LỜI CAM ĐOAN Tôi khẳng định tất cả các nội dung trong Luận văn: “Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán nhìn từ góc độ tài chính hành vi” là kết
Trang 1BÙI CHIẾN CÔNG
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Trang 2Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS.TS Vương Đức Hoàng Quân
Thành phần hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 Chủ tịch: PGS.TS Lê Nguyễn Hậu
2 Thư ký: TS Trương Minh Chương
3 Phản biện 1: TS Dương Như Hùng
4 Phản biện 2: TS Nguyễn Thu Hiền
5 Uỷ viên: TS Phạm Quốc Trung
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Trưởng khoa quản lý chuyên ngành sau khi LV đã được sửa chữa (nếu có)
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- -
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngày, tháng, năm sinh: 28/02/1990 Nơi sinh: Bà Rịa – Vũng Tàu Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60 34 01 02
I TÊN ĐỀ TÀI:
Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán nhìn
từ góc độ tài chính hành vi
NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
Áp dụng các hành vi tài chính để xác định yếu tố hành vi tác động đến các quyết định đầu tư, ảnh hưởng của thiên lệch hành vi lên hiệu quả đầu tư, sau đó đưa ra kiến nghị cho các nhà đầu tư dựa trên quan điểm tài chính hành vi
Đo lường các yếu tố hành vi tác động đến tiến trình ra quyết định của nhà đầu tư
Làm rõ tác động của các yếu tố hành vi lên quyết định đầu tư
Đo lường tác động của thiên lệch hành vi lên hiệu quả đầu tư
Đưa ra khuyến nghị với nhà đầu tư dựa trên quan điểm tài chính hành vi
II NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 09/11/2015
III NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 22/04/2016
IV CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: PGS TS VƯƠNG ĐỨC HOÀNG QUÂN
Tp HCM, ngày tháng năm 2016
TRƯỞNG KHOA QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ phía nhà trường, thầy cô, bạn bè và người thân
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS VƯƠNG ĐỨC HOÀNG QUÂN
đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô khoa Quản lý Công Nghiệp – Trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức quý báu, những kinh nghiệm thực tiễn cho tôi trong suốt khoá học
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Bùi Chiến Công
Trang 5Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp định lượng và lấy mẫu theo phương pháp thuận tiện Đối tượng phỏng vấn là những nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam Dữ liệu từ 159 mẫu hợp lệ được dùng để kiểm định mô hình nghiên cứu Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm Cronbach’s Alpha, phân tích nhân
tố EFA và phân tích hồi quy
Kết quả nghiên cứu cho thấy các thiên lệch hành vi tâm lý mỏ neo; tự tin thái quá và phản ứng thái quá đã ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư cá nhân Tâm lý bầy đàn và ác cảm sợ thua lỗ ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả đầu tư
Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhà đầu tư cá nhân trong quá trình ra quyết định đầu tư Công ty chứng khoán cũng có thể xem kết quả này là dữ liệu tham khảo cho việc dự đoán xu hướng thị trường để có khuyến nghị tốt cho nhà đầu tư
Trang 6ABSTRACT
Investors do not always make decisions based on reasons, they are, however, governed
by psychological factors (emotional and cognitive ) in making their decisions
The objective of this research is to explore the factors that influence the investment decisions of individual investors through the profits they achieved This study showed
5 bias in acts include the anchoring bias; overconfidence; herding behabior; loss aversion bias and under and over-reaction
The study was done by quantitative methods and samples were taken by the convenient method Object of interview was individual investors on Vietnam stock market Data was collected from 159 valid samples were used to test the research pattern The data analysis method used in this study was Cronbach’s Alpha, factor analysis EFA and regression analysis
The study’s results showed that the behavioral bias: anchoring bias; overconfidence and under and over-reaction had positive effects on the efficiency of investment by individual investors Herding behabior and loss aversion bias negatively influence investment performance
The research results are useful references for individual investors in making investment decisions The securities company can see this result as reference data for predicting market trends to have good recommendations for investors
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi khẳng định tất cả các nội dung trong Luận văn: “Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán nhìn từ góc độ tài chính hành vi” là
kết quả của quá trình tự nghiên cứu của riêng tôi và Luận văn chưa được nộp bất cứ cơ
sở nào khác ngoài Trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh
Tôi cũng cam đoan rằng Luận Văn Thạc sĩ này do chính tôi viết, tất cả nguồn thông tin
đã sử dụng đều được chấp nhận cho Luận văn Thạc sĩ này dưới sự hướng dẫn của PGS TS Vương Đức Hoàng Quân
Trang 8MỤC LỤC
TÓM TẮT III ABSTRACT IV LỜI CAM ĐOAN V MỤC LỤC VI DANH MỤC BẢNG XI DANH MỤC HÌNH XII
CHƯƠNG 1 1
1.1 Cơ sở hình thành đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Ý nghĩa thực tiễn 4
1.5 Bố cục luận văn 5
CHƯƠNG 2 6
2.1 Hành vi nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán 6
2.1.1 Nhà đầu tư cá nhân 6
2.1.2 Các nhân tố tác động đến hành vi nhà đầu tư cá nhân 6
2.2 Lý thuyết hành vi 10
2.2.1 Thuyết kỳ vọng (Prospect Theory) 10
2.2.2 Quy tắc quyết định theo kinh nghiệm (Heuristics) 12
2.2.3 Các dạng thiên lệch hành vi 13
Trang 92.2.3.1 Thiên lệch mỏ neo (Anchoring bias) 13
2.2.3.2 Thiên lệch tự tin thái quá (Overconfidence) 14
2.2.3.3 Tâm lý bầy đàn (Herding behabior) 16
2.2.3.4 Thiên lệch tâm lý sợ thua lỗ (Loss Aversion Bias) 17
2.2.3.5 Phản ứng thái quá (Over and Under-Reaction) 18
2.3 Ra quyết định và hoạt động đầu tư chứng khoán 18
2.3.1 Quyết định bán 18
2.3.2 Quyết định mua 19
2.3.3 Hiệu quả đầu tư 20
2.4 Các nghiên cứu trước đây 21
2.4.1 Nghiên cứu trong nước 21
2.4.2 Nghiên cứu ngoài nước 23
2.5 Tóm tắt chương 2 29
CHƯƠNG 3 30
3.1 Mô hình nghiên cứu 30
3.3 Cấu trúc nghiên cứu 33
3.4 Quy trình nghiên cứu 35
3.5 Thang đo 36
3.5.1 Đối với các biến nhân khẩu 36
3.5.2 Đối với các biến liên quan đến đầu tư chứng khoán 37
3.5.3 Yếu tố tâm lý 38
3.5.4 kết quả đầu tư 39
3.6 Nghiên cứu định tính sơ bộ 39
3.7 Nghiên cứu chính thức 40
Trang 103.7.1 Cấu trúc bảng câu hỏi chính thức 40
3.7.2 Phương thức lấy mẫu 41
3.7.3 Cỡ mẫu 41
3.7.4 Xử lý và phân tích dữ liệu 41
3.7.5 Đánh giá thang đo 42
3.7.5.1 Độ tin cậy 42
3.7.5.2 Độ giá trị 43
3.7.6 Phân tích nhân tố - EFA 43
3.7.7 Kiểm định mô hình và các giả thuyết 45
3.7.7.1 Phân tích tương quan 45
3.7.7.2 Phân tích hồi quy đa biến 45
3.7.7.3 Kiểm định sự vi phạm các giả định của hồi quy tuyến tính 46
3.8 Tóm tắt chương 3 47
CHƯƠNG 4 48
4.1 Làm sạch dữ liệu 48
4.2 Thống kê mô tả 48
4.3 Kiểm định thang đo 51
4.3.1 Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha (PHỤ LỤC 3) 51
4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến độc lập (PHỤ LỤC 4) 55
4.3.3 Phân tích EFA cho biến phụ thuộc (PHỤ LỤC 5) 57
4.4 Kiểm nghiệm phân phối chuẩn của các biến 57
4.5 Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 58
4.5.1 Phân tích tương quan 58
4.5.2 Phân tích hồi quy 60
Trang 114.5.3 Mức độ tác động của các thiên lệch hành vi lên quyết định đầu tư của
nhà đầu tư cá nhân (PHỤ LỤC 7) 65
4.5.4 Kiểm định các giả thuyết 66
4.6 Thảo luận kết quả 67
4.7 Tóm tắt chương 4 71
5.1 Kết luận 72
5.1.1 Thiên lệch tâm lý mỏ neo (Anchoring) 72
5.1.2 Tự tin thái quá (Overconfidence) 72
