMay Đức Giang” Từ sự chuyển đổi tổ chức bộ máy quản lý và cơ cấu sảnxuất của Công ty, hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được chútrọng phát triển cả về bề rộng và chiều sâu Với sự điều hành của tổ chức bộmáy quản lý mới và sự nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên, Công ty

Trang 3

đã hoàn thành tốt các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh Năm 1996, Công ty đãliên doanh với một số đơn vị ngoại tỉnh: Việt Thành (Bắc Ninh), Việt Thanh(Thanh Hoá), Hưng Nhân (Thái Bình).

Tháng 3/1998, Công ty đã được Tổng Công ty Dệt May Việt Nam-Bộcông nghiệp cho phép sát nhập Công ty May Hồ Gươm vào, do đó qui môcủa Công ty được mở rộng nhiều so với trước, số nhân công, máy móc thiết

bị, nhà xưởng cũng tăng lên

Tính đến nay, Công ty có 6 xí nghiệp cắt may hoàn chỉnh, 1 xí nghiệpgiặt mài, 1 xí nghiệp thêu điện tử với 3096 cán bộ công nhân viên,có hơn

2018 máy may công nghiệp và nhiều máy móc thiết bị chuyên dùng tiêntiến của Nhật, CHLB Đức, có hệ thống giác sơ đồ trên máy vi tính, có 4máy thuê điện tử TAJIMA 12 đầu và 20 đầu của Nhật Điều, dây chuyền giặtmài tiên tiến Năng lực sản xuất đạt trên 1.5 triệu áo Jacket một năm (tươngđương trên 7 tiệu sản phẩm áo sơ mi) Đáng quan tâm nhất là tháng 1/1999Công ty xây dựng thực hiện và duy trì hệ thống quản lý chất lượng phù hợptheo tiêu chuẩn ISO 9002

Đứng trước những đòi hỏi khắt khe của cơ chế thị trường, tập thể cán

bộ công nhân viên trong Công ty May Đức Giang đã duy trì ý chí phấn đấuvươn lên Công ty luôn bảo toàn và phát triển vốn, không ngừng nâng caohiệu quả sản xuất, kinh doanh tốc độ tăng trưởng bình quângân hàngàngnăm đạt trên 30% Đến nay công ty Đức Giang đã có quan hệ bạn hàng với

46 khách hàng ở 21 nước trên thế giới, chủ yếu là Nhật Bản, Hồng Kông,Hàn Quốc , khối EEC, Trung Cận Đông nhiều khách hàng lớn có uy tíntrên thị trường may mặc quốc tế như hãng HABITEX(Bỉ),SEIDENSTICKER(Đức), FLEXCON, LEIURE, đã có quan hệ bạngânhàngàng nhiều nămvới những hợp đồng sản xuất gia công khối lượng lớn,tạo đủ việc làm cho cán bộ công nhân viên của công ty và các đơn vị liêndoanh tại địa phương Chính vì sự cố gắng của toàn công ty mà chỗ đứng Nguyễn thị Vân Khánh

Trang 4

của Công ty May Đức Giang ngày càng được củng cố trong “làng may”Việt Nam và trên thị trường may mặc quốc tế Đồng thời Công ty đã đượcđón nhận nhiều phần thưởng cao quí do Đảng và Nhà nước trao tặng Vànăm 2000, công ty may Đức Giang được công nhận là một trong những đơn

vị đứng đầu ngành dệt may Việt Nam Tuy là doanh nghiệp trẻ nhưng công

ty may Đức Giang đã cố gắng đứng vững và phát triển trong môi trườngkinh tế cạnh tranh khốc liệt

Dưới đây là một số chỉ tiêu tổng hợp về tình hình của công ty trong 4năm gần đây:

Bảng 1: Chỉ tiêu tổng hợp về tình hình tài chính của công ty may Đức

Giang

Đơn vị: 1000đồng

Qua bảng tổng kết trên ta thấy tình hình sản xuất kinh doanh của Công

ty ngày càng phát triển Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kế hoạch chủ yếucủa Công ty năm sau cao hơn năm trước, đặc biệt thu nhập bình quân mộtngười/tháng tăng rõ rệt Điều đó khẳng định xu hướng đi lên của Công ty,chính sách chiến lược và mục tiêu kinh tế của Công ty được triển khai thựchiện một cách đúng đắn và có hiệu quả

Trang 5

2-Đặc điểm của công ty may Đức Giang

2.1-Chức năng: Công ty May Đức Giang - một doanh nghiệp Nhà

nước trực thuộc Tổng công ty Dệt - May Việt Nam - Bộ công nghiệp, là đơn

vị sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu ngành may mặc Công ty được quyền

sử dụng vốn của các đơn vị kinh tế để phát triển sản xuất kinh doanh theođúng pháp luật, được mở các cửa hàng, đại lý bán hàng, giới thiệu và bánsản phẩm, đặt chi nhánh, văn phòng đại diện trong nước và nước ngoài.Công ty May Đức Giang là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập có tư cáchpháp nhân, có tài khoản tại ngân hàng, có con dấu riêng để giao dịch theoqui định của pháp luật

2.2-Nhiệm vụ: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, Công

ty May Đức Giang phải đảm nhận một số nhiệm vụ chính sau:

+ Tổ chức sản xuất - kinh doanh xuất nhập khẩu đúng ngành nghề,đúng mục đích thành lập Công ty

+ Xây dựng, triển khai thực hiện kế hoạch sản xuất và phát triển phùhợp với mục tiêu của Công ty và nhiệm vụ mà Tổng Công ty Dệt May giaocho

+ Chủ động tìm hiểu thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng kinhtế

+ Trên cơ sở các đơn đặt hàng, tiến hành xây dựng kế hoạch sản xuất,

kỹ thuật, tài chính, các kế hoạch tác nghiệp và tổ chức thực hiện kế hoạch.+ Thực hiện nghĩa vụ đối với người lao động theo qui định của luậtpháp

+ Bảo toàn vốn và phát triển vốn được Nhà nước giao, thực hiện cácnhiệm vụ và nghĩa vụ đối với Nhà nước

Công ty May Đức Giang là một trong những doanh nghiệp đang hoạtđộng sản xuất và gia công xuất khẩu hàng may mặc, đây là lĩnh vực được Nguyễn thị Vân Khánh

Trang 6

nhà nước quan tâm để đầu tư và phát triển Vì ngành dệt - may được xácđịnh là ngành mũi nhọn của Việt Nam và lĩnh vực sản xuất, gia công hàngxuất khẩu đang được Nhà nước ưu tiên phát triển.

