1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nghiên cứu biến tính nhựa thải polystyrene bằng acid sulfuric và ứng dụng để tách Cu(II) trong nước

6 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 751,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để khảo sát ảnh hưởng của chiều cao vật liệu tới khả năng loại bỏ Cu(II) của nhựa trao đổi ion được thực hiện với 5 chiều cao vật liệu, tốc độ dòng và thời gian phản ứng như đã khảo sát[r]

Trang 1

Nghiên cứu biến tính nhựa thải polystyrene bằng acid sulfuric và

ứng dụng để tách Cu(II) trong nước

Phạm Thị Hằng Hải, Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Thị Hiền,

Phạm Hoàng Giang, Phạm Thị Thúy*, Đặng Thị Thanh Huyền**

*Khoa môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

** Đại học Xây dựng Hà Nội, 55 Giải Phóng, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Tóm tắt: Nghiên cứu đánh giá khả năng loại bỏ ion Cu(II) trong nước bằng của nhựa thải polystyrene trước và sau biến tính acid sulfuric Khảo sát cấu trúc vật liệu ban đầu và sau biến tính thông qua phổ hồng ngoại FTIR, các nhóm chức trong vật liệu sau biến tính cũng có sự xuất hiện thêm nhóm sulfornic Kết quả nghiên cứu trên mô hình cột trao đổi ion cho thấy, hiệu suất

xử lý ion Cu(II) phụ thuộc vào thời gian phản ứng, chiều cao lớp vật liệu trao đổi và vận tốc dòng chảy qua cột Thử nghiệm với cột có đường kính 8 mm và 6 mm thì cột 8 mm cho hiệu suất xử lý cao nhất đạt 74,.13% phù hợp ở các điều kiện thời gian phản ứng 1 giờ, chiều cao lớp vật liệu 10

cm, tốc độ dòng chảy 1,.48 ml/phút Các dữ liệu thu nhận được từ thực nghiệm phù hợp với mô hình động học Thomas và Yoon-Nelson

Từ khóa: trao đổi ion, polystyrene, xử ký kim loại nặng.

1 Mở đầu

Kinh tế càng phát triển thì nhu cầu tiêu dùng

và sử dụng hàng hóa tiện lợi cũng càng gia tăng

Con người thường chọn các vật dụng mang

nhiều tiện ích và tiết kiệm thời gian sử dụng,

trong đó có các loại đồ dùng một lần như cốc,

bát, đĩa, thìa, dĩa, hộp,… Hằng năm, chúng bị

thải ra ngoài môi trường với số lượng lớn; tuy

nhiên, rất ít trong số đó được thu gom, xử lý, tái

chế một cách hợp lý gây ảnh hưởng lớn tới môi

trường và sức khỏe con người Thành phần

chính của những đồ dùng một lần là nhựa

polystyrene[1], khi ở nhiệt độ cao sẽ sinh ra gốc

styrene có thể gây ung thư, phá hủy DNA, ảnh

hưởng tới thai nhi,có thể gây mệt mỏi, giảm khả

năng tập trung, suy giảm chức năng phổi [2]{,

2016 #43} {, 2016 #43}{, 2016 #43}{, 2016

#43}{, 2016 #43}{, 2016 #43}nhi Vì vậy , việc

thu gom và , tái chế nhựa thải polyrtyrenehế rác

thải từ polystyrene là rất cần thiết.{, 2016 #43}

Đồng (Cu) là một kim loại nặng phổ biến

trong môi trường nói chung và môi trường nước

nói riêng Phơi nhiễm đồng thậm chí ở hàm

lượng rất nhỏ cũng sẽ gây những tác động xấu [3], ảnh hưởng đến động thực vật thủy sinh, đặc biệt là việc tích tụ của chúng thông qua chuỗi thức ăn, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe con người Do đó, nghiên cứu tách ion đồng từ các nguồn nước bị ô nhiễm là vấn đề quan trọng nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học