5.1.3 Tâm lý bầy đàn (Herd Behavior) 73
5.1.4 Ác cảm sợ thua lỗ (Loss aversion) 73
5.1.5 Phản ứng thái quá ( Over and Under-Reaction) 73
5.2 Đóng góp của nghiên cứu 74
5.3 Khuyến nghị 75
5.3.1 Khuyến nghị với nhà đầu tư cá nhân 75
5.3.2 Khuyến nghị với công ty chứng khoán 77
5.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 77
5.4.1 Hạn chế của đề tài 77
5.4.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 78
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT CHÍNH THỨC 86
PHỤ LỤC 2: THỐNG KÊ MÔ TẢ DỮ LIỆU 91
PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ ĐỘ TIN CẬY CRONBACH’S ALPHA 95
Trang 12PHỤ LỤC 4: PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ EFA CHO BIẾN ĐỘC LẬP 100 PHỤ LỤC 5: PHÂN TÍCH EFA CHO BIẾN PHỤ THUỘC 104 PHỤ LỤC 6: KIỂM ĐỊNH HỆ SỐ HỒI QUY 105
PHỤ LỤC 7: MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THIÊN LỆCH HÀNH VI LÊN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƢ CỦA NHÀ ĐẦU TƢ CÁ NHÂN 109
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG 111
Trang 13DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả nghiên cứu của Rahul Subash 24
Bảng 2.2 Kết quả nghiên cứu của DOUGLAS I NDUNGU 25
Bảng 2.3 Kết quả nghiên cứu của Lingesiya Kengatharan 27
Bảng 2.4 Kết quả hồi quy của Lingesiya Kengatharan 28
Bảng 4.1 Kết quả thống kê mô tả mẫu 50
Bảng 4.2 Kết quả Cronbach’s Alpha thang đo tâm lý mỏ neo (Anchoring) 52
Bảng 4.3 Kết quả Cronbach’s Alpha thang đo Thang đo tự tin thái quá (Overconfidence) 52
Bảng 4.4 Kết quả Cronbach’s Alpha thang đo tâm lý bầy đàn (Herd Behavior) 53
Bảng 4.5 Kết quả Cronbach’s Alpha thang đo Ác cảm sợ thua lỗ (Loss Aversion) 54
Bảng 4.6 Kết quả Cronbach’s Alpha thang đo Phản ứng thái quá (Over and Under-Reaction) 54
Bảng 4.7 Kết quả Cronbach’s Alpha thang đo kết quả đầu tư 55
Bảng 4.8 Kết quả EFA cho biến độc lập 56
Bảng 4.9 Thông số Skewness và Kurtosis của các biến 58
Bảng 4.10 Phân tích tương quan biến 59
Bảng 4.11 Phân tích hồi quy 60
Bảng 4.12 Mức độ giải thích của mô hình 61
Bảng 4.13 Phân tích phương sai ANOVA 61
Bảng 4.14 Phân tích hiện tượng tự tương quan của phần dư 62
Bảng 4.15 Kiểm định phương sai của sai số không đổi 63
Bảng 4.16 Mức độ tác động của các thiên lệch hành vi lên quyết định đầu tư 65
Trang 14DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Prospect Theory Value Function 11
Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu 32
Hình 3.2 Cấu trúc nghiên cứu 34
Hình 3.3 Quy trình nghiên cứu mô hình kiểm định giả thuyết 35
Trang 15có nhiều ý kiến và đề xuất được đưa ra bởi các công ty chứng khoán hoặc thậm chí các
tổ chức tài chính toàn cầu đã không đúng với những gì đã xảy ra Vào đầu năm 2008, khi VN-Index đang ở mức khoảng 830 điểm, Yoong, quản lý phân tích Công ty Chứng khoán Mekong đã tự tin khẳng định rằng VNIndex sẽ tăng lên tới 1140 điểm trong năm
2008 Cùng quan điểm này HSBC và nhiều công ty chứng khoán khẳng định rằng Index có thể sẽ đạt 1.100 điểm vào cuối năm 2008 (HSBC, 2007) Nhưng thực tế, cuối năm 2008 VN-Index đã giảm gần 70% tương đương giảm mất 611,4 điểm so với mức điểm của phiên giao dịch cuối năm 2007
VN-Trong dự báo vào đầu năm 2009, HSBC dự đoán rằng năm 2009 sẽ là một năm khó khăn và thị trường chứng khoán sẽ giảm điểm, nhưng dự báo này đã không đúng vào cuối năm 2009, VN-Index đã tăng hơn 1,5 lần so với năm 2008 Do đó, nó có thể nói rằng các phương pháp dự báo dựa trên các lý thuyết tài chính thông thường không phù hợp với thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh này
Những lý thuyết cho rằng các nhà đầu tư tối đa hóa lợi nhuận của mình bằng cách làm theo các quy tắc tài chính cơ bản và ra quyết định đầu tư trên việc xem xét rủi ro Tuy nhiên, mức độ chấp nhận rủi ro của các nhà đầu tư phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân của
họ và thái độ chấp nhận rủi ro của họ (Maditinos, Sevic & Theriou, 2007) Do đó, cần thiết có nghiên cứu các yếu tố hành vi tác động đến quá trình ra quyết định của các nhà đầu tư cá nhân trong thị trường chứng khoán Việt Nam, để giúp các nhà đầu tư cũng như các công ty chứng khoán nâng cao dự đoán tốt hơn vào quyết định đầu tư của họ
Trang 16Tài chính hành vi có thể hữu ích trong trường hợp đã nêu trên bởi vì nó được dựa trên tâm lý học để giải thích lý do tại sao người ta mua hay bán cổ phiếu (Waweru et al., 2008) Nhiều nhà nghiên cứu xem xét tài chính hành vi như là lý thuyết tốt để hiểu và giải thích cảm xúc và nhận thức của nhà đầu tư ảnh hưởng đến quyết định đầu tư (Waweru et al., 2008) Gao và Schmidt (2005) khẳng định việc nghiên cứu khoa học xã hội như tâm lý có thể giúp hiểu những hành vi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
Có hai lý do tại sao tài chính hành vi quan trọng và thú vị để áp dụng cho thị trường chứng khoán Việt Nam Thứ nhất, tài chính hành vi là một chủ đề hay để nghiên cứu
và chưa được nghiên cứu nhiều tại Việt Nam Tài chính hành vi được chấp nhận như là một mô hình khả thi để giải thích cách nhà đầu tư ra quyết định và những quyết định
đó ảnh hưởng đến thị trường tài chính (Kim và Nofsinger, 2008) Thứ hai, có một số bằng chứng kết luận mà các nhà đầu tư châu Á, bao gồm Việt Nam, thường bị thiên lệch về hành vi hơn so với những người từ các nền văn hóa khác (Kim và Nofsinger, 2008) Do đó, việc xem xét các yếu tố ảnh hưởng quá trình ra quyết định đầu tư tại Việt Nam không thể bỏ qua các yếu tố hành vi của nhà đầu tư
Nghiên cứu tài chính hành vi đã được thực hiện phổ biến ở các thị trường phát triển ở châu Âu và Mỹ (Caparrelli, Arcangelis & Cassuto, 2004) Tuy nhiên, số lượng các nghiên cứu sử dụng tài chính hành vi cho thị trường biên và các thị trường mới nổi ít hơn nhiều so với các thị trường phát triển Trong nghiên cứu này, tài chính hành vi được sử dụng cho thị trường chứng khoán Việt Nam, để nhận ra những yếu tố thúc đẩy các hành vi đầu tư
Thị trường chứng khoán thời gian qua đã có nhiều biến động lớn Từ tháng 1/2015 đến 05/03: Vn-index tăng mạnh từ 526 điểm và đạt đỉnh tại 602 điểm Kì vọng lạc quan về tình hình kinh tế vĩ mô kích thích tăng trưởng kinh tế như hiệp định TPP, FTA, Nới room cho Nhà đầu tư nước ngoài Từ 05/03 đến 18/05: Vn-index điều chỉnh và bước vào xu hướng Downtrend, giảm từ 602 điểm về mức đáy tại 529 điểm ngày 18/05 Từ
Trang 1718/05 đến 15/07: Vn-index bước vào xu hướng Uptrend tăng từ 529 lên tới đỉnh 641 Giai đoạn này Chính thức ký kết FTA giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á Âu (29/05) Từ 15/07 đến 25/08: Vn-index quay đầu giảm điểm từ 641 về đáy 511, giai đoạn này dòng ngân hàng và bảo hiểm đạt đỉnh và chấm dứt xu hướng tăng giá Bên cạnh đó, ngày 11/8, Trung Quốc đã chính thức tuyên bố phá giá nhân dân tệ 1,9%, chỉ trong vòng 3 ngày, đồng NDT đã giảm 4,6 % so với đồng USD, buộc Việt Nam phải điều chỉnh tỷ giá mạnh, nới tỷ giá tăng 2 lần và nới rộng biên độ, đưa mức tăng tối đa VND lên +5% đã ảnh hưởng khá lớn đến tâm lý thị trường Từ 25/08 đến 4/11: Vn-index trở lại xu hướng tăng điểm từ đáy 511 lên đỉnh 617 Thông tin Nghị định 60 không giới hạn tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài ở đầu tháng 9 và việc Việt Nam cùng 11 đối tác đã kết thúc đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào ngày 5/10/2015 đã ảnh hưởng tích cực đến thị trường Từ 4/11- năm: Vn-index bước vào xu hướng điều chỉnh giảm từ đỉnh 617 với thanh khoản ảm đảm Việc FED
đã nhất trí nâng lãi suất lần đầu tiên trong gần 1 thập kỷ, từ mức 0 – 0,25% lên 0,25 – 0,5% và cú trượt dốc của giá dầu thô thế giới vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại, xuống gần mức thấp kỷ lục của năm 2008, giao dịch quanh mốc dưới 30 USD/thùng đã ảnh hưởng lớn đến tâm lý chung của thị trường Diễn biến thị trường thời gian qua cho thấy việc nghiên cứu tài chính hành vi của nhà đầu tư thời gian này là hết sức cần thiết Các dấu hiệu về thị trường tăng hoặc giảm giá quá mức trong thời gian qua đã cho thấy nhà đầu