3-Đặc điểm tổ chức sản xuất

3.1-Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm

Qui trình công nghệ may tương đối phức tạp, gồm nhiều khâu, nhiềucông đoạn, trong mỗi công đoạn lại có những bước công việc khác nhau.Mỗi chủng loại sản phẩm khác nhau có số lượng các chi tiết khác nhau vànhư vậy nó có số lượng bước công việc khác nhau, những bước công việcnày được sản xuất kế tiếp nhau một cách liên tục Song tất cả các sản phẩmđều trải qua một số công đoạn sau và nó được sắp xếp khá hợp lý theo sơ đồdòng chảy

Sơ đồ 3.1 : Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm

Nhà mayMay cổ may tay Ghép thành sản phẩm

Nhà cắtTrải vải giáp mẫu đánh số cắt nhập kho nhà cắt

Nguyên

vật

liệu

Trang 7

3.2-Thiết bị sản xuất của Công ty may Đức Giang

Với việc thiết kế quy trình công nghệ như trên, để đáp ứng nhu cầungày càng cao của khách hàng về chất lượng sản phẩm, tiến độ giao hàng,thời gian qua Công ty may Đức Giang đã chú ý quan tâm đầu tư và đổi mớithiết bị Từ chỗ chỉ có trên 100 máy Liên Xô cũ đến nay Công ty đã có trên

1900 thiết bị máy móc các loại thể hiện ở biểu sau

Bảng 2: Tổng hợp danh mục thiết bị của Công ty năm 2001

STT TÊN MÁY MÓC THIẾT BỊ SỐ LƯỢNG TÊN NƯỚC SẢN XUẤT

15 Máy ép măng séc, cổ, thân 13 Ongkon

18 Máy cắt vòng 9 (Nhật: 2 chiếc; Việt Nam: 7 chiếc)

Trang 8

Tổng 1920

Qua biểu tổng hợp máy móc thiết bị của Công ty may Đức Giang, hệthống máy móc rất đa dạng, hiện đại, hầu hết là các loại máy bán tự động,chuyên dùng đây là điều kiện thuận lợi cho Công ty trong việc nâng caochất lượng sản phẩm, thực hiện chuyên môn hóa, đa dạng hóa sản phẩm, hạgiá thành, từ đó sản phẩm được chấp nhận tiêu thụ Song, máy móc hiện đạinhư vậy, khi có sự cố phải hiệu chỉnh, sửa chữa công phu, phụ tùng thay thếkhan hiếm, tốn kém ảnh hưởng tới thời gian và năng suất lao động

3.3- Đặc điểm kết cấu tổ chức sản xuất của Công ty May Đức Giang

Do qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm là phức tạp kiểu kiên tục,loại hình sản xuất hàng loạt, số lượng sản phẩm lớn, chu kỳ sản xuất ngắngọn, Công ty May Đức Giang tổ chức sản xuất như sau:

3.3.1-Bộ phận sản xuất chính: Bao gồm:

-Sáu xí nghiệp cắt may (xí nghiệp may 1, 2, 4, 6, 8, 9) có nhiệm vụnhận nguyên liệu từ kho về, căn cứ vào định mức phòng kỹ thuật ban hànhgiác sơ đồ, cắt, may thành sản phẩm hoàn chỉnh và nhập kho, làm việc theoqui trình công nghệ khép kín

-Xí nghiệp thêu điện tử: Nhận bán thành phẩm từ nhà cắt rồi thêu và trảlại nhà cắt để giao cho bộ phận may Xí nghiệp thêu có nhiệm vụ đáp ứngđầy đủ, kịp thời bán thành phẩm cho 6 xí nghiệp cắt may, ngoài ra còn nhậngia công cho một số đơn vị bạn, thường xuyên liên hệ với nhau bằng điệnthoại để đảm bảo tiến độ cho khách hàng

-Xí nghiệp giặt mài: Giặt tẩy các sản phẩm theo đơn đặt hàng củakhách hàng, phối hợp với các xí nghiệp may để đảm bảo thời gian giaohàng

3.3.2-Bộ phận sản xuất phụ:

Trang 9

-Ban cơ: có nhiệm vụ lắp đặt dây chuyền sản xuất theo qui trình công

nghệ, gia công chế tạo các cữ gá, sửa chưac thiết bị máy móc trong toàncông ty, quan tâm theo dõi để đáp ứng kịp thời mọi sự cố về thiết bị máymóc

-Ban điện: có nhiệm vụ lắp đặt hệ thống điện sản xuất và sinh hoạt

trong toàn Công ty, thường xuyên theo dõi kiểm tra an toàn về điện, hướngdẫn cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty nội dung an toàn lao động vàphòng chống cháy nổ

3.3.3-Bộ phận phục vụ

-Kho nguyên liệu: Tiếp nhận vật tư do khách hàng cung cấp, tiến hànhkiểm tra, đo khổ, sắp xếp theo khách hàng, chủng loại Sau đó căn cứ địnhmức và lệnh sản xuất của phòng ban chức năng ban hành, làm nhiệm vụ cấpphát vật tư (vải, bông, dựng) đến từng xí nghiệp

