HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA --- VÕ THÀNH NHÂN CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM – MỘT NGHIÊN CỨU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG THE FAC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-
VÕ THÀNH NHÂN
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THÀNH LẬP DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM – MỘT NGHIÊN CỨU TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG
THE FACTORS AFFECTING ON ESTABLISHING OF SMEs IN
VIETNAM – A CASE STUDY IN LAMDONG PROVINCE
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số : 60 34 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 8 năm 2016
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA –
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Võ Thành Nhân MSHV:12801030
Ngày, tháng, năm sinh: 17/05/2984 Nơi sinh: Bình Định
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh Mã số : 603406
I TÊN ĐỀ TÀI: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thành lập doanh nghiệp nhỏ
và vừa tại Việt Nam – một nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG: Đánh giá của các cá nhân về các khía cạnh Môi trường
văn hóa, Môi trường kinh tế, Tính cách cá nhân trong việc thúc đẩy, khuyến khích việc
thành lập các DNNVV tại Lâm Đồng Từ đó, đề xuất một số hàm ý quản lý đối với cơ quan quản lý Nhà nước nhằm thúc đẩy việc thành lập các DNNVV hiện nay tại Lâm Đồng 212 cá nhân đang sinh sống và làm việc tại Lâm Đồng đã được khảo sát để thu thập
dữ liệu
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : 25/4/2016
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 15/7/2016
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện tại Trường đại học Bách khoa TP HCM Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Vũ Thế Dũng đã hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Khoa Quản lý Công nghiệp Trường Đại học Bách Khoa và Văn phòng đại diện trường Đại học Bách Khoa TP HCM tại Đà Lạt đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
TP.HCM, ngày 15 tháng 7 năm 2016
Võ Thành Nhân
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Mục đích của nghiên cứu này là nhằm kiểm định lại mô hình nghiên cứu của Li, Zhang, và Yang (2006) Cụ thể, đề tài muốn xác định các yếu tố ảnh hưởng đến động cơ và hành vi
thành lập DNNVV tại Lâm Đồng, đánh giá của các cá nhân về các khía cạnh Môi trường
văn hóa, Môi trường kinh tế, Tính cách cá nhân trong việc thúc đẩy, khuyến khích việc
thành lập các DNNVV tại Lâm Đồng Từ đó, đề xuất một số hàm ý quản lý đối với cơ quan quản lý Nhà nước nhằm thúc đẩy việc thành lập các DNNVV hiện nay tại Lâm Đồng 212 cá nhân đang sinh sống và làm việc tại Lâm Đồng đã được khảo sát để thu thập
dữ liệu Từ kết quả phân tích dữ liệu, có thể thấy mô hình lý thuyết được đưa ra bởi Li và ctg (2006) có thể dùng để dự báo trong bối cảnh nghiên cứu tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam
Cụ thể, nghiên cứu này đồng thuận với Li và ctg (2006) rằng môi trường văn hóa, thái độ của mọi người xung quanh có tác động lên ý định và động cơ thành lập doanh nghiệp, đặc biệt tính cách cá nhân, khả năng chấp nhận rủi ro, tự tin về năng lực bản thân tác động rất lớn đến ý định làm chủ doanh nghiệp Tuy nhiên, trong 3 nhân tố được cho rằng có tác
động đến động cơ thành lập doanh nghiệp trong nghiên cứu của Li và ctg (2006), thì Môi
trường kinh tế không có ảnh hưởng đến động cơ làm chủ của các cá nhân tại Lâm Đồng
ABSTRACT
The research aims at retesting and confirming the theory proposed by Li và ctg (2006) Specifically, this study aims to identify the factors impacting on inclination of establishing
SMEs in Lamdong Province, and inhabitants’ evaluation about Cultural Environment,
Economic Environment, and Pschological characteristics in encouraging SMEs formation
in Lamdong Province From results of data analysis, the study suggests some implications
to state agencies, local government There are 212 inhabitants living and working in Lamdong Province surveyed to collect data According to performances of data analysis, it
is generally concluded that the theory propounded by Li và ctg (2006) can be used to forecast in Lamdong’s context Likewise, the study’s performances agree with Li và ctg
(2006) about that Cultural Environment (the attitude of people surrounding has influence
on entrepreneurship inclination, especially Psychological Characteristics such as
risk-taking propensity, belief in capacity, etc play important role in making decision of SMEs foundation However, among three factors suggested that having effects on enterprise
Trang 6creation in Li và ctg (2006), there are no evidence proving that Economic Environment
has effects on motivation of entrepreneurial activities in this study
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Võ Thành Nhân, học viên cao học lớp Cao học Quản trị kinh doanh khóa 2012
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ ‘‘Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thành lập
doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam – một nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Lâm
Đồng’’ là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu nghiên cứu thu được từ thực nghiệm
và không sao chép
Học viên
Võ Thành Nhân
Trang 8MỤC LỤC
CÁC TỪ VIẾT TẮT 10
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 11
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 12
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 12
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 14
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
1.4 Ý nghĩa của đề tài 14
1.5 Bố cục đề tài 15
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ LUẬN 16
2.1 Các khái niệm, lý thuyết liên quan 16
2.1.1 Lý thuyết ra quyết định 16
2.1.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa 18
2.1.3 Đặc điểm cá nhân 29
2.1.4 Môi trường văn hóa 20
2.1.5 Môi trường kinh tế 22
2.1.6 Động cơ 23
2.2 Các nghiên cứu liên quan 26
2.2.1 Nghiên cứu của Watson và ctg (1998) 27
2.2.2 Nghiên cứu của Li và ctg (2006) 27
2.2.3 Nghiên cứu của Yusof, Sandhu, và Jain (2007) 27
2.2.4 Hạn chế của các nghiên cứu 27
2.3 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu đề xuất 28
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Phương pháp luận nghiên cứu 29
3.2 Quy trình nghiên cứu 29
3.3 Xây dựng thang đo 31
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
4.1 Đặc điểm mẫu khảo sát 34
4.2 Kiểm định thang đo các khái niệm 36
4.2.1 Độ tin cậy sơ bộ của thang đo và phân tích nhân tố khám phá EFA……… …36
Trang 94.2.2 Phân tích nhân tố khẳng định CFA 38
4.3 Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 41
4.3.1 Phân tích tương quan và đánh giá cuả du khách về các nhân tố 41
4.3.2 Kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu 42
4.4 Kiểm định sự khác biệt về động cơ làm chủ và hành vi/dự định thành lập DNNVV theo biến nhân khẩu học 43
4.5 Tóm tắt chương 4 45
CHƯƠNG 5 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.1.1 Tóm tắt nội dung nghiên cứu 46
5.1.2 So sánh kết quả nghiên cứu với các nghiên cứu trước đây 47
5.2 Hàm ý quản lý 47
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 49
5.3.1 Hạn chế của đề tài 49
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC ……….52
Trang 10CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số quốc gia và khu vực 18
Bảng 2.2 Phân loại DNNVV theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP 20
Bảng 3.1- Thang đo nghiên cứu đề xuất 31
Bảng 4.1- Mô tả mẫu khảo sát 34
Bảng 4.2- Bảng tóm tắt kết quả chạy EFA và Cronbach’s Alpha 37
Bảng 4.3- Bảng ma trận đặc trưng của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu 39
