1. Trang chủ
  2. » Hoá học lớp 11

s sử ử d dụ ụn ng g s su uy y l lu uậ ận n l lo og gi ic c đ để ể g gi iả ải i q qu uy yế ết t v vấ ấn n đ đề ề

18 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 343,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ xa xưa khi biết đến toán học con người đã có thể tính toán được rất nhiều  thứ  từ  diện  tích  các  thửa  ruộng  với  đủ  các  hình  dạng  khác  nhau  hay  năng  suất  làm  việc của [r]

Trang 1

SỬ D  D ỤN  Ụ  NG S  SU  U Y L  LU  UẬ  Ậ N L  LO  OG  GI  IC Đ  ĐỂ G  GI  IẢ  ẢI Q  Q UY  U  YẾ  ẾT V  VẤ  Ấ N Đ  Đ Ề 

Võ Văn Toàn , Nguyễn Nhật Thăng 

Về các bài toán suy luận logic, tùy theo mức độ cách đặt vấn đề dữ kiện đã cho của câu  hỏi ta thường sử dụng các phương pháp sau để giải quyết

·  LẬP BẢNG DỮ LIỆU

·  LỰA CHỌN TÌNH HUỐNG

·  GIẢN ĐỒ VEN

·  SUY LUẬN LOGIC 

1 ­  LẬP BẢNG DỮ LIỆU 

Để tìm ra 1 phương pháp nào đó mà có thể khiến các dữ kiện có thể kết hợp lại 

với nhau. Một bảng dữ liệu là điều cần thiết lúc bấy giờ. Ta sẽ thiết lập 1 bảng dữ liệu 

gồm các hàng và các cột. Các cột ta liệt kê các đối tượng thuộc nhóm thứ nhất, còn 

các hàng ta liệt kê các đối tượng thuộc nhóm thứ hai. Dựa vào điều kiện trong đề bài 

ta loại bỏ dần các ô (là giao của mỗi hàng và mỗi cột). Những ô còn lại (không bị loại 

bỏ) là kết quả của bài toán. 

Để hiểu rõ hơn về phương pháp này ta cùng tìm hiểu các ví dụ sau: 

Ví dụ 1: 

Có  4  người  làm  công  A,B,C,D  cùng  phối  hợp  làm  một  công  việc.  sau  khi  làm 

xong họ được nhận một số tiền thưởng. Họ cùng bàn bạc chia nhau số tiền thưởng 

đó với tỉ lệ là: : 1/10,2/10,3/10,4/10. Biết  mỗi người đều nhận một phần và: 

a)  A không nhận 1/10,2/10. 

b)  B không nhận 3/10,1/10. 

c)  Nếu A không nhận 3/10, thì D không nhận 1/10. 

d)  C không nhận 2/10,1/10. 

e)  D không nhận 2/10,3/10. 

Theo bạn thì mỗi người A,B,C,D nhận bao nhiu phần tiền? 

Giải: 

Trước hết ta viết lại các mệnh đề: 

a)  Nếu A không nhận 1/10,2/10 thì A có thể sẽ nhận 3/10 hoặc 4/10. 

b)  Nếu B không nhận  3/10,1/10 thì B có thể sẽ nhận 2/10 hoặc 4/10. 

c)  Nếu A không nhận 3/10, thì D không nhận 1/10. 

d)  Nếu C không nhận 2/10,1/10 thìC có thể sẽ nhận 3/10 hoặc 4/10. 

e)  NếuD không nhận 2/10,3/10 thì D có thể sẽ nhận 1/10 hoặc 4/10. 

Ta  thấy  bài  toán  trên  có  2  tuyến  dữ  liệu:  tuyến  thứ  nhất  là  4  người  A,B,C,D; 

tuyến thứ 2  là các dữ kiện  liên quan đến số tiền  mỗi  người  nhận được. Nhưng 

dữ kiện © lại là 1 dữ kiện khác, nó không mang tính lựa chọn như các dữ kiện 

còn  lại.Chính  vì  vậy,  ta  sẽ  lập  1  bảng  dữ  liệu  gồm  5  hàng  và  4  cột  (vì  có  4

Trang 2

dữ kiện đúng. 

Nhận xét: Ta thấy trong cả 4  mệnh đề đều 

có dự đoán về tên cướp nhận được 4/10 số  tiền  nên  ta  xẽ  xét  tên  nào  là  người  nhận  4/10 số tiền trước. 