tư không phải luôn có hành động sáng suốt và khôn ngoan như mong đợi Việc áp dụng các lý thuyết tài chính truyền thống không thể giải thích hết được sự biến động thị trường chứng khoán
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Áp dụng các hành vi tài chính để xác định yếu tố hành vi tác động đến các quyết định đầu tư, ảnh hưởng của thiên lệch hành vi lên hiệu quả đầu tư, sau đó đưa ra kiến nghị cho các nhà đầu tư dựa trên quan điểm tài chính hành vi
Trang 18Đo lường các yếu tố hành vi tác động đến tiến trình ra quyết định của nhà đầu tư
Làm rõ tác động của các yếu tố hành vi lên quyết định đầu tư
Đo lường tác động của thiên lệch hành vi lên hiệu quả đầu tư
Đưa ra khuyến nghị với nhà đầu tư dựa trên quan điểm tài chính hành vi
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tiến hành khảo sát đối với các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam Các nhà đầu tư có am hiểu về thị trường chứng khoán, do tự trải nghiệm hay được học tại trường lớp về đầu tư chứng khoán, tài chính
Các nhà đầu tư ra quyết định đầu tư dựa trên lựa chọn kỹ lưỡng, các nhà đầu tư ra quyết định đầu tư hoàn toàn theo tư vấn từ bên ngoài thì không được coi là đối tượng khảo sát của nghiên cứu này
1.4 Ý nghĩa thực tiễn
Đối với nhà đầu tư cá nhân: Nghiên cứu này là một tài liệu tham khảo tốt về hành vi đầu tư cho các nhà đầu tư để xem xét và phân tích xu hướng thị trường chứng khoán trước khi đưa ra quyết định đầu tư phù hợp Nghiên cứu còn cho nhà đầu tư tham khảo
về mức độ tác động của các thiên lệch hành vi lên nhà đầu tư cá nhân để có thể đưa ra quyết định chính xác trong đầu tư
Đối với công ty chứng khoán: Nghiên cứu này cung cấp cho họ một biện pháp tốt để
dự đoán về xu hướng thị trường chứng khoán trong tương lai và cung cấp thông tin tư vấn đáng tin cậy cho nhà đầu tư
Đối với lĩnh vực tài chính hành vi: Bổ xung các nghiên cứu về tài chính hành vi phát triển tương đối mới so với các lý thuyết tài chính khác Tại các thị trường chứng khoán phát triển, tài chính hành vi được áp dụng rộng rãi để giải thích các hành vi tác động đến quyết định đầu tư Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, hành vi tài chính có số lượng nghiên cứu hạn chế ứng dụng cho thị trường chứng khoán kém phát triển như Việt Nam Nghiên cứu này được thực hiện với hy vọng để chứng minh sự phù hợp của việc
sử dụng tài chính hành vi cho thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 19Đối với cá nhân nghiên cứu: Nghiên cứu này cung cấp một cơ hội tốt để hiểu thêm lí thuyết và thực tế về thị trường chứng khoán cũng như các lý thuyết về tài chính hành
vi
1.5 Bố cục luận văn
Chương 1: Giới thiệu đề tài: Cơ sở hình thành đề tài; mục tiêu đề tài; đối tượng; phạm
vi nghiên cứu; ý nghĩa thực tiễn
Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Làm rõ các khái niệm trong quá trình nghiên cứu và giới
thiệu các cơ sở lý thuyết liên quan đến nhà đầu tư cá nhân, các thiên lệch hành vi, các quyết định mua và bán
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: trình bày các phương pháp nghiên cứu được sử
dụng bao gồm nghiên cứu sơ bộ, nghiên cứu chính thức và các phương pháp phân tích
để kiểm định mô hình nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Phân tích kết quả nghiên cứu định lượng chính thức
để kiểm định thang đo, mô hình lý thuyết và các giả thuyết đề ra
Chương 5: Kết luận: Tóm tắt những kết quả chính, trình bày những đóng góp, những
hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 20CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương hai trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết về nhà đầu tư cá nhân, tài chính hành
vi, các thiên lệch hành vi, quyết định mua bán và các nghiên cứu trước đây Từ những
cở sở lý thuyết này xây dựng mô hình nghiên cứu và đưa ra các giả thuyết trong chương 3
2.1 Hành vi nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán
2.1.1 Nhà đầu tư cá nhân
Nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán có thể phân loại thành nhà đầu tư cá nhân và các tổ chức đầu tư Trong đó, nhà đầu tư cá nhân là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, thực hiện đầu tư trên tài khoản của chính mình để đạt được mục tiêu tài chính của
cá nhân
Các đặc điểm của nhà đầu tư cá nhân:
Nhà đầu tư cá nhân thường có vốn đầu tư nhỏ nên mức độ đa dạng hóa danh mục đầu
tư là thấp, quy mô và khối lượng giao dịch không lớn như các nhà đầu tư tổ chức Nhà đầu tư cá nhân thường không có chiến lược đầu tư dài hạn và theo các triết lý đầu
tư cụ thể, dễ bị tác động và bị tổn thương
Quá trình ra quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân thường diễn ra nhanh chóng do bản thân nhà đầu tư tự quyết định trên tài khoản đầu tư của mình
2.1.2 Các nhân tố tác động đến hành vi nhà đầu tư cá nhân
Các nhân tố tác động đến hành vi nhà đầu tư cá nhân bao gồm các nhóm nhân tố bên trong thuộc về nhà đầu tư và các nhóm nhân tố bên ngoài Nhóm nhân tố bên trong thuộc về bản thân nhà đầu tư bao gồm: khả năng nhận thức; giới tính; độ tuổi; cảm xúc
cá nhân; tâm trạng
Khả năng nhận thức: Một số nghiên cứu gần đây đã chứng minh về mức độ ảnh hưởng
của khả năng nhận thức đến quyết định tham gia thị trường chứng khoán Benjamin,
Trang 21Brown và Shapiro (2006) thu thập dữ liệu từ cuộc khảo sát về thanh niên năm 1979 và kết hợp với các câu hỏi phỏng vấn đã tìm ra mối tương quan mạnh mẽ giữa khả năng nhận thức và khả năng tích lũy tài sản ròng Tác giả chỉ ra rằng, những người trả lời thông minh thường có xu hướng tham gia nhiều hơn vào thị trường chứng khoán Kezdi và Willis (2003) sử dụng kết quả cuộc điều tra Y tế và hưu trí (HRS) giai đoạn
1992 -2000 tại Hoa Kỳ để kiểm định mối quan hệ giữa khả năng nhận thức của hộ gia đình (thông qua các chỉ số nhận thức như: chỉ số thông minh IQ) với quyết định tham gia vào TTCK Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: các hộ gia đình có chỉ số nhận thức cao tham gia nhiều hơn trên TTCK Nghiên cứu của Smith và Willis (2009) cũng chỉ ra rằng các hộ gia đình có trí nhớ cao hơn có mức tích lũy tổng tài sản và tài sản tài chính cao hơn Năm 2008, Christelis, Japelli và Padula đã đưa ra những kết quả tương tự khi
sử dụng dữ liệu khảo sát về y tế, tuổi tác và hưu trí ở Châu Âu (SHARE) đối với những người từ 50 tuổi trở lên ở 11 nước Châu Âu Kết quả nghiên cứu cho thấy có một mức
độ chênh lệch trong tư duy tính toán, sự lưu loát và trí nhớ làm tỷ lệ quyết định tham gia thị trường chứng khoán tổng thể tăng lần lượt là 1,8%, 1.7% và 1.3%
Độ tuổi: Các bằng chứng tâm lý học cho thấy người lớn tuổi sẽ ít chấp nhận tiếp thu
thông tin mới bởi họ thường xử lý và tổng hợp thông tin mới chậm và kém hiệu quả hơn Các nhà đầu tư lớn tuổi thường có hiệu ứng phân bổ tài khoản yếu hơn (Dhar và Zhu, 2006), nắm giữ danh mục đầu tư ít tập trung hơn (Goetzmann và Kumar, 2008)
và có mức độ quá tự tin thấp hơn những nhà đầu tư trẻ tuổi (Barber và Odean, 2001) Nghiên cứu của Kumar (2009) cũng chỉ ra các nhà đầu tư lớn tuổi cũng ít bị cuốn vào các hoạt động đầu tư mạo hiểm trên thị trường chứng khoán Đồng thời, tác giả cũng làm rõ mối quan hệ giữa tuổi tác, kinh nghiệm đầu tư và kỹ năng đầu tư Kết quả nghiên cứu cho thấy, kết quả đầu tư ở độ tuổi sau 70 có sự suy giảm, điều này chứng tỏ có những tác động tiêu cực của tuổi tác Các ước lượng hồi quy cho thấy, kỹ năng đầu tư tăng theo kinh nghiệm do những tác động tích cực của việc học hỏi theo thời gian nhưng lại suy giảm theo tuổi tác do ảnh hưởng không tốt của việc nhận thức
Trang 22theo tuổi tác Đồng thời, sự suy giảm diễn ra nhanh hơn ở những nhà đầu tư lớn tuổi có trình độ thấp hơn và nghèo hơn.