Bảng 4.4- Giá trị trung bình, độ lệch, độ nhọn và hệ số tương quan giữa các nhân tố 41
Bảng 4.5- Kết quả kiểm định cấu trúc tuyến tính cho mô hình nghiên cứu 43
Bảng 4.6 Giá trị p-value cho kiểm định giả thuyết về sự khác biệt giữa các tổng thể con 44
Trang 12CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1 Tính cấp thiết cuả đề tài
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là xương sống của mọi nền kinh tế và là nguồn gốc chính của sự tăng trưởng kinh tế, sự năng động, và linh hoạt của các nền kinh tế phát triển và đang phát triển Các DNNVV là một dạng doanh nghiệp chủ yếu, chiếm khoảng 95% đến 99% tổng số doanh nghiệp tùy thuộc vào mỗi quốc gia Tận dụng các ưu thế như tính linh hoạt sáng tạo và gánh chịu chi phí quản lý thấp hơn các doanh nghiệp lớn, các DNNVV đã chứng minh được tầm quan trọng của mình trong cạnh tranh toàn cầu (Blili & Raymond, 1993) Nhìn chung, DNNVV chiếm khoảng 95% số doanh nghiệp, sử dụng khoảng 60% đến 70% lao động tại các quốc gia thuộc tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế (OECD) (OECD, 1997 trích theo Al-Qirim (2004)) Các DNNVV tại New Zealand là một
bộ phận quan trọng trong kết quả hoạt động kinh tế quốc gia (35%), chiếm tỷ lệ 96% doanh nghiệp, 41% lao động (MOED, 2000 trích theo Al-Qirim (2004)) DNNVV tại Vương quốc Anh chiếm hơn 95% số doanh nghiệp, thuê mướn 65% lực lượng lao động và tạo ra 25% GDP (Ballantine, Levy & Powell, 1998 trích theo Al-Qirim (2004))
Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tính đến ngày 31-12-2011, Việt Nam có 543.963 doanh nghiệp, với số vốn khoảng 6 triệu tỷ đồng Trong đó, DNNVV chiểm gần 97%, chủ yếu là doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân Các DNNVV
sử dụng 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP cả nước Nếu tính cả 133.000 HTX, trang trại và khoảng 3 triệu hộ kinh doanh cá thể thì khu vực này đóng góp tới 60% vào cơ cấu GDP Theo số liệu của sở Công thương Lâm Đồng, tính đến 31/5/2013 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có 5.304 DNNVV chiếm trên 99% số lượng doanh nghiệp trên địa bàn toàn Tỉnh
Như các phân tích trên, có thể thấy DNNVV đóng vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế không chỉ riêng với các quốc gia đang phát triển mà ngay cả đối với các quốc gia phát triển Câu hỏi đặt ra là các yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định thành lập doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng của chủ doanh nghiệp
Trang 13Trong nghiên cứu của Watson, Hogarth-Scott, và Wilson (1998), các tác giả này khảo sát các doanh nghiệp nhỏ tại West Yorkshire nhằm cung cấp các thông tin liên quan đến việc thành lập, phát triển, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tồn tại hoặc thất bại của những doanh nghiệp này Tuy nhiên, nghiên cứu này đã thực hiện cách đây tương đối lâu, bối cảnh nghiên cứu lại là ở Vương Quốc Anh, nơi môi trường kinh doanh, môi trường văn hóa rất khác tại Việt Nam
Trong nghiên cứu của Li và ctg (2006) cho thấy đặc điểm cá nhân chủ doanh nghiệp, môi trường văn hóa, và môi trường kinh tế là các nhân tố bên ngoài tác động đến quyết định thành lập doanh nghiệp, một dự án đầu tư mới Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ mang tính chất khám phá các yếu tố, cũng như mối quan hệ giữa các yếu tố đến việc thành lập một
dự án kinh doanh mới, so sánh sự khác biệt trong việc khởi sự doanh nghiệp giữa nhóm chủ doanh nghiệp là người được đào tạo đầy đủ kiến thức về kinh doanh (Thạc sĩ quản trị kinh doanh) và nhóm chủ doanh nghiệp chưa được đào tạo đầy đủ kiến thức về kinh doanh Nghiên cứu của Li và ctg (2006), chưa đi sâu vào việc kiểm tra mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc quyết định thành lập doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp
Trong nghiên cứu của Rand và Tarp (2010), có điều tra về môi trường kinh doanh tại Việt Nam, đối tượng điều tra khảo sát là các DNNVV Tuy nhiên, trong nghiên cứu này không
đi sâu vào việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc thành lập DNNVV tại Việt Nam
Từ các phân tích trên, nghiên cứu này được tiến hành nhằm phát hiện các yếu tố và cường
độ tác động của các yếu tố đến quyết định thành lập DNNVV tại Việt Nam
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài này nhằm tìm kiếm thông tin giúp các cơ quan chức năng đưa ra các chính sách chủ trương thúc đẩy, hỗ trợ cho các cá nhân, tổ chức trong xã hội thành lập các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNVV Cụ thể, mục tiêu của đề tài như sau:
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thành lập DNNVV của chủ doanh nghiệp
- Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến quyết định thành lập DNNVV của chủ doanh nghiệp
Trang 14- Đề xuất một số hàm ý quản lý cho các cơ quan quản lý Nhà nước nhằm cải thiện môi trường đầu tư tạo điều kiện cho các nhà khởi nghiệp tiềm năng thành lập doanh nghiệp
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố tác động đến quyết định thành lập DNNVV tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung khảo sát các thể nhân đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Để dữ liệu khảo sát đạt được độ tin cậy
Các DNNVV là các doanh nghiệp được phân loại theo Nghị định Chính phủ số 56/2009/NĐ-CP
1.4 Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học của luận văn
Đề tài đóng góp vào kho tàng lý luận liên quan đến DNNVV, các yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định thành lập DNNVV Kết quả đề tài là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho các tác giả, nhà nghiên cứu có quan tâm đến các vấn đề DNNVV nói chung, thành lập DNNVV nói riêng trên thế giới và tại Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Cung cấp thông tin cho các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc cải thiện môi trường, các yếu tố đầu tư giúp cho các nhà khởi sự thành lập các DNNVV Từ đó, hỗ trợ tăng trưởng
và phát triển kinh tế, tạo ra nguồn cầu lao động, giải quyết việc làm tại Việt Nam nói chung và Lâm Đồng nói riêng
1.5 Bố cục đề tài
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
Trình bày bối cảnh nghiên cứu, tính cấp thiết của đề tài, nền tảng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, bố cục chung của đề tài
Trang 15CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trình bày về lý thuyết nền dùng để nghiên cứu (lý thuyết về DNNVV, lý thuyết về ra quyết định…), tóm tắt, tổng kết các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây liên quan đến đề tài Ở đây cũng sẽ đề xuất mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết tương ứng
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trình bày về thiết kế nghiên cứu và quy trình thu thập, xử lý, phân tích dữ liệu sau thu thập
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trình bày kết quả phân tích số liệu khảo sát thu thập được bao gồm kiểm định thang đo bằng hệ số Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố khám phá, kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu Ở đây cũng sẽ so sánh kết quả thu được với các nghiên cứu trước có liên quan
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, đưa ra kết luận cùng các giải pháp có liên quan Hạn chế cùng các hướng nghiên cứu tương lại cũng được đề xuất
Trang 16CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN LÝ LUẬN
Chương này trình bày một số khái niệm chính trong nghiên cứu, như đã trình bày trong phần chương 1, mục tiêu của nghiên cứu này là kiểm định lại lý thuyết và kết quả nghiên cứu của Li và ctg (2006) Vì vậy, một số khái niệm chính được trình bày trong chương này gồm Lý thuyết ra quyết định, Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Môi trường văn hóa, Môi trường kinh tế, Động cơ làm chủ Bên cạnh đó, tác giả cũng giới thiệu một số nghiên cứu liên quan để thấy được mối quan hệ giữa các khái niệm để từ đó đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