+Ta giả sử A sẽ là người nhận 4/10 số tiền 

=> A sẽ không nhận 3/10 ( loại ô (4;1)).  +Theo  mệnh  đề  (c)  thì  D  cũng  sẽ  không  nhận 1/10. 

+Theo  mệnh  đề  (e),  D  không  nhận  1/10  nên  D  nhận  4/10  (Mâu  thuẫn  vì  ta  đã  giả 

sử A nhận 4/10)  +Vậy A nhận 3/10, D nhận 1/10. 

+A nhận 3/10 nên C sẽ không nhận 3/10. 

+Theo mệnh đề (d), C không nhận 3/10 nên C nhận 4/10. 

+Còn lại B nhận 2/10 

Vậy : A nhận 3/10, B nhận 2/10, C nhận 4/10 còn D nhận 1/10. 

Ví dụ 2: 

Sau 1 vụ cướp. Cảnh sát đã tóm được 3 nghi can A,B,C. Sau khi thẩm vấn,  cảnh sát biết được 1 trong 3 tên A,B,C là kẻ cướp. Bọn chúng khai như sau: 

a)  A khẳng định: hắn không làm, chính C làm. 

b)  B khai: C không có tội, chính A làm. 

c)  C khai: tôi không có tội, B cũng không có tội. 

Biết trong ba người họ có một người 2 lần nói thật, một người 1 lần nói thật  một lần nói dối và 

một người hai lần nói dối. Bạn hãy giúp cảnh sát tìm ra chủ mưu nhé! 

Giải: 

Hoàn toàn như các suy luận ở ví dụ 1 thì ta có được bảng sau: 

Không như ở bài toán trước các dữ kiện của đề bài đưa ra là  hoàn toàn đúng, các dữ kiện của bài này có dữ kiện thì đúng  hoàn  toàn,  dữ  kiện  thì  đúng  một  nửa,  dữ  kiện  thì  sai  hoàn  toàn.  Có  vẻ  như  bài  toán  đã  trở  nên  rối  rắm  vì  sự  đúng  sai  của các  mệnh  đề. Nhưng không sao cả! Vẫn  dùng các phép  suy  luận  bình  thường  như  ở  ví  dụ  một,  ta  vẫn  có  thể  giải  được bài toán này một cách khá dễ dàng: 

+Giả sử C là người 2 lần nói thật. 

+Theo  mệnh  đề  (c)  thì  B,C  không  có  tội  =>  A  là  kẻ  cướp.  Thế thì B là người thứ 2 có 2 lần nói thật (vô lí) 

+Vậy C không phải người 2 lần nói thật 

+Giả sử B là người 2 lần nói thật thì A là kẻ cướp => B,C vô tội. Thế thì C là người  thứ 2 có 2 lần nói thật ( vô lí ) 

+Vậy B cũng không phải người 2 lần nói thật => A là người 2 lần nói thật. 

1/10  2/10  3/10  4/10 

Chủ 

mưu 

Không 

có tội  (a)  C  A 

(b)  A  C 

Trang 3

Như vậy, việc lập bảng để hệ thống hoá các dữ kiện là điều vô cùng cần thiết để giải  một  bài  toán  suy  luận  logic.  Vậy  nếu  chúng  ta  đi  theo  một  hướng  khác,  dung  chính  bảng dữ liệu để giải bài toán thì sẽ như thế nào? Ta cùng xét ví dụ sau: 

Ví dụ 3: Trên bàn là ba cuốn sách giáo khoa :Văn, Toán, Địa lí được bọc ba màu khác  nhau:  xanh,  đỏ,  vàng.  Được  biết  cuốn  bọc  bìa  màu  dỏ  đặt  giữa  cuốn  Văn  và  Địa  lí,  cuốn Địa lí và cuốn  màu xanh mua cùng một ngày. Bạn hãy xác định mỗi cuốn sách 

đã bọc bìa màu gì? 

Ta kí hiệu các ô trong bảng từ 1 tới 9. 

Theo đề bài thì cuốn bìa màu đỏ đặt giữa cuốn Văn và  Địa  lí.  Vậy  cuốn  Văn  và  Địa  lí  đều  không  được  bao  bìa  màu đỏ. Ta ghi số o và các ô 4 và 6 để loại các ô  này, đánh dấu x vào ô 5 để biểu thị là sách Toán được  bao bìa màu đỏ. 