Giới tính: Một số nghiên cứu cũng đã làm rõ mối quan hệ của giới tính đến các quyết
định đầu tư trên TTCK Việt Nam Về mối quan hệ giữa giới tính và tâm lý tự tin, nghiên cứu của Odean (2001) và Pulford (1997) đã kết luận nam giới thường có mức
độ tự tin hơn nữ giới Đồng thời, nghiên cứu của Odean (1998) cũng chỉ ra rằng, sự quá tự tin làm cho các nhà đầu tư thường giao dịch nhiều hơn những nhà đầu tư khác
và kết quả là thành quả giao dịch thường không hiệu quả
Cảm xúc cá nhân: Các nghiên cứu về tài chính cảm xúc (emotional finance) – một
lĩnh vực hẹp của tài chính hành vi đã chứng tỏ các cảm xúc của cá nhân có tác động đến quyết định đầu tư Trước hết, cảm xúc sẽ tạo cho từng cá nhân có những đánh giá khác nhau về rủi ro và sự không chắc chắn Ricaciardi (2008) cho rằng, trong khi rủi ro
có thể nhận biết được, đo lường được nhưng sự không chắc chắn không thể được xác định, không thể đo lường và chưa được biết đến Nghiên cứu của Shefrin (2002) và Lee (2006) đã chứng tỏ mối quan hệ giữa cảm xúc và động lực về giá (momentum), cảm xúc phấn khích trong vô thức bản thân nó có một động lực Cảm xúc của cá nhân được kích thích bởi các thông tin, ví dụ thông tin tốt kích động những cảm xúc như phấn khích hay vui vẻ trong khi thông tin xấu kích động sự lo lắng và căng thẳng
Tâm trạng: Lucey và Dowling (2005) nghiên cứu mối liên hệ giữa tâm trạng và hành
vi kinh tế Theo đó, con người sử dụng tâm trạng của họ như thông tin trong hầu hết các quyết định Thông thường một tâm trạng tốt có liên quan đến việc ra quyết định ít cẩn thận hơn Tâm trạng của nhà đầu tư cũng có tác động đến sự e ngại rủi ro (Kliger và Levy, 2003)
Nhóm nhân tố bên ngoài bao gồm: nhóm nhân tố thuộc về kinh tế; nhóm nhân tố thuộc
về chính trị - văn hóa – xã hội:
Nhân tố thuộc về kinh tế: bao gồm các nhân tố thuộc về kinh tế vĩ mô trên bình diện
quốc tế và quốc gia; các nhân tố thuộc về kinh tế vi mô (ngành và tổ chức niêm yết);
Trang 23các nhân tố thuộc về thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng Các nhóm nhân tố này cấu thành nội dung cơ bản của phân tích cơ bản trong đầu tư chứng khoán
Các nhân tố tiêu biểu thuộc về kinh tế vĩ mô trên bình diện quốc tế và quốc gia có thể
kể đến bao gồm: tăng trưởng GDP, tỷ lệ thất nghiệp, chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, chính sách thương mại, sức chi tiêu, thâm hụt…
Các nhân tố thuộc về kinh tế vi mô bao gồm các nhân tố thuộc về ngành/lĩnh vực (các nhân tố như triển vọng, tiềm năng tăng trưởng ngành; mức độ cạnh tranh trong ngành; tỷ suất sinh lời trung bình ngành; rủi ro của ngành…) và các nhân tố thuộc về bản thân tổ chức niêm yết (các chỉ số phân tích tài chính của tổ chức niêm yết; rủi ro; các thông tin phi tài chính khác…)
Các nhân tố thuộc về thị trường tài chính nói chung và TTCK nói riêng bao gồm: mức độ hoàn thiện về cấu trúc thị trường; hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật về tài chính; tính thanh khoản của thị trường; cơ cấu các nhà đầu tư; mức độ đa dạng của các chứng khoán niêm yết…
Nhóm nhân tố thuộc về chính trị - văn hóa – xã hội bao gồm: sự ổn định của hệ
thống chính trị; hệ thống pháp lý; các yếu tố văn hóa – xã hội như giáo dục, tôn giáo…Một số nghiên cứu đã tìm ra bằng chứng về tác động của văn hóa đến các chiến lược giao dịch của nhà đầu tư Chui, Titman và Wei (2009) đã tìm thấy sự khác biệt về văn hóa ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của các chiến lược đầu tư Nghiên cứu của Hofstede (2001) đã kết luận rằng các nước có mức độ tự do hành động và tự do tín ngưỡng cao làm cho các nhà đầu tư cá nhân có khối lượng giao dịch lớn hơn và độ bất
ổn cao hơn và với lợi nhuận cao hơn các nước khác Nghiên cứu của Chui, Lloyd và Kwok (2002) sử dụng một mẫu có 5591 công ty từ 22 nước khác nhau cho thấy văn hóa đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc vốn của công ty
Trang 242.2 Lý thuyết hành vi
2.2.1 Thuyết kỳ vọng (Prospect Theory)
Lý thuyết Prospect ban đầu được đưa ra bởi Kahneman và Tversky (1979) và sau đó là nghiên cứu của Daniel Kahneman và đã được nhận giải thưởng Nobel Kinh tế Lý thuyết phân chia làm hai giai đoạn trong quá trình lựa chọn: giai đoạn đầu là gia đoạn hình thành khung lý thuyết và giai đoạn tiếp theo là giai đoạn đánh giá lại lý thuyết Tversky và Kahneman, đã phát triển lý thuyết Prospect và đưa ra cách quản lý rủi ro trong điều kiện không chắc chắn Về bản chất, lý thuyết giải thích những bất thường trong hành vi con người khi đánh giá rủi ro không chắc chắn Lý thuyết đã nói rằng không phải con người luôn sợ rủi ro mà là họ sợ rủi ro trong lợi ích đạt được nhưng mạo hiểm khi thua lỗ Người ta đánh giá trọng số lớn hơn về kết quả chắc chắn hơn những kết quả chỉ được coi là chỉ có thể xảy ra mà không chắc chắn Theo (Kahneman
và Tversky, 1979), quyết định cũng bị ảnh hưởng bởi tác động “Framing” Framing đề cập đến những vấn đề tương tự nhau được diễn đạt theo những cách khác nhau cho người ra quyết định với cách mà “framing” có thể đưa ra đến các quyết định mà các lý thuyết khác không đưa ra sự chọn lựa hợp lý Nó cũng đã được chứng minh có hệ thống rằng nhận thức khác nhau về vấn đề khi cùng một vấn đề đã được trình bày theo nhiều cách khác nhau (Tversky và Kahneman, 1981)
Trong lý thuyết danh mục đầu tư, tối đa hóa giá trị tài sản dựa trên giá trị cuối cùng của tài sản trong khi lý thuyết “ kỳ vọng” thể hiện qua quá trình được và mất vào tài khoản của nhà đầu tư Nhà đầu tư có thể có những lựa chọn khác nhau tuỳ từng trường hợp để đạt được kết quả về tài chính cuối cùng giống nhau Yếu tố quan trọng của “framing”
là nhà đầu tư có xu hướng cảm nhận được kết quả được và mất, chứ không chỉ là kết quả cuối cùng của tài sản Lãi và lỗ được xác định thông qua một điểm tham chiếu và thay đổi được đo lường một cách tương đối, chứ không phải là một cách tuyệt đối (Kahneman và Tversky, 1979)
Trang 25Khi nói đến đầu tư vào cổ phiếu, các điểm tham chiếu ở đây là giá mua của chứng khoán, hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm thúc đẩy bởi những lý thuyết “Prospect” cho thấy rằng giá mua của chứng khoán là một trong những điểm tham chiếu được nhà đầu tư sử dụng Tuy nhiên, nó có thể là yếu tố tham khảo ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Ví dụ, giá cổ phiếu tối đa trong lịch sử giá của cổ phiếu được xác định ảnh hưởng đến quyết định trong giao dịch của nhà đầu tư Về nguyên tắc, Framing có thể được mở rộng hoặc thu hẹp Một nhà đầu tư áp dụng Framing rộng có thể phân tích lãi
và lỗ dựa trên tổng tài sản Framing tầm trung và hẹp, quá trình mà một nhà đầu tư xác định lãi và lỗ dựa trên các thành phần riêng biệt của tài sản Framing tầm trung có thể dựa vào một danh mục đầu tư chứng khoán, trong khi Framing hẹp thường dựa vào từng chứng khoán riêng lẻ Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm được giả định Framing hẹp