2.1 Các khái niệm, lý thuyết liên quan
2.1.1 Lý thuyết ra quyết định
Trong nghiên cứu của Edwards (1954), tác giả này đã xem xét các lý thuyết ra quyết định Theo nghiên cứu, trong một thời gian dài, các nhà kinh tế học và các nhà khoa học trong các lĩnh vực khác liên tục phát triển lý thuyết toán học liên quan đến cách thức con người thực hiện các lựa chọn trong số các phương án thay thế Các lý thuyết này tập trung vào khái niệm giá trị chủ quan (Subjective value), tiện ích (utility) của các phương án thay thế
mà người ra quyết định phải lựa chọn Các tác giả này, giả định rằng con người hành động một cách lý trí, nói cách khác, con người sẽ lựa chọn các phương án nhằm tối đa hóa lợi ích hoặc lợi ích kỳ vọng
Oliveira (2007) đã thảo luận về lý thuyết và mô hình ra quyết định duy lý (Rational) và ra quyết định dựa trên tâm lý (Psycological) Các lý thuyết Attribution, Lý thuyết Schema,
Lý thuyết Viễn cảnh (Prospect), lý thuyết không chắc chắn (Ambugity theory), Lý thuyết trò chơi (Game theory), và Lý thuyết lợi ích kỳ vọng (Expected Utility theory) được thảo luận trong nghiên cứu này Bên cạnh đó, khái niệm Văn hóa cũng được nhắc lại, và mối quan hệ giữa văn hóa và việc ra quyết định cũng được làm rõ Nhiều tổ chức đã áp dụng
mô hình Văn hóa – Đạo đức để ra quyết định (Cutural – Ethical Model) Nhiều lĩnh vực tri thức của con người đã nghiên cứu sâu về lý thuyết ra quyết định Các lý thuyết đã cho thấy rằng lựa chọn và hành vi biểu hiện cho các đặc tính căn bản của hiện tượng ra quyết định
Trang 17và chúng liên quan đến quá trình tư duy và phản ứng Một “quyết định” là một phản ứng với một tình huống và bao gồm sự phán xét, kỳ vọng, hay sự đánh giá
Các lý thuyết tâm lý, và quy chuẩn đã đưa ra các giả định khác nhau để giải thích cho tiến trình ra quyết định Mô hình ra quyết định tâm lý (Descriptive, Psycological decision theory) tập trung vào việc giải thích cách thức quyết định của các cá nhân Ngược lại, lý thuyết quy chuẩn, duy lý (Normative, Rational decision theory) giải thích việc những người ra quyết định cần quyết định ra sao Lý thuyết tâm lý không bao quát hết những nguyên tắc căn bản con người sử dụng khi giải quyết các vấn đề Các phương pháp duy lý giải thích cách thức người ra quyết định phân tích các kết quả của từng kịch bản khác nhau
để đi đến quyết định cuối cùng
Mô hình ra quyết định tâm lý cho rằng có tồn tại một cơ chế đặc biệt thông qua đó con người thu thập thông tin và giải thích cho các vấn đề của môi trường xung quanh Nói cách khác, quy trình tâm lý được dựa trên nguyên tắc cho rằng niềm tin và giá trị của một người
có thể tác động đến quá trình xử lý thông tin của bản thân người đó
Mô hình ra quyết định duy lý thiết lập một cơ chế cân đo giữa lựa chọn và giá trị Các phương pháp duy lý dẫn đến sự tối đa hóa kết quả đầu ra bằng việc nhấn mạnh quy trình lựa chọn hơn là cái gì được lựa chọn Một phương án thay thế nào đó sẽ luôn được lựa chọn nếu giá trị của phương án này cao hơn giá trị của các phương án tiềm năng khác
Cả hai lý thuyết lựa chọn tâm lý hay duy lý đều được lý thuyết hóa và thảo luận về ý nghĩa của giá trị, niềm tin, và hành vi Nhiều nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu về văn hóa, và một khái niệm văn hóa được đồng thuận cũng chứa đựng các khái niệm giá trị, niềm tin,
và hành vi Văn hóa đưa ra các yếu tố cho các cá nhân giải quyết các vấn đề của họ trong việc thích nghi với bên ngoài hoặc phối hợp bên trong Khi một giải pháp được cân nhắc nghiêm túc sẽ chỉ dẫn cho con người cách thức đúng để nhận diện, suy nghĩ, và giải quyết các vấn đề liên quan Văn hóa là nguồn tham khảo trong cuộc sống và biểu hiện trong cách con người hành động, suy nghĩ, tin tưởng Một tình huống ra quyết định gắn liền với quá trình suy xét của con người về môi trường vi mô và vĩ mô trong mối quan hệ nhất định với niềm tin và giá trị bản thân họ Vì vậy, quá trình ra quyết định chứa đựng thành phần văn
Trang 18hóa, và thành tố này tác động mạnh mẽ đến cách thức, thái độ, và cảm nhận của người ra quyết định
Từ các phân tích trên, có thể thấy quá trình ra quyết định bị chi phối bởi Đặc tính bản thân người ra quyết định, các Yếu tố kinh tế, và các Yếu tố văn hóa trong bối cảnh ra quyết
định
2.1.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Khái niệm DNNVV hiện nay ở các nước trên thế giới chỉ mang tính chất tương đối, khái thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội từng nước Tiêu thức
phân loại thường được sử dụng là Số lao động thường xuyên sản xuất, Doanh thu, Lợi
nhuận, Giá trị gia tăng, nhưng hai tiêu thức thường sử dụng nhất là Quy mô vốn và Lao động Hiện nay, có những quốc gia chỉ dùng một tiêu thức, nhưng có một số quốc gia dùng
một vài tiêu thức để xác định DNNVV Một số quốc gia dùng tiêu thức chung cho tất cả các ngành nghề, nhưng cũng có một số quốc gia lại dùng tiêu thức riêng cho từng ngành nghề để xác định DNNVV
Bảng 2.1 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số quốc gia và khu vực
2 Nhật
- Đối với ngành sản
xuất
- Đối với ngành thương mại
- Đối với ngành dịch vụ
1-300 1-100 1-100
¥ 0-300 triệu
¥ 0-100 triệu
¥ 0-50 triệu
Không quy định
3 EU
Siêu nhỏ Nhỏ Vừa
< 10
< 50
< 250
Không quy định
Không quy định
< CDN$ 5 triệu
Trang 19triệu 6.New
Không quy định
Không quy định
định
Không quy định
8 Taiwan Nhỏ và vừa < 200 < NT$ 80 triệu < NT$ 100
triệu
B NHÓM CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
định
< Baht 200 triệu
Không quy định
2 Malaysia - Đối với ngành sản
định < US$ 1 triệu < US$ 5 triệu
định
Không quy định
C NHÓM CÁC NƯỚC KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI
Vừa
1-249 250-999
Không quy định
Không quy định
Vừa
50-100 101-500
Không quy định
Không quy định
Vừa
< 50 51-200
Không quy định
Không quy định
4 Hungary
Siêu nhỏ Nhỏ Vừa
1-10 11-50 51-250
Không quy định
Không quy định
Nguồn: 1) Doanh nghiệp vừa và nhỏ, APEC, 1998; 2) Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ, UN/ECE, 1999; 3) Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ, OECD, 2000
Bảng 2.1 cho thấy, hầu hết các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở quan trọng để phân loại doanh nghiệp theo quy mô Điều này là hợp lý hơn so với việc lựa chọn các tiêu chí khác như doanh thu, vốn là các chỉ tiêu có thể lượng hóa được bằng giá trị tiền tệ Các tiêu chí như doanh thu, vốn tuy rất quan trọng nhưng thường xuyên chịu sự tác động bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát nên thiếu sự ổn định trong việc phân loại doanh nghiệp Điều này giải thích tại sao tiêu chí số lao động bình quân được nhiều quốc gia lựa chọn, tiêu chí này thường có tính
ổn định lâu dài về mặt thời gian, lại thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đang tham gia
Trang 20Số liệu ở bảng 2.1 cũng cho thấy, đa số các quốc gia chỉ sử dụng 1 trong 3 tiêu thức đánh giá trên, đặc biệt là nhóm các nước kinh tế đang chuyển đổi Một số quốc gia khác sử dụng kết hợp 2 trong 3 tiêu thức nói trên Một số ít quốc gia sử dụng kết hợp cả 3 tiêu thức số lao động, vốn và doanh thu
Ngân hàng thế giới (World Bank) và nhiều tổ chức quốc tế khác cũng đều sử dụng tiêu chí
số lao động để đánh giá Theo World Bank, doanh nghiệp được chia thành 4 loại tương ứng với số lượng lao động như sau: doanh nghiệp siêu nhỏ (số lao động nhỏ hơn 10 người), doanh nghiệp nhỏ (số lao động từ 10 người đến dưới 50 người), doanh nghiệp vừa (số lao động từ 50 người đến 300 người), doanh nghiệp lớn (số lao động lớn hơn 300 người) (Vũ Quốc Tuấn, 2001).