Mặt  khác,  cuốn  Địa  lí  và  cuốn  màu  xanh  được  mua  cùng ngày. Điều này có nghĩa rằng cuốn địa lí không  bao bìa màu xanh. Ta ghi dấu o vào ô số 3. 

Nhìn vào cột 2 và ô 9 ta thấy cuốn văn không bọc màu đỏ, cũng không bọc màu vàng.  Vậy cuốn Văn bọc màu xanh. Ta đánh dấu x vào ô số 1. 

Vậy: Cuốn Văn bao bìa màu xanh, cuốn Toán bao bìa màu đỏ, cuốn địa lí bao bìa màu  vàng. 

* Nhận xét: Bài toán trên là một bài toán rất đơn giản, có thẻ giải bằng những 

suy luận thông thường không cần đến bảng số liệu để giải.Nhưng bài toán này lại là 

ví dụ điển hình nhất, làm cơ sở cho các suy luận của hàng loạt các bài toán phức tạp  hơn  rất  nhiều.  Chúng  tôi  xin  đề  cử  một  số  bài  tập  sau  để  bạn  đọc  có  thể  làm  quen  cũng như có thể hiểu rõ phương pháp này. 

Các bạn tiếp tục tự làm  thêm các bài sau: 

Bài tập 1/ Trong một bảng đấu loại bóng đá có 4 đội A, B, C, D. Người ta đưa ra 3 dự  đoán : 

a/ Đội A nhì, đội B nhất. 

b/ Đội B nhì, đội D ba. 

c/ Đội C nhì, đội D tư. 

Kết quả dự đoán đều có một ý đúng, một ý sai. Hãy xác định thứ tự của mỗi đội 

Bài tập 2/ Trong một cuộc đua xe đạp, 4 VĐV An, Bình, Cường, Dũng đã đạt bốn giải  đầu tiên. 

Trong các câu sau đây, mỗi câu chỉ đúng về một VĐV: 

a)  Bình giải nhất, Dũng giải nhì. 

Văn  Toán  Địa 

Xanh  X 

1  2 

Đỏ  O 

6  Vàng 

7  8 

x  9

Trang 4

b)  Bình giải nhì, Cường giải ba. 

c)  An giải nhì, Cường giải tư. 

Hãy xác định giải của từng VĐV. 

Bài tập 3/  Ba bạn  Khánh,  Lương, Minh  tham  gia các  môn  thể thao  : chạy, bơi, bóng  bàn, bóng đá, đá cầu và đua xe đạp, mỗi bạn tham gia hai môn. Biết rằng: 

a/ Bạn tham gia chạy và bạn chơi đá cầu nhà ở cạnh nhau. 

b/ Trong ba bạn thì Khánh ít tuổi nhất. 

c/ Bạn Lương, bạn chơi bóng bàn và bạn chơi đá cầu thường rủ nhau đi học. 

d/ Bạn chơi bóng bàn nhiều tuổi hơn bọn chơi bóng đá. 

e/ Bạn tham gia bơi, bạn chơi bóng đá và bạn Khánh thường cùng đi xem phim với  nhau. 

Hãy xét xem mỗi bạn tham gia hai môn thể thao nào? 

Bài tập 4/ Ba vận động viên Mai, Lan, Nga tham gia thi đấu thể thao, đó là 3 cô gái ở 

Hà Nội, Huế, Thành phố  Hồ Chí Minh. Một cô thi chạy,  một cô thi  nhảy  xa,  một cô  thi bơi. Biết rằng: 

a/ Nga không thi chạy 

b/ Mai không thi bơi 

c/ Cô ở Hà Nội thi bơi 

d/ Cô ở Huế không thi chạy 

e/ Mai không ở Thành phố Hồ Chí Minh 

Hỏi mỗi cô ở đâu, thi đấu môn nào? 

Bài tập 5/.  Ba bạn tên Đỏ, Xanh, Vàng  mặc áo  màu đỏ,  xanh, vàng  đến  một buổi  dạ  hội. Bạn mặc áo màu xanh nói với bạn tên Vàng: "Cả ba chúng ta đều không mặc màu 

áo đúng với tên của mình". Hỏi màu áo của mỗi bạn đang mặc? 

