1. Trang chủ
  2. » Vật lý

Thông báo Khoa học và công nghệ số 2 năm 2014

140 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 3,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh việc xác định được giá trị của thương hiệu trong tổng giá trị tài sản của công ty, việc định giá thương hiệu còn giúp chúng ta có được sự tham chiếu cần t[r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG

SỐ 2 – NĂM 2014

LƯU HÀNH NỘI BỘ

Trang 2

Phó ban : TS guyễn ăn Cường

Ủy viên Thường trực:

ngày 17/12/2014 của Sở Thông tin và

Truyền thông Phú Yên

In xong và nội lưu chiếu tháng

Lê Duy Quang Đổi m i tư duy giáo d c ại h c áp

ứng nhu c u ào tạo ngu n nhân lực chất lư ng cao trong thời kỳ hội nh p

L Đ G Giáo d c ào tạo là ch a khoá thành

công ứng ph v i biến ổi khí h u 29

v t trong xây dựng và tổ chức thực hi n ường lối

ổi m i kinh tế của Đảng ta

45

Ng T D Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi -

Giá trị hạn chế và bài h c lịch s của n ối v i vi c xây dựng nhà nư c pháp quyền x hội chủ ngh a ở

nư c ta hi n nay

52

N T H Tính toán tường t ng h m bê

tông cốt thép theo các giai oạn thi công bằng ph n mềm Plasix

57

Võ V N Công ngh sàn Bubbledeck trong xây

C T H V nh hưởng của cường ộ bê

tông ến khả năng chịu lực của liên kết c t Perfobond ứng d ng trong kết cấu liên h p bê tông - thép

72

L Đ V Công ngh thi công tường c bê tông cốt

thép dự ứng lực trong xây dựng t ng h m nhà cao t ng 79

L T S nh Phương pháp không lư i Radial

Point Interpolation Method (RPIM : Tổng quan và ứng d ng

Trang 4

ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG HƯỚNG TỚI MỤC TIÊU 2020

PGS TS Vũ Ngọc Anh Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Năm 2015 đang đến và cũng chỉ còn 5 năm nữa là trường Đại học

Xây dựng Miền Trung phải hoàn thành mục tiêu 2010-2020, đồng thời đặt ra

những tiền đề phát triển cho những năm sau đó Trước những khó khăn của

giáo dục đại học cả nước đang đối mặt như: Quy hoạch hệ thống các trường

mất cân đối, cơ chế quản lý nặng tính kế hoạch, quản trị đại học chưa tìm được

hướng đi, nội dung và chương trình đào tạo đại học chưa đổi mới, chất lượng

đào tạo chưa được kiểm định.v.v Nhưng năm qua, giáo dục Đại học cũng đã có

những cú hích lớn từ các định hướng của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết

29/NQ-TW của Ban chấp hành TW về việc đổi mới căn bản giáo dục và đào

tạo; Quyết định 37/2013/NQ-TTg về việc điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các

trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006-2020; Nghị quyết 44/NQ-CP ban

hành Chương trình hành động của Chính phủ về việc thực hiện Nghị quyết

29/NQ-TW của BCHTW Trong bối cảnh đó, Đại học Xây dựng Miền Trung cần

lỗ lực phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao.

Từ khoá: Đổi mới giáo dục đại học, mục tiêu 2020, Đại học Xây dựng Miền Trung

Trường Đại học Xây dựng (ĐHXD)

Miền Trung được Thủ tướng Chính phủ

ký quyết định thành lập ngày 28/7/2011

trên cơ sở Trường Cao Đẳng Xây dựng

số 3 Nếu tính từ thời kỳ thành lập

(Trường Trung cấp Xây dựng số 6)

14/2/1976 đến nay đã 38 năm 38 năm đó

đối với con người là ở độ chín, nhưng đối

với một trường đại học thì còn non trẻ so

với các trường đại học trên thế giới Ví

dụ như Đại học Harvard thành lập năm

1636, Đại học Oxford thành lập 1096 Ở

Việt Nam thì ĐHXD Miền Trung là cái

tên mới còn ít được biết đến

Tuy là trường ĐH mới nhưng

Trường ĐHXD Miền Trung được thừa

hưởng “thương hiệu” về truyền thống đào

tạo uy tín, chất lượng từ khi Trường còn là

Trường trung cấp XD số 6 và Cao đẳng

XD số 3 Thời kỳ những năm 80 của thế

kỷ trước, tuy là trường trung cấp nhưng Nhà trường đã liên kết với ĐH Kiến trúc

Hà Nội mở các lớp đại học để đào tạo các

kỹ sư xây dựng và kiến trúc sư có đủ phẩm chất, năng lực phục vụ nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế xã hội cho các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên

Từ khi có quyết định nâng cấp lên Đại học, Trường ĐHXD Miền Trung đã được Bộ Xây dựng đầu tư cơ sở vật chất đồng bộ để xứng tầm khu vực nhằm mục đích đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ công cuộc Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá ngành Xây dựng Đến nay Trường có đội ngũ cán bộ giảng dạy

và phục vụ là 232 người, trong đó có 2 phó giáo sư, 11 tiến sĩ, 13 nghiên cứu sinh và 93 thạc sĩ, đây là nguồn lực

Trang 5

mạnh mẽ để Nhà trường phát triển trong

các năm tiếp theo Nhà trường cũng được

Bộ Xây dựng đầu tư trên 20 tỷ đồng để

nâng cao năng lực nghiên cứu và triển

khai hoạt động khoa học công nghệ trong

lĩnh vực xây dựng, với 5 phòng thí

nghiệm: Vật liệu xây dựng, Địa kỹ thuật,

Xây dựng, Cầu đường, Nước và Hoá Môi

trường với đầy đủ trang thiết bị hiện đại,

đáp ứng được công tác nghiên cứu cho

cán bộ và sinh viên

Trong 5 năm tới, khi cơ sở thứ hai

đưa vào sử dụng thì tổng diện tích của

trường gần 18 ha, 84 phòng học, 3 hội

trường, 5 phòng thí nghiệm, nhà hiệu bộ

với 40 phòng làm việc và hội thảo, 01

nhà thể thao đa năng cùng các sân thể

thao đồng bộ, khi đó Trường ĐHXD

Miền Trung là một trong số ít cơ sở giáo

dục đào tạo đại học trong nước đạt

chuẩn về cơ sở vật chất Để xứng tầm là

một đại học cấp vùng và khẳng định vị

thế của Trường ở khu vực Nam Trung

Bộ và Tây Nguyên thì Trường ĐHXD

Miền Trung cần tập trung mạnh mẽ vào

các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là: Xây dựng đội ngũ cán bộ

giảng dạy: Đến năm 2020 Trường

ĐHXD Miền Trung phấn đấu có 15%

cán bộ giảng dạy đạt trình độ tiến sĩ, ưu tiên cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài bằng các chương trình học bổng theo đề

án 911, học bổng dạng hiệp định với các nước và nguồn do cá nhân hoặc Nhà trường khai thác Chú ý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ khoa học cho các ngành như: Xây dựng dân dụng và công nghiệp, Kiến trúc công trình và Quy hoạch, Xây dựng cầu đường, Xây dựng công trình thuỷ, Kỹ thuật môi trường,

Kỹ thuật tài nguyên nước, Kinh tế xây dựng, Quản lý đô thị, Vật liệu xây dựng, Công nghệ thông tin, Năng lượng Đây

là các ngành mà Nhà trường có nhiệm

vụ đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực cho ngành Xây dựng, ngoài ra chúng ta phải biết khai thác thế mạnh của một trường

ĐH nằm trong thành phố biển, đó là phải đào tạo cán bộ kỹ thuật cho khai thác kinh tế biển, đây cũng là một trong những trọng tâm trong chiến lược phát triển Trường

Hai là: Tiếp tục mở mã ngành và

các viện nghiên cứu: Hiện nay trường mới có 4 mã ngành đại học và 11 mã ngành cao đẳng (xem bảng 1)

Bảng 1 Các ngành đào tạo hiện có

STT Đào tạo đại học Đào tạo cao đẳng

nghiệp

Công nghệ kỹ thuật công trình xây dựng

Kinh tế xây dựng

Trang 6

6 Quản lý xây dựng - Chuyên ngành

Quản lý đô thị

Định hướng tới năm 2020 và sau 2020 các ngành nghề đào tạo của trường

như sau:

Bảng 2 Các ngành đào tạo năm 2020 và sau 2020

STT Đào tạo đại học Đào tạo cao đẳng

nghiệp

Công nghệ kỹ thuật công trình xây dựng

Kinh tế xây dựng

Quản lý đô thị

phong điện…)

Công nghệ năng lượng

14 Kỹ thuật xây dựng công trình biển Công nghệ xây dựng công trình thuỷ

15 Thăm dò, khai thác tài nguyên biển Công nghệ khai thác dầu khí

Bên cạnh đó trường cần tiến hành thành lập các Viện trực thuộc để triển khai

nhiệm vụ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ

Trang 7

Bảng 3 Các Viện dự kiến thành lập đến năm 2020 và sau 2020

Công nghệ Xây dựng Miền Trung

Nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, tiến hành các hoạt động dịch vụ

tư vấn trong lĩnh vực kết cấu, thi công, xử lý nền móng

Nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, tiến hành các hoạt động dịch vụ

tư vấn trong lĩnh vực cầu đường

Nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, tiến hành các hoạt động dịch vụ

tư vấn trong lĩnh vực kết cấu, thi công, xử lý nền móng cho công trình ven biển, thềm lục địa, hải đảo

7 Viện Thăm dò, Khai thác, Bảo vệ

Tài nguyên biển

Nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, triển khai các hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực thăm dò, khai thác, bảo

vệ nguồn lợi biển

Ba là: Hoàn thiện hệ thống quản

trị: Quản trị đại học là những phương

cách để những người có thẩm quyền

lãnh đạo hướng dẫn và giám sát các mục

tiêu và giá trị của Nhà trường thông qua

các chính sách và quy trình thực hiện

[1] Đối với các nước tư bản có nền giáo

dục Đại học phát triển thì mục tiêu,

chiến lược phát triển của trường ĐH do Hội đồng trường đặt ra Hội đồng trường

là một cơ quan được bầu hoặc hiệp thương bao gồm: đại diện lãnh đạo nhà trường, một số nhà khoa học có uy tín, một số chính trị gia hoặc lãnh đạo phong trào (có uy tín trong xã hội), một số doanh nghiệp và đại diện sinh viên Khi

Trang 8

Hội đồng trường đề ra mục tiêu thì Hiệu

trưởng có trách nhiệm thực hiện mục

tiêu, để thực hiện mục tiêu thì Hiệu

trưởng phải ra các quyết định và huy

động các nguồn lực để thực hiện Trong

quá trình thực hiện thì Hội đồng đóng

vai trò giám sát và Hiệu trưởng phải có

trách nhiệm giải trình

Ngày 30 tháng 7 năm 2013, Chính

phủ đã ban hành quyết định số

153/2003/QĐ-TTg về việc ban hành

Điều lệ trường đại học, sau đó ngày 21

tháng 6 năm 2004, Bộ Giáo dục và Đào

tạo ban hành thông tư số

18/2004/TT-BGD&ĐT về việc hướng dẫn thực hiện

một số điều của Điều lệ trường đại học

Nhưng cho đến nay còn nhiều trường

chưa tiến hành thành lập Hội đồng

trường do nghi ngờ tính hiệu quả của

Hội đồng trường, do chưa tìm được cơ

chế hoạt động cũng như mối quan hệ

giữa Hội đồng trường với các bộ phận

hiện hữu trong các trường công lập tại

Việt Nam (Đảng uỷ, Công đoàn, Đoàn

TN, Hội SV, các phòng ban chức năng)

Tuy nhiên theo xu thế của giáo dục đại

học hiện đại và đặc biệt Nhà nước đã có

chính sách khuyến khích cơ chế tự chủ

đại học thì việc thành lập Hội đồng

trường là một trong những giải pháp khả

thi Do vậy trong thời gian tới để hoàn

thiện mô hình quản trị đại học, Trường

ĐHXD Miền Trung sẽ thành lập Hội

đồng trường và đây là cơ quan quyết

nghị chủ trương, mục tiêu, chiến lược,

kế hoạch phát triển của trường, hệ thống

ngành đào tạo, quy mô đào tạo, hình

thức đào tạo; Quyết nghị về dự thảo

Quy chế về tổ chức hoạt động của

Trường hoặc các sửa đổi, bổ sung Quy chế trước khi Hiệu trưởng trình các cấp

có thẩm quyền phê duyệt; Quyết nghị chủ trương chi tiêu, đầu tư xây dựng cơ

sở vật chất, mua sắm trang thiết bị từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp và nguồn thu sự nghiệp; Giám sát việc thực hiện “Quy chế dân chủ trong các hoạt động của Nhà trường” và các nghị quyết của Hội đồng trường Khi đó vai trò của Hiệu trưởng và Ban Giám hiệu có trách nhiệu điều hành như đã nói ở trên Có như vậy Nhà trường mới huy động được mọi nguồn lực về con người và vật chất cho phát triển, tránh mắc phải sai lầm, khiếm khuyết trong điều hành, giữ vững được ổn định

Bốn là: Mở rộng hợp tác nghiên

cứu khoa học và quan hệ quốc tế: Đối với đào tạo đại học thì nghiên cứu khoa học (NCKH) phải là tất yếu, NCKH không những để giải quyết vấn đề đang đòi hỏi của thực tế sản xuất, giảng dạy

mà bản thân NCKH đã rèn tính cẩn thận, tính khoa học, tính trung thực cho giảng viên và sinh viên NCKH để bồi đắp kiến thức, hoàn thiện công nghệ chuyển giao cho các đơn vị sản xuất Đại học Xây dựng Miền Trung hướng tới năm

2020 phải có 3 đến 5 đề tài cấp nhà nước, từ 10 đến 15 đề tài cấp Bộ tập trung ở các lĩnh vực Kiến trúc đặc thù khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên;

Vật liệu cho công trình biển; Xây dựng nhà ứng phó với biến đổi khí hậu; Xử lý môi trường…

Để thúc đẩy nghiên cứu khoa học

và tiếp cận với trình độ khu vực và quốc tế thì hợp tác quốc tế trong

Trang 9

NCKH và đào tạo là sự lựa chọn tối

ưu Mục tiêu của Trường trong những

năm tới là tăng cường hợp các với các

trường có cùng khối ngành đào tạo

trong khu vực ASEAN, tìm kiếm các

đối tác có nhiều tiềm lực về NCKH và

đào tạo như Nhật Bản, Hàn Quốc,

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Quản trị đại học và mô hình cho khối đại học kinh tế ở Việt Nam - Tạp chí Phát

triển và Hội nhập, số 8 tháng 1-2/2013

Trang 10

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP SÁNG TẠO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG

ThS Phạm Văn Tâm Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

1 Đặc điểm tình hình

14/2/1976, Trường Trung cấp Xây dựng

số 6 được thành lập, đóng chân tại

phường 7, Tp Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

Sau 25 năm xây dựng và trưởng thành

trường đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo

nâng cấp thành Trường Cao đẳng Xây

dựng số 3 vào ngày 21/5/2001 Để tiếp

tục phát triển, Nhà trường trong giai

đoạn mới, lãnh đạo Nhà trường đã đề

ra các mục tiêu và giải pháp quan

trọng, trọng đó là: Xây dựng đội ngũ

có trình độ cao; tăng cường cơ sở vật

chất; đổi mới phương pháp dạy và học

để không ngừng nâng cao chất lượng

đào tạo và mục tiêu quan trọng nhất là

sớm trở thành một trường đại học

Thực hiện tốt mục tiêu trên, ngày

28/7/2011 Thủ tướng chính phủ đã

quyết định thành lập Trường Đại học

Xây dựng Miền Trung trên cơ sở

Trường Cao đẳng Xây dựng số 3

Đến nay, sau ba mươi tám thành

lập nhà trường đã trực tiếp đào tạo được

hàng chục ngàn cán bộ kỹ thuật, nghiệp

vụ và công nhân kỹ thuật Nhà trường

cũng đã phối hợp với Trường Đại học

Kiến trúc Hà Nội, Trường Đại học Xây

dựng Hà Nội, Trường Đại học Kiến trúc

T.P Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nha

Trang đào tạo hàng ngàn kiến trúc sư, kỹ

sư xây dựng, kỹ sư cấp thoát nước, đô

thị, cầu đường, cử nhân kế toán Hơn

95% học sinh, sinh viên sau khi tốt

nghiệp đã được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp trên mọi miền đất nước, nhiều người hiện là cán bộ chủ chốt của ngành Xây dựng, cán bộ chủ chốt của các tỉnh Miền Trung

và Tây Nguyên, thương hiệu về đào tạo của nhà trường được xã hội chấp nhận

Hiện nay, Nhà trường có gần 240 cán

bộ, giáo viên, tuyển sinh và đào tạo 4 mã ngành đại học: Kỹ thuật công trình xây dựng, Kỹ thuật công trình giao thông, Kiến trúc; 11 mã ngành cao đẳng với gần 4000 HSSV theo học

Từ ngày được nâng cấp thành trường đại học đến nay, ngoài việc tăng cường cơ sở vật chất, xây dựng đội ngũ giảng viên, không ngừng quan tâm đến công tác đổi mới phương pháp dạy và học, Nhà trường còn chú trọng đến lĩnh vực sáng tạo thông qua công tác nghiên cứu khoa học, sáng tạo để Nhà trường thực sự trở thành một cơ sở đào tạo xứng tầm với vị thế mới của trường

2 Thực trạng sáng tạo tại Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Trước tiên, chúng ta cũng cần hiểu thế nào là sáng tạo Sáng tạo đóng vai trò gì trong một Nhà trường

2.1 Khái niệm về sáng tạo

Thực chất sáng tạo được hiểu là những ý tưởng mới, những ý tưởng này tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người

Một sản phẩm sáng tạo phải được thể hiện bởi 3 tiêu chí sau: Tính mới chưa ai

Trang 11

làm, sáng tạo hơn so với những cái có

trước; Khả năng ứng dụng rộng rãi, áp

dụng có hiệu quả; Hiệu quả kinh tế, kỹ

thuật, xã hội Trong Nhà trường sáng tạo

thông qua nghiên cứu khoa học để phục

vụ cho giảng dạy, học tập và chuyển

giao công nghệ là cần thiết

2.2 Vai trò nghiên cứu, sáng tạo khoa

học trong trường đại học

Trong quá trình chuyển biến

nhanh toàn cầu hiện nay, với sự thay

đổi nhanh chóng về khoa học và công

nghệ, các quốc gia phát triển và đang

phát triển đã nỗ lực nâng cao năng lực

nghiên cứu, sáng tạo tri thức Nền kinh

tế tri thức đã và đang thực sự chiếm

lĩnh ưu thế trong các hoạt động của

nhân loại Tri thức thực sự đã trở thành

yếu tố quan trọng nhất quyết định mức

sống - hơn cả yếu tố đất đai, hơn cả

yếu tố tư liệu sản xuất, hơn cả yếu tố

lao động Trong nền kinh tế tri thức ấy,

vai trò của các trường đại học luôn

được đặt ở vị trí quan trọng, bởi các

“trường đại học tiên tiến trên thế giới

đều đề xuất và cố gắng thực hiện tốt ba

chức năng cơ bản của trường đại học

như: nghiên cứu để sáng tạo tri thức,

giảng dạy để truyền bá tri thức và cung

cấp dịch vụ để phụng sự xã hội”[1]

Thực vậy, trong trường học thì đa số

giảng viên là những người có học vị

cao, được đào tạo bài bản các chuyên

ngành đào tạo trong Nhà trường, bên

cạnh đó còn có một lực lượng sinh

viên, có hệ thống phòng thí nghiệm

chuyên ngành là điều kiện cần thiết cho

nghiên cứu, sáng tạo

2.3 Thực trạng về sáng tạo trong nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Với tư cách là một trường đại học mới được thành lập, ba năm qua Trường Đại học Xây dựng Miền Trung đã có những nỗ lực đáng kể trong lĩnh vực sáng tạo thông qua nghiên cứu khoa học trong cán bộ, giảng viên và sinh viên Nhà trường Lãnh đạo Nhà trường rất quan tâm lĩnh vực nghiên cứu khoa học, sáng tạo nghiên cứu khoa học Nhà trường đã thành lập Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, bố trí nhân sự và cơ sở vật chất cần thiết để quản lý về lĩnh vực nghiên cứu khoa học, sáng tạo Nhà

trường đã “Quy định về công tác nghiên

cứu khoa học của giảng viên ” xem đó

là nhiệm vụ bắt buộc của giảng viên cơ hữu, cán bộ quản lý tham gia giảng dạy,

là tiêu chuẩn quan trọng để xét duyệt danh hiệu thi đua, tính điểm khoa học và chức danh khoa học cho giảng viên

Nghiên cứu khoa học, sáng tạo của Nhà

trường nhằm mục tiêu “Nâng cao chất

lượng đào tạo, phục vụ yêu cầu sản xuất, đời sống xã hội, phát huy tính sáng tạo

và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn”[2] Mặc dù vậy, sự chuyển biến

nhận thức về vai trò nghiên cứu khoa học, sáng tạo nghiên cứu khoa học trong giảng viên, sinh viên còn chậm vì nhiều nguyên nhân khác nhau như:

Trường mới được phát triển trên cơ

sở là một trường cao đẳng;

Xa các trung tâm khoa học kỹ thuật lớn ở hai đầu đất nước (Hà Nội,

TP HCM);

Trang 12

Thiếu những nhà khoa học đầu đàn

để tạo nền tảng cho nghiên cứu khoa học

và sáng tạo khoa học;

Chưa có sự phối hợp, kết nối với

các tổ chức KH&CN ngoài trường, đặc

biệt là các doanh nghiệp cùng chuyên

ngành hoạt động trong khu vực

Việc xây dựng nhóm nghiên cứu

KH&CN chưa được quan tâm và đầu tư

đúng mức; đầu tư trang thiết bị phục vụ

nghiên cứu và dịch vụ còn thiếu và chưa

đồng bộ

Với các nguyên nhân trên tạo ra sự

tồn tại như sau:

- Số lượng giảng viên tham gia

nghiên cứu khoa học, sáng tạo nghiên

cứu khoa học còn ít, các nghiên cứu

trong sinh viên còn rất ít

- Sự liên kết giữa nghiên cứu,

giảng dạy và áp dụng vào thực tiễn chưa

thật sự hiệu quả, nhiều đề tài NCKH

việc áp dụng vào thực tiễn chưa cao Các

sản phẩm nghiên cứu hiện nay của Nhà

trường chủ yếu phục vụ giảng dạy, các

sản phẩm nghiên cứu ứng dụng còn rất

khiêm tốn

- Những tiêu chí để đánh giá hiệu

quả của hoạt động KH&CN chưa được

chi tiết Việc nghiên cứu chỉ mới được

đánh giá sản phẩm, chưa chú trọng

hiệu quả sau một thời gian đưa vào

hoạt động

- Về các bài báo, công trình

khoa học: mới chỉ đánh giá theo số

bài báo được đăng tải và số đề tài

NCKH chưa xét kỹ hơn về mặt chất

lượng và hiệu quả

- Hoạt động KH&CN và tư vấn của

nhà trường trong những năm gần đây

đóng góp vào thu nhập bình quân chung của Nhà trường còn rất thấp

Kết quả nghiên cứu được cụ thể hóa như sau:

* Năm 2011-2012

Đề tài cấp trường:

Có 26 đề tài nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến khối cán bộ, giảng viên được nghiệm thu, có 1 đề tài xếp loại xuất sắc, 11 đề tài xếp loại khá, 13

đề tài xếp loại TB - Khá và 01 đề tài xếp loại trung bình Trong đó giáo trình và bài tập là 15 đề tài chiếm 57,7%, Ngân hàng đề thi 2 đề tài 7,7%, 34,6% còn lại là các loại đề tài khác và sáng kiến cải tiến

Đề tài cấp bộ:

Có 01 đề tài cấp bộ được nghiệm thu mã số RD 06-11 Có 01 đề tài cho triển khai thực hiện, mã số đề tài RD 13-

12 Có 01 dự án Sự nghiệp kinh tế cho triển khai thực hiện

* Năm 2012-2013

Đề tài cấp trường:

Có 21 đề tài nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến khối cán bộ, giảng viên được nghiệm thu, có 02 đề tài xếp loại xuất sắc, 10 đề tài xếp loại khá, 06

đề tài xếp loại TB - Khá và 03 đề tài xếp loại trung bình Trong đó giáo trình và bài tập là 12 đề tài chiếm 57,1%, Ngân hàng đề thi là 2 đề tài 9,5%, 33,4% còn lại là các loại đề tài khác và sáng kiến cải tiến

Trong năm học 2012-2013 có 3 đề tài NCKH sinh viên được nghiệm thu,

01 đề tài xếp loại xuất sắc và 02 đề tài xếp loại khá

Đề tài cấp bộ:

Trang 13

Có 4 đề tài NCKH và 03 dự án Sự

nghiệp kinh tế được xét duyệt cho thực

hiện và 01 đề tài được kế thừa từ năm

2012 Đến cuối năm 2013 đã nghiệp thu

được 02 đề tài và 03 dự án Sự nghiệp

kinh tế được nghiệm thu

* Năm 2013-2014

Đề tài cấp trường:

Có 33 đề tài nghiên cứu khoa học,

sáng kiến cải tiến khối cán bộ, giảng

viên được nghiệm thu, 23 đề tài xếp loại

khá, 9 đề tài xếp loại TB-Khá và 01 đề

tài xếp loại trung bình Trong đó Tài liệu

giảng dạy, giáo trình và bài tập là 17 đề

tài chiếm 51,5%, Ngân hàng đề thi là 9

đề tài 27,3%, 21,2% còn lại là các loại

đề tài khác và sáng kiến cải tiến

Trong năm học 2013 - 2014 có 6

đề tài NCKH sinh viên được nghiệm thu,

01 đề tài xếp loại Xuất sắc và 05 đề tài

xếp loại Khá

Đề tài cấp bộ:

Trong năm 2014 có 01 đề tài

NCKH và 01 dự án Sự nghiệp kinh tế

được cấp bộ xét duyệt cho thực hiện

(trong 02 năm 2014, 2015) và 03 đề tài

chuyển tiếp từ năm 2013

Có 01 đề tài NCKH cấp tỉnh được

xét duyệt cho thực hiện (2015, 2016)

3 Giải pháp

Trong quá trình thực hiện công

cuộc phát triển Khoa học và Công nghệ

(KH&CN), mặc dù điều kiện của

Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

(ĐHXD Miền Trung) còn nhiều khó

khăn, nhưng nhờ có sự quan tâm của

Lãnh đạo Bộ Xây dựng, sự chỉ đạo sát

sao của Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà

trường; sự nỗ lực, tâm huyết của đội ngũ

Kiểm định lại công tác nghiên cứu khoa học, sáng tạo tại Trường ĐHXD Miền Trung cho thấy những thành tích khiêm tốn bước đầu cho thấy: Tiềm lực Khoa học xã hội và nhân văn, Khoa học

tự nhiên, Khoa học kỹ thuật và công nghệ được nâng lên rõ nét Công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển KH&CN dần được gắn kết với yêu cầu phát triển kinh

tế - xã hội; Quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ từng bước được đổi mới phù hợp với trình độ và sự phát triển của nhà trường

Hòa nhập với sự phát triển KH&CN của khu vực, Trường ĐHXD Miền Trung đã xây dựng và đưa vào chương trình hành động những định hướng chiến lược nghiên cứu khoa học

và công nghệ, hợp tác Quốc tế đến 2020 với những nội dung trọng tâm như sau:

3.1 Chương trình Nghiên cứu khoa học công nghệ

3.1.1 Nghiên cứu khoa học phục vụ công tác đào tạo

- Cung cấp đầy đủ luận cứ khoa học và thực tiễn cho quá trình nghiên cứu theo xu thế đi tắt đón đầu, góp phần đắc lực phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

- Nghiên cứu việc mở ngành đào tạo đại học, cao đẳng, nghề cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao phục

vụ nhu cầu xã hội mang đặc trưng Vùng

- Miền của khu vực; xây dựng lộ trình

Trang 14

mở ngành phù hợp với trình độ, năng lực

đào tạo của nhà trường và nhu cầu xã hội

- Nghiên cứu thiết kế chương

trình đào tạo và tối ưu nhất cho các

ngành đào tạo

- Nghiên cứu biên soạn giáo trình

giảng dạy theo hướng chuẩn hóa với

chương trình đào tạo, để các môn học có

đủ giáo trình cho giảng dạy của giảng

viên và học tập của sinh viên

- Nghiên cứu ứng dụng những

phương pháp dạy học hiện đại phù hợp

với điều kiện của nhà trường để nâng

cao hiệu quả dạy học;