Ở Việt Nam từ sau giai đoạn mở cửa năm 1986, việc phân loại DNNVV tương đối khác nhau tùy theo giai đoạn kinh tế và mục tiêu các chương trình dự án Tuy nhiên, trong đề tài này tác giả sử dụng cách phân loại của theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP và DNNVV được định nghĩa lại như sau: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)
Đề tài này tác giả sử dụng cách tiếp cận doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP, vì đây là cách tiếp cận chủ yếu hiện nay tại Việt Nam, ngoài ra cách tiếp cận này có nhiều điểm chung với các nước trên thế giới và trong khu vực, cụ thể là phân loại doanh nghiệp dựa trên vốn hoạt động và số lượng lao động
Bảng 2.2 Phân loại DNNVV theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP
Quy mô
Khu vực
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người
II Công nghiệp 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200
Trang 21200 người 100 tỷ đồng 300 người III Thương mại
và dịch vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
50 người
từ trên 10 tỷ đồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50 người đến
Trong sự quan tâm đối với chính quá trình khởi nghiệp, khi các quyết định khởi nghiệp được đưa ra, chủ doanh nghiệp phải chấp nhận rủi ro cho việc sở hữu, việc thành lập doanh nghiệp, vì vậy khuynh hướng chấp nhận rủi ro của chủ doanh nghiệp chắc chắn tác động lên quyết định thành lập doanh nghiệp Trong khi, các chủ doanh nghiệp thành công thường có đủ kinh nghiệm quản lý, đặc biệt là kinh nghiệm làm việc tại các công ty lớn (Van de Ven & Garud, 1987), và thông qua các kinh nghiệm công việc trước đây, các chủ doanh nghiệp sẽ đạt được những hiểu biết kinh doanh tốt, những kỹ năng quan trọng và kiến thức quản trị phù hợp Chính những lý do này, trong nghiên cứu của Li và ctg (2006)
đã tập trung phân tích các ảnh hưởng của xu hướng chấp nhận rủi ro, khả năng và kinh nghiệm trong quyết định thành lập doanh nghiệp, thay vì cố gắng tìm hiểu hết các đặc tính tâm lý của chủ doanh nghiệp
Trong đề tài này, tác giả đo lường đặc điểm cá nhân dựa trên cách tiếp cận của Li và ctg (2006), vì mục tiêu của đề tài là kiểm định lại mô hình lý thuyết của Li và ctg (2006) trong bối cảnh Việt Nam
2.1.4 Môi trường văn hóa
Trang 22Khái niệm môi trường văn hóa lần đầu tiên được Giáo sư sinh - nhân chủng học người Pháp Georges Olivier đề cập đến trong tác phẩm “Sinh thái nhân văn” năm 1975 (Georges Olivier, 1992) Theo ông, môi trường văn hóa hay môi trường nhân văn được tạo nên bởi
sự “tác động của con người tới con người” và “tổ chức xã hội của chúng ta”, còn sự tác động của con người với tự nhiên cũng như sản phẩm từ nền công nghiệp đương nhiên đã
có và phải có
Trong nghiên cứu của Li và ctg (2006) đo lường môi trường văn hóa bằng ba câu hỏi, trong đó có hai câu là câu hỏi Có/Không, một câu là câu hỏi mức độ:
(1) Bạn có quen biết hay liên lạc với một vài chủ doanh nghiệp không? (Có/không)
(2) Thái độ của những người quanh bạn đối với các chủ doanh nghiệp là gì? (Tôn trọng, trung dung, ghen tỵ/thiếu tin tưởng)
(3) Mọi người đồng ý sự khác biệt về thu nhập trước và sau khi làm chủ doanh nghiệp? (Có/không)
Trong báo cáo GEM năm 2003 (Reynolds và ctg, 2003 dẫn theo Li và ctg (2006)), cũng
đo lường môi trường văn hóa bằng ba câu hỏi với lựa chọn Có/không:
(1) Ở quốc gia của bạn, hầu hết mọi người xêm việc khởi sự doanh nghiệp như một chọn lựa mong muốn;
(2) Ở quốc gia của bạn, những người thành công trong việc khởi sự doanh nghiệp có một
vị trí xã hội cao và được tôn trọng;
(3) Ở quốc gia của bạn, bạn sẽ thường đọc các câu chuyện về doanh nhân mới thành công
ở các phương tiện truyền thông đại chúng, và thấy rằng những doanh nhân này cho rằng bối cảnh văn hóa hiện nay rất ủng hộ việc thành lập, tạo lập các doanh nghiệp
Tất cả những khám phá từ các nghiên cứu của Reynolds và ctg (2003) dẫn theo Li và ctg (2006) hay Li và ctg (2006) đều cho rằng môi trường văn hóa có sự tác động đến xu hướng lựa chọn làm chủ doanh nghiệp
2.1.5 Môi trường kinh tế
Trang 23Môi trường kinh tế bao gồm các yếu tố bên ngoài trong thị trường kinh doanh và nền kinh
tế ngoài nước có thể tác động đến doanh nghiệp Môi trường kinh tế được chia thành môi trường vi mô, môi trường tác động đến việc ra quyết định kinh doanh của một nhóm doanh nghiệp, khách hàng, và môi trường vĩ mô, tác động đến toàn bộ một nền kinh tế và toàn bộ các thành phần cấu thành Có nhiều yếu tố kinh tế đóng vai trò như những tác nhân từ bên ngoài lên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, và doanh nghiệp ít có khả năng kiểm soát những yếu tố này
Tác động của môi trường kinh tế vĩ mô là những tác động kinh tế bên ngoài, những tác động này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên toàn bộ nền kinh tế và tất cả những
chủ thể bên trong nền kinh tế đó, bao gồm doanh nghiệp Những nhân tố này bao gồm: Lãi
suất; Thuế; Lạm phát; Tỷ giá hối đoái; Thu nhập khả dụng của người tiêu dùng; Tỷ lệ tiết kiệm; Mức độ tin cậy của người tiêu dùng; Khủng hoảng kinh tế; Tỷ lệ thất nghiệp
Các yếu tố vi mô tác động lên cách thức doanh nghiệp sẽ ra quyết định Không giống như các yếu tố vĩ mô, các yếu tố vi mô có phạm vi ảnh hưởng hẹp hơn, không tác động lên
toàn bộ nền kinh tế Các yếu tố vi mô tác động lên doanh nghiệp như: Quy mô thị trường;
Nhu cầu; Nguồn cung; Đối thủ cạnh tranh; Chuỗi phân phối
Môi trường kinh tế luôn luôn là trọng tâm của các nghiên cứu về môi trường khởi nghiệp Các nghiên cứu đã chứng minh rằng nhiều yếu tố kinh tế tác động lên mức độ hoạt động khởi nghiệp như khả năng tiếp cận nhà cung cấp, khách hàng hoặc các thị trường mới, và mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, … (El-Namaki, 1988; Gartner, 1985) Quan trọng hơn, các nghiên cứu cho rằng ở một mức độ nào đó, quyết định lý trí của một người nào đó là kết quả những kỳ vọng của người này về các điều kiện kinh tế trong tương lai