-Kho phụ liệu: Có nhiệm vụ như kho nguyên liệu, nhưng vật tư ở đây làcác loại phụ liệu như: chỉ, khoá, cúc và các loại thẻ bài, nhãn mác

-Kho phụ tùng: Có nhiệm vụ quản lý và cấp phát phụ tùng, thiết bịmáy may, máy cắt chuyển đổi các loại máy theo yêu cầu thiết kế chuyềncủa xí nghiệp may

-Xưởng bao bì: Trực tiếp sản xuất và cung cấp thùng carton cho xưởnghoàn thành đảm bảo đúng kích cỡ và mẫu mã mà khách hàng yêu cầu.Ngoài ra còn kí hợp đồng gia công cho một số đơn vị khác ngoài công ty -Phân xưởng hoàn thành: Tiếp nhận toàn bộ sản phẩm từ các xí nghiệpmay trong công ty và các xí nghiệp liên doanh, sắp xếp theo khách hàng, mãhàng, đơn hàng, đóng hòm và vận chuyển lên container khi có lệnh giaohàng

-Đội xe: Làm nhiệm vụ vận chuyển phục vụ nhu cầu xuất nhập trongtoàn công ty và các xí nghiệp liên doanh

Nguyễn thị Vân Khánh

Trang 10

Nhìn chung, do tính chất công việc của từng bộ phận khác nhau, nên

nó có chức năng nhiệm vụ khác nhau, nhưng chúng đều có mối quan hệkhăng khít với nhau nhằm đáp ứng mục đích cuối cùng của Công ty là: đảmbảo cung cấp cho khách hàng sản phẩm có chất lượng cao, giao hàng đúngtiến độ và giá cả hợp lý

Kết cấu tổ chức sản xuất của Công ty được thể thiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 3.3: Kết cấu tổ chức sản xuất

Kho Kho Kho

nguyên liệu phụ liệu phụ tùng

Bộ phận sản xuất chính

Bộ phận sản xuất phụ

XN may 1

XN may 2

XN may 4

XN may

6

XN may 8

XN may 9

XN thêu

XN giặt

Hoàn thành

Xưởng bao bì

Trang 11

4- Đặc điểm tổ chức quản lý của Công ty May Đức Giang

Công ty May Đức Giang là một đơn vị hạch toán kinh tế, kinh doanhđộc lập, để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, vấn đề tổchức quản lý của Công ty được sắp xế, bố trí theo cơ cấu trực tuyến chứcnăng Trên có công ty và ban giám đốc công ty : lãnh đạo và chỉ đạo trựctiếp từng xí nghiệp, giúp cho ban giám đốc, các phòng ban chức năng vànghiệp vụ được tổ chức theo yêu cầu của việc quản lý kinh doanh chịu sựchỉ đạo trực tiếp của ban giám đốc Trong đó, tổng giám đốc công ty làngười đứng đầu bộ máy lãnh đạo của công ty, chịu trách nhiệm chỉ huy toàn

bộ bộ máy quản lý Giúp việc cho tổng giám đốc gồm 3 phó tổng giám đốc,một kế toán trưởng và các trưởng phòng ban chức năng Ban giám đoóc baogồm:

-Tổng giám đốc: Là người có trách nhiệm cao nhất về các mặt sản xuất

kinh doanh của Công ty, là người chỉ đạo toàn bộ công ty theo chế độ thủtrưởng và đại diện cho trách nhiệm và quyền lợi của Công ty trước phápluật

-Phó tổng giám đốc xuất nhập khẩu: Là người tham mưu giúp việc choTGĐ, chịu trách nhiệm trước TGĐ về việc quan hệ, giao dịch với bạn hàng,các cơ quan quản lý hoạt động xuất - nhập khẩu, tổ chức triển khai nghiệp

vụ xuất nhập khẩu, xin giấy phép xuất nhập khẩu, tham mưu kí kết các hợpđồng gia công

-PTGĐ kinh doanh: Tham mưu giúp việc cho TGĐ, chịu trách nhiệmtrước TGĐ về việc tìm kiếm và thiết lập quan hệ với bạn hàng Lập kếhoạch sản xuất kinh doanh

-PTGĐ kỹ thuật: Tham mưu giúp việc cho TGĐ, tổ chức nghiên cứumẫu hàng về mặt kỹ thuật cũng như máy móc thiết bị bạn hàng đưa sang.Điều hành và giám sát hoạt động sản xuất trong toàn Công ty

Nguyễn thị Vân Khánh

Trang 12

Và các phòng ban chức năng của công ty bao gồm:

-Phòng tài chính kế toán: Có nhiệm vụ ghi chép, tính toán tình hìnhhiện có và biến động của tài sản, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhdưới hình thức giá trị và hiện vật của Công ty

-Văn phòng tổng hợp: Quản lý hành chính, quản lý lao động, ban hànhcác qui chế, qui trình, văn bản, tổ chức cá hoạt động xã hội trong toàn Côngty

-Phòng kế hoạch đầu tư: có nhiệm vụ lập kế hoạch sản xuất, kế hoạchtiêu thụ sản phẩm, quản lý thành phẩm, viết phiếu nhập, xuất kho, đưa racác kế hoạch hoạt động đầu tư cho ban giám đốc

-Phòng kinh doanh và xuất nhập khẩu: có nhiệm vụ giao dịch các hoạtđộng XNK liên quan đến vật tư, hàng hoá, giao dịch ký kết hợp đồng XNKtrong công ty với các đối tác nước ngoài

-Phòng kỹ thuật: có chức năng chỉ đạo kỹ thuật sản xuất dưới sự lãnhđạo của phó tổng giám đốc điều hành kỹ thuật, chọn lựa kỹ thuật hợp lý chomỗi quy trình, kiểm tra áp dụng kỹ thuật vào sản xuất có hợp lý hay không,

đề xuất ý kiến để tiết kiệm nguyên liệu mà vẫn đảm bảo yêu cầu sản xuất.-Phòng ISO: Có nhiệm vụ quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn của hệthống quản lý chất lượng ISO 9000 (ISO 9002)