- Nghiên cứu đề xuất các định

hướng, giải pháp giáo dục ở khu vực

được tuyển sinh theo phương châm “đủ

về số lượng, đáp ứng về chất lượng”;

- Nghiên cứu cơ chế, chính sách,

qui định nội bộ phục vụ cho công tác

quản lý nhà trường để vận hành bộ máy

tối ưu nhất, hiệu quả nhất

- Điều tra, đánh giá sự đáp ứng về

nhu cầu nguồn nhân lực của các ngành

đào tạo phục vụ cho sự nghiệp công

nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập

- Xây dựng chiến lược đào tạo và

phát triển nguồn nhân lực nhằm củng cố

và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

đủ năng lực hội nhập kinh tế quốc tế,

vững vàng về chính trị, tinh thông

chuyên môn và các kỹ năng, nghiệp vụ

liên quan; tiếp cận hiệu quả công nghệ

mới, thành thạo ngoại ngữ, có tác phong

công nghiệp và kỷ luật cao, góp phần

nâng cao hiệu suất lao động trong công

việc của ngành

+ Xây dựng chương trình đào tạo

các ngành nghề mà xã hội đang cần

nhằm đáp ứng nhu cầu khu vực, trong

nước: Nghiên cứu đổi mới chương trình, giáo trình đào tạo theo hướng tiên tiến

và hội nhập; Xây dựng kế hoạch, chương trình ngoại khoá trong ngành xây dựng vào trong chương trình giảng dạy; Xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành trên lĩnh vực xây dựng; Cải tiến chương trình đào tạo theo hướng thực tế, hội nhập; gắn đào tạo với thị trường lao động, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề

+ Nâng cao năng lực cán bộ giảng dạy/ nghiên cứu tại trường

+ Đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm/xưởng thực hành phục vụ cho công tác đào tạo/nghiên cứu và cung ứng dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội đang cần

+ Xây dựng kế hoạch chương trình

để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ/giảng viên ở trường thông qua các lớp ngắn/dài hạn ở trong nước và ngoài nước hàng năm

3.1.2 Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ

Trên cơ sở các ngành đào tạo tại Trường ĐHXD Miền Trung, Nhà trường

đã định hướng nghiên cứu theo các lĩnh vực sau đây:

3.1.2.1 Lĩnh vực qui hoạch và kiến trúc

+ Nghiên cứu qui hoạch đô thị và nông thôn phù hợp với tập quán sinh sống của nhân dân vùng duyên hải Nam trung bộ và Tây Nguyên theo hướng giữ bản sắc văn hóa vùng, miền theo hướng hiện đại Nhất là qui hoạch xây dựng nông thôn mới theo định hướng của chính phủ;

+ Nghiên cứu kiến trúc không gian

đô thị, kiến trúc nhà ở đô thị, nhà ở nông

Trang 15

biến đổi khí hậu của khu vực

+ Thiết kế nhà dân dụng cho người

dân ở gần lưu vực sông, hồ và vùng giáp

biển, vùng có nền đất yếu hoặc nền đất

không ổn định về địa hình và điều kiện

tự nhiên nhằm đáp ứng với biến đổi khí

hậu, nước biển dâng, động đất, nhằm

hướng đến phát triển bền vững cho khu

vực Nam Miền Trung và Tây Nguyên

3.1.2.2 Lĩnh vực xây dựng

+ Nghiên cứu về cơ đất, nền móng,

xử lý nền và móng trên nền đất yếu, xử

lý công trình bị lún, nghiêng;

+ Nghiên cứu về kết cấu công trình;

+ Nghiên cứu về công nghệ thi

công công trình xây dựng;

+ Nghiên cứu quy trình và công

nghệ vật liệu cách âm - cách nhiệt, vật

liệu chịu lửa, vật liệu chống thấm, vật

liệu chống ăn mòn do gần biển

+ Nghiên cứu những sự cố, bệnh

học công trình thường gặp ở vùng

ven biển và định hướng xử lý có hiệu

quả, v.v…

Nghiên cứu các đặc trưng ở Khu

vực Miền Trung - Tây Nguyên; Xây

dựng mô hình và quy trình sản xuất nhân

rộng ở địa phương có nguồn nguyên liệu

sẵn có

3.1.2.3 Lĩnh vực kỹ thuật hạ tầng, tài nguyên

nước, môi trường và biến đổi khí hậu

+ Nghiên cứu đề xuất qui hoạch và

xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị, khu đô

thị, cụm công nghiệp đồng bộ, hiệu quả;

+ Nghiên cứu sự lan truyền nguồn thải từ hoạt động của các cơ sở xả thải;

+ Nghiên cứu khả năng thích nghi

và đối phó với sự biến đổi khí hậu của khu vực;

+ Nghiên cứu kỹ thuật hạ tầng của nông thôn mới;

+ Nghiên cứu ứng dụng công nghệ xử lý chất thải khu dân cư, khu công nghiệp, thu gom xử lý chất thải rắn đô thị;

+ Nghiên cứu công nghệ chiếu sáng đô thị hiệu quả;

+ Nghiên cứu cơ chế, chính sách bảo vệ tài nguyên nước;

+ Nghiên cứu môi trường đô thị, tác động biến đổi khí hậu;

+ Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sau thu hoạch;

+ Nghiên cứu KH&CN phục vụ phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường

và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên

+ Đánh giá hiện trạng môi trường, tác động môi trường của các dự án đầu

tư, các khu công nghiệp, các nhà máy sản xuất; Xây dựng các mô hình quản lý tầm soát ô nhiễm và lan truyền ô nhiễm

+ Xây dựng các mô hình xử lý chất thải sinh hoạt, thải rắn, thải nguy hại phù hợp với tình hình địa phương ở các khu vực Miền Trung - Tây Nguyên

+ Hướng đến làm chủ một số công nghệ cao nhằm kiểm tra, giám sát về chất lượng của các công trình xây dựng trong khu vực

3.1.2.4 Lĩnh vực xây dựng giao thông

+ Nghiên cứu giải pháp thiết kế xây dựng cầu, đường phù hợp với khí hậu ven biển Miền Trung - Tây Nguyên;

Trang 16

+ Nghiên cứu ứng dụng công nghệ

thi công cầu, đường tiên tiến phù hợp

với điều kiện của khu vực;

+ Nghiên cứu ứng dụng vật liệu

mới vào thi công đường ở Việt Nam có

hiệu quả, v.v…

+ Từng bước tham gia hỗ trợ về

mặt kỹ thuật đối với các dự án xây dựng

dân dụng/Cầu đường/Hạ tầng ở khu vực

Nam Miền Trung và Tây Nguyên

+ Hướng đến làm chủ một số công

nghệ cao nhằm kiểm tra, giám sát về

chất lượng của các công trình giao thông

trong khu vực

3.1.2.5 Lĩnh vực kinh tế

+ Nghiên cứu ứng dụng quản lý dự

án đầu tư xây dựng có hiệu quả phù hợp

ở Việt Nam;

+ Nghiên cứu các giải pháp quản

trị về nguồn lực của doanh nghiệp có

triển của Nhà trường; thực hiện chế độ

thưởng phạt kịp thời đối với nhiệm vụ

Khoa học và Công nghệ của mỗi cán

bộ, giảng viên

Hình thành đồng bộ đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ có trình độ cao đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn Nâng tỷ lệ đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ cho những năm tới dưới các hình thức khác nhau Bên cạnh

đó, nhà trường luôn có chế tài: thu hút, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ tiến sỹ

Hiện nay nhà trường đã có từ 8 tiến sỹ, theo kế hoạch đến năm 2020 sẽ đào tạo được khoảng 7000 sinh viên các khóa

Tranh thủ sự chỉ đạo, định hướng của Bộ Xây dựng, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Yên trong việc đề xuất, triển khai các nhiệm vụ mang tính chiến lược ngắn và dài hạn trong những năm tiếp theo

Trên đây là thực trạng và giải pháp nghiên cứu khoa học, sáng tạo nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung tầm nhìn đến năm

2020 Hy vọng rằng với nỗ lực và lòng ham mê của cán bộ, giảng viên; sự quan tâm của lãnh đạo, công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung sẽ phát triển trong những năm tới, góp phần vào mục tiêu phát triển Khoa học và Công nghệ của tỉnh nhà

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] TS Nguyễn Minh Đức 2013 Nâng cao năng lực nghiên cứu của giảng viên để

thực hiện vai trò sáng tạo tri thức của các trường đại học - Chuyên khảo “Nâng cao

chất lượng giáo dục đại học”, NXB Thanh niên

[2] Quy định về công tác nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Xây

dựng Miền Trung

Trang 17

ĐỔI MỚI TƢ DUY GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐÀO TẠO

NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

CVC Lê Duy Quang

Trưởng Phòng Tổ chức Hành chính, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Hiện nay loài người đã bước vào nền văn minh thông tin, vì vậy mọi

hoạt động của từng tổ chức giáo dục đều hướng đến 03 vấn đề quan tâm đó là:

Thu thập thông tin, xử lý thông tin theo các định hướng phù hợp và ra quyết

định hoạt động nhằm đào tạo nguồn nhân lực có hiệu quả và chất lượng cao

Trong bài viết này, tác giả muốn trao đổi một số vấn đề về đổi mới tư duy trong

giáo dục đại học

Từ khóa: Giáo dục, tư duy

1 Tổng quan về tƣ duy giáo dục

1.1 Tính chất chung về Giáo dục đại học

Giáo dục đại học là một hình thức

sản xuất đặc biệt, vì sản xuất ra tri thức

mới và ra nguồn nhân lực hàm chứa tri

thức cao; cho sản phẩm đặc biệt vì phẩm

chất của sản phẩm không cố định sau

đào tạo mà tiếp tục phát triển tùy theo

môi trường và động cơ phát triển của

“sản phẩm” Môi trường thuận lợi lại có

động cơ đúng đắn thì cùng với thời gian,

phẩm chất của sản phẩm sẽ phát triển

khôn lường

Giáo dục đại học là một bộ phận

của nền kinh tế thị trường và cũng tuân

theo mọi quy luật của kinh tế thị

trường theo định hướng xã hội chủ

nghĩa, đặc biệt là quy luật giá trị: đầu

tư thế nào thì chất lượng sản phẩm thế

ấy Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng đầu

tư cho đào tạo đại học là đầu tư hiệu

quả nhất, bởi lẽ:

+ Nhà nước chỉ cần đầu tư ban

đầu, như đầu tư hạ tầng cơ sở, còn hoạt

động của đào tạo đại học thì lại được xã

hội đóng góp ở mức cao nhất trong

ngành giáo dục thông qua học phí và các

khoản đầu tư nhân đạo khác (quỹ

1.2 Về chất lượng của giáo dục đại học

Sản phẩm đào tạo là sản phẩm đặc biệt nên giá trị của sản phẩm được tuân theo (theo cấp số nhân) theo những quy luật xã hội, không phải tính tuân theo quy luật tự nhiên (không phải cộng vào)

Sản phẩm đào tạo tồn tại một thang chất lượng, phụ thuộc vào cơ sở đào tạo,

hệ đào tạo và chương trình đào tạo

Sản phẩm cũng có thể kém chất lượng tạo nên tình trạng thất nghiệp và lạm phát, nhưng rồi cũng tìm được người tiêu dùng trả giá và sử dụng giá trị

Sản phẩm có chất lượng cao được trao đổi vô giá và phát huy giá trị tối đa khi gia nhập thị trường của khu vực và

cả nước

Hiệu quả của chất lượng đào tạo

được thể hiện chính qua năng lực của

người được đào tạo sau khi hoàn thành

chương trình đào tạo Năng lực này theo chúng tôi bao hàm các thành tố:

Trang 18

+ Khối lượng và trình độ kiến

thức được đào tạo,

+ Kỹ năng thực hành được đào tạo,

+ Năng lực nhận thức và năng

lực tư duy được đào tạo,

+ Phẩm chất nhân văn được đào tạo

Căn cứ vào sứ mệnh của từng cơ

sở đào tạo, từ đó đã quán triệt nội hàm

chất lượng đào tạo để xây dựng mục tiêu

và chương trình đào tạo cho từng ngành

học, chọn lọc quy trình và phương pháp

dạy - học cụ thể, nhằm giữ vững thương

hiệu, đáp ứng không ngừng nhu cầu phát

triển nhằm nâng cao mục tiêu chất lượng

đào tạo của mình

1.3 Về quy mô đào tạo đại học

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

nhằm tạo ra các sản phẩm kinh tế xã hội

có hàm lượng trí tuệ cao vì vậy người

chế tạo ra nó phải có trình độ về tri thức

và kỹ năng cao

Trong nền kinh tế nhiều thành phần

hoạt động theo cơ chế thị trường thì

nguồn nhân lực trí tuệ cao đông đảo góp

phần tạo công ăn việc làm, giảm thất

nghiệp và kèm theo đó là giảm tệ nạn xã

hội Nhu cầu được đào tạo đại học ngày

một tăng - cho thấy một nhu cầu phát

triển trong xã hội công nghiệp và xã hội

hiện đại

Năm 2013, Nhà trường đã thực hiện

chủ trương từng bước ổn định quy mô đào

tạo gắn liền với nâng cao chất lượng đào

tạo, đồng thời tăng cường giao tự chủ, tự

chịu trách nhiệm cho các trường trong

việc xác định chỉ tiêu đào tạo

Năm 2014, Nhà trường đã phải

đảm bảo cân đối chỉ tiêu đào tạo với các

điều kiện đảm bảo chất lượng, đặc biệt

là đội ngũ giảng viên giảng dạy theo

chuyên ngành, nhằm không ngừng chuẩn bị tư thế hội nhập

Do tính chất phát triển của giáo dục, việc đầu tư cho các hoạt động dạy

và học là hết sức cần thiết và cấp bách, đòi hỏi mỗi cơ sở giáo dục, mỗi cán bộ, giảng viên phải có nhận thức cao để trước hết là tồn tại, sau là vươn lên trong niềm tự hào của các thế hệ sinh viên thành đạt Chỉ có giáo dục và đào tạo mới làm gánh nặng dân số trở thành lợi thế trong nền kinh tế tri thức toàn cầu hóa

1.4 Về chương trình đào tạo

Nội dung chương trình đào tạo đại học của nhà trường đã được xây dựng theo các nguyên tắc sau đây:

1/ Chương trình được xây dựng

theo mục tiêu đào tạo định sẵn, không ngừng nâng cấp để phù hợp với sự phát triển của thế giới và đặc trưng Vùng - Miền; luôn bao gồm cả 3 khối

kiến thức: kiến thức khoa học tự nhiên, kiến thức khoa học xã hội và kiến thức khoa học nhân văn Tùy theo ngành nghề mà chọn tỷ lệ khác nhau giữa các khối kiến thức này

2/ Mỗi môn học chỉ bao gồm các kiến thức cốt lõi nhất để trang bị cho người học Mục tiêu chủ yếu là dùng các

kiến thức cốt lõi nhất này để dạy cách

học môn học, nhờ đó người học có thể

phát triển vốn kiến thức về môn học ấy, tiếp tục thích nghi với sự bùng nổ thông tin Chương trình chỉ gồm các kiến thức

cốt lõi mới đủ thời gian để dạy năng lực

nhận thức, năng lực tư duy hay dạy kỹ năng ở các bậc chất lượng cao Thực

chất là chúng ta đã áp dụng phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”

Trang 19

3/ Thường xuyên cập nhật các

thông tin mới, thể hiện ở kiến thức mới

của môn học hay môn học mới của

chương trình đào tạo để ngày càng nâng

cao tính mới, tính toàn diện của khoa

học thuộc ngành học

1.5 Về giảng dạy ở đại học

Trong phương pháp giảng dạy đại

học, Giảng viên cần phải luôn đổi mới

theo các nguyên tắc chính sau đây:

1/ Luôn phát huy Phương pháp

giảng dạy học: dạy cho người học năng

lực nhận thức, năng lực tư duy càng cao

càng tốt Muốn thế trước tiên bản thân

mỗi giảng viên phải thấu hiểu năng lực

nhận thức và năng lực tư duy và phải

thường xuyên đổi mới phương pháp

giảng dạy, phù hợp với khả năng nhận

thức và tiếp thu của đối tượng người

học Giảng viên phải biết áp dụng các

phương pháp khác nhau (thuyết giảng,

thảo luận nhóm, đóng vai, thực hành,…)

tùy theo mục tiêu, tùy theo tính chất của

môn học và tùy theo đặc điểm của người

học, của lớp học

2/ Luôn giáo dục phẩm chất nhân

văn cho người học bằng cách sử dụng

các hình thức đào tạo khác nhau (bài tập

lớn, đề án, tổng luận, chuyên luận môn

học, tham quan, hội thảo,…)

1.6 Về học tập ở đại học

Phương pháp học tập là một khoa

học về nhận thức và tư duy đồng thời

có vai trò đào tạo phẩm chất nhân văn

rất cao

1/ Phải định hình cho người học tư

duy về “phương pháp tự học” là hết sức

cần thiết, vì ngày nay sự tiến bộ của

khoa học kỹ thuật là nhanh chóng, nên

học tập là một quá trình - học tập suốt

đời, học tập thường xuyên mới đáp ứng được sự tiến bộ này Tuy nhiên chú trọng quá đáng đến tự học chỉ làm thiếu phẩm chất nhân văn của người học (chỉ biết vận dụng trí tuệ cá nhân là chính, không biết học hỏi tập thể)

2/ Bên cạnh “tự học” cần phải chú

ý đến “cùng học” Cùng học (theo nhóm, theo câu lạc bộ,…) mới rèn luyện khả

năng hợp tác, khả năng thuyết phục và khả năng quản lý cho người học

1.7 Về việc kiểm tra đánh giá trong giáo dục

Kiểm tra đánh giá là công đoạn quyết định chất lượng cho quá trình giảng dạy và học tập Đối với giảng viên, kiểm tra đánh giá giúp giảng viên biết được hiệu quả và chất lượng giảng dạy của chính mình; Đối với người học, việc kiểm tra đánh giá giúp người học biết được chất lượng học tập; Đối với các nhà quản lý, việc kiểm tra đánh giá giúp điều chỉnh chương trình đào tạo và

tổ chức đào tạo phù hợp với mục tiêu cũng như ra những quyết định về đánh giá kết quả học tập của người học Trong bối cảnh và nội hàm chất lượng đã trình bày, việc đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá của nhà trường cần phát huy các nguyên tắc sau:

1/ Về nội dung kiểm tra đánh giá:

phải kiểm tra đánh giá theo mục tiêu đào

tạo của từng môn học đồng thời phải kiểm tra đánh giá theo các bậc: nhận thức, kỹ năng, năng lực tư duy mà môn

học dự kiến người học phải đạt được sau khi học xong

2/ Về phương pháp kiểm tra đánh

giá: cần áp dụng nhiều phương pháp

kiểm tra đánh giá khác nhau (viết, vấn

Trang 20

đáp, trắc nghiệm khách quan, bài tập

lớn, tiểu luận, tổng quan,…) và phải

thường xuyên

3/ Kết quả kiểm tra đánh giá: phải

được sử dụng để đánh giá chất lượng

giảng dạy, chất lượng học tập và chất

lượng tổ chức đào tạo (chương trình nội

dung và tổ chức đào tạo)

4/ Với mục tiêu đánh giá tiếp thu

môn học được xác định ở 4 hình thức

chính: không đạt, đạt, khá và giỏi Việc

đánh giá kết quả lĩnh hợi kiến thức cần

phải chia nhỏ các nội dung kiến thức cho

người học và sđiều quan trọng là người

dạy phải đánh giá công tâm, tránh tình

trạng lơ là, qua loa

1.8 Về mô hình tổ chức

1/ Mô hình tổ chức của nhà trường

hiện nay theo đúng quy định của Luật

giáo dục:

- Nhà trường đã phát huy đội

ngũ tri thức hiện có tham gia đào tạo

đại học

- Đối với các giảng viên đại học,

việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn

và truyền thông đa năng để tăng cường

khả năng truyền đạt đến người học

- Liên thông, liên kết với các cơ

sở giáo dục khác, các cán bộ nghiên

cứu, cán bộ nghiệp vụ có trình độ

chuyên môn và nghiệp vụ cao để đào

tạo đại học

- Xây dựng chế độ giảng viên phù

hợp với chương trình đào tạo, tài chính

của nhà trường

Liên thông với các cơ sở ngoài xã

hội thông qua việc khai thác triệt để các

cơ sở vật chất và kỹ thuật của các viện

nghiên cứu, các doanh nghiệp,… để đào

học tập cho người học, cung cấp chứng chỉ có chất lượng trong quá trình đào tạo

ngoại khóa

3/ Nhà trường luôn hoàn thiện hệ

thống pháp quy đảm bảo hỗ trợ mô hình

tổ chức cơ sở đào tạo đại học mở được

thực thi; đảm bảo sự liên thông, liên kết

giữa các cơ sở đào tạo; và đặc biệt quan trọng nữa là đảm bảo cho bất kỳ người học ở trình độ học vấn nào khi có điều

kiện đều có thể từng bước học lên trình

độ cao hơn

1.9 Kiểm soát chất lƣợng giáo dục

Nhà trường luôn hoàn thiện quy tắc làm việc và bộ máy kiểm định chất lượng như trong sản xuất, kinh doanh hiện nay đối với các cơ sở đào tạo đại học:

- Việc bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học cho đội ngũ giảng viên để tăng khả năng về khoa học, đổi mới chương trình, nội dung đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá trong giáo dục đại học luôn được quan tâm đúng mức

- Kiểm soát chặc chẽ việc kiểm tra đánh giá tiếp thu học phần hay môn học sao cho đảm bảo độ giá trị, độ tin cậy và

độ phân biệt cao của từng đề thi, đảm bảo đánh giá chính xác, công bằng và đúng mục tiêu đào tạo của từng học phần hay môn học

- Luôn giải pháp thích hợp để loại sinh viên không cố gắng học tập, tu dưỡng theo năm học, phát huy các giải

Trang 21

pháp khuyến học cho những sinh viên

học giỏi

- Tăng cường quản lý chất lượng

thông qua áp dụng công nghệ thông tin

và các quy định pháp quy chặc chẽ

2 Lời kết

Công tác đổi mới trong đào tạo

chất lượng cao luôn được nhà trường

quan tâm, nhằm đáp ứng những vấn đề

lý luận và thực tiễn trong giáo dục và

phổ biến các tri thức khoa học giáo

dục đến với cán bô, giảng viên và sinh

viên là hết sức cần thiết Các chủ

trương, những đổi mới về nội dung,

quy trình, phương pháp giáo dục, đánh

giá, thi,… đều phải dựa trên các cơ sở

nghiên cứu và trải qua thử nghiệm, phù hợp với tình hình thực tiễn của Nhà trường và địa phương Chúng ta không ngừng đổi mới tư duy nhận thức trong sự phát triển và hội nhập,

đó là: không ngừng tổ chức quản lý, nghiên cứu, giảng dạy đạt hiệu quả ở cấp khoa hay bộ môn; cải tiến công tác quản lý ở cấp trường; tăng cường

hội nghị khoa học để mọi giảng viên,

cán bộ quản lý và học viên đều tham gia nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm những vấn đề quan tâm của giáo dục, từ đó để phổ biến cho trong

và ngoài ngành đều biết dưới luận

điểm đổi mới tư duy để phát triển

Trang 22

VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO CỦA NHÀ TRƯỜNG

ThS Ngô Ngọc Cường

Phó Trưởng Khoa Xây dựng, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Với môi trường mới, phương thức đào tạo mới ở trường đại học, đặc

biệt là đào tạo theo học chế tín chỉ thì cần có một người đảm nhận vai trò là

người tư vấn, trợ giúp các SV trong học tập và nghiên cứu khoa học Các tân

SV không những phải nhanh chóng làm quen với môi trường mới, thầy cô, bạn

bè mới mà quan trọng hơn là phải tự chủ trong việc học tập của mình, nhanh

chóng nắm bắt và làm quen với cách học mới, với những kỹ năng mới như

phương pháp học tập, tra cứu tài liệu, kỹ năng sinh hoạt tập thể, kỹ năng

sống, Vì thế, giáo viên cố vấn học tập (CVHT) đóng vai trò là cầu nối giữa

nhà trường và Sinh viên (SV), là người đại diện của nhà trường thực hiện công

tác quản lý SV.

Từ khoá: Cố vấn học tập

1 Thực trạng công tác Cố vấn học tập ở

Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Song song với sự phát triển của

hình thức đào tạo theo tín chỉ thì vai trò

của CVHT ngày càng quan trọng và

không thể thiếu Nhiệm vụ CVHT không

phải của riêng một giảng viên nào mà là

nhiệm vụ chung của tất cả các cán bộ

viên chức trong trường Tuy nhiên, thực

trạng công tác CVHT ở trường Đại học

Xây dựng Miền Trung vẫn còn gặp

nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân:

- Trong hoàn cảnh hiện tại, Giảng

viên vừa tham gia giảng dạy vừa kiêm

nghiệm công tác CVHT Để hoàn thành

yêu cầu của nhà trường và nhu cầu của

SV, nhiều Giảng viên làm công tác

CVHT cũng gặp không ít khó khăn Khó

khăn lớn nhất có lẽ là về thời gian, khó

khăn thứ hai là những công tác phong

trào, kế hoạch hoạt động, các quy định

của nhà trường về công tác CVHT,…

vẫn chưa cụ thể;

- Bản thân Giảng viên làm CVHT

không hài lòng với công việc mình đang

làm, đa số cho rằng nhà trường đang đổ

quá nhiều trách nhiệm về phía mình nhưng mức giờ chuẩn qui định cho công tác này chưa thực sự tương xứng với công sức bỏ ra Nhiều Giảng viên không nhiệt tình và không muốn tham gia công tác CVHT;

- Bản thân SV mong đợi quá nhiều

ở phía CVHT mà bản thân CVHT không thể nào đáp ứng được;

- Một số đơn vị không đủ Giảng viên có nhiều kinh nghiệm để làm CVHT các lớp thuộc đơn vị đó quản lý;

- Giảng viên được cử đi đào tạo, nghỉ phép dài ngày,… nên gián đoạn việc thực hiện nhiệm vụ của CVHT;

- CVHT cần rất nhiều thời gian và công sức để có thể theo dõi tình hình rèn luyện và học tập cũng như công tác phong trào của sinh viên, điều này thật

sự khó có thể thực hiện được Do đó việc xét điểm rèn luyện chỉ mang tính hình thức và chủ yếu dựa trên báo cáo của bản thân sinh viên và vai trò của Ban chấp hành chi đoàn, Ban cán sự lớp

Do dó việc nắm bắt thông tin là rất khó đặc biệt đối với những CVHT không

Trang 23

giảng dạy chính lớp sinh viên mình làm

cố vấn;

- Không phải CVHT nào cũng hiểu

rõ Quy chế đào tạo, các chế độ chính

sách đối với SV nên không thể giải

quyết các thắc mắc hay phổ biến nhắc

nhở tới SV lớp mình,…

2 Một số giải pháp nhằm củng cố chất

lƣợng công tác Cố vấn học tập

Công tác quản lý sinh viên như lâu

nay đã thật sự khó khăn, đặc biệt trong

thời gian tới khi nhà trường áp dụng

hình thức đào tào theo tín chỉ “thực sự”

thì nhiệm vụ của CVHT lại càng khó

khăn hơn khi biên chế lớp không còn cố

định nữa Trong đào tạo tín chỉ có thể

xem việc quản lý SV như là quản lý

“động” Lúc bấy giờ CVHT chiếm vai

trò càng quan trọng vì thông qua hoạt

động tư vấn, trợ giúp, theo dõi và định

hướng cho SV trong việc xây dựng

chương trình học tập, lựa chọn số lượng

môn học sao cho phù hợp với từng SV,

CVHT được xem là một bộ phận không

thể tách rời và đảm bảo cho “cỗ máy”

học chế tín chỉ vận hành hiệu quả, thông

suốt Với lý do nêu trên, tôi xin nêu ra

một số vấn đề nhằm cũng cố chất lượng

công tác cố vấn học tập như sau:

2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của CVHT

* Nhóm 01: Tư vấn, trợ giúp SV

trong học tập và nghiên cứu khoa học,

định hướng nghề nghiệp, bao gồm:

Tổ chức thảo luận, triển khai cho

sinh viên các qui định, qui chế về học

chế tín chỉ, các văn bản pháp luật về

quyền và nghĩa vụ của sinh viên;

Tư vấn cho sinh viên phương pháp

học đại học, phương pháp tự học, kỹ

năng nghiên cứu khoa học, kỹ năng thu

thập, xử lý thông tin, tài liệu học tập;

Thảo luận và hướng dẫn cho sinh viên tìm hiểu chương trình đào tạo chuyên ngành của lớp và cách lựa chọn học phần, tuân thủ các điều kiện tiên quyết của từng học phần;