2.1.6 Động cơ
Trong nghiên cứu của Storey (1994) tổng hợp một số các giải thích được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu về sự khác biệt trong vấn đề ra đời của các doanh nghiệp nhỏ ở các giai đoạn thời gian, không gian, và lĩnh vực hoạt động Sự khác biệt được tạo ra giữa công việc
của những nhà kinh tế công nghiệp (Industrial economists), tập trung vào dạng thức Cấu
trúc-Điều hành-Kết quả (Ví dụ Acs và Audretsch (1989)); và các nhà kinh tế thị trường
lao động (labour market economists) cho rằng sự hình thành một doanh nghiệp mới có thể
Trang 24là một quyết định được đưa ra bởi một cá nhân trong bối cảnh của thị trường lao động Trong việc đưa ra quyết định như thế này, cá nhân bị tác động bởi nhiều yếu tố như kinh nghiệm trong công việc, động cơ, tính cách, môi trường gia đình, và quy tắc xã hội Cách tiếp cận từ quan điểm của những nhà kinh tế thị trường lao động sau này được sử dụng để giải thích cho sự hình thành một doanh nghiệp mới bởi những người không thuộc lĩnh vực kinh tế
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng cách tiếp cận của những nhà kinh tế học thị trường lao động để giải quyết vấn đề nghiên cứu Bởi lẽ, theo các thống kê không đầy đủ hiện nay thì chủ sở hữu các doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam phần lớn là các cá nhân có thể chưa qua đào tạo, hoặc đào tạo chỉ ở mức căn bản về kinh doanh, kinh tế
Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận của các nhà kinh tế thị trường lao động được bắt nguồn
từ nghiên cứu của Knight (1921), người cho rằng một cá nhân thực hiện quyết định trong
ba trạng thái: Thất nghiệp; Có công việc được trả lương; hoặc Làm chủ Những thay đổi trong tương quan về giá cả của ba trạng thái này có thể khiến một số cá nhân có thể dịch chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác Vì vậy, một cá nhân phải cân nhắc mức thu nhập trong việc đi làm công ăn lương, trở thành một ông chủ, hay tiếp tục thất nghiệp Nếu thất nghiệp ở mức cao, cá nhân sẽ có khả năng cân nhắc hoặc trở thành ông chủ hoặc thất nghiệp
Nghiên cứu của Knight (1921) chỉ ra các nhân tố thúc đẩy trong quyết định khởi tạo một doanh nghiệp mới Tương tự, nghiên cứu của Mayes và Moir (1990) cho rằng tính hấp dẫn tương đối của việc làm chủ và việc tạo dựng các doanh nghiệp nhỏ được gia tăng khi tình hình trở nên khó khăn hơn cho một lượng lớn những người thất nghiệp tìm việc Làm chủ
có thể nhiều rủi ro hơn và có thể kiếm được ít thu nhập hơn so với một công việc toàn thời gian Tuy nhiên, nếu so sánh giữa việc thất nghiệp và nhận một khoản lợi ích nhỏ từ trợ cấp thất nghiệp thì việc làm chủ một doanh nghiệp nhỏ hấp dẫn hơn
Ngoài ra, một số cá nhân có khả năng trở thành chủ một doanh nghiệp hơn những cá nhân khác vì sở hữu một số nhân tố kéo Ví dụ, Gray (1990) cho rằng sự hấp dẫn của việc tự do bản thân là một nhân tố kéo quan trọng để trở thành một ông chủ doanh nghiệp nhỏ
Trang 25Các nhà nghiên cứu khác tập trung vào yếu tố nguồn nhân lực trong quyết định trở thành chủ doanh nghiệp Ví dụ, một nghiên cứu thực nghiệm tại Mỹ đưa ra bằng chứng thuyết phục rằng nếu các yếu tố khác không đổi, mức độ tiếp nhận giáo dục có quan hệ tích cực với một dịch chuyển để trở thành chủ doanh nghiệp, nói cách khác khi một cá nhân càng được giáo dục cao, khuynh hướng họ muốn trở thành chủ doanh nghiệp sẽ càng lớn (Evans
& Leighton, 1990) Nghiên cứu của Birley và Westhead (1993) cho rằng tổ chức “lồng ấp”, tổ chức cá nhân làm việc cuối cùng trước khi trở thành chủ doanh nghiệp, có tác động rất lớn đến quyết định làm chủ của cá nhân, đặc điểm và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp mới thành lập vì tổ chức “lồng ấp” đã cung cấp các mối liên hệ cá nhân, sự hiểu biết thị trường, kỹ năng quản trị và kiến thức ngành cho cá nhân này trước khi trở thành chủ doanh nghiệp
Tóm lại, động cơ để trở thành chủ doanh nghiệp có thể vì sự chênh lệch thu nhập trước và sau khi khởi nghiệp, trạng thái bản thân trước khi khởi nghiệp, sự tự do bản thân, kiến thức có được trong quá trình công tác và học tập, …
2.2 Các nghiên cứu liên quan
2.2.1 Nghiên cứu của Watson và ctg (1998)
Nghiên cứu của Watson và ctg (1998) là một nghiên cứu thực nghiệm đối với việc khởi nghiệp, sự tồn tại và lớn mạnh của các doanh nghiệp trong những năm đầu sau khi thành lập, hoặc trái lại, là sự thất bại, phá sản Một nhóm các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ mới được thành lập và những doanh nghiệp này được sự hỗ trợ tư vấn của TEC (Training & Enterprise Council) ở khu vực West Yorkshire TEC là một trung tâm được thành lập bởi Chính phủ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 1988
Nghiên cứu này cung cấp thông tin liên quan đến việc đăng ký thành lập, phát triển và tăng trưởng của các doanh nghiệp mới và các yếu tố liên quan đến sự khác biệt về kết quả:
Thất bại và Tiếp tục tồn tại Ngoài ra, trong các tập con của các doanh nghiệp còn tồn tại,
nghiên cứu nhận diện các đặc điểm có liên quan đến tiềm năng tăng trưởng phát triển Kết quả ban đầu cho thấy tỷ lệ thất bại cao hơn khi người thành lập doanh nghiệp là nữ
Trang 26Nghiên cứu cho thấy hầu hết chủ doanh nghiệp trước khi khởi nghiệp là những người ở trạng thái thất nghiệp Ngoài ra, ngành nghề kinh doanh và đặc điểm doanh nghiệp chịu sự ảnh hưởng của tổ chức “lồng ấp” Nghiên cứu chưa thể kết luận ảnh hưởng của mức độ giáo dục đến xu hướng trở thành chủ doanh nghiệp
Nghiên cứu cũng đã cho thấy có sự khác biệt về động cơ dẫn đến làm chủ doanh nghiệp
