1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông dân số kế hoạch hóa gia đình tại chi cục dân số kế hoạch hóa gia đình tỉnh nghệ an

115 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu là tăng cường công tác truyền thông về DS-KHHGĐ cho các tầng lớp nhân dân; muốn vậy cần chú trọng công tác xây dựng, củng cố và phát triển đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN HOÀI NAM

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NHÂN VIÊN

TRUYỀN THÔNG DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TẠI CHI CỤC DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH

TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN HOÀI NAM

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NHÂN VIÊN

TRUYỀN THÔNG DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TẠI CHI CỤC DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH

TỈNH NGHỆ AN LUẬN VĂN THẠC SĨ

Phòng Đào tạo Sau Đại học:

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Phát triển đội ngũ cán bộ nhân

viên truyền thông Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tại Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Nghệ An” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng

được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Nghệ An, tháng 12 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Hoài Nam

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi luôn nhận được sự động viên khuyến khích, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo Trường Đại học Nha Trang, gia đình, các đồng chí và đồng nghiệp

Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Nha Trang; Các thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy lớp Cao học chuyên ngành Quản trị Kinh doanh (Khóa 2017); Lãnh đạo Tổng cục DS-KHHGĐ, Sở Y tế, Chi cục DS-KHHGĐ, Cục Thống kê, Trung tâm Giáo dục - Truyền thông, Trung tâm Chăm sóc SKSS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An; 21 Trung tâm Dân số - KHHGĐ, Trung tâm Tư vấn - Dịch vụ DS-KHHGĐ tỉnh đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Xuân Thủy và ThS Lê Hồng Lam, những người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí trong Ban lãnh đạo Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An đã quan tâm, tạo điều kiện để tôi theo học lớp Thạc sĩ Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh của Trường Đại học Nha Trang

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song luận văn không tránh khỏi một số thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô

giáo trong Hội đồng chấm luận văn và những người quan tâm đến đề tài “Phát triển

đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tại Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Nghệ An”

Nghệ An, tháng 12 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Hoài Nam

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix

DANH MỤC BẢNG x

DANH MỤC HÌNH xi

DANH MỤC SƠ ĐỒ xii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xiii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan một số nghiên cứu trong và ngoài nước vể TT DS-KHHGĐ 9

2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 9

2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 5

2.3 Nghiên cứu ở Nghệ An 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

3.1 Đối tượng nghiên cứu 9

3.2 Phạm vi nghiên cứu 9

4 Mục tiêu nghiên cứu 10

4.1 Mục tiêu chung 10

4.2 Mục tiêu cụ thể 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của luận văn 11

6.1 Về mặt lý luận 11

6.2 Về mặt thực tiễn 12

7 Cấu trúc của luận văn 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NHÂN VIÊN LÀM CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG DS-KHHGĐ 13

1.1 Một số khái niệm cơ bản 13

1.1.1 Cán bộ và đội ngũ cán bộ 13

1.1.2 Phát triển và phát triển đội ngũ cán bộ 13

1.1.3 Truyền thông – Giáo dục và Truyền thông về DS-KHHGĐ 14

Trang 6

1.1.4 Dân số - Kế hoạch hóa gia đình 14

1.2 Một số vấn đề về phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác TT DS-KHHGĐ tại chi cục DS-DS-KHHGĐ 16

1.2.1 Sự cần thiết phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ tại Chi cục DS-KHHGĐ 16

1.2.2 Những yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS-KHHGĐ 21

1.2.3 Nội dung phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ 23

1.2.3.1 Đảm bảo đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ đủ về số lượng 23

1.2.3.2 Đảm bảo cơ cấu đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ phù hợp 23

1.2.3.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ 24

1.2.3.4 Tạo động lực làm việc cho đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ 26

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác TT về DS-KHHGĐ 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NHÂN VIÊN TRUYỀN THÔNG DÂN SỐ - KHHGĐ TẠI CHI CỤC DÂN SỐ - KHHGĐ TỈNH NGHỆ AN 30

2.1 Giới thiệu về Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An 30

2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của Chi cục DS - KHHGĐ tỉnh Nghệ An 30

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Chi cục DS - KHHGĐ tỉnh Nghệ An 30

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Chi cục DS - KHHGĐ tỉnh Nghệ An 32

2.2 Đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác TT về DS-KHHGĐ 33

2.2.1 Địa bàn, phương pháp điều tra khảo sát và mẫu nghiên cứu 33

2.2.1.1 Địa bàn khảo sát 33

2.2.1.2 Phương pháp điều tra khảo sát 33

2.2.1.3 Mẫu nghiên cứu 34

2.2.1.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 35

Trang 7

2.2.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 36

2.2.3 Cơ cấu tổ chức cán bộ 37

2.2.3.1 Cấp tỉnh 38

2.2.3.2 Cấp huyện 41

2.2.3.3 Cấp xã 46

2.2.4 Về quy hoạch đội ngũ cán bộ 52

2.3 Thực trạng đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác TT DS-KHHGĐ 52

2.3.1 Cấp tỉnh 52

2.3.2 Cấp huyện 53

2.3.3 Cấp xã 58

2.4 Phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác TT DS-KHHGĐ tại tỉnh Nghệ An 61

2.4.1 Về tổ chức bộ máy 61

2.4.2 Về quy hoạch đội ngũ cán bộ 62

2.4.3 Về trình độ, chuyên môn của cán bộ làm công tác TT 63

2.4.4 Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 63

2.4.5 Về chế độ chính sách đối với cán bộ làm công tác TT 65

2.4.6 Về quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền 65

2.5 Kết quả đạt được và những hạn chế trong công tác phát triển đội ngũ cán bộ TT về DS-KHHGĐ tại Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An 66

2.5.1 Kết quả đạt được 66

2.5.2 Hạn chế, bất cập 67

2.5.3 Nguyên nhân của hạn chế, bất cập 69

2.5.4 Các vấn đề thực tiễn cần sớm được giải quyết đặt ra từ kết quả nghiên cứu tại địa bàn khảo sát 70

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NHÂN VIÊN TRUYỀN THÔNG DÂN SỐ - KHHGĐ TẠI CHI CỤC DÂN SỐ - KHHGĐ TỈNH NGHỆ AN 74

3.1 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 74

3.2 Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác TT DS-KHHGĐ tại Chi cục DS-DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An 74 3.2.1 Nâng cao nhận thức cho các cấp ủy Đảng, chính quyền về sự cần thiết phát triển

Trang 8

đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác TT về DS-KHHGĐ của Chi cục DS-KHHGĐ

tỉnh Nghệ An 74

3.2.2 Xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác TT về DS-KHHGĐ 75

3.2.3 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác TT về DS-KHHGĐ 77

3.2.4 Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả công việc của đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác TT về DS-KHHGĐ 79

3.2.5 Đảm bảo các điều kiện để đội ngũ cán bộ làm công tác TT về DS-KHHGĐ phát huy tốt vai trò của mình 81

3.3 Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 83

3.3.1 Mục đích 83

3.3.2 Nội dung và phương pháp thăm dò 83

3.3.3 Đối tượng, địa bàn thăm dò 83

3.3.4 Kết quả thăm dò 84

3.3.5 Tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất 84

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88

1 Kết luận 88

2 Khuyến nghị 90

2.1 Đối với Chính phủ 90

2.2 Đối với Bộ Y tế, Tổng cục DS-KHHGĐ 91

2.3 Đối với Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Nghệ An 91

2.4 Đối với các Ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 95

Trang 9

Cán bộ công chức Cán bộ truyền thông Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cộng tác viên

Tuyên truyền viên Sức khỏe sinh sản Dân số - Kế hoạch hóa gia đình Dân số - Sức khỏe sinh sản Dân số và Phát triển

Đào tạo bồi dưỡng Giáo dục

Truyền thông Truyền thông - Giáo dục Thanh niên, vị thành niên Sinh đẻ kế hoạch

Sức khỏe tình dục Kinh tế - xã hội

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Số lượt cán bộ tỉnh được tập huấn chia theo nội dung 52 Bảng 2.2: Số lượt cán bộ cấp huyện bình quân được tập huấn hàng năm chia theo nội dung tại tỉnh Nghệ An, năm 2015 – 2018 54 Bảng 2.3: Tỷ lệ đánh giá mức độ áp dụng kiến thức của cán bộ cấp huyện tại tỉnh Nghệ An, năm 2018 55 Bảng 2.4: Tỷ lệ đánh giá mức độ áp dụng kỹ năng của cán bộ cấp huyện tại tỉnh Nghệ

An, năm 2018 57 Bảng 2.5: Số lượt cán bộ cấp xã được tập huấn chia theo nội dung tại tỉnh Nghệ An, năm 2018 59 Bảng 3.1: Đánh giá sự cần thiết của các giải pháp đề xuất (n =120) 84Bảng 3.2: Thăm dò tính khả thi của các giải pháp đề xuất (n = 120) 86

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Trình độ đào tạo của cán bộ TT cấp tỉnh cả nước, năm 2018 39

Hình 2.2: Trình độ đào tạo của cán bộ TT Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An 40

Hình 2.3: Trình độ chuyên môn của cán bộ TT của Chi cục DS-KHHGĐ 41

Hình 2.4: Trình độ đào tạo của cán bộ TT cấp huyện cả nước, năm 2018 42

Hình 2.5: Trình độ đào tạo của cán bộ TT cấp huyện tỉnh Nghệ An, năm 2018 43

Hình 2.6: Trình độ đào tạo cán bộ TT cấp huyện ở các vùng của tỉnh Nghệ An, năm 2018 44