Hướng dẫn qui trình, thủ tục cho sinh viên đăng ký học phần, hủy đăng

ký, xây dựng kế hoạch học tập cá nhân cho từng học kỳ (khi nhà trường triển khai đăng ký môn học vào năm 2015);

Thảo luận và trợ giúp SV trong việc lựa chọn nơi thực tập, lựa chọn đề tài khóa luận, tiểu luận, đề tài nghiên cứu khoa học phù hợp với năng lực, nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của sinh viên;

Trả lời các câu hỏi của SV liên có liên quan đến việc học tập của họ trong phạm vi thẩm quyền của mình;

Tham gia các cuộc họp, tập huấn

về công tác cố vấn học tập theo triệu tập của Trường;

Xây dựng và công khai lịch tiếp sinh viên, thời gian và địa điểm tiếp sinh viên định kỳ, cung cấp cho sinh viên số điện thoại, email để sinh viên liên lạc trong khi cần thiết

* Nhóm 2: Các nhiệm vụ, quyền

hạn trong lĩnh vực quản lý sinh viên:

Tổ chức Đại hội lớp hàng năm, phê chuẩn danh sách ban cán sự lớp;

Tổ chức sinh hoạt lớp định kỳ; Thời gian, kế hoạch và nội dung sinh hoạt lớp phải được thể hiện trong kế hoạch làm việc của CVHT phù hợp với qui định của nhà trường;

Tổ chức đánh giá, xếp loại điểm rèn luyện của SV theo đúng qui định;

Tham gia với tư cách thành viên các hội đồng xét thi đua, khen thưởng,

kỷ luật, xét công nhận tốt nghiệp cho các

SV của lớp mình phụ trách;

Trang 24

Phối hợp phòng Công tác học sinh

- sinh viên (HSSV), Khoa quản lý lớp

trong việc giáo dục phẩm chất chính trị,

đạo đức, tác phong, lối sống sinh viên;

Phối hợp Phòng Quản lý đào tạo

(QLĐT) trong công tác xây dựng kế

hoạch học tập, kế hoạch thi, thực tập cho

SV Được quyền yêu cầu Phòng QLĐT,

Khoa quản lý cung cấp thông tin về kết

quả học tập của sinh viên thuộc lớp

mình quản lý;

Kiến nghị Phòng Công tác HSSV

giải quyết các chế độ, chính sách chính

đáng cho sinh viên;

Tư vấn và định hướng cho SV

trong việc tham gia các hoạt động đoàn

thể, các hoạt động xã hội, hoạt động

ngoại khóa

2.2 Các tài liệu trợ giúp việc thực

hiện nhiệm vụ, quyền hạn của CVHT

* Cố vấn học tập được cung cấp

các tài liệu liên quan:

+ Bộ chương trình đào tạo của Nhà

trường, trong đó phải có đầy đủ đề

cương chi tiết các môn học và kế hoạch

đào tạo mỗi học kỳ;

+ Quy chế đào tạo đại học theo hệ

cuộc họp với lớp sinh viên; các biểu mẫu

báo cáo công tác cố vấn học tập khi kết

thúc học kỳ và các biểu mẫu cần thiết

khác theo quy định của Nhà trường,

* Căn cứ vào tình hình thực tế của

lớp sinh viên được phân công, CVHT

phải lập ra kế hoạch hoạt động hàng năm của riêng mình

+ Đối với các lớp năm thứ nhất, cuộc họp đầu tiên của học kỳ thứ nhất,

cố vấn học tập phải tiến hành các hoạt động sau:

Công bố quyết định thành lập Ban cán sự lớp, phân công nhiệm vụ Ban cán

sự lớp, làm rõ mối quan hệ công tác giữa

cố vấn học tập với lớp;

Triển khai các quy định, quy chế

về học tập, rèn luyện của Nhà trường liên quan đến quyền và nghĩa vụ của sinh viên;

Tư vấn cho sinh viên phương pháp học đại học, phương pháp tự học và kỹ năng nghiên cứu khoa học, kỹ năng thu thập, xử lý thông tin, tài liệu học tập;

+ Đối với các năm học tiếp theo:

- Đầu của mỗi năm học CVHT phải tiến hành các hoạt động sau:

Tổ chức Đại hội lớp, báo cáo tổng kết, phương hướng hoạt động của năm học, bầu lại Ban cán sự lớp (nếu cần thiết), phân công trong Ban cán sự lớp;

Phổ biến những thay đổi trong các quy định hiện hành (nếu có);

- Cuối của mỗi học kỳ CVHT phải tiến hành các hoạt động sau:

Đánh giá, xếp loại rèn luyện sinh viên theo học kỳ, năm học, khóa học;

Kiểm điểm hoạt động của lớp trong

kỳ về mọi mặt, phân tích những ưu, khuyết điểm Tuyên dương những sinh viên có kết quả học tập và rèn luyện tốt, đồng thời phải có biện pháp giáo dục, nhắc nhở đối với những SV có kết quả học tập và rèn luyện TB, Yếu, Kém;

Cử cán bộ lớp theo dõi, giúp đỡ các SV quy phạm vi chế, nếu còn tái

Trang 25

lối sống cho sinh viên Theo dõi, kiểm

tra sinh viên chấp hành các nội quy, quy

được hiệu quả cao thì CVHT cần có

kiến thức chuyên ngành về lớp được

phân công làm cố vấn để có thể cố vấn

cho SV học tập tốt hơn, đồng thời

CVHT cần dành nhiều thời gian quan

tâm đến các hoạt động khác của lớp và

nhà trường

Tùy theo tình hình cụ thể, CVHT

có thể sử dụng nhiều hình thức sinh hoạt

lớp một cách linh hoạt nhưng phải có trọng tâm, khi có nhiệm vụ quan trọng, đột xuất có thể họp lớp để triển khai và giải quyết ngay

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của CVHT là nắm chắc các quy chế, quy định, chương trình và kế hoạch đào tạo của trường, của khoa cũng như yêu cầu và nhiệm vụ học tập của sinh viên mới hoàn thành tốt công tác cố vấn cho sinh viên

Muốn đạt được hiệu quả tốt trong công tác cố vấn học tập thì cần phải có

sự hợp tác và nỗ lực từ cả 3 phía: Nhà trường, CVHT và SV, đặc biệt là mối quan hệ giữa CVHT và SV Chỉ khi nào đạt được sự đồng bộ đó chúng ta mới hy vọng có được một sự hoàn thiện trong công tác CVHT

CVHT có vai trò đặc biệt quan trọng, không thể thiếu trong đào tạo, đặc biệt là đào tạo theo học chế tín chỉ Mỗi CVHT là một nhân tố then chốt trong mối quan hệ Nhà trường - Sinh viên, là một chuyên gia tư vấn về học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện, định hướng nghề nghiệp và cả tâm tư tình cảm cho sinh viên trong suốt quá trình học tập tại trường

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ Giáo dục

và Đào tạo về việc Ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo

hệ thống tín chỉ

[2] Quyết định số 127/QĐ-ĐHXDMT, ngày 26 tháng 9 năm 2011 của Hiệu trưởng

Trường Đại học Xây dựng Miền Trung về việc Quy định công tác giáo viên chủ

nhiệm, giáo viên cố vấn

[3] Hội nghị về Nâng cao vai trò cố vấn học tập, Đại học Cần Thơ

[4] Hội nghị về Nâng cao vai trò cố vấn học tập, Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp

Trang 26

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI QUAN TRỌNG CỦA LUẬT XÂY DỰNG 2014

ThS Nguyễn Nguyên Khang

Trưởng phòng Công tác HS-SV, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Luật xây dựng số 50 2014 QH13 đã được Quốc hội khóa III, kỳ họp

thứ 7 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2014, có hiệu lực thi hành vào ngày 01

tháng 01 năm 2015 Luật xây dựng 2014 gồm có 10 chương và 168 điều, điều

chỉnh xuyên suốt toàn bộ hoạt động đầu tư xây dựng, từ khâu quy hoạch xây

dựng lập, thẩm định, phê duyệt áo cáo nghiên cứu tiền khả thi, áo cáo

nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng quản l thực hiện dự án đầu tư xây dựng

cho đến khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng nghiệm thu, bàn giao, bảo hành,

bảo trì công trình xây dựng và được áp dụng đối với các dự án đầu tư xây dựng

thuộc mọi nguồn vốn Luật lần này có nhiều điểm mới so với Luật xây dựng

2013, trong phạm vi của bài viết này, s tập trung làm r một số điểm mới quan

trọng của Luật xây dựng 2014

Từ khóa: Luật xây dựng, đầu tư xây dựng, điểm mới của luật xây dựng 2014

1 Thuật ngữ mới đƣợc thay thế so với

Luật xây dựng 2003

Luật xây dựng 2014 đã có nhiều

thuật ngữ mới thay thế so với Luật xây

dựng 2003, điều này đã thể hiện tính

nhất quán về thuật ngữ trong các luật có

liên quan đến xây dựng như Luật đấu

thầu, Luật đầu tư công… đồng thời phù

hợp với các thuật ngữ quốc tế Những

thuật ngữ mới được đề cập trong Luật

xây dựng như:

- áo cáo nghiên cứu tiền khả thi

đầu tư xây dựng (Luật xây dựng 2003 là

áo cáo đầu tư xây dựng công trình) là

tài liệu trình bày các nội dung nghiên

cứu sơ bộ về sự cần thiết, tính khả thi và

hiệu quả của việc đầu tư xây dựng, làm

cơ sở xem xét, quyết định chủ trương

đầu tư xây dựng

- áo cáo nghiên cứu khả thi đầu

tư xây dựng (Luật xây dựng 2003 là Dự

án đầu tư xây dựngcông trình) là tài liệu

trình bày các nội dung nghiên cứu về sự

cần thiết, mức độ khả thi và hiệu quả của

việc đầu tư xây dựng theo phương án

thiết kế cơ sở được lựa chọn, làm cơ sở xem xét, quyết định đầu tư xây dựng

- áo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng là tài liệu trình bày các nội

dung về sự cần thiết, mức độ khả thi và hiệu quả của việc đầu tư xây dựng theo phương án thiết kế bản vẽ thi công xây dựng công trình quy mô nhỏ, làm cơ sở xem xét, quyết định đầu tư xây dựng

- Dự án đầu tư xây dựng là tập

hợp các đề xuất có liên quan đến việc

sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời

hạn và chi phí xác đinh Ở giai đoạn

chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua áo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, áo cáo nghiên cứu khả thi đầu

tư xây dựng hoặc áo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng

- Cơ quan quản l nhà nước về xây dựng gồm Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân

Trang 27

dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung

ương và Ủy ban nhân dân huyện, quận,

thị xã, thành phố thuộc tỉnh

- Cơ quan chuyên môn về xây dựng

là cơ quan chuyên môn trực thuộc Bộ

Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây

dựng chuyên ngành; Sở Xây dựng, Sở

quản lý công trình xây dựng chuyên

ngành; Phòng có chức năng quản lý xây

dựng thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện

- Cơ quan chuyên môn trực thuộc

người quyết định đầu tư là cơ quan, tổ

chức có chuyên môn phù hợp với tính

chất, nội dung của dự án và được

người quyết định đầu tư giao nhiệm vụ

thẩm định

- ộ quản l công trình xây dụng

chuyên ngành là Bộ được giao nhiệm vụ

quản lý, thực hiện đầu tư xây dựng công

trình thuộc chuyên ngành xây dựng do

mình quản lý

2 Về Quy hoạch xây dựng

Luật Xây dựng 2014 xác định Quy

hoạch xây dựng là cơ sở để quản lý hoạt

động đầu tư xây dựng, quản lý trật tự

xây dựng Quy hoạch xây dựng có 4

loại: Quy hoạch xây dựng vùng; Quy

hoạch xây dựng đô thị; Quy hoạch xây

dựng khu chức năng đặc thù; Quy hoạch

xây dựng nông thôn Quy hoạch xây

dựng vùng là cơ sở để lập 3 loại quy

hoạch xây dựng còn lại và lập các dự án

đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng kỹ

thuật, hạ tầng xã hội cấp vùng Nhiệm

vụ quản lý Quy hoạch xây dựng vùng là

nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan

quản lý nhà nước về xây dựng

Để phân biệt với quy hoạch tổng

thể phát triển kinh tế - xã hội; quy

hoạch sử dụng đất và các quy hoạch

ngành khác, Luật Xây dựng năm 2014

quy định: Quy hoạch xây dựng là tổ chức không gian; Quy hoạch xây dựng phải được thể hiện bằng đồ án quy hoạch gồm: sơ đồ, bản vẽ, thuyết minh,

mô hình

Luật Xây dựng năm 2014 quy định

cụ thể về Quản lý xây dựng theo quy hoạch bao gồm: Giới thiệu địa điểm xây dựng; Cấp giấy phép Quy hoạch xây dựng; Tổ chức quản lý thực hiện Quy hoạch xây dựng vùng

3 Th m định dự án đầu tƣ ây dựng thiết kế dự toán ây dựng

- Đối với dự án quan trọng quốc gia:

Hội đồng thẩm định Nhà nước do

Thủ tướng Chính phủ thành lập có trách nhiệm thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng

- Đối với các dự án đ u tư dựng

s dụng vốn ng n sác n nước:

Toàn bộ nội dung của Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế

cơ sở, dự toán xây dựng đều phải do cơ quan chuyên môn về xây dựng theo phân cấp có trách nhiệm chủ trì tổ chức thẩm định

- Đối với dự án đ u tư dựng s dụng vốn n nước ngo i ng n sác :

+ Khi thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, cơ quan chuyên môn về xây dựng theo phân cấp chủ trì thẩm định thiết kế cơ sở (trừ nội dung về sự phù hợp của phương án công nghệ, dây chuyền công nghệ được lựa chọn đối với công trình có yêu cầu về thiết kế công nghệ) Cơ quan chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư

Trang 28

chủ trì thẩm định thiết kế công nghệ

(nếu có), các nội dung khác của Báo cáo

nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng

+ Các bước thiết kế xây dựng triển

khai sau thiết kế cơ sở và dự toán xây

dựng do Cơ quan chuyên môn về xây

dựng theo phân cấp chủ trì thẩm định

thiết kế kỹ thuật, dự toán xây dựng trong

trường hợp công trình xây dựng thiết kế

ba bước, thiết kế bản vẽ thi công, dự

toán xây dựng trong trường hợp thiết kế

hai bước; phần thiết kế công nghệ và nội

dung khác (nếu có) do cơ quan chuyên

môn trực thuộc người quyết định đầu tư

thẩm định

- i v i n u tư ng s

ng v n h

+ Khi thẩm định Báo cáo nghiên

cứu khả thi đầu tư xây dựng thì Cơ quan

chuyên môn về xây dựng theo phân cấp

thẩm định thiết kế cơ sở của dự án đầu

tư xây dựng đối với công trình cấp đặc

biệt, cấp 1, công trình công cộng, công

trình có ảnh hưởng lớn đến cảnh quan,

môi trường và an toàn của cộng đồng

Cơ quan chuyên môn trực thuộc người

quyết định đầu tư chủ trì tổ chức thẩm

định phần thiết kế công nghệ (nếu có),

các nội dung khác của Báo cáo nghiên

cứu khả thi đầu tư xây dựng Các dự án

còn lại do người quyết định đầu tư tự tổ

chức thẩm định dự án

+ Với các bước thiết kế xây dựng

triển khai sau thiết kế cơ sở, Luật xây

dựng quy định: Cơ quan chuyên môn về

xây dựng theo phân cấp chủ trì thẩm

định thiết kế kỹ thuật trong trường hợp

thiết kế ba bước, thiết kế bản vẽ thi công

trong trường hợp thiết kế hai bước đối

với công trình xây dựng cấp đặc biệt,

cấp 1, công trình công cộng, công trình xây dựng có ảnh hưởng lớn đến cảnh quan, môi trường và an toàn của cộng đồng Phần thiết kế công nghệ (nếu có),

dự toán xây dựng do cơ quan chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư thẩm định thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản

vẽ thi công và dự toán xây dựng đối với các công trình xây dựng còn lại

- Các dự án đầu tư xây dựng thực hiện theo hình thức đối tác công tư:

+ Khi thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng thì cơ quan chuyên môn về xây dựng theo phân cấp chủ trì thẩm định thiết kế cơ

sở của dự án Cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đầu tư thẩm định các nội dung khác trong Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng

+ Đối với các bước thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở, Luật xây dựng chưa quy định chi tiết, tuy nhiên việc thẩm định thiết kế, dự toán xây dựng cần thực hiện theo nguyên tắc như đối với dự án sử dụng vốn đầu tư nhà nước, đồng thời cần quy định phù hợp với các hình thức hợp đồng dự án được áp dụng

- Riêng đối với dự án đầu tư xây dựng chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật (là dự án quy mô nhỏ, đơn giản, công trình xây dựng được thiết kế một bước là bước thiết kế bản vẽ thi công), Luật xây dựng quy định:

+ Trường hợp sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì cơ quan chuyên môn

về xây dựng có trách nhiệm chủ trì tổ chức thẩm định các nội dung của Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng

Trang 29

+ Trường hợp sử dụng vốn nhà

nước ngoài ngân sách thì cơ quan

chuyên môn về xây dựng theo phân cấp

có trách nhiệm chủ trì thẩm định thiết kế

bản vẽ thì công và dự toán xây dựng

công trình Cơ quan chuyên môn trực

thuộc người quyết định đầu tư thẩm định

phần thiết kế công nghệ (nếu có), các

nội dung khác của Báo cáo kinh tế - kỹ

thuật đầu tư xây dựng

quan, môi trường và an toàn của cộng

đồng và tự chịu trách nhiệm về nội dung

thẩm định

Từ các quy định nêu trên có thể

nhận thấy, đối với dự án đầu tư xây

dựng sử dụng vốn nhà nước sẽ được các

cơ quan chuyên môn về xây dựng “tiền

kiểm” chặt chẽ về chi phí, nội dung các

bước thiết kế xây dựng, còn các dự án

không sử dụng vốn nhà nước thì nhà

nước vẫn kiểm soát chặt chẽ thiết kế xây

dựng ở các bước đối với công trình cấp

đặc biệt, cấp 1 và công trình xây dựng

có ảnh hưởng lớn đến cảnh quan, môi

trường, an toàn của cộng đồng Đây là

những nội dung đổi mới căn bản so với

các quy định trước đây Đồng thời trong

quá trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu

khả thi đầu tư xây dựng, các bước thiết

kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở,

thường có sự tham gia thẩm định đồng

thời của nhiều chủ thể như cơ quan

chuyên môn về xây dựng, cơ quan

chuyên môn trực thuộc người quyết định

đầu tư, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan Do vậy quá trình này diễn ra tương đối phức tạp, ảnh hưởng nhiều tới việc đảm bảo thời gian thực hiện dự án, đặc biệt trong các trường hợp có điều chỉnh dự án, thiết kế và chi phí Điều đó đòi hỏi cần có sự phối hợp thống nhất, đồng bộ giữa các cơ quan để đảm bảo các quy định của pháp luật và hiệu quả đầu tư của dự án

T m qu ền của người qu t

đ n đ u tư c ủ đ u tư đối với các

dự án đ u tư dựng c s dụng vốn n nước

- Theo quy định mới của Luật xây dựng vừa được ban hành thì đối với các

dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước, người quyết định đầu tư có trách nhiệm quản lý trực tiếp, toàn diện trong quá trình phê duyệt dự án, thiết kế, dự toán xây dựng Theo đó, các dự án đầu

tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước, Luật xây dựng quy định: người quyết định đầu tư chịu trách nhiệm phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu

tư xây dựng, thiết kế kỹ thuật, dự toán xây dựng trong trường hợp công trình xây dựng được thiết kế ba bước; thiết kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng trong trường hợp công trình xây dựng được thiết kế hai bước, thiết kế một bước Đối với dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách thì Luật có quy định phân cấp cho chủ đầu tư được phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng đối với công trình xây dựng thiết kế hai bước, các nội dung khác vẫn thuộc thẩm quyền phê duyệt của người quyết định đầu tư

Trang 30

- Ngoài ra, Luật xây dựng có quy

định thiết kế xây dựng công trình đã

được phê duyệt chỉ được điều chỉnh khi

điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng có yêu

cầu điều chỉnh thiết kế xây dựng hoặc

trong quá trình thi công xây dựng có yêu

cầu phải điều chỉnh thiết kế xây dựng để

bảo đảm chất lượng công trình và hiệu

quả của dự án Khi điều chỉnh thiết kế

xây dựng do thay đổi về địa chất công

trình, tải trọng thiết kế, giải pháp kết

cấu, vật liệu của kết cấu chịu lực, biện

pháp tổ chức thi công ảnh hưởng đến an

toàn chịu lực của công trình thì việc

điều chỉnh thiết kế xây dựng phải được

thẩm định và phê duyệt theo quy định

của Luật Đồng thời đối với dự án sử

dụng vốn nhà nước, khi điều chỉnh hợp

đồng xây dựng làm thay đổi mục tiêu

đầu tư, thời gian thực hiện hợp đồng,

làm vượt dự toán gói thầu xây dựng

được duyệt thì phải được người quyết

định đầu tư cho phép

5 Các hình thức tổ chức quản lý dự

án đầu tƣ ây dựng

Hiện nay đa số các dự án sử dụng

vốn nhà nước đều lựa chọn mô hình tổ

chức ban quản lý dự án để tổ chức quản

lý từng dự án đầu tư xây dựng đơn lẻ,

cách này dẫn đế sự gia tăng về số lượng

ban quản lý dự án, nhưng thiếu năng lực

Để khắc phục, Luật xây dựng 2014 đã

đưa ra 5 hình thức quản lý dự án, qua đó

căn cứ quy mô, tính chất, nguồn vốn sử

dụng và điều kiện thực hiện dự án, người

quyết định đầu tư quyết định áp dụng

một trong các hình thức tổ chức quản lý

dự án sau:

- Ban quản lý dự án đầu tư xây

dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án

đầu tư xây dựng khu vực áp dụng đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, dự án theo chuyên ngành sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước

- Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án áp dụng đối với dự án

sử dụng vốn nhà nước quy mô nhóm A

có công trình cấp đặc biệt; có áp dụng công nghệ cao được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ xác nhận bằng văn bản; dự án về quốc phòng, an ninh có yêu cầu bí mật Nhà nước

- Thuê tư vấn quản lý dự án đối với

dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách, vốn khác và dự án có tính chất đặc thù, đơn lẻ

- Chủ đầu tư sử dụng bộ máy chuyên môn trực thuộc có đủ điều kiện năng lực để quản lý thực hiện dự án cải tạo, sửa chữa quy mô nhỏ, dự án có sự tham gia của cộng đồng

Như vậy Luật đã bổ sung thêm các hình thức quản lý dự án mới, trong đó quy định hình thức quản lý dự án chuyên ngành và Ban quản lý dự án đầu

tư xây dựng khu vực không chỉ áp dụng đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước mà các dự án theo chuyên ngành sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước cũng phải vận hành theo cơ chế này; hạn chế việc thành lập các Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chỉ quản lý một dự án đơn lẻ

Trang 31

dựng Điểm mới trong Luật lần này chính

là quy định trường hợp được miễn giấy

phép xây dựng cho nhiều trường hợp, cụ

thể: công trình xây dựng thuộc dự án khu

công nghiệp, khu chế xuất, khu công

nghệ cao có quy hoạch chi tiết 1/500 đã

được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;

nhà ở thuộc dự án phát triển đô thị, dự án

phát triển có quy mô dưới 7 tầng và tổng

diện tích sản dưới 500 m2 Đặc biệt quy

định việc cấp giấy phép xây dưng sẽ

được thực hiện theo cơ chế một cửa liên

thông nhằm rút ngắn thời gian, tránh gây

phiền hà cho dân và doanh nghiệp

7 Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng

Năng lực hoạt động xây dựng của

tổ chức và cá nhân được phân thành 3

hạng: hạng I, hạng II, hạng III (Luật xây

dựng 2003 quy định: hạng I, hạng II và

không xếp hạng) Năng lực hoạt động

xây dựng được cơ quan quản lý nhà

nước sát hạch, đánh giá Theo đó, Bộ

Xây dựng cấp chứng chỉ hoạt động xây

dựng hạng I, Sở Xây dựng cấp chứng

chỉ hoạt động xây dựng các hạng II, III

8 Trách nhiệm mua bảo hiểm

Loại bảo hiểm mới là bảo hiểm bảo hành được quy định trong Luật xây dựng 2014; Theo quy định thì 3 loại bảo hiểm bắt buộc: Bảo hiểm công trình trong thời gian thi công XD; nhà thầu tư vấn khảo sát, thiết kế mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, nhà thầu thi công phải mua bảo hiểm cho người lao động

Tóm lại những điểm mới của Luật xây dựng 2014 sẽ tạo ra nhiều thuận lợi cho các tổ chức cá nhân tham gia hoạt động xây dựng Tuy nhiên những quy định mới này đòi hỏi các chủ đầu tư, các nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng, cơ quan chuyên môn về xây dựng, cơ quan chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư cần phải nâng cao năng lực chuyên môn, trách nhiệm trong công tác quản lý, thực hiện dự

án, phối hợp đồng bộ với các chủ đầu

tư, ban quản lý dự án để đảm bảo việc triển khai dự án đúng tiến độ, chất lượng, đạt hiệu quả đầu tư

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Luật xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003

[2] Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ

bản số 38/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009

[3] Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014

[4] Luật đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014

[5] Viện Kinh tế Xây dựng, Tạp chí Kinh tế Xây dựng số 03/2014

[6] http://www.moc.gov.vn/

Trang 32

GIÁO DỤC ĐÀO TẠO LÀ CHÌA KHÓA THÀNH CÔNG

ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

KS Lê Đức Gia

Phó Trưởng Khoa Đào tạo Nghề, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí

quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các

nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng

thập kỷ hay bằng triệu năm Sự biến đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân

hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình Sự biến

đổi khí hậu có thể giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên

toàn Địa Cầu Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách

môi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay,

được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu Nguyên nhân chính làm

biến đổi khí hậu Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất khí

nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà

kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác

Từ khóa: Giáo dục và Đào tạo, chìa khóa thành công, ứng phó với biến đổi khí hậu

1 Nguyên nhân biến đổi khí hậu

1.1 Nguyên nhân do tự nhiên

Nguyên nhân gây ra BĐKH do tự

nhiên bao gồm: thay đổi cường độ ánh

sáng của Mặt trời, xuất hiện các điểm

đen Mặt trời (Sunspots), các hoạt động

núi lửa, thay đổi đại dương, thay đổi

quỹ đạo quay của trái đất Số Sunspots

xuất hiện trung bình năm từ năm 1610

đến 2000, với sự xuất hiện các

Sunspots làm cho cường độ tia bức xạ

mặt trời chiếu xuống trái đất thay đổi,

nghĩa là năng lượng chiếu xuống mặt

đất thay đổi nhiệt độ bề mặt trái đất

(Nguồn NASA)

Sự thay đổi cường độ sáng của Mặt

trời cũng gây ra sự thay đổi năng lượng

chiếu xuống mặt đất thay đổi, làm thay

đổi nhiệt độ bề mặt trái đất Cụ thể là từ

khi tạo thành Mặt trời đến nay gần 4,5 tỷ

năm cường độ ánh sáng của Mặt trời đã

tăng lên hơn 30% Như vậy có thể thấy

khoảng thời gian khá dài như thế thì sự

thay đổi cường độ ánh sáng Mặt trời là

không ảnh hưởng đáng kể đến BĐKH

Núi lửa phun trào: Khi một ngọn núi lửa phun trào sẽ phát thải vào khí quyển một lượng cực kỳ lớn khối lượng sulfur dioxide (SO2), hơi nước, bụi, và tro vào khí quyển Khối lượng lớn khí và tro có thể ảnh hưởng đến khí hậu trong nhiều năm Các hạt nhỏ được gọi là các Sol khí được phun ra bởi núi lửa, các Sol khí phản chiếu lại bức xạ (năng lượng) Mặt trời trở lại vào không gian vì vậy chúng có tác dụng làm giảm nhiệt độ bề mặt trái đất

Đại dương ngày nay: Các đại dương là một thành phần chính của hệ thống khí hậu Dòng hải lưu di chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh Thay đổi trong lưu thông đại dương có thể ảnh hưởng đến khí hậu

trong khí quyển

Thay đổi quỹ đạo quay của Trái đất: Trái đất quay quanh Mặt trời với cùng một quỹ đạo Trục quay có góc nghiêng 23,5o Thay đổi độ nghiêng của quỹ đạo quay trái đất có thể dẫn đến