-Phòng thời trang và kinh doanh nội địa: có nhiệm vụ nghiên cứu nhucầu thị trường về thời trang, nghiên cứu thiết kế mẫu mã chào hàng FOB,xây dựng định mức tiêu hao nguyên phụ liệu cho từng mẫu chào hàng, quản

lý các cửa hàng đại lý và cửa hàng giới thiệu sản phẩm của công ty

Bên dưới còn có các các xí nghiệp thành viên

Theo trên, ta thấy Công ty May Đức Giang thực hiện mô hình tổ chứcquản lý theo theo chế độ một thủ trưởng Tổng giám đốc không phải giảiquyết, điều hành các công việc, sự vụ hàng ngày và có điều kiện chỉ đạo tầm

Trang 13

vĩ mô, nắm bắt cơ hội trong lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh và biến

nó thành thời cơ hấp dẫn của Công ty, mở rộng quan hệ bạn hàng, tìm đốitác xây dựng phương án đầu tư

Nguyễn thị Vân Khánh

Trang 14

5-Đặc điểm công tác kế toán của Công ty May Đức Giang

Do đặc điểm về tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty là mô hìnhkhép kín, để tổ chức phù hợp với yêu cầu quản lý bộ máy kế toán của Công

ty may Đức Giang được tổ chức theo hình thức bộ máy kế toán tập trung.Toàn bộ công việc kế toán được thực hiện tập trung tại phòng kế toán, tạicác đơn vị trực thuộc hạch toán báo cáo sổ không tổ chức bộ phận kế toánriêng.'

Bộ phận kế toán của công ty gồm 18 người

1 Kế toán trưởng: Chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc về toàn bộcông tác kế toán tài chính của Công ty như công tác kế toán bộ máy kế toángọn nhẹ phù hợp với tính chất sản xuất kinh doanh và yêu cầu tổ chức quản

lý, lập đầy đủ và nộp đúng hạn các báo cáo tài chính, giám sát việc chấphành chế độ bảo vệ tài sản, vật tư, tiền vốn của Công ty

2 Phó phòng kế toán kiêm kế toán tổng hợp: Cuối quí ( tháng, năm) kếtoán tổng hợp tập hợp số liệu tại phòng kế toán làm căn cứ để lập BCTC

3 Kế toán tài sản cố định kiêm kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ: Theodõi hạch toán mua, thanh lý, khấu hao tài sản cố định và hạch toán nhập,xuất, tồn nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, tính toán phân bổ chi phí nguyênvật liệu

4 Kế toán tiền mặt và thanh toán công nợ: Quản lý và hạch toán cáckhoản vốn vay bằng tiền, tiền vay, tiền gửi ngân hàng và quĩ tiền mặt Chịutrách nhiệm về những vấn đề liên quan đến quá trình thanh toán với kháchhàng như: phải thu của khách hàng, phải trả cho người bán

5- Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương: Kiểm tra các bảnglương của các xí nghiệp gửi lên và lập bảng tổng hợp tiền lương, phân bổtiền lương và các khoản trích theo lương

Trang 15

6- Kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả bán hàng: Theo dõihạch toán kho thành phẩm, các cửa hàng giới thiệu sản phẩm và các đại lý,xác định kết quả tiêu thụ thành phẩm trong nước và tiêu thụ xuất khẩu.

7- Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm: Có nhiệm vụ tậphợp chi phí và tính giá thành cho từng loại sản phẩm của công ty căn cứ vàocác chứng từ, sổ sách liên quan, là căn cứ cho việc xác định giá vốn hàngbán sau này

8- Thủ quỹ: Chịu trách nhiệm quản lý tiền mặt thu, chi tiền mặt vào sổquĩ hàng tháng

Ngoài ra công ty còn có một kiểm toán nội bộ có nhiệm vụ theo dõi,kiểm tra các công việc của kế toán giám sát việc ghi chép các nghiệp vụkinh tế phát sinh, kiểm tra việc chấp hành các nguyên tắc của chế độ kếtoán

Cán bộ, nhân viên phòng kế toán của công ty may Đức Giang với 80%

đã tốt nghiệp đại học và trên đại học được trang bị phương tiện, dụng cụtính toán hiện đại giúp cho công tác tính toán chính xác, kịp thời đáp ứngyêu cầu thông tin kinh tế cho lãnh đạo công ty

Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại công ty may Đức Giang

Nguyễn thị Vân Khánh

KẾ TOÁN TRƯỞNG

Thủ quĩ

Kế tiền mặt và thanh toán công nợ

Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

Nhân viên KT tại các xí nghiệp

Kế toán TSCĐ, vật liệu, công

cụ dụng cụ

Kế toán tiêu thụ thành phẩm và xđkq bán hàng

và tính Z

sản phẩm

Trang 16

Chế độ kế toán áp dụng tại công ty:

Căn cứ theo điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước (ban hành kèm theo Nghịđịnh 25-HĐBT ngày 18/3/1989 của Hội đồng bộ trưởng), Quyết định 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc banhành chế độ kế toán doanh nghiệp và các văn bản pháp quy về kế toán vàthống kê khác, chế độ kế toán được áp dụng tại công ty như sau:

-Hình thức kế toán công ty sử dụng: Nhật ký chứng từ

-Niên độ kế toán công ty áp dụng là 1 năm từ 1/1 đến 31/12 kỳ hạchtoán của c0ông ty là hàng quý

-Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép kế toán: Đồng Việt Nam

-Hệ thống tài khoản sử dụng áp dụng theo chế độ kế toán doanh nghiệp

do Bộ tài chính ban hành

-Phương pháp kế toán tài sản cố định (TSCĐ): đánh giá TSCĐ theonguyên giá và giá trị còn lại