Hình 2.7: Trình độ chuyên môn cán bộ TT cấp huyện ở Nghệ An, năm 2018 44

Hình 2.8: Cơ cấu chuyên môn cán bộ cấp huyện theo khu vực, năm 2018 45

Hình 2.9: Trình độ đào tạo cán bộ TT cấp xã ở Nghệ An, năm 2018 47

Hình 2.10: Trình độ chuyên môn cán bộ TT cấp xã ở Nghệ An, năm 2018 48

Hình 2.11: Tỷ lệ cộng tác viên là nữ của các huyện trong tỉnh Nghệ An, 49

Hình 2.12: Tỷ lệ cộng tác viên kiêm nhiệm của các huyện trong tỉnh Nghệ An, năm 2018 50

Hình 2.13: Loại hình cộng tác viên kiêm nhiệm theo loại của các huyện trong tỉnh Nghệ An, năm 2018 51

Trang 12

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy cán bộ TT về DS-KHHGĐ các cấp 38

Trang 13

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Hoài Nam, sinh ngày: 15/6/1981 MSHV: 59CH043

Cơ quan công tác: Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh Nghệ An

Tên luận văn: “Phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tại Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Nghệ An”

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60 34 01 02

Người hướng dẫn khoa học: Tiến sỹ Phạm Xuân Thủy và Thạc sỹ Lê Hồng Lam Tên đơn vị đào tạo: Trường Đại học Nha Trang

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu các mục tiêu của công tác DS-KHHGĐ; Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác dân số trong tình hình mới; đặc biệt là chủ động với những thách thức mới đang đặt

ra cho công tác dân số; đòi hòi phải có các giải pháp đồng bộ và thực thi có hiệu quả Một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu là tăng cường công tác truyền thông

về DS-KHHGĐ cho các tầng lớp nhân dân; muốn vậy cần chú trọng công tác xây dựng, củng cố và phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông DS-KHHGĐ đủ mạnh cả về số lượng và chất lượng Vì vậy, luận văn muốn tìm hiểu sâu về thực trạng đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông dân số, từ đó đề xuất những giải pháp và khuyến nghị nhằm phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông DS-KHHGĐ tại Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An”

TT DS-KHHGĐ đã được quan tâm, song chưa đồng bộ, còn có bất cập,… do vậy có thể nhận thấy: số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ này chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, nhất là trong giai đoạn chuyển trọng tâm chính sách DS từ KHHGĐ sang dân số và phát triển

Từ những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế tồn tại đó, nghiên

Trang 14

cứu đã đề xuất 5 nhóm giải pháp lớn nhằm phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông DS-KHHGĐ tại Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An trong thời gian tới, bao gồm: (1) Nâng cao nhận thức cho các cấp ủy Đảng, chính quyền về sự cần thiết phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác TT về DS-KHHGĐ; (2) Xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông DS-KHHGĐ; (3) Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông DS-KHHGĐ; (4) Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả công việc của đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông DS-KHHGĐ; (5) Đảm bảo các điều kiện để đội ngũ cán bộ làm công tác TT về DS-KHHGĐ phát huy tốt vai trò của mình Những giải pháp được nêu ra trong luận văn có mối quan hệ tác động, hỗ trợ nhau, gắn kết với nhau thành thể thống nhất, trong đó mỗi giải pháp mang tính độc lập tương đối về khả năng phát huy tác dụng ở từng thời điểm, điều kiện cụ thể, cần phải thực hiện, không thể bỏ một giải pháp nào Việc phát huy tác dụng của các giải pháp phụ thuộc vào sự vận dụng nhuần nhuyễn, một cách hợp lý vào thực tiễn phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông DS-KHHGĐ tại Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An trên cơ sở xác định đúng đắn các yêu cầu, mục tiêu và chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông DS-KHHGĐ của Tổng cục DS-KHHGĐ, Bộ Y tế

Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đã đạt được và từ thực tiễn của công tác DS-KHHGĐ trên địa bàn tình Nghệ An; Luận văn đã mạnh dạn đề xuất một số khuyến nghị đối với Chính phủ, Bộ Y tế, Tổng cục DS-KHHGĐ, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Nghệ An và các sở, ban, ngành, đoàn thể liên quan trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chủ trương chính sách, các giải pháp và điều kiện để phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS-KHHGĐ nói riêng cũng như thực hiện thắng lợi các mục tiêu của công tác DS-KHHGĐ nói chung

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của quá trình phát triển Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và hết sức quan tâm đến công tác Dân số - Kế

hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban

Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về công tác dân số trong

tình hình mới đã chỉ rõ: “Dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Công tác dân số là nhiệm vụ chiến lược, vừa cấp thiết vừa lâu dài;

là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân” [1] Pháp lệnh Dân số cũng đã xác định: "Dân số

là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước" [15]

Trải qua gần 60 năm phấn đấu, công tác DS-KHHGĐ cả nước nói chung, tỉnh Nghệ An nói riêng đã đạt được những thành tựu quan trọng, đặc biệt trong việc giảm mức sinh và nâng cao tuổi thọ, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương Đạt được thành công đó, trước hết có sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể và các tổ chức xã hội, sự hưởng ứng của toàn dân, sự tham gia tích cực của đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác dân số, đặc biệt là đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông DS - KHHGĐ

Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác DS-KHHGĐ cả nước nói chung và Nghệ An nói riêng vẫn còn đang đối mặt với nhiều thách thức cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư, tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững của đất nước, địa phương Nghệ An là tỉnh có quy mô dân số lớn (thứ 4 cả nước), tổng tỷ suất sinh cao, 2,76 con (đứng thứ 7 cả nước) [6] và đang có xu hướng tiếp tục tăng trong khi cả nước đã đạt mức sinh thay thế từ năm 2006 Một số vấn đề mới xuất hiện như mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh đã ở mức báo động, nếu không có giải pháp tích cực, sự mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ đem lại những hệ lụy nặng nề, tác động xấu đến trật tự, an ninh xã hội Cơ cấu dân số đang có những biến đổi quan trọng, chuyển từ "cơ cấu dân số trẻ" sang "cơ cấu dân số vàng" và xuất hiện "già hoá dân số" Chất lượng dân số mặc dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn hạn chế, đang là vấn đề hết sức được quan tâm, nhất là xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.[7]

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của

Trang 16

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới; Chiến lược Dân số - Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 - 2020, góp phần thực hiện thành công các chỉ tiêu, mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng nhiệm

kỳ 2016 - 2020; Chiến lược phát triển KT –XH đất nước và của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011 – 2020 và những năm tiếp theo; đặc biệt là chủ động với những thách thức mới đang đặt ra cho công tác dân số; đòi hòi phải có các giải pháp đồng bộ và thực thi

có hiệu quả Một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu trong công tác Dân số đó

là tăng cường công tác truyền thông về DS-KHHGĐ cho các tầng lớp nhân dân; muốn vậy cần chú trọng công tác xây dựng, củng cố và phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông DS-KHHGĐ tại Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An đủ mạnh cả về số lượng và chất lượng, phát huy năng lực để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Bởi vì đây là lực lượng có vai trò rất quan trọng trong công tác dân số, là lực lượng trực tiếp tuyên truyền, giáo dục, vận động người dân thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về công tác Dân số

Thực hiện chủ trương sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ, chức năng, nhiệm vụ DS-KHHGĐ chuyển về Bộ Y tế nhằm thực hiện hiệu quả hơn công tác Dân

số trên cơ sở tăng cường quản lý nhà nước, gắn kết công tác Dân số và huy động sự tham gia của toàn ngành y tế trong triển khai việc đảm bảo quy mô dân số hợp lý, cơ cấu dân số phù hợp và nâng cao chất lượng dân số

Ngày 29/1/2008, Chính phủ ban hành Quyết định số 18/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục DS- KHHGĐ thuộc Bộ Y tế

Ngày 25/4/2008, Bộ Y tế và Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan y

tế, trong đó có tổ chức DS-KHHGĐ cấp tỉnh, cấp huyện theo Nghị định số 13/2008/NĐ-CP và Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ban hành ngày 2/4/2008 về cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện

Ngày 14/5/2008, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 05/2008/TT-BYT hướng dẫn chi tiết chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Chi cục DS-KHHGĐ thuộc Sở Y tế, Trung tâm DS-KHHGĐ cấp huyện, cán bộ nhân viên truyền thông về DS-KHHGĐ là viên chức tại Trạm y tế xã và CTV DS-KHHGĐ thôn, bản [5]

Theo đó, ngày 29/7/2008, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định

Trang 17

số 38/2008/QĐ-UBND quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy và biên chế của Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An, trong đó nêu rõ: “Vị trí, chức năng của cán bộ chuyên trách DS xã: là viên chức y tế” [20]

Thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của BCH TW Đảng khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập Hiện nay, tỉnh Nghệ An đang xây dựng Đề

án Sáp nhập Trung tâm DS-KHHGĐ vào Trung tâm Y tế tại các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Nghệ An [19]

Trong quá trình chuyển đổi tổ chức bộ máy làm công tác dân số, đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông dân số các cấp đã được quan tâm đặc biệt vì đây là lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục tới người dân Vấn đề cấp thiết hiện nay ở cấp tỉnh, huyện, xã là cần xác định các vấn đề ưu tiên, trong đó quan tâm

ưu tiên làm thế nào để nâng cao năng lực, phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông dân số các cấp; ưu tiên công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông dân số ở địa phương Trên cơ sở đó có thể xây dựng được một chương trình đào tạo, bồi dưỡng với hệ thống tài liệu phù hợp, đáp ứng được yêu cầu quản lý, đào tạo cán bộ, đảm bảo cung cấp đúng và đủ yêu cầu về kiến thức và kỹ năng cho đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông các cấp