Cụ thể, đối với nam giới, động cơ thuộc nhân tố đẩy như tìm kiếm thu nhập cao hơn, trạng thái thất nghiệp trước khi làm chủ, chán nản với công việc cũ là động cơ chủ yếu dẫn đến việc làm chủ so với nữ giới Tuy nhiên, những động cơ thuộc nhân tố kéo như sự tự do của bản thân, thú vị khi làm chủ, có thu nhập cao, sử dụng được kỹ năng sáng tạo trong quá trình làm chủ, … lại là yếu tố liên quan mật tiết đến việc doanh nghiệp có tồn tại và phát triển được hay không
2.2.2 Nghiên cứu của Li và ctg (2006)
Nghiên cứu của Li và ctg (2006) sử dụng mô hình Timmons để nhận diện mô thức của các hoạt động chủ sở hữu ở phạm vi vi mô tại Trung Quốc
Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm cá nhân, môi trường văn hóa và môi trường kinh tế
là những nhân tố bên ngoài tác động đến việc tạo ra một dự án mới, một doanh nghiệp mới
Nghiên cứu cũng cho thấy môi trường văn hóa, và môi trường kinh tế tích cực, ủng hộ sẽ quan trọng hơn đối với những chủ sở hữu được đào tạo bài bản về kinh doanh (Thạc sĩ Quản trị kinh doanh) hơn là cộng đồng chung nhằm khuyến khích bắt đầu những kinh doanh mới vì họ phải chịu những chi phí cơ hội cao hơn cho việc làm chủ (ví dụ như công việc ổn định, lương cao, …)
2.2.3 Nghiên cứu của Yusof, Sandhu, và Jain (2007)
Trong nghiên cứu của Yusof và ctg (2007) nhằm tìm hiểu về mối quan hệ giữa tính cách
và định hướng thành lập doanh nghiệp đối với sinh viên trường đại học Tun Abdul Razak tại Malaysia Nghiên cứu đã khảo sát 361 sinh viên thuộc 3 khoa của trường, bao gồm sinh viên đã tốt nghiệp và chưa tốt nghiệp
Trang 27Kết quả nghiên cứu của các tác giả này đã chỉ ra rằng những nhóm sinh viên có khao khát thành công, có khả năng chấp nhận rủi ro, và có tính độc lập càng cao thì họ càng có xu hướng làm chủ doanh nghiệp
2.2.4 Hạn chế của các nghiên cứu
Nghiên cứu của Watson và ctg (1998) thực hiện ở một thời điểm cách đây tương đối lâu, bối cảnh nghiên cứu tại vương quốc Anh, nơi có đặc điểm về môi trường văn hóa và môi trường kinh tế khác biệt rất nhiều so với Việt Nam
Nghiên cứu của Yusof và ctg (2007) chỉ mới xem xét đến tính cách cá nhân đến việc thành lập hoặc dự định thành lập doanh nghiệp Bên cạnh tính cách cá nhân, thì một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự thành lập doanh nghiệp, cũng như khả năng tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các nhân tố khác như môi trường văn hóa và môi trường kinh tế tại nơi doanh nghiệp hoạt động
Nghiên cứu của Li và ctg (2006) mặc dù thực hiện tại Trung Quốc, một quốc gia nằm gần với Việt Nam về địa lý, văn hóa Trung Quốc khá tương đồng với Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu không tập trung đo lường mức độ tác động của các nhân tố, mà đơn thuần chỉ khám phá mối quan hệ giữa các nhân tố trong mô hình nghiên cứu
2.3 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu đề xuất
Từ những phân tích trong phần tổng quan lý luận (các khái niệm và nghiên cứu liên quan, hạn chế của những nghiên cứu liên quan), mục tiêu nghiên cứu (được trình bày trong chương 1) tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:
Trang 28Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Giả thuyết nghiên cứu đề xuất:
H1: Môi trường văn hóa tích cực sẽ có ảnh hưởng thuận chiều đối với động cơ làm chủ; H2: Môi trường kinh tế tích cực sẽ có ảnh hưởng thuận chiều đối với động cơ làm chủ;
H3: Tính cách tích cực sẽ có ảnh hưởng thuận chiều đối với động cơ làm chủ;
H4: Động cơ làm chủ sẽ có ảnh hưởng thuận chiều đối với Hành vi/Dự định làm chủ
H5: Tính cách tích cực sẽ có ảnh hưởng thuận chiều đối với Hành vi/Dự định làm chủ
Trang 29CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Nghiên cứu thuộc dạng nghiên cứu kết hợp (kết hợp giữa phương pháp suy diễn và quy nạp) Mục tiêu của nghiên cứu là kiểm định lại mô hình nghiên cứu của Li và ctg (2006),
cụ thể là kiểm định lại mối quan hệ giữa Môi trường văn hóa; Môi trường kinh tế; Tính
cách cá nhân; Động cơ làm chủ; Hành vi/Dự định làm chủ Đề tài không sử dụng phương
pháp nghiên cứu định lượng thuần túy mà kết hợp thêm nghiên cứu định tính (phương pháp luận suy diễn) để đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp với bối cảnh nghiên cứu, xây dựng thang đo nghiên cứu, cũng như giải thích các kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản lý
3.2 Quy trình nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai giai đoạn: giai đoạn nghiên cứu sơ bộ (sử dụng phương pháp định tính) và giai đoạn nghiên cứu chính thức (sử dụng phương pháp định lượng) Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên tổng thuật lý thuyết hiện nay có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Sau đó tiến hành phỏng vấn sâu/thảo luận tay đôi, thảo luận nhóm với đối tượng là các nhà sáng lập, thành lập doanh nghiệp, một số chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu kinh tế thông qua bảng câu hỏi định tính được chuẩn bị từ trước nhằm xác định, hiệu chỉnh và bổ sung các yếu tố trong
mô hình nghiên cứu Từ đó tác giả xây dựng và phát triển các biến quan sát cho các yếu tố
dự kiến và xây dựng bảng hỏi phục vụ cho quá trình nghiên cứu định lượng
Giai đoạn nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm giải quyết các mục tiêu nghiên cứu, kiểm định mô hình và các giả thuyết của mô hình Thông qua bảng câu hỏi đã được phát triển từ quá trình nghiên cứu định tính, tác giả sẽ thực hiện quá trình thu thập dữ liệu bằng công cụ bảng hỏi gồm 2 phần: Phần A: Gồm các câu hỏi (biến quan sát) tương ứng với các thang đo sử dụng trong nghiên cứu (đo bằng thang đo Likert 5 mức độ) Đây là một dạng các câu hỏi dùng để đo lường mức độ đồng ý hay không đồng ý của các đối tượng nghiên cứu với những phát biểu được thiết kế sẵn Phần B gồm các câu hỏi mô tả đặc tính của mẫu, một số thông tin của đối tượng khảo sát như:
Trang 30Giới tính, trình độ học vấn, độ tuổi, tình trạng thu nhập hiện nay, tình trạng việc làm hiện nay nhằm thu thập mẫu có đầy đủ các thành phần tương ứng với tổng thể và xem xét các đặc tính mẫu đó có mức độ ảnh hưởng khác nhau lên các nhân tố khảo sát hay không