Giá trị còn lại = Nguyên giá - Giá trị hao mòn

-Về cơ bản hệ thống tài khoản, sổ sách và báo cáo tài chính của Công

ty áp dụng theo đúng chế độ kế toán doanh nghiệp

-Công ty áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên cho hàng tồn kho

và thực hiện đăng ký thuế theo phương pháp khấu trừ

II-THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY MAY ĐỨC GIANG

1-Phương pháp phân tích tài chính của công ty may Đức Giang 1.1-Chỉ số được sử dụng trong phân tích tài chính

Tuỳ mục tiêu phân tích tài chính mà nhà phân tích chú trọng nhiều hơnnhóm tỷ số này hay nhóm tỷ số khác Mỗi nhóm tỷ số trên bao gồm nhiều tỷ

số và trong từng trường hợp các tỷ số được lựa chọn phụ thuộc vào bản

Trang 17

chất, quy mô của hoạt động phân tích Hiện nay, hoạt động phân tích tàichính của công may Đức Giang đang sử dụng các chỉ tiêu sau:

Thứ nhất là nhóm chỉ tiêu về bố trí cơ tài sản và cơ cấu nguồn vốn,công ty đang sử dụng các chỉ tiêu như sau

-Bố trí cơ cấu tài sản

+Nguồn vốn chủ sở hữu / Tổng nguồn vốn

Thứ hai là nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán bao gồm các chỉ tiêusau:

-Khả năng thanh toán tổng quát = Tài sản lưu động / Nợ ngắn hạn -Khả năng thanh toán nhanh = Tiền hiện có / Nợ ngắn hạn

Thứ ba là nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lợi bao gồm các chỉ tiêu sauđây:

-Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu

+Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu

+Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu

-Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

+Tỷ suất lợi nhuận trứoc thuế trên tổng tài sản

+Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản

-Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên nguồn vốn chủ sở hữu

Nguyễn thị Vân Khánh

Trang 18

1.2-Phương pháp phân tích tài chính được sử dụng tại công ty may Đức Giang

Phương pháp phân tích tài chính được thực hiện như sau:

-Tính một số chỉ tiêu tài chính như các chỉ tiêu về cơ cấu vốn, các chỉtiêu về khả năng thanh toán, các chỉ tiêu về khả năng sinh lợi

-So sánh các chỉ tiêu giữa năm ở thời điểm lập báo cáo và năm trướcđó

Nhìn có vẻ thấy công ty sử dụng phương pháp tỷ số và phương pháp sosánh nhưng thực chất không sử dụng theo phương pháp nào Bởi khi thựchiện phân tích, không đánh các chỉ tiêu, không nêu ý nghĩa của các chỉ tiêucho không đưa ra được kết luận từ các chỉ tiêu phân tích, mặt khác so sánh

số liệu các năm không tính tăng, giảm bao nhiêu, đưa ra các nguyên nhânđưa đến tình trạng đó Kết thúc phân tích tài chính không đưa ra được cácquyết định, Do đó có thể nói công ty may Đức Giang không có hoạt độngphân tích tài chính

13-Nguồn thông tin được sử dụng trong phân tích tài chính

Nguồn thông tin được sử dụng trong phân tích tài chính của công tymay Đức Giang là nguồn thông tin nội bộ doanh nghiệp bao gồm: các báocáo tài chính như bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh

-Bảng cân đối kế toán: Là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánhtổng quát toàn diện, tình hình tài sản và nguồn vốn bằng thước đo tiền tệ ởmột thời điểm nhất định Bảng cân đối kế toán phải đảm bảo tính dễ hiểu,

dễ so sánh, dễ phân tích Sắp xếp theo tính lưu động giảm dần, đảm bảo sựđồng nhất trong từng loại từng nhóm, không được bù trừ giữa các khoản.Bảng cân đối kế toán được chia làm hai phần: Một phần phản ánh tìnhhình tài sản và một phần phản ánh tình hình nguồn vốn Trong mỗi phầnngoài cột chỉ tiêu còn có cột mã số, cột đầu năm và cột số cuối kỳ Bảng

Trang 19

cân đối kế toán có thể có kết cấu dọc hoặc ngang Kết cấu bảng cân đối kếtoán của công ty may Đức Giang:

Nguyễn thị Vân Khánh

Trang 20

BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN

A-TSLĐ và đầu tư ngắn hạn 100

II-Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn 120

II-Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 220

III-Chi phí xây dựng cơ bản dở dang 230

IV-Các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn 240

BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH

Trang 21

PHẦN I-LÃI, LỖ

Trong đó: doanh thu hàng xuất khẩu 2

-Thuế tiêu thụ đặc biệt và xuất khẩu phải nộp 7

6-Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh (20-( 21+22)) 30

7-Lợi nhuận từ hoạt động tài chính (31 - 32) 40

9-Tổng lợi nhuận trước thuế (30 + 40 + 50) 60

10-Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp 70

PHẦN II-TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHĨA VỤ VỚI NHÀ NƯỚC

-Thuyết minh báo cáo tài chính

2-Đánh giá phương pháp phân tích tài chính của công ty may Đức Giang

Nguyễn thị Vân Khánh

Trang 22

Trong xu hướng nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển hiện đại, doanhnghiệp luôn hoạt động trong môi trường cạnh tranh khốc liệt thì phân tíchtài chính ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết.Tuy nhiên, các doanhnghiệp Việt Nam chưa thực sự quan tâm đến việc phân tích tài chính vàcông tình yêu may Đức Giang cũng là còn coi nhẹ công tác này.