Bài tập 6/ . Trong một ngôi đền cổ có ba vị thần giống hệt nhau. Thần Thật thà luôn  nói thật, thần Dối trá luôn nói dối và thần Khôn ngoan lúc nói thật lúc nói dối. Có một  nhà  hiền triết đến thăm đền. Ông đã hỏi các vị thần và  nhận được câu trả lời khi  hỏi  thần  bên  trái: ­  Ai  ngồi  cạnh  ngài?  ­  Đó  là  thần  Thật  thà.  Ông  hỏi  thần  ngồi  giữa:  ­  Ngài là ai? ­ Ta là thần Khôn ngoan. Sau cùng ông hỏi thần bên phải: ­ Ai ngồi cạnh

Trang 5

nhà hiền triết đã suy luận như thế nào? 

2 .  LỰA CHỌN TÌNH HUỐNG 

Bài  toán  mà  các  dữ  kiện  của  đề  bài,  đươc  chia  thành  nhiều  trường  hợp  khác  nhau, nhiệm vụ của ta là tìm ra trường hợp đúng để giải được bài toán. Ta hãy cùng 

xét các ví dụ sau: 

Ví Dụ 1 : 

Tổ Toán của 1 trường THPT có năm người: thầy Hùng, thầy Quân, cô Hạnh và 

cô  Cúc,  kì  nghỉ  hè  cả  tổ  được  2  phiếu  đi  nghỉ  mát.  Mọi  người  đều  nhường  nhau,  thầy hiệu trưởng đề nghị mội người đề xuất 1 ki ến. Kết quả như sau: 

1.  Thầy Hùng và thầy Quân đi. 

2.  Thầy Hùng và Cô Vân đi. 

3.  Thầy Quân và cô Hạnh đi. 

4.  Cô Cúc và Cô Hạnh đi. 

Cuối cùng Thầy hiệu trưởng đã quyết định chọn đề nghị của cô Cúc, vì theo đề  nghị đó thì mội đề nghị đều thoả mãn 1 phần và bác bỏ 1 phần. 

Hãy cho biết ai được đi nghỉ mát trong kì nghỉ hè đó? 

Phân tích: Để chọn được đề  nghị thoả  mãn  yêu cầu đề bài  ta  lần  lượt  xét đề  nghị  của từng người. Sẽ có 2 khả năng xảy ra: 

­ Có 1 trong 4 đề nghị bị bác bỏ hoàn toàn. Trường hợp này ta loại bỏ đề nghị đó. 

­ Không có đề nghị nào trong 4 đề nghị bị bác bỏ hoàn toàn. Trường hợp này ta chọn 

đề nghị đó. 

Giải: 

­ Nếu chọn đề nghị thứ nhất ( thầy Hùng và thầy Quân đi) thì đề nghị thứ 4( Cô Cúc 

và Cô Hạnh đi) bị bác bỏ hoàn toàn. Vì vậy ta không thể chọn đề nghị thứ nhất và thứ  4( đề bài nói đề nghị dc chọn làm các đề nghị khác đúng một nửa và sai một nửa). 

­ Tương tự như vậy với đề nghị thứ hai và thứ ba. Ta cũng không thể chọn đề nghị thứ  hai và ba. 

­  Nếu chọn đề nghị thứ năm thì mỗi đề nghị trong 4 đề nghị còn lại đều thoả mãn một  phần và bác bỏ một phần 

Vậy: kì nghỉ hè năm đó thầy Hùng và cô Hạnh được đi nghỉ mát

Trang 6

Nhận  xét:  Vấn  đề  mấu  chốt  để  giải  bài  toán  là  giả  thuyết  một  yêu  cầu  thoả  mãn  các yêu cầu còn lại nửa đúng nửa sai, và chúng ta cần tìm ra tình huống thoả mãn 

đó.  Vậy  với  các  tình  huống  mà  có  nhiều  sự  lựa  chọn  hơn  thì  sao?  Chúng  ta  hãy 

cùng tìm hiểu ở ví dụ sau: 

Ví dụ 2: 

Sau giờ tập luyện buổi sáng đội tuyển thể thao rủ nhau vào quán ăn trưa. Thực  đơn của quán có 8 món: gà luộc, nem rán, chim quay, đậu rán, bò xào, cá rán, ốc  xào măng và canh chua. Toàn đội thống nhât sẽ gọi 3 món trong thực đơn cho bữa 

ăn. Nguyện vọng của các cầu thủ chia ra thành 5 nhóm nhau sau: 

­ Gà luộc, nem rán và chim quay. 