Vì vậy để có một bức tranh tổng thể về thực trạng đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông dân số, từ đó đề xuất những giải pháp và khuyến nghị nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông DS-KHHGĐ

các cấp, tác giả lựa chọn đề tài “Phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông

Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tại Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Nghệ An” để nghiên cứu

2 Tổng quan một số nghiên cứu trong và ngoài nước về truyền thông KHHGĐ

DS-2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Thế kỷ XX được gọi là thế kỷ của "Bùng nổ dân số" Dân số thế giới tăng trưởng ngày một nhanh, nhân loại đã chứng kiến dân số tăng phi mã từ 1,65 tỷ người vào đầu thế kỷ lên 6,06 tỷ người vào năm 2000, tăng 3,7 lần trong vòng 100 năm Trong khi

đó, vào thế kỷ XIX, dân số thế giới chỉ tăng 1,7 lần, từ gần 1 tỷ người lên 1,65 tỷ người cũng trong cùng khoảng thời gian 100 năm Tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm

Trang 18

ngày một tăng lên: khoảng 1,78% vào giai đoạn 1950-1955, khoảng 2,04% vào giai đoạn từ 1965 - 1970, khoảng 1,57% vào giai đoạn 1990 -1995 và hiện nay là 1,3%.[13]

Thực tế, trên thế giới đã có sự bùng nổ dân số Năm 1950 đã lên tới 3 tỷ người và vào ngày 11/7/1987, em bé người Nam Tư là công dân thứ 5 tỷ của Trái đất Liên hợp quốc cũng như các quốc gia khác trên thế giới đã tiến hành các cuộc vận động truyền thông giáo dục để hạn chế sinh đẻ, bởi vì cần phải xuất phát từ chính sách dân số thì cuộc vận động KHHGĐ mới hiệu quả Năm 2000, dân số thế giới là 6 tỷ người Năm

2011, dân số thế giới đã là 7 tỷ người và dự kiến năm 2050 dân số sẽ là 9 tỷ 300 triệu người.[13]

Ngày nay, các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo và quản lý của nhiều quốc gia trên thế giới ngày càng nhận thức sâu sắc rằng, gia tăng dân số quá nhanh sẽ tác động tiêu cực đến quá trình phát triển của từng quốc gia và toàn thế giới Gia tăng dân số nhanh làm căng thẳng thêm các vấn đề mang tính toàn cầu như: cạn kiệt nguồn tài nguyên, suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu, quá tải dân cư… Chính những hiện tượng này cùng với nhu cầu sống cơ bản của người dân không được đáp ứng đầy đủ như lương thực, thực phẩm, chăm sóc sức khỏe, giáo dục… sẽ là những yếu tố cản trở những nỗ lực nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng cuộc sống của mỗi người dân, của cộng đồng và toàn xã hội

Nhiều nước đã và đang mong muốn kiểm soát sự gia tăng dân số hợp lý nhằm tăng các nguồn lực đầu tư phát triển dài hạn, đáp ứng nhu cầu sống tốt hơn cho mọi người dân Trong mấy thập kỷ qua, mối quan hệ giữa dân số và kinh tế xã hội từng bước được đề cập Đầu tiên là tại Hội nghị Quốc tế về Dân số lần thứ nhất được tổ chức tại Roma (Italia) vào năm 1954; lần thứ 2 năm 1965 tại Beograt (Nam Tư cũ), lần thứ 3 năm 1973 tại Bucharest (Romania), lần thứ 4 năm 1984 tại Mexico và Hội nghị Dân số và Phát triển năm 1994 tại Cairo – Ai Cập, cho đến Hội nghị Thượng đỉnh của Liên hiệp quốc vào tháng 9 năm 2000 với Tuyên bố Thiên niên kỷ của 149 nguyên thủ quốc gia và đại diện 180 nước tham gia đã ngày càng thống nhất hơn về nhận thức, phương pháp giải quyết vấn đề dân số và phát triển.[13]

Tại hội nghị Cairo, với 180 nước tham gia đã đạt được sự thống nhất cao trong việc đề ra Chiến lược mới, nhấn mạnh mối liên hệ tổng thể giữa dân số và phát triển Hội nghị đã khẳng định con người là trung tâm của sự phát triển bền vững, vì con

Trang 19

người là nguồn lực quan trọng nhất, có giá trị nhất của mọi dân tộc Để đạt được phát triển bền vững, các nước cần giảm bớt và loại trừ những mô hình sản xuất, tiêu dùng thiếu bền vững, tăng cường các chính sách liên quan đến dân số [10]

Tháng 5 năm 2011, Hội nghị Ủy ban về Dân số và phát triển LHQ đã tổ chức phiên họp 44 tại New York với sự tham dự trên 200 nước Hội nghị đã thảo luận và thống nhất những vấn đề về dân số và phát triển là những nội dung cực kỳ quan trọng

và cấp thiết đối với mỗi quốc gia và toàn thế giới Hội nghị đã khẳng định: “Mục tiêu

cuối cùng là nâng cao chất lượng cuộc sống của các thế hệ hiện tại và trong tương lai, đảm bảo sự hài hòa giữa các mục tiêu nhân khẩu học với các vấn đề xã hội, kinh tế và môi trường”

2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Từ nửa sau thế kỷ XX đến nay, dân số Việt Nam tăng nhanh chẳng hạn như giai đoạn 1954-1960: với tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm là 3,93%; 1960-1970: 3,24%; Năm 1992, nhịp độ tăng dân số của nước ta là 2,26%; năm 1997: 1,88% Tốc độ tăng dân số đã giảm từ 2,34% vào năm 1979 xuống còn 1,51% vào năm 1999 và 1,21% vào năm 2007 Với tỷ lệ gia tăng dân số quá nhanh nói trên, mỗi ngày nước ta có thêm khoảng 3.100 người (tương đương dân số 1 xã nhỏ), mỗi tháng thêm khoảng 97.000 người (khoảng 1 huyện) và mỗi năm thêm khoảng 1,1 triệu người (khoảng 1 tỉnh trung bình)

Quy mô dân số lớn vẫn tiếp tục gia tăng về số lượng tuyệt đối, song tốc độ gia tăng có xu hướng giảm Theo số liệu Tổng điều tra dân số ngày 01/4/1989, nước ta có 64.412.000 người; Đến Tổng điều tra DS và nhà ở ngày 01/4/2009 dân số nước ta là 85.789.573 người Và đến ngày 31/12/2017 là 95.414.640 người

Năm 1960, với dân số 30,2 triệu người, tỷ lệ tăng dân số thời điểm này rất cao 3,8%/năm, tổng tỷ suất sinh là khoảng 6,3 con Điều này ảnh hưởng lớn tới sự phát triển KT- XH của nước ta Chính vì vậy, ngày 26/12/1961, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định 216-CP về sinh đẻ có hướng dẫn Đây là Quyết định có dấu mốc lịch sử quan trọng của Việt Nam về công tác dân số Theo đó, cuộc vận động SĐKH được phát động với mục tiêu “Vì sức khỏe của người mẹ, vì hạnh phúc và hòa thuận của gia đình, vì để cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo, việc sinh đẻ của nhân dân phải được hướng dẫn một cách thích hợp” [3]

Các kỳ Đại hội Đảng lần thứ IV,V và VI luôn xác định công tác DS-KHHGĐ là

Trang 20

những chỉ tiêu quan trọng trong phát triển đất nước, hàng loạt chính sách dân số đã dược ban hành Đại hội Đảng lần thứ VII đã xác định vị trí, vai trò và yêu cầu đối với công tác DS là “Giảm tốc độ tăng dân số là một quốc sách, phải trở thành cuộc vận động rộng lớn, mạnh mẽ và sâu sắc trong toàn dân”

Ngày 14/01/1993, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) đã ban hành nghị quyết về chính sách DS-KHHGĐ Đây là lần đầu tiên Đảng ta

tổ chức một hội nghị bàn về vấn đề dân số Tại Hội nghị này Đảng đã khẳng định "Sự

gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cản trở tốc độ phát triển kinh tế xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển về mặt trí tuệ, văn hóa và thể lực giống nòi Nếu xu hướng này cứ tiếp tục diễn ra thì trong tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trước những khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt” Sự gia tăng dân số quá nhanh đã

tạo nên sức ép rất lớn đối với việc phát triển KT-XH của đất nước, giảm chất lượng

cuộc sống của từng thành viên trong xã hội Nghị quyết đã chỉ rõ: "Công tác Dân số -

Kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển đất nước,

là một trong những vấn đề KT-XH hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội" Nghị quyết

này cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị

Đến Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996, công tác DS-KHHGĐ được định

hướng “Kiện toàn hệ thống tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ Phát triển mạng

lưới dịch vụ KHHGĐ đến tận cơ sở, nhất là nông thôn, miền núi” [3]

Bộ Chính trị (khóa IX) ban hành Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 về việc “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS-KHHGĐ” Ngày 01/4/2009, Bộ Chính trị (khóa X) ban hành Kết luận số 44KL/TW, Kết luận đã nhấn mạnh “Những thành tựu của công tác DS đã góp phần tích cực vào sự phát triển KT-XH của đất nước, nhất là đóng góp vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và đào tạo của nhân dân” [4]

Gần đây nhất, tại Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số

trong tình hình mới Nghị quyết đã chỉ rõ: “Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy làm

công tác dân số theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, đồng thời thực hiện quản lý chuyên

Trang 21

môn thống nhất Có chính sách đãi ngộ thoả đáng, nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cộng tác viên ở thôn, bản, tổ dân phố

Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, thực hiện chuẩn hoá đội ngũ cán bộ dân số các cấp, các ngành đáp ứng yêu cầu chuyển hướng sang chính sách dân số và phát triển” [1]

Để thể chế hóa về mặt Nhà nước đối với chính sách DS-KHHGĐ, Chính phủ đã ban hành: Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 về phê duyệt Chiến lược DS-SKSS Việt Nam giai đoạn 2011-2020 với một trong những nội dung chính là nhấn mạnh chú trọng phát triển, đào tạo về kiến thức, kỹ năng truyền thông DS và SKSS cho các cán bộ làm công tác TTDS ở các cấp, cán bộ y tế tham gia trực tiếp trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS để nâng cao chất lượng truyền thông và chất lượng dịch vụ hướng tới khách hàng, thoả mãn nhu cầu dịch vụ CSSKSS cho mọi nhóm đối tượng Chiến lược cũng đánh giá những nguyên nhân dẫn đến tồn tại hạn chế trong công tác DS-KHHGĐ giai đoạn 2001 - 2010 Một trong những nguyên nhân đó là: Do có sự thay đổi của tổ chức bộ máy dẫn đến sự thiếu ổn định, nhất là đội ngũ cán

bộ cơ sở, tình trạng thiếu cán bộ, nhất là cán bộ đã được đào tạo, có kinh nghiệm làm công tác DS-KHHGĐ còn tương đối phổ biến, chế độ đãi ngộ cho cán bộ còn chưa phù hợp [17]

Nghị quyết số 137/NQ-CP ngày 31/12/2018 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới Nghị quyết đã giao cho các Bộ, Ngành liên quan xây dựng và thực hiện các kế hoạch, đề án, đề tài về DS-KHHGĐ như: Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030; Đề án Truyền thông dân số đến năm 2030; Đề án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác dân số các cấp đến năm 2030; Đề án nghiên cứu mô hình tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về dân số và phát triển giai đoạn 2021 – 2030; Xây dựng, ban hành chính sách đãi ngộ đối với cộng tác viên dân số thôn, bản, tổ dân phố; Đề án, mô hình và tổ chức bộ máy chuyên trách làm công tác dân số các cấp, [8]

Giải quyết tốt các vấn đề dân số là một trong giải pháp cơ bản để đạt tới mục tiêu phát triển bền vững Đó là quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong gần 60 năm thực hiện công tác DS và cũng được khẳng định trong văn kiện Đại hội Đảng

Trang 22

lần thứ XI: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển…” Chiến lược đến năm 2020: Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững” [17]

2.3 Nghiên cứu ở tỉnh Nghệ An

Cũng như nhiều địa phương khác, gần 60 năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai chương trình DS-KHHGĐ; là tỉnh có quy mô dân số lớn, cơ cấu dân số trẻ, số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ được bổ sung ngày càng nhiều; tỷ suất sinh, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên đang ở mức cao Bên cạnh đó Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước, địa hình phức tạp, mức sống của người dân, nhất là ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa còn thấp, nhiều quan niệm tập tục lạc hậu về sinh đẻ vẫn còn nặng

nề trong một bộ phận nhân dân; Với quan điểm dân số là yếu tố phát triển đất nước, cùng với phát triển kinh tế, Nghệ An đã tập trung mọi nỗ lực, từng bước khắc phục khó khăn đưa công tác DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An đã đạt được những thành tựu quan trọng Theo kết quả số liệu báo cáo: Tỷ lệ phát triển dân số giảm từ 3,45% (năm 1961) xuống còn 1,1% (năm 2017); Tốc độ tăng quy mô dân số giảm từ 1,18% (năm 1961) xuống 0,15% (năm 2017) Số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 6,78 con (năm 1961) xuống còn 2,76 con (năm 2017) Đặc biệt nhờ làm tốt công tác TTGD, vận động, nhận thức của cán bộ, và nhân dân về vấn đề dân số, CSSKSS, KHHGĐ đã có chuyển biến rõ rệt Phong trào nhân dân thực hiện mô hình ít con, khỏe mạnh, bình đẳng và tiến bộ đã từng bước phát triển rộng khắp Đặc biệt, nhờ kết quả thực hiện chương trình DS-KHHGĐ mà hàng năm có gần 4 vạn phụ nữ thực hiện KHHGĐ và tránh mang thai sinh đẻ, nghĩa là hàng năm 4 vạn phụ nữ có điều kiện thời gian để học tâp, lao động, công tác, tham gia các hoạt động xã hội, Tỷ lệ tăng dân số

và mức sinh cao từng bước được khống chế; tuổi thọ bình quân tăng từ 42,5 tuổi (năm 1961) lên 74,2 tuổi (năm 2017); kết quả giảm sinh trong gần 60 năm qua đã góp phần quan trọng trong việc xóa đói, giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân [3; 4]

Thành tựu công tác DS-KHHGĐ những năm qua do nhiều yếu tố hợp thành, bên cạnh vai trò có tính quyết định của các cấp ủy Đảng, không thể không nói đến vai trò của đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông DS –KHHGĐ ở cơ sở, đó là những cán bộ chuyên trách DS, những CTV; đội ngũ này cần phải được quan tâm đầu tư bố trí, tuyển chọn và sử dụng một cách phù hợp và thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng Đây là yếu tố tiên quyết cho sự thành công của công tác DS-KHHGĐ trong thời gian qua

Trang 23

Các chính sách cụ thể được ban hành: Chỉ thị số 09-CT/TU ngày 19/9/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TU ngày 26/6/2009 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về tiếp tục đẩy mạnh công tác DS-KHHGĐ trong tình hình mới Nghị quyết số 170/2015/NQ-HĐND ngày 10/7/2015 của HĐND tỉnh Nghệ An Quy định một số chính sách DS-KHHGĐ trên địa bàn tỉnh Nghệ An Quyết định số 43/2015/QĐ-UBND ngày 21/8/2015 của UBND tỉnh Nghệ An Quy định một số chính sách DS-KHHGĐ trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Một trong những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để thực hiện các chỉ thị, nghị quyết là: Đẩy mạnh công tác truyền thông và vận động các tầng lớp nhân dân về công tác DS-KHHGĐ; Củng cố kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ và nâng cao hiệu lực quản

lý công tác DS-KHHGĐ, trong đó chú trọng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông DS-KHHGĐ, tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ này được học tập, rèn luyện nâng cao kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tuyên truyền vận động, giáo dục về DS-KHHGĐ trên địa bàn tỉnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS-KHHGĐ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Trong phạm vi cho phép, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu

thực trạng, các yếu tố và giải pháp nhằm phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS-KHHGĐ tại Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An

nâng cao CLDS ở giai đoạn đầu đời của tỉnh Nghệ An

- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2014 đến tháng 12/2018 đối với dữ liệu quá

khứ và các đề xuất cho giai đoạn 2019 - 2025

- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng đội ngũ cán bộ nhân viên đang làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ và thăm dò tính cần thiết, khả thi của các giải pháp đề xuất ở một số huyện, xã tỉnh Nghệ An mang tính đại diện cho các vùng miền như: Quỳ Hợp, Con Cuông (miền núi phía Tây), Yên Thành, Nam Đàn (đồng bằng), Thành phố Vinh, Thị xã Hoàng Mai (thành, thị)

Trang 24

4 Mục tiêu nghiên cứu

4.1 Mục tiêu chung

Đề xuất các giải pháp giúp xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS-KHHGĐ tại Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, yên tâm công tác

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS-KHHGĐ tại Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An trong giai đoạn tới

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:

- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp với phương pháp so sánh để phân

tích, đánh giá số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS-KHHGĐ tại Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An

Phương pháp thống kê mô tả: Là phương pháp có liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu

Phương pháp so sánh: Là phương pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu gốc, cho phép phân tích các chỉ tiêu cả về số tương đối lẫn tuyệt đối, các hiện tượng diễn biến theo thời gian qua so sánh thời kỳ này với thời kỳ trước, so với chỉ tiêu kế hoạch hay các chỉ tiêu cùng loại giữa các đối tượng nghiên cứu khác nhau

Trang 25

- Phương pháp điều tra khảo sát:

Tác giả sẽ tiến hành điều tra thực nghiệm tại 06 địa bàn đã được chọn để tiến hành điều tra nghiên cứu Trong quá trình điều tra thực nghiệm, tác giả sẽ sử dụng các phương pháp phỏng vấn:

- Phỏng vấn bằng bảng hỏi: Người được phỏng vấn sẽ trả lời theo bảng hỏi được thiết kế sẵn Mẫu nghiên cứu: Trong phạm vi nguồn lực có thể, tác giả tiến hành khảo sát tại 06 địa bàn

- Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân: Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu các đối tượng bao gồm: Đại diện Chi cục DS - KHHGĐ tỉnh; Trung tâm DS-KHHGĐ huyện; Cán bộ nhân viên TT DS-KHHGĐ; Thành viên Ban chỉ đạo công tác DS - KHHGĐ cấp huyện, cấp xã; cơ sở y tế,…

Để xây dựng bộ câu hỏi dùng để phỏng vấn, khảo sát, tác giả xây dựng bộ câu hỏi căn cứ vào bộ câu hỏi của các nghiên cứu trước, kinh nghiệm, nhận thức của bản thân; Sau khi bộ câu hỏi sơ bộ được hình thành, tác giả tiến hành bàn luận, tham khảo, xin ý kiến của những người có kinh nghiệm, am hiểu về vấn đề nghiên cứu Sau khi hoàn thiện bản câu hỏi trên cơ sở tiếp thu các ý kiến góp ý, bộ câu hỏi chính thức được hoàn thiện và dùng để phỏng vấn các đối tượng như trên

- Phương pháp thu thập số liệu:

Các số liệu phân tích được sử dụng từ các nguồn thu thập thông tin báo cáo tổng hợp của 21 huyện, thành, thị; báo cáo của Tổng cục DS-KHHGĐ,

+ Số liệu thu thập từ các đề tài, sách báo, tài liệu, báo cáo tổng kết có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu

+ Các biểu mẫu tổng hợp về số lượng, thực trạng đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông trong lĩnh vực DS-KHHGĐ

+ Các biểu mẫu tổng hợp về thực trạng và nhu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên truyền thông trong lĩnh vực DS-KHHGĐ

+ Số liệu điều tra bằng bảng câu hỏi, phiếu khảo sát, phỏng vấn trực tiếp

- Phương pháp xử lý số liệu: Dùng phần mềm thống kê Excel, SPSS

Trang 26

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Về mặt lý luận

Phân tích làm rõ cơ sở lý luận của việc phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS-KHHGĐ như một thiết chế giáo dục xã hội với những đặc trưng của nó

Tiếp cận lý thuyết quản lý truyền thông hiện đại vào việc truyền thông tại cơ sở trong điều kiện hiện nay, đáp ứng nhu cầu mục tiêu phát triển đội ngũ cán bộ truyền thông về DS-KHHGĐ

6.2 Về mặt thực tiễn

Trên cơ sở phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông về DS-KHHGĐ tại Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An Đề xuất giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS-KHHGĐ tại Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn luận văn được bố cục làm 3 chương:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông về DS-KHHGĐ

- Chương 2: Thực trạng công tác phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông về DS-KHHGĐ tại Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An

- Chương 3: Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS-KHHGĐ tại Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An

Trang 27

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NHÂN VIÊN LÀM CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG

DS-KHHGĐ

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Cán bộ và đội ngũ cán bộ

Cán bộ: là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ,

chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị -xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp ngạch vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước, mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh, tiêu chuẩn riêng và hưởng lương

từ ngân sách Nhà nước [16]

Đội ngũ cán bộ là mạng lưới những người được cơ quan nhà nước tuyển dụng,

được giao nhiệm vụ chuyên trách một lĩnh vực chuyên ngành trong hệ thống ban, ngành từ Trung ương đến địa phương có tiêu chuẩn và chức danh theo ngạch bậc và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

1.1.2 Phát triển và phát triển đội ngũ cán bộ

Phát triển: Trong Triết học có hai quan điểm đối lập nhau khi đề cập đến khái

niệm phát triển:

+ Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng giảm siêu hình thuần túy

về lượng, không có sự thay đổi về chất Quan điểm này cũng cho rằng sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục không phải trải qua những bước quanh co phức tạp

+ Trái lại theo quan điểm duy vật biện chứng, phát triển dùng để khái quát quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Quá trình đó vừa diễn ra từ từ, vừa nhảy vọt làm cho sự vật, hiện tượng cũ mất đi phát triển theo chiều xoắn ốc, cái mới sẽ lặp lại một số đặc trưng, đặc tính của cái cũ, nhưng trên cơ sở cao hơn, hoàn thiện hơn

Theo Từ điển Ngôn ngữ, thì phát triển có nghĩa là biến đổi hoặc biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.[21]

Trang 28

Theo David Koten thì phát triển là: “Một tiến trình mà qua đó các thành viên của

xã hội tăng được những khả năng của cá nhân và định chế của mình để huy động và quản lý các nguồn lực nhằm tạo ra những thành quả bền vững và cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với nguyện vọng của họ”

Như vậy, phát triển là một trường hợp đặc biệt của vận động, trong quá trình phát triển, sự vật, hiện tượng chuyển hóa sang chất mới, cao hơn, phức tạp hơn, làm cho tổ chức, cơ cấu, phương thức vận động và chức năng của sự vật ngày càng hoàn thiện hơn

Phát triển đội ngũ cán bộ: Phát triển đội ngũ cán bộ, trước hết là phải tạo ra một

đội ngũ, từ đó phát triển đội ngũ cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu, độ tuổi và giới tính

Phát triển đội ngũ cán bộ có thể hiểu là sự tăng lên về số lượng cán bộ, phù hợp với cơ cấu, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, trên cơ sở đó tạo ra sự phân công hợp

lý hơn để nâng cao chất lượng công tác

Như vậy, phát triển đội ngũ cán bộ là làm cho đội ngũ cán bộ ngày càng hoàn thiện hơn, phát triển toàn diện hơn về năng lực, chuyên môn, phẩm chất đạo đức theo một định hướng chung đã được xác định, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác

Muốn phát triển đội ngũ cán bộ thì phải tìm ra được những mâu thuẫn hiện tại, khó khăn, hạn chế, để từ đó tìm ra cách thức giải quyết các mâu thuẫn Các mâu thuẫn bao gồm cả bên trong và bên ngoài, khi giải quyết khắc phục được sẽ nâng cao về mặt chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng và đồng bộ về cơ cấu

1.1.3 Truyền thông – Giáo dục và Truyền thông về DS-KHHGĐ

Truyền thông là một quá trình giao tiếp trao đổi thông tin, tư tưởng, tình

cảm,…chia sẻ kỹ năng, kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, cộng đồng và xã hội [2]

Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian, trong đó bắt buộc phải có các yếu tố sau: Người truyền, người nhận, thông điệp, kênh truyền thông, phản hồi, nhiễu Trong quá trình truyền thông, người truyền và người nhận có thể đổi chỗ cho nhau, xen vào nhau Về mặt thời gian, người truyền thực hiện hành vi truyền thông trước [11]

Trang 29

Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi và

biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của cả người dạy và người học theo hướng tích cực Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách cả thầy và trò bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển trong xã hội loài người đương đại [22]

Giáo dục là một quá trình dạy và học nhằm chuẩn bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết, hoặc làm thay đổi hành vi có hại bằng hành vi có lợi Giáo dục cũng là quá trình giao tiếp hai chiều, qua đó người dạy và người học cùng chia sẻ hiểu biết, kinh nghiệm và cùng học tập lẫn nhau

Truyền thông - Giáo dục là quá trình tác động đến đối tượng giáo dục thông qua

hoạt động truyền thông, bằng sự liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ

kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm nâng cao nhận thức, tiến tới điều chỉnh thái độ và hành vi phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, nhóm, cộng đồng, xã hội

Truyền thông về DS-KHHGĐ: là một quá trình giao tiếp, chia sẻ, trao đổi thông tin từ người truyền đến người nhận, nhằm đạt được sự hiểu biết, nâng cao nhận thức, thái độ và hướng tới chuyển đổi hành vi về DS-KHHGĐ [20] Đây là một quá trình phức tạp bởi đối tượng truyền thông DS-KHHGĐ không chỉ là một hành vi sinh học

mà còn là một hành vi chịu tác động của các yếu tố tình cảm, tâm lý, văn hóa, kinh tế,

xã hội Mỗi đối tượng, mặc dù cũng có những nét chung, song lại có những đặc điểm riêng biệt Do đó, tìm hiểu và phân tích đối tượng, từ đó hiểu rõ đối tượng, biết họ cần

gì, đến với họ bằng cách nào, ai có thể đến với họ là rất quan trọng và cần thiết trong việc truyền thông

1.1.4 Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

- Dân số là một tập hợp nhiều cá thể con người trong xã hội Dân số là chủ thể

của xã hội nhưng cũng là đối tượng quản lý của xã hội

Dân số là số lượng dân sống trong một đơn vị lãnh thổ nhất định như trong một xóm, bản, xã, huyện, tỉnh hay quốc gia,…

Nhân khẩu học hay dân số học là khoa học nghiên cứu các hiện tượng và quy luật dân số, bao gồm các yếu tố: quy mô, cơ cấu, phân bố, mật độ dân số cũng như các quá trình sinh, tử, di dân, tăng trưởng dân số trong sự tác động qua lại với các yếu tố kinh

tế, xã hội và văn hóa [2]

Trang 30

- Kế hoạch hóa gia đình:

+ Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới thì KHHGĐ bao gồm những vấn đề

thực hiện giúp cho các cá nhân hay các cặp vợ chồng để đạt được những mục tiêu sau đây:

- Tránh những trường hợp có thai và sinh con ngoài ý muốn, dự định

- Điều hòa khoảng cách giữa các lần sinh

- Chủ động thời điểm sinh con cho phù hợp với tuổi của bố, mẹ

Như vậy, KHHGĐ là sự cố gắng có ý thức của các cặp vợ chồng nhằm điều chỉnh số con và khoảng cách giữa các lần sinh KHHGĐ không những chỉ bao hàm việc lựa chọn sử dụng các BPTT nhằm tránh thai ngoài ý muốn mà còn là những cố gắng của các cặp vợ chồng để có thai và sinh con [17]

+ Theo định nghĩa của Bộ Y tế: KHHGĐ là nỗ lực của Nhà nước, xã hội để

mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, quyết định thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình

Biện pháp KHHGĐ là những thực hành giúp cá nhân hay các cặp vợ chồng đạt được các mục tiêu:

- Tránh những trường hợp sinh không mong muốn;

- Quyết định được thời gian và khoảng cách sinh con;

- Sinh một hoặc hai con, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định

Phạm vi của KHHGĐ không đồng nghĩa với kiểm soát và hạn chế sinh đẻ mà còn bao gồm nội dung điều chỉnh khả năng sinh sản, giải quyết vấn đề vô sinh đối với các cặp vợ chồng do có những vấn đề thuộc bộ máy và chức năng sinh sản [2]