Về nhân lực: Để tiến hành công tác phân tích tài chính trước hết chúng

ta cần phải có các nhà phân tích Yếu tố này rất quan trọng, có thể nói nóquyết định đến hiệu quả công tác phân tích tài chính bởi vì trình độ chuyênmôn nghiệp vụ của nhà phân tích quyết định đến chất lượng và mức độ đángtin cậy của những kết luận cuối cùng của công tác phân tích Tuy nhiên, tạicông ty may Đức Giang thì công tác tài chính và kế toán được gộp chungvào làm một hình thành nên phòng tài chính-kế toán chứ chưa có một phòngtài chính riêng Công tác phân tích tài chính do cán bộ phòng tài chính-kếtoán đảm trách, chưa có cán bộ chyên môn phụ trách vấn đề này Trongphòng tài chính kế toán số nhân viên là 18 người đều có chuyên môn nghiệp

vụ kế toán, am hiểu về hoạt động công ty, nhân viên kế toán tổng hợp cótrình độ, kiến thức về phân tích tài chính nhưng không chuyên sâu, và hoạtđộng phân tích tài chính được thực hiện rất hạn chế, không có nhân viên nàotrong phòng đảm trách riêng công tác này

Điều này xuất phát từ nguyên nhân là cán bộ công ty chưa nhận thứcđầy đủ về tầm quan trọng của phân tích tài chính, nên ít coi trọng đào tạocán bộ, bồi dưỡng nghiệp vụ phân tích cho nhân viên làm hạn chế chấtlượng công tác phân tích

Về nguồn thông tin: Như phần lý luận đã đề cập, thông tin được sửdụng trong phân tích tài chính từ hai nguồn là nguồn thông tin bên ngoàidoanh nghiệp và nguồn thông tin nội bộ doanh nghiệp Thông tin bên ngoàidoanh nghiệp bao gồm các thông tin về sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ khoahọc kỹ thuật, chính sách tiền tệ, chính sách thuế, môi trưòng cạnh tranh,

Trang 23

Các thông tin bên ngoài giúp cho doanh nghiệp thấy được vị trí của doanhnghiệp trong ngành, trong nền kinh tế, thấy được cơ hội kinh doanh, phấttriển, Thông tin nội bộ doanh nghiệp đó là các thông tin về cơ cấu tổ chứcdoanh nghiệp, tính chất sản phẩm, khả năng tài trợ, nguồn thông này là cácthông tin kế toán như báo cáo tài chính doanh nghiệp và các thông tin hữuích khác Phân tích tài chính chủ yếu dựa vào các thông tin nội bộ doanhnghiệp Do vậy, nguồn thông tin có xác thực, đầy đủ thì kết quả phân tíchmới đáng tin cậy, hữu ích

Thông tin nội bộ chủ yếu lấy từ báo cáo tài chính Tại công ty may ĐứcGiang, việc lập các báo cáo tài chính được nhân viên kế toán thực hiện theoquý, năm sau khi tập hợp các thông tin kế toán Nói chung báo cáo tài chínhdược lập theo từng quý mang tính chính xác, kịp thời giúp cho công tácphân tích tài chính Tuy nhiên các khoản mục trên báo cáo kết quả kinhdoanh chưa hợp lý như báo cáo kết quả kinh doanh của công ty may ĐứcGiang được lập theo mẫu quy định của bộ tài chính nên các chỉ tiêu vềdoanh thu, chi phí tính cả VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, coi các khoản thuếnày vừa là doanh thu, vừa là chi phí nhưng thực chất nó không phải là chiphí cũng không phải là doanh thu, đó chỉ là những khoản thuế thu hộ và nộp

hộ nên không cần phản ánh vào báo cáo kết quả kinh doanh

Mặt khác, trong công tác phân tích tài chính, công ty may Đức Giangchưa chú trọng đến việc lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bảng tài trợ Báocáo lưu chuyển tiền tệ để đánh giá một doanh nghiệp có đảm bảo được khảnăng chi trả hay không Do vậy cần tìm hiểu tình hình ngân quỹ của doanhnghiệp Ngân quỹ thường xác định trong thời gian ngắn hạn thông thường làtừng tháng Báo cáo ngân quỹ xác định hay dự báo dòng tiền thực nhập quỹhay xuất quỹ từ các hoạt động của công ty Trên cơ sở dòng tiền ra, vào mànhà phân tích thực hiện cân đối ngân quỹ với số dư ngân quỹ đầu kỳ để xácđịnh số dư ngân quỹ cuối kỳ, từ đó xác định mức ngân quỹ dự phòng tối

Nguyễn thị Vân Khánh

Trang 24

thiểu cho doanh nghiệp nhằm đảm bảo khả năng chi trả, để tránh trường hợpngân quỹ âm dẫn đến tình trạng mất khả năng chi trả trong thời gian dài dẫnđến phá sản doanh nghiệp Chính vì vậy, trong doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh, báo cáo ngân quỹ có vai trò quan trọng, do đó công ty may ĐứcGiang khi thực hiện công tác phân tích tài chính nên lập báo cáo lưu chuyển

để phân tích chỉ tiêu "dòng tiền dòng" (NCF) Còn bảng tài trợ thể hiện: cácnghiệp vụ góp phần điều chỉnh cơ cấu tài sản, các khoản đầu tư đã thực hiệncũng như các khoản ngừng đầu tư, phương tiện tài trợ (nội bộ hay bênngoài) đã được sử dụng Nó cần là cơ sở để thiết lập bảng đầu tư và tài trợ,nhằm thị trườngậpp hợp các dự báo tài chính của doanh nghiệp và thể hiệnchiến lược của doanh nghiệp Bảng tài trợ cũng được sử dụng vào mục đíchkiểm tra vì nó thể hiện việc thực hiện các nghiệp vụ trong niên độ Nhưnghoạt động này sẽ được so sánh với dự báo kế hoạch đầu tư và tài trợ và các

số liệu chênh lệch sẽ được giải thích Bảng tài trợ giúp các nhà quản xácđịnh rõ nguồn cung ứng vốn và việc sử dụng các nguồn vốn đó Việc thiếtlập bảng tài trợ là cơ sở để chỉ ra những trọng điểm đầu tư vốn và nhữngnguồn vốn chủ sở hữu để hình thành đầu tư Bảng tài trợ miêu tả các dòngtiền tệ về nguồn vốn và sử dụng vốn trong một thời kỳ Đây cũng là công cụ