Do đề tài nghiên cứu hành vi/dự định hành vi của các cá nhân tại Lâm Đồng nên khách thể nghiên cứu là các thể nhân đang sinh sống tại Lâm Đồng Tác giả lựa chọn phương pháp chọn mẫu phi xác suất, cụ thể là chọn mẫu thuận tiện (convenient sampling) đã được sử dụng trong nghiên cứu này Lý do chọn mẫu thuận tiện là vì đối tượng được hỏi dễ tiếp cận, sẵn sàng trả lời bảng câu hỏi khảo sát, tiết kiệm được thời gian và chi phí Tuy nhiên,
tác giả cố gắng kiểm soát trong mẫu có sự phân bổ đồng đời theo các tiêu thức Giới tính,
Trình độ, Tình trạng công việc, Thu nhập Các bảng câu hỏi sẽ được gửi trực tiếp cho các
đáp viên để trả lời dưới hình thức phiếu khảo sát giấy Cở mẫu quan sát cần phải thoải mãn điều kiện tối thiểu để phân tích nhân tố khám phá EFA (N ≥ 5x (Hair, Black, Babin, Anderson, & Tatham, 2006) Do đó, tác giả đã phát ra 300 bảng câu hỏi khảo sát trong thời gian từ 15/04/2015 tới 15/05/2015 thu được 269 bảng câu hỏi hồi đáp trong đó có 57 phiếu trả lời không hợp lệ được loại ra (đánh theo quy luật, trả lời mâu thuẫn, không trả lời nhiều câu hỏi) Số phiếu trả lời hợp lệ cuối cùng được sử dụng cho quá trình phân tích số liệu là 212 phiếu thoả mãn yêu cầu tối thiểu của việc lấy mẫu ( ≥ 100 phiếu) đạt tỷ lệ hồi đáp là 70,7% và số phiếu hợp lệ đạt 78,8% trong tổng số phiếu trả lời Đề tài đầu tiên tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA để xác định các nhân tố trong mô hình nghiên cứu
từ các biến quan sát ban đầu Tiếp đó, nhóm tác giả tiến hành kiểm tra độ giá trị (giá trị phân biệt và giá trị hội tụ) của thang đo cũng như xác định sự phù hợp của các cấu trúc trong mô hình nghiên cứu bằng kỹ thuật phân tích nhân tố khẳng định CFA Đồng thời, tính toán độ tin cậy tổng hợp (composite reliability) và phương sai trích (variance extracted) Kế đến phương pháp mô hình hóa phương trình cấu trúc SEM được sử dụng để kiểm tra các giả thuyết của mô hình nghiên cứu Tất cả các kỹ thuật trên được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0
3.3 Xây dựng thang đo
Đề tài sử dụng dạng câu hỏi đóng, tác giả sẽ đưa ra luôn các câu trả lời để đối tượng được hỏi lựa chọn Nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm khám phá thêm các yếu tố khác
Trang 31các biến quan sát đo lường các khái niệm có trong mô hình nghiên cứu này cũng như kiểm tra cách sử dụng từ ngữ, điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu để người được khảo sát hiểu đúng và trả lời chính xác những thông tin cần thu thập
Ngoại trừ các biến phân loại bao gồm các biến như: Giới tính, Độ tuổi, Trình độ học vấn, Thu nhập hiện tại, Tình trạng việc làm, các biến còn lại được đo bằng thang đo Likert – 5 mức độ với:
1 Hoàn toàn không đồng ý
2 Không đồng ý
3 Bình thường
4 Đồng ý
5 Hoàn toàn đồng ý
Như đã trình bày trong chương 1 các yếu tố dự định hành vi/ hành vi làm chủ của cá nhân
phụ thuộc vào Môi trường văn hóa; Môi trường kinh tế; Tính cách bản thân; Động cơ làm
chủ nên thang đo được sử dụng ở đây lấy từ nghiên cứu của Li và ctg (2006) và nghiên
cứu của Watson và ctg (1998) Cụ thể thang đo nghiên cứu đề xuất được trình bày trong bảng 3.1:
Bảng 3.1- Thang đo nghiên cứu đề xuất Khái niệm nghiên
MTVH04
Ở đất nước bạn, những ai thành công trong việc tạo dựng doanh nghiệp thường có địa vị xã hội
Trang 32Môi trường
kinh tế
MTKT05
Bạn kỳ vọng chính sách thu hút đầu tư của địa phương trong thời
gian tới sẽ cải thiện
Li và ctg (2006)
MTKT06 Nguồn lao động tại địa phương
có chất lượng đảm bảo
MTKT07 Nguồn cung cấp nguyên nhiên
liệu tại địa phương là thuận lợi
MTKT08 Thị trường tại địa phương đáp
cơ hội thị trường
Hành vi/Dự định HVDĐ17 Tôi đã/hoặc dự định thành lập
doanh nghiệp Nghiên cứu định tính
Trang 33HVDĐ18
Tôi sẽ tiếp tục duy trì doanh nghiệp/hoặc tạo dựng doanh nghiệp mới trong tương lai
Trang 34CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương này trình bày kết quả xử lý dữ liệu thu thập được thông qua phần mềm thống kê SPSS 22.0 và AMOS 20.0 Cụ thể, phần này mô tả đặc điểm mẫu khảo sát, kiểm định độ giá trị, độ tin cậy và tính tương thích với dữ liệu thị trường của thang đo sử dụng trong nghiên cứu, kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu thông qua công
cụ thống kê mô tả, Cronbach’s alpha, EFA, CFA, và mô hình cấu trúc tuyến tính SEM Cuối cùng, đề tài cũng thực hiện một số phân tích ANOVA để so sánh sự khác biệt về hành
vi và dự định hành vi thành lập các DNNVV theo các biến nhân khẩu học
4.1 ĐẶC ĐIỂM MẪU KHẢO SÁT
Tác giả đã gửi 300 phiếu khảo sát tới các đáp viên Kết quả thu lại được 269 phiếu khảo sát trong đó có 212 phiếu khảo sát hợp lệ Đặc điểm mẫu khảo sát được trình bày trong bảng 4.1
Bảng 4.1- Mô tả mẫu khảo sát
Trang 35Nguồn: Tổng hợp từ kết quả xử lý dữ liệu trên phần mềm SPSS
Nhìn kết quả thống kê mô tả đặc điểm mẫu có thể thấy mẫu được lựa chọn khá phù hợp với thực tế, có sự phân bố đồng đều giữa các biểu hiện Như vậy mặc dù mẫu được lựa chọn theo phương pháp thuận tiện nhưng có sự cân đối theo tỷ lệ thực tế nên có thể kỳ vọng mẫu đại diện khá tốt cho tổng thể nghiên cứu
4.2 KIỂM ĐỊNH THANG ĐO CÁC KHÁI NIỆM
Như đã được đề cập trong phần tổng quan lý luận, các khái niệm được đưa vào mô hình
nghiên cứu lý thuyết gồm Môi trường văn hóa, Môi trường kinh tế, tính cách cá nhân,
Động cơ làm chủ, và Hành vi/dự định hành vi thành lập doanh nghiệp Các khái niệm này
là những biến tiềm ẩn, vì vậy để đo lường các khái niệm này, tác giả đã sử dụng các định nghĩa thực tiễn, hay còn gọi là các biến quan sát được lấy từ các nghiên cứu liên quan trước đây như Li và ctg (2006), Watson và ctg (1998) Bên cạnh đó, tác giả có bổ sung thêm một số biến quan sát được rút ra từ nghiên cứu định tính sơ bộ bằng cách phỏng vấn sâu một số chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu định lượng Do đó, việc kiểm định độ tin cậy và độ giá trị của các thang đo này là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo thang đo đạt được các yêu cầu về độ tin cậy và độ giá trị