­ Đậu rán, bò xào và cá rán. 

­ Bò xào, cá rán và ốc xào măng. 

­ Nem rán, ốc xào măng và canh chua. 

­ Gà luộc, bò xào và canh chua. 

Cuối cùng, đội đã gọi đồ ăn theo thực đơn của đội trưởng đã chọn, vì theo thực đơn 

đó mỗi nhóm đều có ít nhất một món mà mình ưa thích. 

Hỏi toán đọi hôm đó ăn những gì? 

Giải: 

Đây là 1 bài toán phức tạp hơn bài toán ở ví dụ trước, vì đây không phải là nửa đúng  nửa sai (xác định rõ số nhận định đúng  và sai trong 1 câu)  mà  là  ít nhất 1 nhận định  đúng. Nhưng cách giả ở bài toán này vẫn tương tự như cách giải ở bài trước: 

­  Nếu chọn thực đơn của nhóm 1 thì cả nhóm 2 và 3 đều không có món nào mình thích.  Vậy không thể chọn thực đơn của nhóm 1. 

­  Nếu chọn thực đơn của nhóm 4 thì nhóm 2 không có món nào mình thích. Vậy không  thể chọn thực đơn của nhóm 4 

­  Tương tự như vậy với cách thực đơn của nhóm 2, 3. 

­  Nếu chọn thực đơn của  nhóm  5 thì  mỗi  nhóm trong 4  nhóm  còn  lại đều có  ít nhất  1  món mà mình ưa thích. 

Vậy: hôm đó đội đã ăn 3 món gà luộc, bò xào và canh chua. 

Ví dụ 3: 

Năm bạn Anh, Bình, Cúc, Doan, An quê ở năm tỉnh: Bắc Ninh, Hà Tây. Cần Thơ,  Nghệ An, Tiền Giang. Khi được hỏi về quê ở tỉnh nào các bạn trả lời như sau: 

­  Anh: Tôi quê ở Bắc Ninh, còn Doan quê ở Nghệ An.

Trang 7

­  Bình: Tôi cũng quê ở Bắc Ninh, còn Cúc quê ở Tiền Giang. 

­  Cúc: Tôi quên ở Bắc Ninh, còn Doan ở Hà Tây. 

­  Doan: Tôi quê ở Nghệ An, Còn An ở Cần Thơ 

Nếu không bạn nào trả lời sai hoàn toàn thì quên mỗi người ở tỉnh nào? 

Giải: 

Đây  không cũng  là  một  dạng bài  như các  ví dụ trước, chìa  khoá của bài toán  nằm ở  câu “không bạn nào trả lời sai hoàn toàn”. Vậy ta cần phải hiểu “không bạn nào trả lời  sai hoàn toàn” nghĩa là gì? 

Mỗi câu trả lời đều nói về quê quán của hai người. Nếu câu trả lời sai hoàn toàn thì có  nghĩa  là  quê  của  2  người  đó  đều  không  ở  tỉnh  đso.  Vậy  câu  trả  lời  là  một  trong  2  người hoặc cả 2 người có quê ở 2 tỉnh đó. 

Chẳng hạn, câu trả lời của Anh không sai hoàn toàn có nghĩa là: hoặc Anh quê ở Bắc  Ninh hoặc quê Doan ở Nghệ An( mệnh đề tuyển có không sai khi ít nhất một trong 2  mệnh đề con đúng) 

+ Để xác định quê quán của mỗi bạn, ta cần lần lượt xét câu trả lời của mỗi người.  Mỗi câu trả lời nói về quê quán của 2 người. Ta lần lượt xét các trường hợp sau:  + Quê của người thứ nhất trong câu trả lời là đúng. Bằng suy luận ta xét các câu trả  lời của bốn người còn lại. Nếu suy không có câu nào sai hoàn toàn thì ta xác định  được quê quán của người đó. Tiếp đó ta xác định quê của 4 người còn lại.Nếu có  một  câu  trả  lời(  trong  4  câu  còn  lại)  bị  sai  hoàn  toàn  thì  quê  của  người  thứ  nhất  trong câu trả lời không đúng với tỉnh đó. Vậy quê của người thứ 2 là đúng. Tiếp đó 

ta tìm quê của 4 người còn lại. 