hỗ trợ đắc lực cho các tính toán dự báo

Công ty chưa có đầy đủ các thông tin về các tỷ lệ tham chiếu như chỉtiêu trung bình ngành, chỉ tiêu của doanh nghiệp khác mà các chỉ tiêu nàyhết sức cần thiết cho công tác phân tích tài chính trong việc đưa ra các kếtluận sau cùng khi phân tích bởi vì việc phân tích tài chính cần đặt doanhnghiệp trong mối tương quan với các doanh nghiệp khác Thực tế cho thấycác doanh nghiệp cùng ngành chưa thực hiện đầy đủ công tác phân tích tàichính, không tính toán đầy đủ các chỉ tiêu do đó không thể tính được chỉtiêu trung bình ngành để làm chỉ tiêu tham chiếu Đây cũng là một trongnhững đặc điểm chung của nền kinh tế Việt Nam

Trang 25

Thông tin bên ngoài doanh nghiệp: Công ty may Đức Giang là mộtcông ty may xuất khẩu, công ty còn bỏ qua nhiều thông tin về thị trườngtrong nước, thông tin về doanh nghiệp cùng ngành nên trong hoạt động phântích đã không thấy sức cạnh tranh của mình và thị phần của Công ty trongnước Do đó, các năm về trước, doanh nghiệp chỉ chú trọng đến hoạt độngxuất khẩu mà gần như đã bỏ qua mảng thị trường trong nước song trongnăm vừa qua doanh nghiệp đã khắc phục được thiếu sót này mà bắt đầuquan tâm đến thị trường trong nước

Về phương pháp phân tích tài chính: Theo lý luận có rất nhiều phươngpháp phân tích được sử dụng tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp.Nhìn chung để phân tích hiệu quả doanh nghiệp cần sử dụng kết hợp nhiềuphương pháp phân tích, tuy nhiên hoạt động phân tích tài chính của công tymay Đức Giang còn rất sơ sài và đơn giản, nhân viên thực hiện phân tích tàichính không theo những phương pháp thông thường như là phương phápphân tích tỷ số và phương pháp so sánh Các tỷ số được tính toán nhưngchưa nêu được ý nghĩa, chưa lý giải nguyên nhân và đánh giá tình hình tàichính

Về nội dung phân tích tài chính: Công ty chưa thực hiện đầy đủ các nộidung phân tích, các chỉ tiêu, tỷ lệ tài chính đã được tính nhưng còn rất sơsài, chưa chỉ ra được ý nghĩa, bản chất kinh tế của các chỉ tiêu tài chính, cóthể nói hoạt động phân tích tài chính là chưa có, do đó chưa góp phần nângcao hiệu quả hoạt động tài chính Nói chung các chỉ tiêu tính toán chỉ bógọn trong phần thuyết minh báo cáo tài chính của báo cáo tài chính các năm,

Trang 26

-Tài sản cố định / Tổng tài sản % 48.31 24.68 34.37 26.76 -Tài sản lưu động / Tổng tài sản % 51.69 75.32 65.63 73.24II-Tỷ suất lợi nhuận

-Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu

+Tỷ suất LNTT trên doanh thu % 5.02 6.21 4.19 2.90 + Tỷ suất LNST trên doanh thu % 3.42 3.90 2.85 2.05 -Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản

+Tỷ suất LNTT trên tài sản % 7.51 7.75 4.50 3.25 +Tỷ suất LNST trên tài sản % 5.10 5.05 3.06 2.29 -Tỷ suất lợi nhuận trên vốn 33.23 47.08 27.79 18.36III-Tình hình tài chính

-Hệ số nợ tổng tài sản % 73.46 79.55 81.16 87.5 -Khả năng thanh toán

(Trích báo cáo tài chính năm 1999, 2000, 2001, 2002)

III-ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH VÀO CÔNG TY MAY ĐỨC GIANG

1-Chỉ tiêu khả năng thanh toán

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để tài trợ cho các tài sản củamình, các doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào nguồn vốn chủ sở hữu màcòn cần đến nguồn tài trợ khác là vay nợ Việc vay nợ này được thực hiệncho nhiều đối tượng và dưới nhiều hình thức khác nhau Với bất kỳ một đốitượng nào thì mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất khi cho vay là người chovay sẽ xem xét xem doanh nghiệp có khả năng hoàn trả khoản vay khôngtức là khả năng thanh toán của doanh nghiệp ở mức độ nào

Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tàichính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phảithanh toán trong kỳ đồng thời thể hiện rõ nét chất lượng công tác tài chính

Trang 27

Tại một thời điểm nếu doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán đó sẽ làdấu hiệu đầu tiên của khó khăn tài chính, còn nếu nghiêm trọng hơn có thểđưa doanh nghiệp đến phá sản Vì vậy, khả năng thanh toán là một chỉ tiêuquan trọng trong phân tích tài chính doanh nghiêp, nó sẽ phản ánh rủi rotrong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trên cơ sở đó giúpcho doanh nghiệp tìm ra nguyên nhân và đưa ra các giải pháp nhằm hạn chếmức độ rủi ro của doanh nghiệp

Khi phân tích nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán, công ty may ĐứcGiang sử dụng các chỉ tiêu sau:

-Khả năng thanh toán tổng quát = Tài sản lưu động / Nợ ngắn hạn -Khả năng thanh toán nhanh = Tiền hiện có / Nợ ngắn hạn