Trước tiên, tác giả sẽ tiến hành kiểm định độ tin cậy sơ bộ của các thang đo thông qua phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA để rút trích ra các nhân tố từ các biến quan sát trong thang đo Sau khi phân tích EFA, tác giả tiến hành phân tích CFA để khẳng định lại độ tin cậy và độ giá trị của thang đo
Trang 364.2.1 Độ tin cậy sơ bộ của thang đo và phân tích nhân tố khám phá EFA
Độ tin cậy là mức độ mà phép đo có thể tránh được các sai số ngẫu nhiên, liên quan đến tính chính xác, nhất quán của kết quả Phương pháp kiểm tra độ tin cậy nhằm thực hiện đánh giá lại độ tin cậy của thang đo trong từng nhân tố, hệ số Cronbach’s alpha được sử dụng làm tiêu chuẩn để loại bỏ các biến rác Các biến có hệ số tương quan biến tổng (corrected item-total correlation) nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại cùng với điều kiện hệ số Cronbach’s alpha phải lớn hơn 0.6 (nhưng tốt nhất là lớn hơn 0.7) (Trọng & Ngọc, 2008) Phân tích EFA dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa các biến đo lường, vì vậy trước khi quyết định sử dụng EFA cần phải xem xét mối quan hệ giữa các biến đo lường này Sử dụng ma trận hệ số tương quan có thể nhận biết được mức độ quan hệ giữa các biến Nếu các hệ số tương quan nhỏ (<0,3) thì sử dụng EFA không phù hợp (Hair và ctg., 2006) Một số tiêu chí đánh giá mối quan hệ giữa các biến sau:
Kiểm định Bartlett: dùng để xem xét ma trận tương quan có phải là ma trận đơn vị I (identity matrix), là ma trận có các thành phần (hệ số tương quan giữa các biến) bằng không và đường chéo (hệ số tương quan với chính nó) bằng 1 Nếu phép kiểm định Bartlett có p < 5%, giả thuyết Ho bị từ chối (ma trận tương quan là ma trận đơn vị), nghĩa
là các biến có quan hệ với nhau
Kiểm định KMO (Kaiser-Meyer-Olkin measure of sampling adequacy) là chỉ số dùng
để so sánh độ lớn của hệ số tương quan giữa hai biến Xi và Xj với độ lớn của hệ số tương quan riêng phần của chúng (Norušis, 1994) KMO càng lớn càng tốt vì phần chung giữa các biến càng lớn Để sử dụng EFA, KMO phải lớn hơn 0,5 Kaiser (1974) đề nghị KMO
≥ 0.9: rất tốt; KMO ≥ 0.8: tốt; KMO ≥ 0.7: được; KMO ≥ 0.6: tạm được; KMO ≥ 0.5: xấu
và KMO < 0.5: không thể chấp nhận được
Kích thước mẫu: Để sử dụng EFA cần kích thước mẫu lớn Vấn đề xác định kích thước mẫu phù hợp là vấn đề phức tạp, thông thường dựa theo kinh nghiệm Hair & ctg (2006) cho rằng để sử dụng EFA, kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỷ lệ số quan sát / biến đo lường là 5:1, nghĩa là một biến đo lường cần tối thiểu 5 quan sát, tốt nhất là 10:1 trở lên
Tạo biến cho nhân tố: trong nghiên cứu thông thường, một khái niệm nghiên cứu được
đo lường bằng nhiều biến đo lường Tuy nhiên, trong đa số các nghiên cứu tiếp theo (vd:
Trang 37Hồi quy, ANOVA) một khái niệm phải là một biến vì vậy cần phải tạo biến cho khái niệm nghiên cứu
Kết quả phân tích nhân tố EFA để đánh giá độ giá trị của thang đo đã trích ra được năm nhân tố, tổng số biến còn lại sau cùng là 20 biến quan sát (Xem phụ lục) Kết quả được trình bày trong bảng 4.2 sau:
Bảng 4.2- Bảng tóm tắt kết quả chạy EFA và Cronbach’s Alpha
tải EFA Kết quả
Cronbach’s Alpha
Môi trường
văn hóa
Khuyến khích thành lập doanh nghiệp
Li và ctg
(2006) 0.619 Chấp nhận
0.773
Tôn trọng những người thành lập doanh nghiệp
Li và ctg
(2006) 0.793 Chấp nhận
Làm chủ doanh nghiệp là điều đáng
tự hào
Li và ctg
(2006) 0.708 Chấp nhận
Chủ doanh nghiệp thường có địa vị xã
Li và ctg
(2006) 0.768 Chấp nhận
0.873
Nguồn lao động đảm bảo
Li và ctg
(2006) 0.820 Chấp nhận Nguồn nguyên
nhiên liệu thuận lợi
Li và ctg
(2006) 0.844 Chấp nhận Thị trường đáp ứng
Li và ctg
(2006) 0.818 Chấp nhận
Trang 38nghiệp
Tự tin về kinh nghiệm
Li và ctg
(2006) 0.838 Chấp nhận Hiểu biết về thị
Watson và ctg (1998) 0.801 Chấp nhận
0.800
Tự do về thời gian
hơn
Watson và ctg (1998) 0.759 Chấp nhận
Tự do sáng tạo, quản lý
Watson và ctg (1998) 0.795 Chấp nhận Khai thác các cơ
hội thị trường
Watson và ctg (1998) 0.809 Chấp nhận
Hành vi/dự
định hành vi
Đã/hoặc dự định thành lập doanh nghiệp
Nghiên cứu định tính 0.840 Chấp nhận
Không coi việc làm công là công việc
ổn định
Nghiên cứu định tính 0.841 Chấp nhận
Muốn sống bằng thu nhập từ việc kinh doanh
Nghiên cứu định tính 0.822 Chấp nhận
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả xử lý dữ liệu trên phần mềm SPSS
Nhìn vào kết quả của bảng trên, ta có thể thấy các biến quan sát đều đạt được hệ số tải nhân tố lớn hơn 0.5 Các khái niệm đều đạt được hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0.7 Các khái niệm sau khi rút trích đều có phương sai trích lớn hơn 60% (Xem phụ lục) Như vậy,
có thể kết luận sơ bộ các thang đo đưa vào nghiên cứu đảm bảo độ tin cậy và độ giá trị
Trang 394.2.2 Phân tích nhân tố khẳng định CFA
Để khẳng định về mức độ phù hợp (độ tin cậy, và độ giá trị) của thang đo Tác giả tiến hành phân tích nhân tố khẳng định CFA Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA, tính toán độ tin cậy tổng hợp (composite reliability), phương sai trích cho mỗi nhân tố Kết quả được trình bày trong bảng 4.3 và hình 4.1 như sau:
Hình 4.1- Kết quả phân tích nhân tố khẳng định cho các thang đo
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả xử lý dữ liệu trên phần mềm SPSS
Bảng 4.3- Bảng ma trận đặc trưng của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu
tố
Độ tin cậy tổng hợp
Phương sai trích
Khuyến khích thành lập doanh
Trang 40Chính sách thu hút đầu tư sẽ cải
Nguồn nguyên nhiên liệu thuận lợi 0.825
Hiểu biết về thị trường và quan hệ cá