+ Quê của  người thứ  nhất trong câu trả  lời  là sai. Vậy quê của  người  thứ  2 trong  câu trả lời là đúng. Vẫn làm như trường hợp thứ nhất ta sẽ xác định được quê của 4  người còn lại. 

Giả sử  Anh  quê ở  Bắc Ninh thế thì quê của  Bình  và Cúc đều không ở Bắc  Ninh.  Vậy theo Bình thì Cúc quê ở Tiêng Giang và theo Cúc thì quê Doan ở Hà Tây. Vậy  theo An thì An quê ở Cần Thơ. Cuối cùng còn bình quê ở Nghệ An( vì 4 bạn kia có 

quê ở 4 tỉnh còn lại). 

Ví dụ 4: 

AFF  Cup  2012  có  4  đội  vào  vòng  bán  kết:  Thái  Lan,  Singapore,  Philipines,  Malaysia. Trước khi thi đấu vòng bán kết và chung kết ba bạn Dũng, Quang, Tuấn 

dự đoán như sau: 

­  Dũng: Singapore nhì,còn Philipines ba. 

­  Quang: Thái Lan nhì, còn Philippines tư 

­  Tuấn: Singapore nhất và Malaysia nhì 

Mỗi bạn đều dự đoán đúng 1 đội và sai 1 đội. 

Hỏi mỗi đội đạt giải mấy? 

Giải

Trang 8

­  Nếu Singapore đạt  giả  nhì thì  Singapore không đạt  giải  nhất. Vậy (theo Tuấn) thì  Malaysia đạt giả nhì. Điều này vô lí vì 2 đội cùng đạt giải nhì. 

­  Nếu  Singapore  không  đạt  giả  nhì  thì  theo  Dũng,  Philippines  đạt  giải  ba.  Như  vậy  Philippines    không  đạt  giải  tư.  Theo  Quang,  Thái  Lan  đạt  giải  nhì.  Thế  thì  Malaysia  không  đạt  giải  nhì.  Vậy  theo  Tuấn,  Singapore  nhất,  cuôi  cùng  còn  Malaysia  đạt  giải  tư

Kết luận: thứ tự các đội là : 

Nhất :Singapore ; Nhì: Thái Lan; Ba: Philippines ;Tư: Malaysia. 

Như các ví dụ trên cho thấy, bài toán giải theo phương pháp lựa chọn tình huống, chìa  khoá của vấn đề nằm ở dữ kiện có bao nhiêu  mệnh đề đúng hoặc sai, ta nắm rõ điều 

đó, thì việc thành công trong việc giải sẽ nằm trong tầm tay. 

Các bạn tiếp tục tự làm  thêm các bài sau: 

Bài  tập  1/Cô  Phương  đưa  ba  bạn  Lan,  Hồng,  Phượng  đi  dự  hội  thi  “Tiếng  hát  hoa  phượng đỏ”. Về đến trường các bạn đến hỏi thăm, cô trả  lời: “ Mỗi bạn đều đạt  một  trong các giải nhất, nhì, ba hoặc đặc biệt”. Cô đề nghị các bạn thư đoán xem. 

Hà đoán ngay: 

­  Theo em thì Phượng đạt giả nhất, Hồng giả nhì còn Lan giải ba. 

Bích cho là: 

­  Lan giả nhất, Phượng giải nhì còn Hồng giả ba 

Ngọc đoán: 

­  Hồng giải nhất, Lan giải nhì còn Phượng giải ba. 

Nghe xong, cô lắc đầu nói không bạn nào đạt giả như các em dự đoán. Hãy cho  biết mỗi bạn đã đạt giải gì? 

Bài tập 2/Chiều thứ bảy Tùng nghe ba bạn Mạnh, CƯờng và Lân hẹn nhau sang  chủ  nhật đến  nhà  nhau chơi  hoặc cùng  nhau  đi chơi công  viên.  Lúc 9h sang chủ  nhật Tùng gọi điện đến nhà ba bạn. Mẹ Mạnh cho biết: 

­  Mạnh và Lân không ở nhà bác, còn Cường thì không ở nhà Lân. 