Hình 2.1 Prospect Theory Value Function nguồn: Kahneman and Tversky (1979)
Trang 26Hình dạng của hàm lõm xuống thể hiện vùng lỗ và và vùng lồi thể hiện lãi, phản ánh lo ngại về rủi ro trong vùng lãi và rủi ro hiện hữu trong vùng lỗ Điểm thú vị của hàm giá trị là tại các điểm tham khảo thể hiện dốc nhất Điều này cho thấy sự thay đổi về lãi hoặc lỗ có thay đổi nhỏ tài sản, khi nó ở vùng cách với điểm tham khảo là lớn Thuyết Prospect cho rằng khi lựa chọn mạo hiểm, người ta tính toán khoản lãi và lỗ cho mỗi một mã chứng khoán và chọn một mã có tiềm năng nhất Trong một bối cảnh tài chính, điều này cho thấy nhà đầu tư có thể chọn một danh mục đầu tư bằng cách tính toán phân chia tài sản đầu tư, lợi ích tiềm năng, và sau đó chọn tham gia đầu tư cổ phiếu có tiềm năng nhất
Một yếu tố khác của lý thuyết Prospect là: Giá trị của mỗi kết quả đầu ra được nhân với trọng số của quyết định Trọng số của quyết định đo lường tác động của thông tin về một khoản đầu tư Kahneman và Tversky (1979) gọi đây là đặc tính không chắc chắn Quyết định trọng số là thường thấp hơn đối với xác suất đúng thực tế
2.2.2 Quy tắc quyết định theo kinh nghiệm (Heuristics)
"Heuristics những quy tắc hiệu quả và đơn giản để giải thích cách mọi người đưa ra quyết định, đưa đến các phán đoán và giải quyết vấn đề, thường khi phải đối mặt với các vấn đề phức tạp hoặc thông tin cung cấp không đầy đủ Trong một số trường hợp
có khuynh hướng đưa ra quyết định dựa trên việc tương tự đã thực hiện trong quá khứ
"- Daniel Kahneman (Parikh, 2011)
Tversky và Kahneman xác định ảnh hưởng của “heuristics” vào quá trình ra quyết định Tversky đã định nghĩa “heuristic”: như một chiến lược, có thể được áp dụng giải quyết cho một loạt các vấn đề, mà thường mang lại một giải pháp đúng nhất Người ta thường sử dụng “heuristics” để giúp giảm mức độ phức tạp của vấn đề và đưa ra giải pháp đơn giản hơn cho vấn đề phức tạp (Tversky và Kahneman, 1981) Quá trình ra quyết định theo “Heuristic” là quá trình mà các nhà đầu tư dựa trên hiểu biết của bản thân, thường là bằng cách thử sai trong quá khứ, và dẫn đến sự phát triển thành bộ quy tắc đúng đắn cho bản thân Nói cách khác, “heuristics” đề cập đến những quy tắc, mà
Trang 27con người sử dụng để đưa ra quyết định được thực hiện các vấn đề phức tạp, trong môi trường không chắc chắn (Brabazon, 2000)
Con người không có khả năng để xử lý tất cả các thông tin được thu nhận hằng ngày, đồng thời qua quá trình tích lũy kinh nghiệm làm một việc nào đó, những kinh nghiệm trong quá trình giải quyết công việc đó được ghi nhận lại trong đầu Quá trình này tạo
ra các quy tắc giải quyết vấn đề của cá nhân mà sau đó có thể được sử dụng khi một tình huống tương tự gặp phải trong quá trình làm việc Điều này đặc biệt quan trọng trong kinh doanh hiện đại, khi số lượng và mật độ của các thông tin rất nhiều sảy ra hằng ngày mà không thể sử lý hết được Sử dụng “heuristics” cho phép tăng tốc việc ra quyết định so với việc phân tích hết các thông tin nhận được Lợi ích lớn nhất của việc
ra quyết định theo hành vi này là thời gian được tiết kiệm rất lớn trong khi nhược điểm chính là sự phụ thuộc vào kinh nghiệm trước đó của người ra quyết định mà nó có thể không đúng với tình hình hiện tại của vấn đề Mô hình tài chính truyền thống trước đây
đã cho rằng phải loại trừ “heuristics”, và giả sử tất cả các quyết định được dựa trên các công cụ thống kê (Shefrin, 2000)
2.2.3 Các dạng thiên lệch hành vi
Theo Amar Kumar Chaudhary (2013) thiên lệch hành vi phổ biến của nhà đầu tư được
mô tả như sau:
2.2.3.1 Thiên lệch mỏ neo (Anchoring bias)
"Trong một số trường hợp, người ra quyết định bằng cách bắt đầu từ một giá trị ban đầu sau đó hiệu chỉnh để có câu trả lời chính thức Giá trị ban đầu, hoặc điểm khởi đầu,
có thể được tính toán bằng công thức tính của vấn đề, hoặc nó có thể là kết quả của một
sự tính toán một phần của vấn đề Trong cả hai trường hợp, quá trình hiệu chỉnh thường là không đủ (Slovic và Lichtenstein, 1971) Do đó, điểm xuất phát khác nhau sẽ đưa ước tính khác nhau Chúng ta gọi hiện tượng này Anchoring "(Tversky và Kahneman, 1974)
Trang 28Anchoring là một hành vi mang tính chất tâm lý xảy ra khi các nhà đầu tư cho là không cần thiết phải thực hiện thống kê loại bỏ yếu tố tâm lý và tâm lý “Anchoring” đưa ra quyết định đầu tư không phải đúng đắn nhất về con số Khi ước tính giá mua cho một
cổ phiếu và nhà đầu tư có thể bắt đầu bằng cách sử dụng một giá trị ban đầu được gọi
là "Anchoring" mà không cần phân tích nhiều, ví dụ: mức thấp nhất trong 52 tuần của chứng khoán Sau đó họ điều chỉnh mức “Anchoring” này lên hoặc xuống để phản ánh phân tích của họ hoặc thông tin mới được đưa ra, nhưng các nghiên cứu đã chỉ ra rằng
sự điều chỉnh này là không đủ độ chính xác và kết quả mà là thiên lệch so với
“Anchoring” ban đầu Các nhà đầu tư có khả năng bị ảnh hưởng bởi các “Anchoring” như: "Đây có phải là thời điểm tốt để mua hoặc bán chứng khoán? “ Hoặc “cổ phiếu có giá tốt?" Khái niệm về “Anchoring” có thể được giải thích bởi xu hướng của các nhà đầu tư để suy nghĩ của mình đến một điểm tham chiếu ban đầu một cách không logic khi đưa ra quyết định đầu tư (Pompian, 2006)
Kristensen và Gaerling (1997) đã đưa ra giả thuyết rằng : trong cuộc đàm phán giá được thực hiện qua một quá trình “Anchoring” dẫn đến hiệu ứng “Anchoring”, và giá
bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong dữ liệu được đưa tham khảo Quá trình đã được Kristensen và Gaerling mô phỏng với sự tham gia của các sinh viên quản trị kinh doanh và kết quả cho thấy rằng những người tham gia điều bị ảnh hưởng bởi giá bán đề xuất như một “Anchoring”
2.2.3.2 Thiên lệch tự tin thái quá (Overconfidence)
"Trong yếu tố tâm lý này, quá tự tin có thể được xem như lòng tin không có cơ sở lý luận một cách trực quan vào khả năng nhận thức" (Pompian, 2006) Nhà tâm lý học đã xác định rằng quá tự tin khiến cho người ta đánh giá quá cao kiến thức của mình, đánh giá quá thấp rủi ro có thể sảy ra, và làm tăng khả năng kiểm soát những sự việc Khái niệm về quá tự tin xuất phát từ một loạt các thử nghiệm tâm lý về nhận thức và các nghiên cứu điều tra, trong đó tập trung vào đánh giá cao khả năng dự đoán của cá nhân
Trang 29và sự chính xác của các thông tin đã được đưa ra Trong ngắn hạn, mọi người nghĩ rằng
họ thông minh hơn và có thông tin tốt hơn khi họ tự tin quá mức (Pompian, 2006) Theo Shefrin (2000), quá tự tin "liên quan đến việc mọi người hiểu được khả năng của mình như thế nào và các giới hạn của kiến thức của họ" Người quá tự tin về khả năng của họ có xu hướng nghĩ rằng họ làm tốt hơn so với thực tế Cá nhân là người quá tự tin về mức độ nhận thức có xu hướng nghĩ rằng họ biết nhiều hơn những gì họ thực sự làm được Quá tự tin không nhất thiết có nghĩa rằng các cá nhân thiếu hiểu biết hoặc không đủ năng lực Thay vào đó, nó có nghĩa là quan điểm của họ về bản thân là tốt hơn so với thực sự khả năng của họ Một đặc điểm chung của các nhà đầu tư là một quá tự tin vào khả năng của mình khi nói đến cổ phiếu, để quyết định mua vào hay bán