Tỷ số khả năng thanh toán tổng quát là thước đo khả năng thanhtoán ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của cácchủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiềntrong một giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó Còn tỷ

lệ thanh toán nhanh được tính theo công thức trên không có ý nghĩa kinh tếbởi vì tiền hiện có ở đây là tại một thời điểm nhất định, đây là khoản doanhnghiệp có thể sử dụng ngay mà không mất chi phí và thời giang chuyển đổi,mặt khác nợ ngắn hạn tại thời điểm lập báo cáo bao gồm cả nợ đến hạnthanh toán và nợ chưa đến hạn, nên khi tính tỷ lệ thanh toán nhanh theocông thức trên thì khoản tiền hiện có tại thời điểm đó được tính sử dụngthanh toán cho cả những khoản nợ chưa đến hạn là không hợp lý

Do đó, khi ứng dụng phân tích chỉ tiêu khả năng thanh toán vào công

ty may Đức Giang thì sử dụng các chỉ tiêu sau:

-Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành = TSLĐ / Nợ ngắn hạn

Tỷ số này tương ứng với tỷ số khả năng thanh toán tổng quát trongphân tích của công ty may Đức Giang Tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hànhcàng lớn thì doanh nghiệp được đánh giá có nhiều khả năng đảm bảo chocác khoản nợ ngắn hạn Nhưng điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố Nguyễn thị Vân Khánh

Trang 28

như bản chất ngành kinh doanh, kết cấu tài sản lưu động và hệ số quay vòngcủa một số loại tài sản lưu động.Trong nhiều trường hợp, tỷ số này phản ánhkhông chính xác khả năng thanh toán bởi trong tài sản lưu động có nhữngkhoản khó có thể chuyển đổi thành tiền như hàng tồn kho hay khoản phảithu Do đó cần quan tâm tới tỷ số khả năng thanh toán nhanh và tỷ số khảnăng thanh toán tức thời.

-Tỷ số khả năng thanh toán nhanh = (TSLĐ - Dự trữ) / Nợ ngắn hạnChỉ tiêu về khả năng thanh toán hiện hành chưa bộc lộ hết khả năngthanh toán của doanh nghiệp Giả thiết rằng nếu tất cả các món nợ tới hạnđều yêu cầu được thanh toán ngay thì tài chính của doanh nghiệp có đáp ứngđược không? Khả năng thanh toán nhanh sẽ trả lời được vấn đề này Tỷ sốkhả năng thanh toán nhanh là tỷ số giữa các tài sản quay vòng nhanh với nợngắn hạn Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóngchuyển đổi thành tiền, bao gồm: tiền, chứng khoán ngắn hạn, các khoảnphải thu Tài sản dự trữ (tồn kho) là các tài sản khó chuyển thành tiền hơntrong tổng tài sản lưu động và dễ bị lỗ nhất nếu được bán Tỷ lệ khả năngthanh toán nhanh là một tiêu chuẩn đánh giá khắt khe hơn về khả năng trảcác khoản nợ ngắn hạn so với tỷ lệ hiện hành Tuy nhiên tỷ số này chưaphản ánh được khả năng thanh toán lập tức tại một thời điểm nhất định nên

ta thực hiện phân tích thêm tỷ số khả năng thanh toán tức thời

-Khả năng thanh toán tức thời = Tiền / Nợ đến hạn

Tiền là khoản tiền hiện có và tài sản tương đương tiền (như chứngkhoán ngắn hạn dễ chuyển nhượng ) Nợ đến hạn ở đây bao gồm các khoản

nợ ngắn, trung và dài hạn đến hạn trả Đây là tỷ lệ thể hiện chính xác khảnăng thanh toán của doanh nghiệp vì nó loại bỏ tính không chắc chắn củacác khoản phải thu cũng như khả năng chuyển đổi chậm thành tiền của dựtrữ Tỷ số này chỉ để tham khảo bởi nó thay đổi nhanh, độ chính xác tạo rakhông cao bằng các tỷ số khác

Trang 29

Như vậy, việc phân tích khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệpkhông những giúp cho người cho vay giảm thiểu rủi ro không đòi được nợ

mà còn giúp bản thân doanh nghiệp thấy được khả năng chi trả thực tế củamình để từ đó có biện pháp trong việc điều chỉnh các khoản mục tài sản mộtcách hợp lý nhằm nâng cao khả năng thanh toán Song sử dụng các chỉ tiêunày cũng có một số hạn chế như cả tử số và mẫu số đều có thể thay đổi rấtnhanh, do vậy chúng chỉ có giá trị nhất định khi đánh giá tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp Phân tích tài chính lại diễn ra ở một thời điểm trong quátrình hoạt động của doanh nghiệp nên tính chính xác cũng khó đảm bảo

Bảng: Chỉ tiêu khả năng thanh toán

Biểu đồ: Khả năng thanh toán hiện hành

Nguyễn thị Vân Khánh

Ngày đăng: 30/10/2013, 05:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Chỉ tiêu tổng hợp về tình hình tài chính của công ty may Đức - THỰC TRẠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH  CỦA CÔNG TY MAY ĐỨC GIANG
Bảng 1 Chỉ tiêu tổng hợp về tình hình tài chính của công ty may Đức (Trang 4)
Sơ đồ 3.1 : Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm - THỰC TRẠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH  CỦA CÔNG TY MAY ĐỨC GIANG
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm (Trang 6)
Bảng 2: Tổng hợp danh mục thiết bị của Công ty năm 2001 - THỰC TRẠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH  CỦA CÔNG TY MAY ĐỨC GIANG
Bảng 2 Tổng hợp danh mục thiết bị của Công ty năm 2001 (Trang 7)
Sơ đồ 3.3: Kết cấu tổ chức sản xuất - THỰC TRẠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH  CỦA CÔNG TY MAY ĐỨC GIANG
Sơ đồ 3.3 Kết cấu tổ chức sản xuất (Trang 10)
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại công ty may Đức Giang - THỰC TRẠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH  CỦA CÔNG TY MAY ĐỨC GIANG
Sơ đồ t ổ chức bộ máy kế toán tại công ty may Đức Giang (Trang 15)
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN - THỰC TRẠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH  CỦA CÔNG TY MAY ĐỨC GIANG
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w