Em gái Cường khẳng định:

Trang 9

­  Cả ba anh không có ở nhà em. 

Bà Lân thì bảo: 

­  Lân và Mạnh không có ở nhà bà, Cường không có ở nhà Mạnh. 

Hãy cho biết ba bạn lúc ấy đang ở đâu? 

Bài tập 3/Thầy Nghiêm được nhà trường cử bốn học sinh Lê, Huy, Hoàng, Tiến đi  thi đấu điền kinh. Kết quả có 3 em đạt giả nhất, nhì , ba và 1 em không đạt giải.  Khi về trường mọi người hỏi kết quả các em trả lời như sau: 

­  Lê: mình đạt giải nhì hoặc ba 

­  Huy: mình đã đạt giải 

­  Hoàng:mình đạt giải nhất 

­  Tiến:mình không đạt giải 

Thầy Nghiêm chi mỉm cười và nói: “chỉ có 3 bạn nói thật, còn 1 bạn nói đùa” 

Hãy cho biết ai nói thật? Ai nói đùa? Ai đoạt giải nhất? Ai không đạt giải? 

3.  GIẢN ĐỒ VEN 

Từ xa xưa khi biết đến toán học con người đã có thể tính toán được rất nhiều  thứ  từ  diện  tích  các  thửa  ruộng  với  đủ  các  hình  dạng  khác  nhau  hay  năng  suất  làm  việc của công nhân, máy móc đến việc tính toán ngân sách(khố),tính tổng vv Nhưng  lúc bấy giờ khi  gặp các vấn đề phải tính ra số lượng của từng đối tượng cụ thể trong 

1 cái chung qui hay nói cho dễ hiểu là 1 đám ‘hổ lốn’ với nhiều thành phần khác nhau 

đã làm cho rất nhiều người phải rất mất thời gian để tính.Để đơn giản hóa chúng lại,  năm 1981 nhà toán học người Anh Giôn­Ven đã đưa ra giảng đồ Venn giúp ta có thể 

dễ dàng tính ra vấn đề rắc rối nêu trên (có lẽ bởi sự tư duy của con người phần lớn  hoạt động mạnh nhờ vào hình vẽ).Để tìm hiểu phương pháp này một cách cụ thể 

Chúng ta hãy bắt đầu với bài toán đơn giản sau: 

Ví dụ 1: Cho tập hợp 

Hỏi những phần tử nào chỉ thuộc tập hợp A mà không thuộc tập hợp B và tập hợp C?

Trang 10

Vẽ biểu đồ Ven tập hợp A các phần tử  và biểu đồ Ven tập  hợp B các phần tử  như hình 1. Quan sát ta thấy số phần tử thuộc  tập hợp A mà không thuộc tập hợp B là   

Bây giờ ta sẽ đi tìm bài toán thực tế cho bài toán 1. Bài toán thực tế được phát biểu:  Bài toán 2: Một nhóm có 9 học sinh. Trong đó có 3 học sinh tham gia môn bơi. 6 học  sinh vừa tham gia môn bơi vừa tham gia môn bóng bàn. Hỏi số học sinh không tham 

gia cả hai môn bơi và bóng bàn là bao nhiêu ? 

Giải 

Vẽ biểu đồ Ven cho tập hợp A gồm 9 phần tử tương ứng với 9 học sinh. 3 học sinh  tham gia môn bơi tương ứng là tập hợp C gồm 3 phần tử 1, 2, 3. 6 học sinh tham gia  môn bơi và môn bóng bàn là tập hợp B gồm 6 phần tử 1, 2, 3, 4, 5, 6 (hình 1). Quan  sát, ta thấy tử có các phần tử 7, 8, 9 vừa không thuộc tập hợp B vừa không thuộc tập  hợp C. Vậy có 3 học sinh vừa không tham gia môn bơi vừa không tham gia môn bóng 

bàn. 

Đây là cách giải bằng phương pháp liệt kê các phần tử của tập hợp thông qua biểu đồ  Ven. Tuy nhiên khi số phần tử của tập hợp rất lớn thì ta không thể liệt kê hết được. Vì  vậy  bài  toán  2  còn  một  cách  biểu  diễn 

Ngày đăng: 26/01/2021, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w