ra một mã cổ phiếu Những xu hướng đã được nghiên cứu bởi Odean (1998) và nó đã được tìm thấy rằng các cá nhân trong hầu hết các ngành nghề có xu hướng tự tin trên mức trung bình Hơn nữa, về tâm lý học đã xác định rằng quá tự tin khiến cho người ta đánh giá quá cao kiến thức của mình, đánh giá thấp rủi ro, và làm tăng khả năng kiểm soát các sự việc của họ Lựa chọn cổ phiếu cụ thể là một công việc rất khó khăn nhưng điều thú vị là việc này chính là nhiệm vụ mà nhà nhà đầu tư biểu lộ sự quá tự tin rất lớn của mình (Nofsinger, 2001)
Barber và Odean (2001) đã chia các nhà đầu tư dựa trên giới tính và dựa trên các nghiên cứu trước đó về tâm lý thực tế rằng nam giới có mức độ tự tin cao hơn phụ nữ
Họ ghi nhận rằng những người đàn ông có xu hướng quá tự tin hơn 45% so với phụ nữ Fagerstrom (2008) đã tiến hành một nghiên cứu để điều tra sự quá tự tin và lạc quan trên thị trường và các yếu tố có ảnh hưởng đến nhà đầu tư trong quá trình ra quyết định đầu tư và phân tích thị trường Phương pháp khoa học của nghiên cứu là phương pháp định lượng dựa trên dữ liệu quá khứ lấy từ IBES, Institutional Brokers Estimate System Dữ liệu thực hiện là một bản tóm lược sự tăng trưởng lợi nhuận dự kiến của các công ty tại S&P500 trong 12 tháng, so với kết quả thực hiện cho giai đoạn tháng 2
Trang 30năm 1986 đến tháng 4 năm 2008 Kết quả cho thấy các nhà phân tích của S&P500 đã phóng đại tăng trưởng bởi sự quá tự tin và quá lạc quan
2.2.3.3 Tâm lý bầy đàn (Herding behabior)
Tâm lý bầy đàn tại các thị trường tài chính được định nghĩa là sự bắt chước lẫn nhau dẫn đến những hành động giống nhau trong ra quyết định (Hirshleifer và Teoh, 2003) Đây là sai lầm rất phổ biến mà các nhà đầu tư có xu hướng theo các quyết định đầu tư thực hiện theo đa số Đó là lý do tại sao, tại các thị trường tài chính, khi thời điểm tốt nhất để mua hoặc bán cổ phiếu là do chính bản thân mình chọn, ngay cả những nhà đầu
tư nghĩ rằng nên có hành động chịu một áp lực mạnh mẽ để kiềm chế quyết định theo tâm lý bầy đàn Lý do chính của việc này là bị ảnh hưởng bởi các quyết định của nhà đầu tư khác trên thị trường Các nhà đầu tư bị ảnh hưởng bởi tâm lý bầy đàn vì họ quan tâm quá mức về những gì người khác nghĩ về quyết định đầu tư của mình dẫn đến có quyết định theo số đông (Scharfstein và Stein, 1990)
Các nhà đầu tư cá nhân có xu hướng bị ảnh hưởng bởi các khuyến nghị của các nhà phân tích trên thị trường chứng khoán Welch (2000) trong một nghiên cứu cho thấy rằng các nhà phân tích đưa ra hành vi bầy đàn gây ra thiên lệch trong quyết định đầu
tư Các quyết định này sảy ra do thiếu dữ liệu cấp độ vi mô trong phân tích Khi điều chỉnh các khuyến nghị đầu tư của Welch thì nó cũng ảnh hưởng đến phân tích của các nhà đầu tư sau đó Sự điều chỉnh cũng chịu tác động rất lớn bởi sự đồng thuận của thị trường, và để thông tin được đưa ra trong thời gian đó (Welch, 2000)
Hành vi bầy đàn là khuynh hướng nhà đầu tư cá nhân làm theo những hành động của một nhóm lớn mà không có phân tích đưa ra quyết định mang tính chất cá nhân của họ Một lý do nhà đầu tư thường có xu hướng tìm kiếm sự chấp nhận từ nhóm người lớn chứ không muốn được nổi bật với quyết định khác biệt so với số đông Một lý do khác
là các nhà đầu tư có xu hướng nghĩ rằng một nhóm lớn khi đưa ra quyết định thì khả năng sai sót sẽ không có Điều này có thể làm cho nhà đầu tư ảo tưởng rằng đưa ra quyết định theo bầy đàn sẽ đúng mặc dù họ có hiểu biết về nó hay không
Trang 31Economou, Kostakis và Philippas (2010) đã kiểm tra hành vi bầy đàn trong điều kiện thị trường sôi động sử dụng dữ liệu được thu thập hàng ngày từ Hy Lạp, Ý, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha trong điều kiện thị trường chứng khoán những năm 1998- 2008
Sự tồn tại của hành vi bầy đàn phù hợp với tăng trưởng của thị trường, khối lượng giao dịch, và sự sôi động của thị trường Cùng với điều này, các nhà điều tra cũng điều tra
sự ảnh tác động của hành vi bầy đàn trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm
2008 Các kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng hành vi bầy đàn được cho là có tác động mạnh mẽ trong thời kỳ thị trường chứng khoán tăng Hành vi bầy đàn tác động tại thị trường chứng khoán Bồ Đào Nha trong thời gian thị trường xuống dốc và không có bằng chứng cho thấy tác động của hành vi này trong thị trường chứng khoán Tây Ban Nha Cuối cùng, người ta đã cho rằng có hành vi bầy đàn đã tác động đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 chỉ với thị trường chứng khoán Bồ Đào Nha và hành vi này không gây ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Tây Ban Nha và thị trường chứng khoán Ý Hành vi nhà đầu tư cũng đưa ra các quyết định hợp lý trong thị trường chứng khoán Hy Lạp trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008
2.2.3.4 Thiên lệch tâm lý sợ thua lỗ (Loss Aversion Bias)
Là trạng thái tâm lý con người sợ sự thua lỗ, cái mất tác động tâm lý lơn hơn so với tác động củ một khoản lời tương đương Tâm lý sợ thua lỗ cũng dần trở nên phổ biến với các nhà đầu tư trên thị trường Tâm lý này có thể được giải thích dựa trên lý thuyết triển vọng, được phát triển bởi Tversky và Kahneman năm 1979
Lệch lạc tâm lý sợ thua lỗ sẽ làm cho các nhà đầu tư gắn chặt với các loại chứng khoán
hạ giá bởi họ có tâm lý chờ cho giá tăng trở lại trước khi tiến hành giao dịch Tuy vậy,
vì sự thiếu quyết đoán này sẽ đẩy họ vào sự tổn thất nặng nề hơn Ngược lại, những nhà đầu tư có lệch lạc tâm lý này thường dễ dàng bán các cổ phiếu với xu hướng tăng điểm do họ lo sợ giá cổ phiếu sẽ nhanh chóng sụt giảm Khi đó, phần lớn các nhà đầu
tư cho rằng họ đã hạn chế thêm rất nhiều rủi ro nhưng trên thực tế rủi ro gia tăng khi danh mục đầu tư trở nên thiếu cân bằng
Trang 322.2.3.5 Phản ứng thái quá (Over and Under-Reaction)
Phản ứng không cân xứng với tin tức, cả tốt và xấu đã thường dường như trong các thị trường tài chính Họ có xu hướng trở nên lạc quan hơn khi thị trường đi lên và bi quan hơn khi thị trường đi xuống Lạc quan và bi quan phi lý được thể hiện theo phản ứng của nhà đầu tư
De Bondt and Thaler (1985) chỉ ra rằng người ta có xu hướng hành động thái quá đối với sự kiện tin tức gây xúc động và không mong đợi Nhất trí với lý thuyết hành động thái quá, những nhà đầu tư bị thua lỗ trước thì phản ứng tốt hơn những người thắng trước
Nghiên cứu gần đây cho thấy phản ứng ít về giá chứng khoán đối với tin tức như là thông báo lợi nhuận, và phản ứng thái quá của giá chứng khoán đối với hàng loạt tin tốt hay xấu Chúng ta có thể nói rằng tin tức tốt hiện tại có ảnh hưởng lớn trong việc dự đoán lợi nhuận dương trong tương lai Thật vậy, chứng khoán mà ghi nhận thông tin tốt