1.2 Một số vấn đề về phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác TT KHHGĐ tại chi cục DS-KHHGĐ

DS-1.2.1 Sự cần thiết phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông

DS - KHHGĐ tại Chi cục DS-KHHGĐ

Công tác DS-KHHGĐ luôn được xác định là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề KT–XH hàng đầu của nước ta Thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ là giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, luật pháp, chiến lược liên quan

Trang 31

đến công tác DS nhằm thúc đẩy công tác DS phát triển trong đó đặc biệt là công tác

TT về lĩnh vực DS-KHHGĐ

Để triển khai thực hiện tốt những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến công tác DS-KHHGĐ phải nói đến sự đóng góp tích cực của đội ngũ cán bộ làm công tác TT DS-KHHGĐ, nhất là ở cơ sở, đó là những viên chức dân số xã, phường, thị trấn và CTV ở các thôn, xóm, khối, bản trong việc tuyên truyền vận động cho các tầng lớp nhân dân, nhất là những người trong độ tuổi sinh đẻ về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về DS-KHHGĐ

Phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác TT về lĩnh vực DS-KHHGĐ là một trong những thành tố không thể thiếu trong công tác dân số Họ là những người có vai trò rất quan trọng, là mạng lưới phủ kín ở cơ sở, họ chính là những người trực tiếp tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân thực hiện các quy định của pháp luật về dân số đồng thời thống kê sát, đúng tình trạng dân số (sinh, tử, đi, đến,…) trong từng thời điểm cụ thể (hàng tháng, hàng quý) giúp chính quyền các cấp hiểu rõ mức độ tăng dân số ở các địa phương

Phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác TT về DS- KHHGĐ được các cấp ủy

Đảng, chính quyền quan tâm: Nghị quyết số 47 của Bộ Chính trị ghi rõ: “Củng cố,

kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác DS/KHHGĐ từ trung ương đến cơ sở

đủ mạnh để quản lý và tổ chức thực hiện tốt công tác… Đặc biệt quan tâm, củng cố,

ổn định, nâng cao năng lực và nhiệt tình cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác DS-KHHGĐ ở xã, phường, thị trấn… Có chính sách khuyến khích thỏa đáng đối với đội ngũ này”

Chính vì vậy, ngày 04/8/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 23/2008/CT-TTg ngày 04/8/2008 về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác DS-KHHGĐ nêu

rõ: “Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sớm ổn định và kiện

toàn tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ ở cơ sở” Ở Nghệ An, vai

trò quan trọng của đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông ở cơ sở cũng được xác định rõ trong Nghị quyết số 20- NQ/TU ngày 26/6/2009 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy

về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác DS-KHHGĐ trong tình hình mới: “Củng cố, kiện

toàn tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ từ tỉnh đến cơ sở đủ mạnh

để quản lý và tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục và đưa dịch vụ

Trang 32

KHHGĐ đến tận người dân Đặc biệt quan tâm kiện toàn, củng cố, phát triển và nâng cao năng lực cũng như có chính sách khuyến khích về tinh thần và vật chất đối với đội ngũ CBCT DS ở các xã, phường, thị trấn và đội ngũ CTV DS ở các thôn, xóm, bản, làng”

Thực hiện chủ trương của Trung ương, Tỉnh Nghệ An đã xây dựng và ban hành Nghị quyết số 53/2012/NQ-HĐND ngày 13/7/2012 của HĐND tỉnh Nghệ An về bố trí cán bộ chuyên trách DS-KHHGĐ xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Nghệ An; Quyết định số 77/2012/QĐ-UBND ngày 19/10/2012 của UBND tỉnh Nghệ An về việc

bố trí cán bộ chuyên trách DS-KHHGĐ xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Nghệ

An

Để xác định sự cần thiết phát triển đội ngũ cán bộ truyền thông DS-KHHGĐ, trước hết cần phải xác định rõ mục tiêu, đối tượng, nhiệm vụ, nội dung, thực hiện và phương pháp thực hiện của công tác truyền thông DS-KHHGĐ

Công tác truyền thông DS-KHHGĐ được đẩy mạnh, triển khai toàn diện, đồng

bộ trên các kênh truyền thông, mở rộng về phạm vi và đối tượng; nâng cao một bước về chất lượng, đổi mới về cách làm đã có tác dụng nâng cao nhận thức và tạo

sự đồng thuận của toàn xã hội về DS, làm tăng số người chấp nhận các dịch vụ KHHGĐ

Việc TT các vấn đề về DS-KHHGĐ thông qua kênh thông tin đại chúng tác động đến được nhiều đối tượng và có sức lan tỏa cũng như tạo được dư luận rộng rãi, đã thực sự có chuyển biến cả về số lượng và chất lượng Từ chỗ chỉ có vài cơ quan thông tin đại chúng tham gia công tác tuyên truyền DS-KHHGĐ và tham gia không thường xuyên, đến nay đã có thêm nhiều cơ quan thông tin đại chúng tham gia công tác tuyên truyền, giáo dục về DS-KHHGĐ Nội dung DS-KHHGĐ được truyền tải thường xuyên trên Đài Phát thanh Truyền hình Nghệ An, trong các bản tin thời sự, phóng sự, chương trình đối thoại trực tiếp; các tờ báo của tỉnh như: Báo Nghệ An mở chuyên mục DS- KHHGĐ hàng tháng, báo Lao động Nghệ An, các báo Trung ương trên địa bàn như Báo Gia đình và Xã hội, Báo Sức khỏe - đời sống; các tập san, tạp chí chuyên ngành, các ngành; đài truyền thanh của hầu hết các huyện, các xã, phường, thị trấn Nội dung và hình thức tuyên truyền cũng phong phú và sinh động hơn, phù hợp với nhiều đối tượng khác nhau Các chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về DS-KHHGĐ được tuyên truyền kịp thời hơn, thường xuyên đăng tải các

Trang 33

thông tin về DS-KHHGĐ, nêu gương người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến và phê phán yếu kém, các vi phạm về DS-KHHGĐ đã thu hút được sự chú ý và tạo được dư luận xã hội quan tâm

Các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội tham gia tích cực tuyên truyền, vận động về DS-KHHGĐ, tạo thành sự đồng bộ trong hoạt động truyền thông trên mọi địa bàn dân

cư và trong mọi thời gian Ngoài lực lượng cán bộ Y tế, Phụ nữ, Thanh niên, Công đoàn vốn đã có bề dày trong công tác này, đã có thêm những lực lượng mới tham gia

và tham gia ngày càng tích cực, hiệu quả vào việc tuyên truyền vận động về KHHGĐ Bên cạnh đó còn có đội ngũ báo cáo viên của Đảng bộ các cấp, các đội tuyên truyền lưu động của các huyện, lực lượng của các ngành (Bộ đội, Công an, Giáo dục và Đào tạo, ), các đoàn thể và tổ chức xã hội (Cựu chiến binh, Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Người cao tuổi ), tác động đến các đối tượng khác nhau

Đặc biệt là với việc phủ kín mạng lưới đội ngũ cán bộ TT trong lĩnh vực KHHGĐ từ tỉnh đến cơ sở đã góp phần tạo nên thành công trong công tác TT về DS- KHHGĐ Mạng lưới này bao gồm viên công chức, viên chức và CTV đến 100% số xã, phường, thị trấn trên toàn tỉnh, được đào tạo, tập huấn và trang bị các tài liệu, thiết bị truyền thông thích hợp, đã thực hiện được việc tuyên truyền, vận động trực tiếp, thường xuyên đến từng đối tượng ở thôn xóm, thúc đẩy mạnh việc chấp nhận quy mô gia đình ít con và thực hiện KHHGĐ và chăm sóc sức khỏe sinh sản

DS-Cũng trong thời gian qua, công tác TT về DS-KHHGĐ được tăng cường thông qua việc đầu tư, nâng cao chất lượng chương trình DS-KHHGĐ trên các phương tiện thông tin đại chúng, kịp thời phản ánh các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về DS-KHHGĐ Nhiều mô hình truyền thông dân số đã được xây dựng và triển khai nhằm phát huy thế mạnh của từng ban, ngành, đoàn thể và đáp ứng nhu cầu của từng nhóm đối tượng ở từng vùng, khu vực Các mô hình truyền thông dân số không những tạo điều kiện cho các đối tượng tham gia mà còn có tác dụng lôi kéo đối tượng cùng hoà nhập với cộng đồng xã hội thông qua việc lồng ghép dân số với các chương trình KT-XH, như mô hình truyền thông, lồng ghép với việc đưa dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ đến vùng sâu,khó khăn, vùng có mức sinh cao; Câu lạc bộ: không có người sinh con thứ 3; ông ngoại, bà ngoại; các mô hình: Nam nông dân, Nam giới biển,…

Các sản phẩm, tài liệu truyền thông (tờ rơi, tờ gấp, tranh lật,…) có hình thức phong

Trang 34

phú và chất lượng được sản xuất và cung cấp trực tiếp cho đối tượng, các hộ gia đình và luôn sẵn có tại các điểm tuyên truyền và tư vấn số lượng ngày càng lớn hơn, kịp thời hơn, hấp dẫn hơn Hệ thống pa-nô, áp phích, khẩu hiệu về DS-KHHGĐ được dựng lên

ở khắp các trục giao thông, ở những nơi công cộng, tập trung dân cư, ở nhiều thôn, xóm

Chương trình truyền thông DS-KHHGĐ đã được triển khai trong hệ thống nhà trường phổ thông các cấp, các trường giáo dục chuyên nghiệp thông qua chương trình chính khóa, ngoại khóa; Trường Chính trị tỉnh và trung tâm bồi dưỡng chính trị của 20 huyện, thành thị; trong chương trình tập huấn bồi dưỡng của các đoàn thể xã hội Trong các lực lượng vũ trang, nội dung giáo dục DS-KHHGĐ cũng được đưa vào chương trình huấn luyện chiến sĩ mới Việc triển khai chương trình giáo dục dân số có tác dụng cung cấp kiến thức làm nền tảng để hình thành thái độ chấp nhận quy mô gia đình nhỏ như một chuẩn mực xã hội ở thế hệ trẻ

Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tuyên truyền, giáo dục, vận động

để người dân tự nguyện thực hiện KHHGĐ, coi đây là cuộc vận động lớn đối với mọi

người dân, mọi cá nhân, mọi tầng lớp xã hội trên phạm vi cả nước Để thực hiện được nhiệm vụ này, tổ chức bộ máy chuyên trách làm công tác TT về DS-KHHGĐ được hình thành từ trung ương, tỉnh, huyện đến xã Đặc biệt, ở Nghệ An, đội ngũ này (đông thứ 3

cả nước), được trải khắp 480 xã phường, thị trấn và 5892 thôn, bản với 480 viên chức làm công tác TT cấp xã và 6739 CTV ở thôn, xóm, khối bản, là những người tình nguyện tham gia công tác DS-KHHGĐ, tuyên truyền, thuyết phục, vận động người dân thực hiện chính sách DS-KHHGĐ

Công tác TT trong lĩnh vực DS-KHHGĐ được đẩy mạnh, toàn diện và đồng bộ, tăng cường ở cả ba mũi nhọn, bao gồm tuyên truyền vận động chính sách; truyền thông chuyển đổi hành vi và truyền thông huy động cộng đồng ở các cấp, tạo nên sự đồng thuận của toàn xã hội Các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội như Hội Liên hiệp phụ nữ, Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Đoàn TN, Liên đoàn Lao động, Công

an, Sở Giáo dục Đào tạo, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy,… tham gia tuyên truyền, vận động

về DS-KHHGĐ, tạo thành sự đồng bộ trong hoạt động truyền thông trên mọi địa bàn dân cư và trong mọi thời gian, thông qua ký kết trách nhiệm phối hợp hàng năm với Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An

Chiến dịch truyền thông lồng ghép với cung cấp dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ được

Trang 35

tổ chức nhiều đợt hàng năm (trung bình mỗi năm triển khai từ 250 đến 300 xã) tại các địa bàn đông dân, có mức sinh cao và vùng khó khăn, thu hút sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền và sự tham gia của các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân địa phương Kết quả của các đợt chiến dịch

đã đạt 50 - 70% chỉ tiêu hàng năm về số người mới áp dụng BPTT hiện đại, tác động không nhỏ tới việc giảm mức sinh

Truyền thông trực tiếp tại cộng đồng được đổi mới theo hướng tiếp cận chuyển đổi hành vi về SKSS dưới nhiều hình thức, đem lại hiệu quả thiết thực Hàng năm duy trì hoạt động thường xuyên của gần 400 câu lạc bộ tại cơ sở, mít tinh, nói chuyện chuyên đề, tuyên truyền lưu động, biểu diễn văn nghệ,

Mặt khác, hiện nay công tác DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức: Quy mô dân số lớn, theo báo cáo thống kê chuyên ngành DS-KHHGĐ, dân số Nghệ An năm 2017 có 3.119.000 người, mật độ dân số cao: 178 người/km2; mức sinh cao (2,76 con) thuộc nhóm 7 tỉnh có mức sinh cao nhất cả nước [6] Từ năm 2015 đến nay, mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên vẫn còn cao, thậm chí có xu hướng tăng trở lại; Vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh đã ở mức báo động Xuất hiện vấn đề già hóa dân số; Chất lượng dân số tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn thấp và chưa đáp ứng được mục tiêu xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng sự nghiệp phát triển KT-XH của tỉnh nhà

Tóm lại, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông DS-KHHGĐ là một trong những nội dung quyết định sự thành công của công tác DS-KHHGĐ và là nhiệm

vụ trọng tâm hàng đầu để thực hiện mục tiêu giảm sinh, tiến tới ổn định quy mô dân

số, cơ cấu dân số ở mức hợp lý, nâng cao chất lượng dân số, tiến tới đạt mức sinh thay thế Bên cạnh đó, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông DS-KHHGĐ cũng góp phần làm cho mọi người và toàn xã hội nhận thức rõ về quy mô gia đình nên

có đủ 2 con được chấp nhận rộng rãi, nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển kinh tế, xã hội ở cơ sở cũng như của tỉnh Nghệ An

1.2.2 Những yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS-KHHGĐ

Công tác TT về DS-KHHGĐ là một lĩnh vực đòi hỏi người cán bộ làm công tác này phải có tri thức tổng hợp, liên ngành Vì thế, bên cạnh sự nhiệt tình, trách nhiệm, tâm huyết và chủ động trong công việc của đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông

Trang 36

DS-KHHGĐ, việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có tính chuyên nghiệp: có trình

độ chuyên môn, năng lực, kỹ năng tuyên truyền vận động, phẩm chất đạo đức, có tính

kỷ luật là một trong những vấn đề được quan tâm của đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông DS-KHHGĐ Vấn đề đạo đức của đội ngũ cán bộ là vấn đề có tính quyết định nâng cao chất lượng thực thi luật pháp và hiệu quả của bộ máy nhà nước, hệ thống chính trị

Trong xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ hiện nay, đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông DS-KHHGĐ cần phải đặc biệt quan tâm đến các quy định về tiêu

chuẩn phẩm chất, đạo đức cán bộ Khi toàn Đảng đang thực hiện cuộc vận động "Học

tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", mỗi cán bộ đều phải tự giác soi

mình vào tấm gương đạo đức của Người để tu dưỡng, phấn đấu trở thành người cán bộ gương mẫu

Công tác đào tạo và nghiên cứu được chú trọng nhằm trang bị kiến thức và nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ làm công tác TT về DS-KHHGĐ, đảm bảo cơ sở khoa học và thực tiễn trong các hoạt động quản lý và tổ chức thực hiện công tác DS-KHHGĐ

Từ cuối năm 2013 đến năm 2017, Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An đã phối hợp với Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng của Tổng cục Dân số - KHHGĐ, Bộ Y tế và Viện Dân

số và Các vấn đề xã hội, thuộc Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội tổ chức đào tạo chương trình đạt chuẩn viên chức dân số (thời gian 2 tháng) cho 480 viên chức DS-KHHGĐ cấp xã; 22 viên chức DS-KHHGĐ cấp huyện Ngoài ra, đội ngũ cán bộ DS-KHHGĐ từ cấp tỉnh, huyện còn được tập huấn chuyên sâu theo từng lĩnh vực chuyên môn, đào tạo nâng cao năng lực thông qua các chương trình đào tạo, đào tạo lại, đào tạo theo nhu cầu, đào tạo theo tín chỉ Việc tập huấn đối với cộng tác viên DS-KHHGĐ ở thôn, bản, khối phố được Trung ương phân cấp cho Chi cục DS-KHHGĐ cấp tỉnh tổ chức Do vậy, hàng năm Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An đều tổ chức chương trình tập huấn cho đội ngũ cộng tác viên DS-KHHGĐ: lớp nâng cao, lớp cơ bản (cho cán bộ mới thay thế), tổ chức các lớp tập huấn chuyên đề, nhất là kỹ năng tổ chức các hoạt động truyền thông vận động; kỹ năng giám sát; nâng cao kiến thức; kỹ năng quản lý và

tổ chức thực hiện công tác DS-KHHGĐ ở cơ sở

Nhằm đảm bảo cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc tổ chức thực hiện các hoạt động và quản lý chương trình DS-KHHGĐ, công tác nghiên cứu khoa học được tăng cường với các đề tài, đề án nghiên cứu cấp tỉnh, cấp huyện và xã Từ năm 2010 đến

Trang 37

này, có 7 đề án cấp tỉnh được bảo vệ và được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt cho triển khai trên địa bàn tỉnh nhà; có 23 đề án, đề tài cấp huyện được áp dụng triển khai thực hiện Mặc dù điều kiện cơ sở và lực lượng nghiên cứu về DS-KHHGĐ ở địa phương còn mỏng, nhưng nhiều cuộc khảo sát đã được thực hiện, cung cấp được những luận

cứ khoa học cần thiết cho việc triển khai công tác quản lý, đánh giá thực hiện chương trình, tiến hành công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền có hiệu quả hơn, thực hiện

đa dạng hóa các BPTT Nhiều đề án được triển khai và đã góp phần tích cực vào việc hoạch định và điều chỉnh chính sách DS-KHHGĐ để phù hợp với tình hình phát triển KT-XH của tỉnh nhà và địa phương

1.2.3 Nội dung phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS

bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ đủ số lượng, Chi cục KHHGĐ có thể dùng một số biện pháp như trình các cấp có thẩm quyền bố trí biên chế, tuyển dụng, ký hợp đồng lao động,

DS-1.2.3.2 Đảm bảo cơ cấu đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ phù hợp

Cơ cấu đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ là sự phân chia lực lượng lao động theo những tiêu thức nào đó thành các tỷ lệ nhất định, phản ánh mối quan hệ của nó trong tổng thể Đây là yếu tố không thể thiếu khi xem xét, đánh giá về đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ Đối với Chi cục DS-KHHGĐ, nó thể hiện ở số lượng, cơ cấu ngành nghề, trình độ và

sự phân bổ của đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ tại các phòng ban, đơn vị trực thuộc ấy nhằm thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của công tác DS-KHHGĐ trong giai đoạn hiện tại và tương lai