Trang 33

những thay đổi nhỏ Tốc độ thay đổi cực

kỳ nhỏ có thể tính đến thời gian hàng tỷ

năm, vì vậy không ảnh hưởng lớn đến

BĐKH

Có thể thấy rằng các nguyên nhân

gây ra BĐKH do các yếu tố tự nhiên

đóng góp một phần rất nhỏ vào sự

BĐKH và có tính chu kỳ kể từ quá khứ

đến hiện nay Theo các kết quả nghiên

cứu và công bố từ Ủy Ban Liên Chính

Phủ về biến đổi khí hậu thì nguyên nhân

gây ra BĐKH chủ yếu là do hoạt động

của con người

1.2 Tác động từ con người

Trong hoàn cảnh BĐKH, các yếu

tố nhân sinh cũng ảnh hưởng đến khí

hậu Quan điểm khoa học về BĐKH

được nhiều người đồng ý là “khí hậu

đang thay đổi và những thay đổi này

phần lớn do tác động của con người”

Do đó, các cuộc thảo luận đang hướng

về 2 cách, một là giảm tác động của con

người và tìm cách thích nghi với sự biến

đổi đã từng xảy ra trong quá khứ và

được dự kiến xảy ra trong tương lai Vấn

đề được quan tâm nhất trong yếu tố nhân

sinh là việc tăng lượng khí CO2 do đốt

nhiên liệu hóa thạch, tạo thành các Sol

khí tồn tại trong khí quyển và sản xuất xi

măng Các yếu tố khác như sử dụng đất,

sự suy giảm ôzôn và phá rừng, cũng góp

phần quan trọng làm ảnh hưởng đến khí

hậu, vi khí hậu

Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp

(khoảng từ năm 1750), con người đã sử

dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ

yếu từ các nguyên nguồn liệu hóa thạch

(than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào

khí quyển ngày càng tăng các chất khí

gây hiệu ứng nhà kính của khí quyển,

dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất

Những số liệu về hàm lượng khí CO2

trong khí quyển được xác định từ các lõi băng được khoan ở Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà

và tan băng (khoảng 18.000 năm trước), hàm lượng CO2 trong khí quyển chỉ khoảng 180 – 200 ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng 70% so với thời kỳ tiền công nghiệp (280 ppm) Từ khoảng năm 1.800, hàm lượng khí CO2 bắt đầu tăng lên, vượt con số 300ppm và đạt con

số 379 ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí CO2 tự nhiên trong khoảng 650 nghìn năm qua

Hàm lượng các khí nhà kính khác như khí mêtan (CH4), ôxit nitơ (N2O) cũng tăng lần lượt từ 715 ppb (phần tỷ)

và 270 ppb trong thời kỳ tiền công nghiệp lên 1774 ppb (151%) và 319 ppb (17%) vào năm 2005 Riêng các chất khí chlorofluoro carbon (CFCs) vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu lớn gấp nhiều lần khí CO2 , vừa

là chất phá hủy tầng ôzôn bình lưu, chỉ mới có trong khí quyển do con người sản xuất ra kể từ khi công nghiệp lạnh, hóa mỹ phẩm phát triển

Đánh giá khoa học của Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng… đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9%, các ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại 3% là từ các hoạt động khác

Từ năm 1840 đến 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước giàu chiếm tới 70% tổng lượng phát thải khí

Trang 34

CO2 toàn cầu, trong đó Hoa Kỳ và Anh

trung bình mỗi người dân phát thải 1.100

tấn, gấp khoảng 17 lần ở Trung Quốc và

48 lần ở Ấn Độ Riêng năm 2004, lượng

phát thải khí CO2 của Hoa Kỳ là 6 tỷ tấn,

bằng khoảng 20% tổng lượng phát thải

khí CO2 toàn cầu Trung Quốc là nước

phát thải lớn thứ 2 với 5 tỷ tấn CO2, tiếp

theo là Liên bang Nga 1,5 tỷ tấn, Ấn Độ

1,3 tỷ tấn, Nhật Bản 1,2 tỷ tấn, CHLB

Đức 800 triệu tấn, Canada 600 triệu tấn,

Vương quốc Anh 580 triệu tấn Các nước

đang phát triển phát thải tổng cộng 12 tỷ

tấn CO2, chiếm 42% tổng lượng phát thải

toàn cầu so với 7 tỷ tấn năm 1990 (29%

tổng lượng phát thải toàn cầu), cho thấy

tốc độ phát thải CO2 của các nước này

tăng khá nhanh trong 15 năm qua Một số

nước phát triển dựa vào đó để yêu cầu

các nước đang phát triển cũng phải cam

kết theo Công ước BĐKH

Năm 1990 Việt Nam phát thải 21,4

triệu tấn CO2 Năm 2004, phát thải 98,6

triệu tấn CO2, tăng gần 5 lần, bình quân

đầu người 1,2 tấn/năm (trung bình của

thế giới là 4,5 tấn/năm, Singapo 12,4

tấn, Malaysia 7,5 tấn, Thái Lan 4,2 tấn,

Trung Quốc 3,8 tấn, Inđônêxia 1,7 tấn,

Philippin 1,0 tấn, Myanma 0,2 tấn, Lào

0,2 tấn)

Như vậy, phát thải các khí CO2 của

Việt Nam tăng khá nhanh trong 15 năm

qua, song vẫn ở thấp so với trung bình

toàn cầu và nhiều nước trong khu vực

Dự tính tổng lượng phát thải các khí nhà

kính của Việt Nam sẽ đạt 233,3 triệu tấn

CO2 tương đương vào năm 2020, tăng

93% so với năm 1998

Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là trong

khi các nước giàu chỉ chiếm 15% dân số

thế giới, nhưng tổng lượng phát thải của

họ chiếm 45% tổng lượng phát thải toàn

cầu; các nước châu Phi và cận Sahara với 11% dân số thế giới chỉ phát thải 2%, các nước kém phát triển với 1/3 dân

số thế giới chỉ phát thải 7% tổng lượng phát thải toàn cầu Đó là điều mà các nước đang phát triển nêu ra về bình đẳng

và nhân quyền tại các cuộc thương lượng về Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto

Chính vì thế, một nguyên tắc cơ bản, đầu tiên được ghi trong Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH

là: “C bên phải bảo vệ hệ th ng khí hậu vì lợi ích hôm nay và mai sau của nhân loại, trên ơ sở công bằng, phù hợp v i trách nhiệm hung nhưng ó phân biệt và bên các nư c phát triển phải i u trong việ ấu tranh ch ng

B KH và những ảnh hưởng có hại của húng”.

1.3 Khí nhà kính và hiệu ứng khí nhà kính

Trong thành phần của khí quyển Trái Đất, khí nitơ chiếm 78% khối lượng, khí oxy chiếm 21%, còn lại khoảng 1% các khác như argon, đioxit cacbon, mêtan, ôxit nitơ, nêon, hêli, hyđrô, ôzôn… và hơi nước Tuy chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, các khí vết này, đặc biệt là khí CO2, CH4, N2O, và CFCs

- một loại khí mới chỉ có trong khí quyển từ khi công nghệ làm lạnh phát triển, là những khí có vai trò quan trọng đối với sự sống trên trái đất Trước hết,

đó là vì các chất khí nói trên hấp thụ bức

xạ hồng ngoại do mặt đất phát ra Sau

đó, một phần lượng bức xạ này lại được các chất khí đó phát xạ trở lại mặt đất, qua đó hạn chế lượng bức xạ hồng ngoại của mặt đất thoát ra ngoài khoảng không

vũ trụ và giữ cho mặt đất khỏi lạnh đi quá nhiều, nhất là về ban đêm khi không

có bức xạ mặt trời chiếu tới đất

Trang 35

Các chất khí nói trên, trừ CFCs, đã

tồn tại từ lâu trong khí quyển và được

gọi các khí nhà kính tự nhiên Nếu

không có các chất khí nhà kính tự nhiên,

Trái Đất của chúng ta sẽ lạnh hơn

khoảng 33oC, tức là nhiệt độ trung bình

trái đất sẽ khoảng 18o

C Hiệu ứng giữ cho bề mặt Trái Đất ấm hơn so với

trường hợp không có các khí nhà kính

được gọi là “Hiệu ứng nhà kính” Ngoài

ra, khí ôzôn tập trung thành một lớp

mỏng trên tầng bình lưu của khí quyển

có tác dụng hấp thụ các bức xạ tử ngoại

từ mặt trời chiếu tới Trái Đất và thông

qua đó bảo vệ sự sống trên Trái Đất

1.4 Nguyên nhân của nước biển dâng

Nước biển dâng là sự dâng mực

nước của đại dương trên toàn cầu, trong

đó không bao gồm triều, nước dâng do

bão…Nước biển dâng tại một vị trí nào

đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với

trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau

về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố

khác Mực nước biển được đo thông

qua hệ thống thiết bị đo triều kỳ đặt tại

các trạm hải văn hoặc các máy đo độ

cao vệ tinh

Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư

của Ban liên chính phủ về BĐKH

(IPCC), sự nóng lên của hệ thống khí

hậu đã rõ ràng được minh chứng thông

qua số liệu quan trắc ghi nhận sự tăng

lên của nhiệt độ không khí và nhiệt độ

nước biển trung bình toàn cầu, sự tan

chảy nhanh của lớp tuyết phủ và băng,

làm tăng mực nước biển trung bình toàn

cầu Mực nước biển tăng phù hợp với xu

thế nóng lên do sự đóng góp của các

thành phần chứa nước trên toàn cầu

được ước tính gồm: giản nở nhiệt của

các đại dương, các sông băng trên núi,

băng Greendland, băng Nam cực và các

nguồn chứa nước trên đất liền các kết quả nghiên cứu gần đây đưa ra dự báo mực nước biển sẽ cao hơn từ 0,5 - 1,4m vào cuối thế kỷ XXI

2 Vai trò của Liên Hợp Quốc trong chiến lược chống Biến đổi khí hậu

Trước những hiểm họa và thách thức lớn về khí hậu đối với nhân loại, Liên Hợp Quốc với 2 cơ quan chuyên môn chính của mình là Tổ chức khí tượng thế giới (WMO) và Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP), đã tập hợp nhiều nhà khoa học, chuyên gia trên thế giới bàn bạc và đi đến nhất trí cần có một Công ước quốc

tế về khí hậu và coi đó là cơ sở pháp lý

để tập trung nỗ lực chung của cộng đồng thế giới đối phó với những diễn biến tiêu cực của biến đổi khí hậu Sau một quá trình soạn thảo (tháng 2 năm 1991 - tháng 5 năm 1992), Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (United Nations Framework Convention on Climate Change, UNFCCC hoặc FCCC)

đã được thông qua ngày 9 tháng 5 năm

1992 tại Trụ sở của Liên Hợp Quốc ở New York

UNFCCC là một hiệp ước quốc tế

về môi trường được đàm phán tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và phát triển (UNCED), thường gọi là Hội nghị thượng Trái Đất diễn ra tại Rio De Janeiro từ ngày 03 đến ngày 14 tháng 6 năm 1992 Mục tiêu của hội nghị là “ổn định các nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu” Bản thân công ước này không ràng buộc giới hạn phát thải khí nhà kính cho các quốc gia đơn lẻ

và không bao gồm cơ chế thực thi Do

đó công ước này là không bắt buộc về

Trang 36

mặt pháp lý Thay vào đó công ước cung

cấp một bộ khung cho việc đàm phán

các hiệp ước quốc tế cụ thể “gọi là nghị

định thư” có khả năng đặt ra những giới

hạn ràng buộc về khí nhà kính

UNFCCC được mở ra để ký kết từ tháng

5 năm 1992, sau khi một Ủy ban Đàm

phán Liên chính phủ xây dựng văn bản

của công ước khung như một báo cáo

theo sau cuộc họp tại New York từ ngày

Các bên tham gia Công ước gặp mặt

hằng năm; từ năm 1995 tại Hội nghị các

bên (COP) để đánh giá tiến trình đối phó

với biến đổi khí hậu Năm 1997, Nghị

định thư Kyoto được ký kết đã tạo ra

những nghĩa vụ ràng buộc pháp lý cho các

quốc gia phát triển nhằm cắt giảm khí thải

nhà kính của họ Các thỏa thuận Cancun

(COP16) năm 2010 tuyên bố rằng sự ấm

lên toàn cầu trong tương lai cần được giới

hạn dưới 2,00c (3,60F) tương đương với

mức tiền công nghiệp năm 1750

Ngày 23 tháng 9 năm 2014 Hội

nghị Thượng đỉnh chống biến đổi khí

hậu diễn ra tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở

New York (Mỹ) đã đạt được những bước tiến quan trọng, trong đó có việc thông qua tuyên bố về rừng, nhằm duy trì và phát triển diện tích rừng, góp phần chống biến đổi khí hậu cũng như cam kết thúc đẩy việc sử dụng năng lượng sạch để bảo vệ môi trường Các đại biểu tham dự Hội nghị gồm nguyên thủ quốc gia, thủ tướng chính phủ, các

bộ trưởng, trưởng đoàn đại biểu 193 quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc, các đại diện của giới khoa học, tài chính, doanh nghiệp, các nhà hoạt động môi trường… đã cam kết sẽ nỗ lực hết sức để đến năm 2020 sẽ giảm được 50% diện tích rừng bị mất trắng Đến năm 2030 sẽ chặn đứng hoàn toàn tình trạng sử dụng rừng vào các mục đích khác Tuyên bố về rừng của Hội nghị thượng đỉnh Liên Hợp Quốc về khí hậu cho biết, với gần 4 tỷ hecta, rừng bao phủ khoảng 31% bề mặt Trái đất, song tình trạng đốt nương làm rẫy, các vụ cháy rừng, chặt phá, khai thác rừng bừa bãi hay chiếm dụng đất rừng… chủ yếu do bàn tay con người, đã thực sự là mối lo ngại chung của nhân loại, vì nó tác động nghiêm trọng tới môi trường sống, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống con người