có xu hướng được định giá quá cao và có tỷ suất lợi nhuận trung bình thấp sau đó Edwards (1968) kết luận con người chậm thay đổi ý kiến của họ Vì lí do này, mất một
ít thời gian trước khi nhà đầu tư bắt đầu kết luận rằng một xu hướng sẽ tiếp tục, chẳng hạn như giá tăng gắn với đầu cơ bong bóng Thêm vào đó, phản ứng ít hay thái quá là một trong những nguyên nhân của xu hướng và động lực
2.3 Ra quyết định và hoạt động đầu tư chứng khoán
2.3.1 Quyết định bán
Các nghiên cứu cho rằng nhà đầu ít khi ra quyết định bán cổ phiếu khi nó bị lỗ so với giá mua ban đầu, một xu hướng gọi là “disposition effect” theo Shefrin và Statman (1985) Odean (1998) cũng kết luận rằng các nhà đầu tư cá nhân có xu hướng bán cổ phiếu mà giá trị của nó tăng so với giá mua ban đầu chứ không phải giảm Tuy nhiên, rất khó để chứng minh hiện tượng này là hợp lý Điều này không thể kết luận rằng các nhà đầu tư ra quyết định như vậy là đúng đắn Bên cạnh đó, Odean cũng công nhận
Trang 33rằng lợi nhuận trung bình của các cổ phiếu được bán ra là lớn hơn so với lợi nhuận trung bình của các cổ phiếu mà nhà đầu tư nắm giữ
Theo Genesove và Mayer (2001), nhà đầu tư đã bán cổ phiếu của họ với mức giá thấp hơn giá mua ban đầu thường cho rằng giá bán là hơn giá người khác bán Nó không chỉ
là kỳ vọng của người bán, mà cũng có những sự điều chỉnh của thị trường quyết định giá: nhà đầu tư bị lỗ thường chờ giao dịch ở mức giá cao hơn so với những người khác Nhà đầu tư thích bán cổ phiếu mà nó đã giúp họ tăng vốn Áp lực bán trước hết có thể làm chậm quá trình giảm giá cổ phiếu, và sau đó tạo ra lợi nhuận cao hơn Ngược lại, nếu các cổ đông đang gặp thua lỗ, họ có thể ra quyết định bán khi giá dự kiến được đưa
ra Trong trường hợp này, giá có thể tăng lên như giá lúc đầu, dẫn đến lợi nhuận thấp hơn sau đó
2.3.2 Quyết định mua
Odean (1999) đưa ra quan niệm về các cổ phiếu thích hợp mà các nhà đầu tư cá nhân muốn mua Như đã đề cập ở trên, việc ra quyết định bán chủ yếu là cổ phiếu có lợi nhuận Trong khi đó, quyết định mua liên quan đến cả hai vừa cổ phiếu tăng giá vừa cổ phiếu giảm giá Odean nói rằng quyết định mua là một kết quả của sự quan tâm, khi đưa ra một quyết định mua cổ phiếu, người có thể do không tìm thấy một cổ phiếu tốt
để mua sau khi xem xét một cách hệ thống hàng trăm cổ phiếu niêm yết Họ thường mua một cổ phiếu đã thu hút quan tâm của họ và có thể là do kinh nghiệm quá khứ về
cổ phiếu này, có thể tốt hay xấu
Theo Barberis và Thaler (2003), các nhà đầu tư cá nhân ít ảnh hưởng bởi sự thu hút của
cổ phiếu cho quyết định bán vì quyết định bán và quyết định mua diễn ra theo các cách khác nhau Khi quyết định lựa chọn một cổ phiếu để bán, họ có thể chỉ tập trung vào các cổ phiếu hiện đang thuộc về họ Trong khi đó, với một quyết định mua, cá nhân có nhiều cơ hội để lựa chọn các cổ phiếu mong muốn, điều này giải thích tại sao các yếu
tố tác động của sự chú ý nhiều hơn vào các quyết định mua cổ phiếu so với quyết định bán
Trang 34Barber và Odean (2002) đã chứng minh rằng các quyết định bán được ít được tìm hiểu hơn so với quyết định mua trong trường hợp nhà đầu tư cá nhân Cuối cùng, các tác giả
đã khám phá ra rằng các nhà đầu tư cá nhân quan tâm nhiều hơn đến việc mua những
cổ phiếu so với sự quan tâm khi bán chúng
Như vậy, từ quan điểm của tài chính hành vi, tác động hành vi đầu tư cả bán và mua ở các cấp độ khác nhau, và tác động chung lợi nhuận của thị trường cũng như các hoạt động đầu tư của các cá nhân
2.3.3 Hiệu quả đầu tư
Một số ý kiến phản bác tài chính hành vi cho rằng nhà đầu tư có hiệu quả kém có thể bị loại bỏ ra khỏi thị trường chứng khoán Ngược lại, một số người khác cho rằng các nhà đầu tư quá tự tin có thể hưởng lợi cao (Anderson, Henker và Owen, 2005) Kyle và Wang (1997) xác định hành vi quá tự tin mà qua đó đánh giá tính chính xác của thông tin của mình và xem xét một nhà đầu tư quá tự tin là những người có xác suất chủ quan cao Trong điều kiện bình thường, nhà đầu tư quá tự tin giao dịch nhiều hơn so với nhà đầu tư lý trí, và hy vọng lợi nhuận đầu tư cao hơn trong dài hạn Wang (2001) thừa nhận rằng sự quá tự tin không có khả năng tồn tại trong thời gian dài, nhưng quá
tự tin vừa phải có thể thống trị các hành vi quyết định hợp lý
Lin và Swanson (2003) thực hiện đo lường đầu tư ba tiêu chuẩn của lợi nhuận (thu nhập ròng, lợi nhuận điều chỉnh rủi ro và lợi nhuận điều chỉnh) qua 5 lần (ngày, tuần, tháng, quý, năm) Họ nhận ra rằng các nhà đầu tư đạt hiệu quả cao, tồn tại trong ngắn hạn được thúc đẩy bởi động lực giá ngắn hạn hơn là do rủi ro Hiệu suất tuyệt vời bị mất hoặc bị xấu đi trong thời gian trung hạn và dài hạn Điều này có nghĩa là hiệu suất cao đạt được từ những tác động ngắn hạn không phải đến từ lợi thế của thông tin Các nhà đầu tư có thể mất lợi ích tốt do phân tích kỹ và thực hiện chiến lược dài hạn
Tóm lại, có khá nhiều phương pháp để đo lường hiệu quả hoạt động đầu tư chứng khoán Các tác giả trước chủ yếu sử dụng các dữ liệu thứ cấp của các kết quả đầu tư trong thị trường chứng khoán để đo lường hiệu quả hoạt động đầu tư chứng khoán (Lin
Trang 35và Swanson (2003), Kim và Nofsinger (2003) Tuy nhiên, nghiên cứu này đề nghị các nhà đầu tư đánh giá hiệu suất đầu tư của mình, vì vậy mà các phép đo hiệu suất đầu tư thực hiện theo nghiên cứu của Oberlechner và Osler (2004) cho tỷ suất lợi nhuận đầu
tư Chi tiết hơn, tỷ lệ hoàn vốn đầu tư chứng khoán được đánh giá bởi những quan điểm khách quan và chủ quan của các nhà đầu tư cá nhân Các đánh giá chủ quan của nhà đầu tư được thực hiện bằng cách hỏi họ để so sánh giá hiện thực của họ đến mức lợi nhuận kỳ vọng của họ trong khi việc đánh giá khách quan được thực hiện bằng việc
so sánh giữa các mức lãi thực và tỷ lệ lợi nhuận trung bình của thị trường chứng khoán Bên cạnh đó, mức độ hài lòng của các quyết định đầu tư được đề xuất trong nghiên cứu này như một tiêu chuẩn để đo lường hiệu quả hoạt động đầu tư Trong thực tế, có những nhà đầu tư hài lòng với hiệu suất đầu tư của mình ngay cả khi lợi nhuận đầu tư của họ không cao; Ngược lại, các nhà đầu tư khác không cảm thấy hài lòng với khoản đầu tư của họ ngay cả khi lợi nhuận của họ là tương đối cao Do đó, mức độ hài lòng của các quyết định đầu tư cùng với tỷ suất lợi nhuận đầu tư được đề xuất là phép đo để thực hiện đầu tư vào nghiên cứu này
2.4 Các nghiên cứu trước đây
2.4.1 Nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của tác giả Vương Đức Hoàng Quân và Đào Quý Phúc (2009)
“Các dạng thiên lệch hành vi của nhà đầu tư cá nhân lên thị trường chứng khoán Việt Nam”