Trang 38

Việc xác định cơ cấu đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ phải xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ của Chi cục DS-KHHGĐ, từ yêu cầu công việc phải hoàn thành, từ yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ mà chuẩn bị cơ cấu nhân lực cho phù hợp Điều này cũng có nghĩa là, khi chiến lược, mục tiêu của công tác DS-KHHGĐ thay đổi thì cơ cấu của nguồn nhân lực phải thay đổi tương ứng

Đối với Chi cục DS-KHHGĐ, cơ cấu lao động phù hợp với chức năng nhiệm vụ

là tỷ lệ phân chia phù hợp về số lượng và chất lượng giữa các yếu tố về trình độ chuyên môn , về giới tính, về độ tuổi nhằm đảm bảo cho ngành Dân số thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ được giao

1.2.3.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông

DS - KHHGĐ

Thực chất của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ chính là phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ về mặt chất lượng Trong các cơ quan, đơn vị, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ là việc thực thi các giải pháp một cách toàn diện và đồng bộ nhằm ngày càng nâng cao thể lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức, tác phong của cán bộ, nhân viên

- Nâng cao thể lực cho đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS

- KHHGĐ: Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không

đơn thuần là không có bệnh tật Sức khoẻ là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần Có nhiều chỉ tiêu biểu hiện trạng thái

sức khoẻ của người lao động:

+ Có sức chịu đựng dẻo dai đáp ứng những yêu cầu trong quá trình hoạt động liên tục, kéo dài của tổ chức, đơn vị

+ Luôn có sự tỉnh táo, sảng khoái tinh thần phát huy cao độ năng lực sáng tạo của mỗi người lao động

Do vậy, để nâng cao thể lực của đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ, Chi cục DS-KHHGĐ cần những tiêu chuẩn về mặt thể lực phù hợp với ngành dân số Từ đó làm cơ sở cho việc tuyển chọn lao động, chăm sóc và bồi dưỡng sức khỏe cho đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ

Trang 39

- Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là trình độ về chuyên môn được đào tạo qua các trường lớp với văn bằng chuyên môn phù hợp yêu cầu của công việc Trình độ chuyên môn đào tạo ứng với hệ thống văn bằng hiện nay chia thành các trình độ như: sơ cấp, trung cấp, đại học và trên đại học Muốn hoàn thành tốt công việc, nhiệm vụ được giao, đòi hỏi đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ phải

có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt Trình độ là yếu tố cơ bản cấu thành năng lực của đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ Trình độ phải được đào tạo, bồi dưỡng qua trường lớp và tự đào tạo, rèn luyện qua thực tế công tác

Chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ

được thể hiện qua những tiêu chí và phẩm chất tâm lý xã hội cơ bản sau:

+ Trình độ nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ

+ Có kỹ năng nghề nghiệp

+ Có tác phong công nghiệp và tính chuyên nghiệp

+ Có ý thức kỷ luật, tự giác và hợp tác cao

+ Có niềm say mê nghề nghiệp, chuyên môn

+ Sáng tạo, năng động trong công việc

+ Có khả năng chuyển đổi công việc cao, thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực DS-KHHGĐ

Phát triển trình độ chuyên môn nghiệp vụ là nội dung quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ

Để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, Chi cục DS-KHHGĐ cần thực hiện các kế hoạch, chương trình đào tạo ngắn hạn và dài hạn nhằm bồi dưỡng nâng cao và cập nhật kiến thức cho mọi cán bộ nhân viên như: các lớp nâng cao kỹ năng chuyên môn, các lớp quản lý, các lớp rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm hiệu quả

Phẩm chất đạo đức, tác phong của cán bộ nhân viên ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ Để có thể nâng cao phẩm chất đạo đức, tác phong của cán bộ, nhân viên, cần thực hiện việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mỗi cán bộ nhân viên là cần thiết Đội ngũ cán

bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ cần phải có phẩm chất đạo đức

và tác phong tốt Nó thể hiện qua cách giải quyết công việc dứt khoát, có nguyên tắc

Trang 40

nhưng nhẹ nhàng, tôn trọng người gián tiếp, nói năng mạch lạc, ánh mắt thiện cảm, không nhận tiền quà đút lót, hối lộ

1.2.3.4 Tạo động lực làm việc cho đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ

Động lực làm việc là sự thúc đẩy con người làm việc hăng say, giúp cho họ phát huy được sức mạnh tiềm tàng bên trong, vượt qua được những thách thức, khó khăn để hoàn thành công việc một cách tốt nhất Động lực lý giải cho lý do tại sao một người lại hành động Một người có động lực là khi người đó bắt tay vào làm việc mà không cần có sự cưỡng bức, khi đó, họ có thể làm được nhiều hơn điều mà cấp trên mong chờ

ở họ Động lực làm việc thể hiện dưới nhiều khía cạnh khác nhau như sự nhiệt tình, chăm chỉ, bền bỉ…

Các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác truyền thông DS - KHHGĐ, đó là: yếu tố tiền lương và đãi ngộ; cơ sở vật chất, trang thiết bị truyền thông, môi trường làm việc; đào tạo và phát triển, cơ hội thăng tiến; công việc phong phú khơi gợi tính sáng tạo hoặc thử thách,

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác TT về DS-KHHGĐ

- Về tổ chức bộ máy ngành DS-KHHGD: Từ năm 1989 đến nay, ba lần thay đổi

tổ chức bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ, đặc biệt là việc giải thể Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em từ tháng 8/2007 ở Trung ương, nhưng 10 tháng sau mới kiện toàn

ở địa phương Hiện nay, thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập; hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ cũng thuộc diện phải kiện toàn, sắp xếp lại Do thay đổi cơ cấu tổ chức bộ máy nên đội ngũ cán bộ làm công tác TT về DS-KHHGĐ thiếu ổn định, có sự biến động về số lượng cũng như chất lượng Đội ngũ cán bộ làm công tác TT (cả số lượng và chất lượng), nhất là ở cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ

- Về sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp lãnh đạo: Mặc dù đã có sự quan tâm chỉ

đạo của lãnh đạo, các cấp Ủy Đảng và chính quyền các cấp Tuy nhiên vẫn còn một số nơi còn buông lỏng, xem nhẹ vai trò lãnh đạo chỉ đạo do nhận thức chưa đầy đủ về tính chất khó khăn, phức tạp, lâu dài và tầm quan trọng, ý nghĩa chiến lược của công

Ngày đăng: 26/01/2021, 15:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2017), Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2017
2. Bộ Y tế - Tổng cục DS-KHHGĐ (2009), Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ DS- KHHGĐ cho cán bộ xã, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ DS-KHHGĐ cho cán bộ xã
Tác giả: Bộ Y tế - Tổng cục DS-KHHGĐ
Năm: 2009
3. Bộ Y tế - Tổng cục DS-KHHGĐ (2011), Công tác DS-KHHGĐ Việt Nam- 50 năm xây dựng và phát triển (1961-2011), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác DS-KHHGĐ Việt Nam- 50 năm xây dựng và phát triển (1961-2011)
Tác giả: Bộ Y tế - Tổng cục DS-KHHGĐ
Năm: 2011
4. Bộ Y tế - Tổng cục DS-KHHGĐ (2011), Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước
Tác giả: Bộ Y tế - Tổng cục DS-KHHGĐ
Năm: 2011
5. Bộ Y tế (2008), Thông tư số 05/2008/TT-BYT ngày 14/5/2008 của Bộ Y tế hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy DS-KHHGĐ ở địa phương.Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 05/2008/TT-BYT ngày 14/5/2008 của Bộ Y tế hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy DS-KHHGĐ ở địa phương
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
6. Bộ Y tế (2018), Công văn số 3494/BYT ngày 20/6/2018 về TFR theo điều tra 1/4 hàng năm của Tổng cục Thống kê. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 3494/BYT ngày 20/6/2018 về TFR theo điều tra 1/4 hàng năm của Tổng cục Thống kê
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2018
7. Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An (2011), 50 năm xây dựng và phát triển (1961-2011), Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm xây dựng và phát triển (1961-2011)
Tác giả: Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An
Năm: 2011
10. Đàm Khải Hoàn (2010), Giáo trình Dân số - Chăm sóc sức khỏe sinh sản, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.11. http//Tài liệu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dân số - Chăm sóc sức khỏe sinh sản
Tác giả: Đàm Khải Hoàn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 11. http//Tài liệu.vn
Năm: 2010
13. Nguyễn Đình Cử (2011), 50 năm chính sách giảm sinh ở Việt Nam (1961-2011) Thành tựu, tác động và bài học kinh nghiệm. NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm chính sách giảm sinh ở Việt Nam (1961-2011) Thành tựu, tác động và bài học kinh nghiệm
Tác giả: Nguyễn Đình Cử
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2011
14. Nguyễn Đình Hương (2009), Việt Nam hướng tới nền giáo dục hiện đại . NXB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam hướng tới nền giáo dục hiện đại
Tác giả: Nguyễn Đình Hương
Năm: 2009
17. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định 2013/2011/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 Về việc phê duyệt Chiến lược Dân số và Sức khỏe Sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 2013/2011/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 Về việc phê duyệt Chiến lược Dân số và Sức khỏe Sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2011
19. Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An (2008), Quyết định 38/2008/QĐ-UBND ngày 29/7/2008 về việc ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy và biên chế của Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An. Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 38/2008/QĐ-UBND ngày 29/7/2008 về việc ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy và biên chế của Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An
Tác giả: Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An
Năm: 2008
20. Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (1998), Từ điển Ngôn ngữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Ngôn ngữ
Tác giả: Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Năm: 1998
21. Viện Ngôn ngữ học (1998), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học
Năm: 1998
9. Đại từ điển Tiếng Việt (2001), NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Khác
12. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của BCH TW Đảng khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w