Hình 1 Hội nghị Thượng đỉnh Liên Hợp Quốc Hình 2 Phát thải khí nhà kính gây ra ĐKH

chống ĐKH

Trang 37

Bên cạnh cam kết về rừng, Hội

nghị còn nhấn mạnh tới sáng kiến chống

sa mạc hóa và trồng cây, gây rừng Giới

tài chính tham dự hội nghị cũng đã cam

kết lập quỹ 200 triệu USD, sử dụng quỹ

đến năm 2050, để hỗ trợ các hoạt động

kinh tế sử dụng ít nhiên liệu hóa thạch,

tăng cường sử dụng các nguồn năng

lượng tái sinh, nhằm ủng hộ cuộc chiến

chống biến đổi khí hậu Ông Ban Ki

Moon - Tổng thư ký Liên Hợp Quốc

cũng cho biết, lãnh đạo nhiều quốc gia

đã công bố những kế hoạch cụ thể để

giảm bớt lượng khí thải gây hiệu ứng

nhà kính và sẵn sàng tham gia Công ước

khung về biến đổi khí hậu, dự kiến sẽ

được ký vào năm 2015 (COP 21) tại

Paris, Pháp

NGHỊ ĐỊNH THƢ KYOTO

(KYOTO PROTOCOL) là một nghị định

liên quan đến Chương trình khung về

BĐKH mang tầm quốc tế của Liên Hợp

Quốc với mục tiêu cắt giảm lượng khí

thải gây hiệu ứng nhà kính Bản dự thảo

được ký kết vào ngày 11 tháng 12 năm

1997 ở Kyoto, Nhật Bản Tại hội nghị

các bên tham gia lần thứ ba khi các bên

tham gia nhóm họp tại Kyoto, và chính

thức có hiệu lực vào ngày 16 tháng 2

năm 2005; các điều kiện để có hiệu lực

55 nước tham gia chiếm ít nhất 55% khí

thải CO2 vào thời điểm 1990 theo

Chương trình khung về vấn đề BĐKH;

(Framework Convention on Climate

Change) Đến tháng 02 năm 2009 có 181

nước tham gia; kể từ tháng 9 năm 2011

đã có khoảng 191 nước ký kết tham gia

chương trình này

Theo một báo cáo về Chương trình

BĐKH của Liên Hợp Quốc thì: Nghị

ịnh thư ại diện cho s th ng nhất

giữa các qu c gia công nghiệp trong

vấn ề cắt giảm khí thải trên 5,5% so

v i năm 1990 (lưu ý rằng mứ ộ cắt giảm theo ó ến năm 2010 phải ạt ược thì chỉ tiêu này là khoảng 29%)

M tiêu hư ng ến việc giảm thiểu các loại khí carbon dioxide, methane, nitơ ô it, lưu huỳnh, cloroflourocarbon

và perflourocarbon trong khoảng thời gian 2008 - 2021 Mức tr n ã ược

qu ịnh ho nư c tham gia c thể

là 8% mức cắt giảm cho Liên minh Châu Âu và 7% cho Hoa Kỳ, 6% v i Nhật Bản, 0% v i Nga trong khi cho phép tăng ủa Úc là 8% và 10% cho Iceland Hội nghị các bên tham gia

nằm trong Chương trình khung về vấn

đề BĐKH được tổ chức vào năm 1997 tại Kyoto Nhật Bản Hầu hết những điều khoản trong Nghị định thư là yêu cầu dành cho các nước công nghiệp phát triển - được liệt vào nhóm Annex trong UNFCCC, và không có hiệu lực đối với các nguồn khí thải đến từ lĩnh vực hàng không và hàng hải thuộc phạm vi quốc tế

3 Nỗ lực của Việt Nam trong chiến lƣợc chống biến đổi khí hậu

Chính sách, pháp luật về ứng phó

15/5/2014, Ủy ban Khoa học, Công nghệ

và Môi trường của Quốc hội đã tổ chức Hội thảo về thực hiện chính sách, pháp luật về ứng phó với BĐKH ở Việt Nam

Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường tới dự và báo cáo; Thứ trưởng nêu rõ, hiện nay có hơn 300 văn bản khác nhau về ứng phó với BĐKH, điều này chứng tỏ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước là rất cao, các chủ trương đưa

ra rất đồng bộ, tuy nhiên vẫn chưa cụ thể, mới chỉ dừng lại ở mức định hướng

Bên cạnh đó các quy định về giảm nhẹ

Trang 38

thiên tai, phát thải khí nhà kính còn phân

tán; các quy định về thích ứng chủ yếu

nặng về phòng chống và giảm nhẹ thiên

tai Ngoài ra, phần lớn quy hoạch phát

triển kinh tế - xã hội của các ngành, lĩnh

vực, địa phương chưa được bổ sung yếu

(Nhật Bản) và AFD (Pháp) khởi xướng

năm 2009 Đến nay đã có thêm World

Bank, Canada, Australia, Hàn Quốc

tham gia Tính đến nay Việt Nam đã huy

động gần 1 tỷ USD từ các nhà tài trợ

Hiện Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt

danh mục 62 dự án ưu tiên cấp bách

Hiện nay, một số dự án ở các tỉnh

ĐBSCL và các tỉnh ven biển Miền

Trung đã bước đầu được bố trí vốn để

triển khai thực hiện

Việt Nam ký Công ước khung của

Liên Hợp Quốc về BĐKH (UNFCCC)

năm 1992 và phê chuẩn năm 1994;

Chính phủ ký Nghị định Thư Kyoto năm 1998 và phê chuẩn Nghị định thư năm 2002 Việt Nam phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về chống sa mạc hóa (UNCCD) năm 1998 và năm 2011 Việt Nam ký Khung hành động Hyogo

về giảm nhẹ thảm họa cho giai đoạn

2005 - 2015 Việt Nam là thành viên của nhóm G77 và Trung Quốc - tổ chức lớn nhất của các nước đang phát triển hiện nay và nhất trí với tất cả các đề xuất chính sách chung của nhóm về những vấn đề đang được đàm phán

Việt Nam cũng là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), ASEAN không phải là một nhóm đàm phán chính thức của UNFCCC, nhưng các quốc gia ASEAN hợp tác về BĐKH và chia sẻ một số quan điểm tương tự Ở cấp quốc gia, Việt Nam đã có nhiều chính sách cụ thể như Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến BĐKH

Hình 3 ĐKH gây ra thời tiết cực đoan tạo Hình 4 ĐKH đối mặt với hạn hán

nhiều cơn bão lụt

Chống BĐKH là một ưu tiên của

Chính phủ Việt Nam; những năm vừa

qua, các cơ quan hoạch định chính sách

và các nhà lãnh đạo Việt Nam đã thay

đổi nhận thức về vấn đề BĐKH Hiện

nay, BĐKH được coi là một trong những

thách thức nghiêm trọng nhất mà Việt

Nam đang phải đối mặt; Nghị quyết Đại

hội lần thứ 11 của Đảng Cộng sản Việt

Nam (được thông qua tháng 1/2011)

khẳng định BĐKH sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới Việt Nam Nghị quyết cũng chỉ

rõ ứng phó với BĐKH là vấn đề cần được ưu tiên trong giai đoạn 2011-2015

Chính phủ đang dần hoàn thiện khung pháp lý về BĐKH, giảm nhẹ rủi ro thiên tai, sản xuất sạch hơn và sử dụng năng lượng Chiến lược Quốc gia về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai tới năm

2020 đã được phê chuẩn năm 2007;

Trang 39

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về

BĐKH được ban hành năm 2008

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên

và Môi trường “các kịch bản BĐKH và

nước biển dâng của Việt Nam” (2009),

dự đoán vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ

trung bình tại Việt Nam có khả năng

tăng khoảng 2,3o

C, tổng lượng mưa trong mùa mưa cũng tăng, trong khi

lượng mưa vào mùa khô lại giảm; mực

nước biển có thể dâng cao từ 65cm tới

1m so với mức trung bình giai đoạn

1980-1999 Nếu không áp dụng biện

pháp thích ứng nào và mực nước biển

dâng thêm 1m, thì khoảng 40% đồng

bằng sông Cửu Long (sông Mê Kông),

9% đồng bằng sông Hồng và 3% các

địa phương khác khu vực ven biển có

thể chịu rủi ro ngập lụt cao hơn, và trên

20% thành phố Hồ Chí Minh có khả

năng bị ngập

4 Giáo dục đào tạo trong việc ứng

phó với biến đổi khí hậu

Xu hướng phát thải khí nhà kính

toàn cầu đến năm 2100, Trái đất có thể

nóng thêm 4oC và khiến Việt Nam sẽ

phải gặp sự thay đổi nhiệt độ lớn Đặc

biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu

long Các thảm họa thiên nhiên và mực

nước biển dâng đã và đang gây ra những

hậu quả nặng nề đối với con người và tài

sản, gây ra những ảnh hưởng bất lợi tới

tăng trưởng, sự giảm nghèo và tới nhiều

lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế

Trong hai thập kỷ qua, ước tính mỗi năm

Việt Nam đã thiệt hại từ 1% đến 1,5%

DGP do các thảm họa thiên nhiên

Chẳng hạn như cơn bão Xangsane năm

2006 đã gây thiệt hại tới 1,2 tỉ USD ở 15

tỉnh khu vực Miền Trung

Mặc dù Việt Nam chưa phải là

quốc gia phát thải lượng lớn khí nhà

kính, nhưng lượng khí này của Việt Nam ngày càng tăng, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng Từ năm 2000 đến năm

2010, lượng khí nhà kính trên đầu người của Việt Nam đã tăng 180% và tổng lượng khí thải nhà kính tăng 150%

Chính phủ Việt Nam đang thể hiện cam kết mạnh mẽ ứng phó với BĐKH, giảm nhẹ rủi ro thiên tai và tăng trưởng xanh,

áp dụng phương thức liên lĩnh vực tập trung vào thích ứng và tăng cường nỗ lực để giảm nhẹ tác động của BĐKH

Vì vậy, Tăng cường giáo dục được

coi là chìa khóa thành công, hiệu quả để

cá nhân và cộng đồng ứng phó với những thách thức của BĐKH Tại Việt Nam, giáo dục BĐKH đã được lồng ghép ở một số môn học trong chương trình của các bậc học phổ thông Tuy nhiên, các nhà giáo dục cho rằng, điều quan trọng là cần đổi mới phương pháp

và các hình thức tổ chức giáo dục, không hạn chế giáo dục BĐKH trong các bài học khô cứng của lý thuyết mà cần tăng cường các hoạt động thiết thực, sinh động dã ngoại ngoài giờ Tại các cơ sở giáo dục đại học trừ các trường có đào tạo chuyên ngành về môi trường, còn các ngành kỹ thuật khác chưa đưa phần BĐKH vào chương trình học chính khóa của các ngành học Vì vậy tăng cường giáo dục về BĐKH là chìa khóa hiệu quả

để cá nhân và cộng đồng ứng phó với các thách thức của BĐKH, nước biển dâng, thiên tai bất thường, gia tăng nhiệt

độ toàn cầu…

Ngày 25 và 26 tháng 6 năm 2014 tại Đại học Đà Lạt hơn 100 nhà khoa học đến từ các tổ chức và các trường đại học đã hội thảo, tập huấn về dự án Lồng ghép giảng dạy về BĐKH trong Chương trình đào tạo trình độ đại học Dự án do

Trang 40

cơ quan hỗ trợ Quốc tế Hoa Kỳ

(UASID) hỗ trợ thông qua; Chương

trình giảm phát thải từ rừng khu vực

Châu Á (LEAF); Chương trình Rừng và

đồng bằng Việt Nam (VFD) Chương

trình đào tạo này sẽ áp dụng tại một số

trường đại học các quốc gia thuộc tiểu

vùng sông Mê Kông Ba trường của Việt

Nam được chọn thí điểm thực hiện

chương trình là đại học Lâm Nghiệp,

Vinh và Đà Lạt Chương trình BĐKH do

hơn 100 chuyên gia các nước biên soạn,

là chương trình khung có tính mở, áp

dụng cho nhiều ngành đào tạo khác

nhau Bao gồm 4 học phần: Kiến thức

chung về BĐKH; Các khía cạnh xã hội

và môi trường của BĐKH; Lập kế hoạch

sử dụng đất nhằm giảm phát thải; Đo

tính và giám sát carbon

Cùng với sự hỗ trợ của cộng đồng

quốc tế, sự nỗ lực, chủ động của các Bộ,

ngành, địa phương cũng đã đem lại

những kết quả đáng kể Đặc biệt là năng

lực ứng phó với BĐKH đã có những

bước tiến đáng kể, Một số kết quả chính

đạt được như: Nhận thức về BĐKH của

thiên tai, giảm nhẹ thiên tai, giảm nhẹ

phát thải khí nhà kính được thực hiện;

Vai trò, vị thế của Việt Nam được nâng

cao và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế

được tăng cường

Hưởng ứng Chiến lược ứng phó

với BĐKH của tổ chức Liên Hợp Quốc

cũng như Chiến lược của Đảng, Nhà

nước và Chính phủ Việt Nam Ngày 04

tháng 3 năm 2014 Bộ Xây Dựng đã ra

Quyết định số 209/QĐ-BXD; ban hành

Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của ngành Xây dựng, giai đoạn 2014 -

2020 Về công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức; đào tạo nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực Đặc biệt phần Danh mục các nhiệm vụ ưu tiên nhằm ứng phó với BĐKH giai đoạn

2014 - 2020 của Bộ Xây dựng; Phần nhiệm vụ 4: Cơ chế chính sách, đào tạo tập huấn về BĐKH và nước biển dâng

và tác động của nó đến ngành Xây dựng;

mục 4.3 có ghi; Bổ sung vào giáo trình

giảng dạ ho sinh viên trường ại học chuyên ngành kiến trúc và xây

d ng (kiến thức về khí hậu, thủy văn, môi trường; về biến ổi khí hậu và

nư c biển dâng) Như vậy kiến thức về

khí hậu, thủy văn, môi trường, ứng phó với BĐKH và nước biển dâng; Bộ Xây dựng đã quyết định đưa vào chương trình học tập chung, toàn khóa các cấp học chuyên ngành kiến trúc và xây dựng trong các trường đại học trực thuộc Bộ quản lý

Tại Trường Đại học Xây dựng Miền Trung trong những năm qua lãnh đạo Nhà trường đã tạo điều kiện cho Đoàn thanh niên nhà trường tham gia

“Ngày thứ bảy tình nguyện, ngày chủ nhật xanh” Như dọn vệ sinh bải biển TP Tuy hòa, trồng cây xanh trong khuôn viên trường làm cho môi trường xanh, sạch, đẹp… Ngoài ra hàng năm còn tham gia chiến dịch Hè tình nguyện, xuất quân về các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn thuộc tỉnh Phú Yên xây dựng nhà tình nghĩa, sửa chữa nhà tình thương, xây dựng nhà vệ sinh, làm đường giao thông nông thôn, cải tạo môi trường, Chung tay xây dựng nông thôn mới theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, giúp Nhân dân ăn ở vệ sinh

Ngày đăng: 26/01/2021, 13:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w