Nghiên cứu xác định những thiên lệch hành vi cụ thể của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam đưa cho họ một cảnh báo về ảnh hưởng của những thiên lệch hành vi trong quá trình ra quyết định đầu tư Do đó, nhà đầu tư cần phải có kiến thức về tài chính hành vi, để nhận ra những thiên lệch về hành vi ảnh hưởng đến
họ
Ngoài ra, nghiên cứu tìm hiểu các mối quan hệ mới giữa giá trị trung bình cho mỗi lần giao dịch và kinh nghiệm đầu tư, giá trị trung bình cho mỗi lần giao dịch và không có
Trang 36thiên lệch hành vi, tần số giao dịch và hành vi lạc quan, kinh nghiệm đầu tư và quyết định sai lầm, tuổi tác và hành vi bất hòa nhận thức, thu nhập hàng tháng và hành vi lạc quan Đặc biệt, nghiên cứu nhận ra mối quan hệ giữa những thiên lệch hành vi lẫn nhau
Nghiên cứu xác định được các dạng Thiên lệch hành vi xuất hiện với tần suất lớn như Thiên lệch do ác cảm với mơ hồ (81,4%), Thiên lệch nguyên trạng (64,3%), Thiên lệch
do ác cảm với hối tiếc (51,2%), Thiên lệch do ác cảm với thua lỗ (47,7%), Thiên lệch
do điểm tựa (43%), Thiên lệch do quá tự tin (42,4%), Thiên lệch do kiểm soát bản thân (42,4%), Thiên lệch do ảo tưởng về sư kiểm soát (41,3%), Thiên lệch do củng cố thêm (41,3%), Thiên lệch do khung nhìn (34,9%), Thiên lệch do bảo thủ (30,3%)
Ngoài ra, còn có các thiên lệch hành vi khác như Thiên lệch do hiệu ứng Endowment (23,8%), Thiên lệch do mâu thuẫn về nhận thức (22,7%), Thiên lệch do tình huống điển hình (18%), Thiên lệch do tình huống sẵn có (17,4%), Thiên lệch trong nhận thức
về quá khứ (16,3%), Thiên lệch do lạc quan (14%), Thiên lệch do quy kết cho bản thân (14%), Thiên lệch do tính toán bất hợp lý (11%)
Tuy nhiên nghiên cứu này được thực hiện vào những thời điểm khi giai đoạn sâu giảm
từ cuối năm 2007 đến tháng hai năm 2009 Các nhà đầu tư đang bị thua lỗ nặng (tỷ lệ tổn thất trung bình là khoảng 70% giá trị đầu tư của họ) mà nguyên nhân một cái nhìn tiêu cực ở cổ thị trường
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Hiển (Tạp chí KT&PT, số 180 (II) (6/2012)
“Ứng dụng tài chính hành vi để khám phá những lệch lạc về hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Niệt Nam qua kiểm định kết quả giao dịch”
Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng các nhà đầu tư cá nhân mắc phải một số lỗi tâm
lí dẫn đến những quyết định đầu tư không tối ưu hay bất hợp lí, cụ thể là:
Thứ nhất: mô hình đo lường yếu tố cấu thành tâm lý của nhà đầu tư cá nhân trên
TTCK Việt Nam bao gồm 5 nhóm: (1) tâm lý quá lạc quan; (2) tâm lý bầy đàn; (3) tâm
lý quá tự tin; (4) thái độ đối với rủi ro; (5) tâm lý bi quan.Từ mô hình này, chúng ta có
Trang 37thể xây dựng các chỉ số đo lường yếu tố cảm tính (sentiment) trong hành vi của nhà đầu tư cá nhân
Thứ hai: nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Việt Nam là phi lý trí Vì vậy, để giải thích
các hành vi của họ cần sử dụng lý thuyết triển vọng của tài chính hành vi thay cho lý thuyết kỳ vọng hợp lý
Thứ ba: học vấn có vai trò quan trọng đối với hiệu quả đầu tư, trình độ học vấn làm
tăng tỷ suất sinh lời Nhà đầu tư có trình độ học vấn cao hơn thì lạc quan nhiều hơn, tự tin hơn, ít bi quan hơn và tâm lý bầy đàn ít hơn
Thứ tư: các nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Việt Nam là phi lý trí, dễ bị tổn thương
cũng như tâm lý đầu tư ngắn hạn là chủ yếu
Tuy nhiên, nghiên cứu đã chỉ ra là nhà đầu tư cá nhân bị các thiên lệch hành vi như nêu trên nhưng lại chưa đưa ra mức độ tác động của các yếu tố tâm lý hành vi lên nhà đầu
tư và ảnh hưởng tốt hay xấu của các thiên lệch hành vi lên hiệu quả đầu tư của nhà đầu
tư cá nhân
2.4.2 Nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu của Rahul Subash (2012)
“Role of Behavioral Finance in Portfolio Investment Decisions: Evidence from India”
Đây là nghiên cứu đã đưa ra kết quả rất đầy đủ và ý nghĩa cho thị trường chứng khoán
Ấn Độ Nghiên cứa đưa ra thống kê các dạng thiên lệch hành vi mà nhà đầu tư có đặc
điểm khác nhau gặp phải như bảng thống kê bên dưới
Trang 38Bảng 2.1 Kết quả nghiên cứu của Rahul Subash
Ngoài ra nghiên cứu cũng đã đưa ra được hệ số tương quan giữa các thiên lệch hành vi với nhau, và đã đưa ra được mô hình hồi quy các thiên lệc hành vi với biến phụ thuộc
là hiệu quả đầu tư như bên dưới
D = - 0.788*Representativeness - 0.228*Herding - 0.236* Overconfidence + 0.789*
Anchoring - 0.238*Cognitive Dissonance + 0.077* Fear of Regret + 1.478*Gamblers Fallacy + 0.440*Mental Accounting + 0.280*Hindsight - 4.106
Có thể thấy mô hình của Rahul Subash (2012) đã đưa ra ảnh hưởng của các thiên lệch hành vi lên hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư cá nhân tại thị trường chứng khoán Ấn Độ vào năm 2012 Trong đó các thiên lệch hành vi Representativeness, Herding, Overconfidence, Cognitive Dissonance có mối tương quan nghịch với hiệu quả đầu tư Anchoring, Fear of Regret, Gamblers Fallacy, Mental Accounting, Hindsight có mối tương quan thuận với hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư cá nhân Điều này cho thấy các
Trang 39thiên lệch hành vi trong mô hình của tác giả đã được tác giả chứng minh có ảnh hưởng
rõ nét tới hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư
Nghiên cứu của DOUGLAS I NDUNGU (2011)
“ Determinants of individual investors’ behaviour in the nairobi securities exchange”
Nghiên cứu kết luận rằng có bốn yếu tố hành vi xác định các quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân tại NSE là Heuristics, Market, Prospect và Herding Nghiên cứu chỉ
ra yếu tố hành vi có tác động đến các nhà đầu tư cá nhân tại NSE (dựa trên thang đo Likert 6 điểm) là:
Bảng 2.2 Kết quả nghiên cứu của DOUGLAS I NDUNGU
Deviation
Representativeness You buy well performing securities
and avoid stocks that have performed poorly in the recent past
Representativeness You use trend analysis of some
representative securities to make investment decisions for all securities that you invest in
Trang 40Market You consider carefully the price
changes of securities that you intend
to invest in
securities when making your investment decision
of underlying securities before making investment decisions
investors impact on your securities investment decisions
Đối với các kết quả đầu tư của nhà đầu tư cá nhân, nghiên cứu cho rằng tuổi và trình độ của giáo dục yếu tố ảnh hưởng lớn đến kết quả đầu tư Điều này có thể được cho thấy
từ số lượng lớn các nhà đầu tư trẻ trong mẫu (dưới 35 tuổi) đã đầu tư vào chứng khoán
và cũng là nhà đầu tư có trình độ giáo dục cao chiếm 30% mẫu Nghiên cứu cũng cho thấy rằng phần lớn các nhà đầu tư đều là nam giới (66%) ngụ ý rằng hầu hết các nhà đầu tư nam đang thu bị hút đầu tư tại NSE Hơn nữa, đa số các nhà đầu tư trong mẫu (72%) là đã kết hôn có thể ngụ ý rằng các cặp vợ chồng là những người tiết kiệm thông qua đầu tư vào chứng khoán Thu nhập hàng tháng không được chứng minh là một yếu
tố ảnh hưởng đáng kể