Hiện nay, nhiều phương pháp đã được sử dụng nhằm loại bỏ đồng trong nước như kết tủa hóa học, trao đổi ion, lọc màng, hấp phụ,… [4] Nhựa trao đổi đã và đang được sử dụng như một vật liệu hiệu quả để loại bỏ các ion trong nước [5] Tuy nhiên, việc tận dụng nhựa thải polystyrene như một vật liệu để biến tính thành nhựa trao đổi ion ứng dụng vào xử lý đồng trong nước thì lại là một hướng nghiên cứu mới trên thế giới cũng như ở Việt Nam Do đó, trong nghiên cứu này tiến hành biến tính nhựa thải polystyrere tpolystyrene thải thành nhựa trao đổi ion để xử lý Cu(II) trong nước

Trang 2

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhựa thải polystyrene (PSW) sử dụng là

thìa, dĩa nhựa dùng một lần được sử dụng để

biến tính thành vật liệu trao đổi ion.Mẫu nước

chứa Cu(II) là mẫu giả được pha trong phòng thí

nghiệm

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Chuẩn bị vật liệu: Vật liệu được nghiền nhỏ

và rây để lấy kích thướcước vật liệu đạt từ từ 1

mm đến 1,.5 mm Lấy 5 g vật liệu cho vào bình

nón chứa 100 ml dung dịch H2SO4 98%, lắc 4

trong vòng 4 giờ, với tốc độ 150 vòng/phút Khi

phản ứng kết thúc, tiến hành rửa nhựa với nước

cất để loại bỏ acid sulfuric còn dư đến khi pH

nước rửa đạt 6 ÷ 7 Sau khi rửa, nhựa được

mang đi sấy khô 400C trong 30 phút Nhựa được

lắc với NaCl 1M (1 g nhựa / 100 ml NaCl) trong

2 giờ, tốc độ 150 vòng/phút [6-8] Thu được

nhựa trao đổi ion

Các phương pháp phân tích: Trong nghiên

cứu này, nhóm chức năng của vật liệu trao đổi

ion được ghi nhận bằng cách sử dụng phương

pháp FT-IR trên máy SHIMADZU (Nhật Bản)

tại Bộ môn Hóa vô cơ, khoa Hóa, trường Đại

học Khoa học Tự nhiên, đại học quốc gia Hà

Nội Xác định các nhóm chức của vật liệu bằng

phương pháp quang phổ hồng ngoại biến đổi

chuỗi (FTIR), Nnồng độ đồng trước và sau trao

đổi ion được xác định theo phương pháp quang

phổ phát xạ plasma (ICP – OES) tại Trung tâm

phân tích thí nghiệm địa chất – Tổng cục địa

chất và khoáng sản Việt Nam

Nghiên cứu động học hấp phụ của cột trao

đổi ion: Động học hấp phụ của quá trình trao đổi

ion đồng bằng vật liệu chế tạo theo phương trình

động học Thomas và Yoon-Nelson và được xác

định dựa trên thí nghiệm cột; đồng thời cũng xác

định ảnh hưởng của thời gian phản ứng (0 ÷ 16

giờ), chiều cao lớp vật liệu (5 ÷ 20 cm) và tốc độ

dòng vào ()

Dạng tuyến tính của phương trình động học

Thomas và Yoon-Nelson [9] được thể hiện trong

phương trình (1) và (2):

(1)

(2)

Trong đó: Co và Ce (mg/l) là nồng độ Cu2+ trước và sau quá trình hấp phụ đến thời điểm đạt cân bằng (mg/l); Ct (mg/l) là nồng độ CuNi2+ đầu ra khỏi cột hấp phụ tại thời điểm t (phút); KT

(ml/phút/mg) là hằng số tốc độ Thomas;KYN

(l/phút) là hằng số tốc độ Yoon-Nelson; τ (phút) là thời gian cột trao đổi ion đạt bão hòa 50%

3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1 Cấu trúc vật liệu

Sự xuất hiện của các peak trong dải bước sóng thể hiện các liên kết thành phần có trong polystyrene nguyên sinh (PS), nhựa polystyrene thải (PSW) trước và sau khi biến tính bằng

H2SO4(liên kết của nhóm –SO3H) được biểu diễn ở hình ảnh chụp phổ hồng ngoại FTIR Hình

1 và Hình 2

So sánh kết quả phổ hồng ngoại của PS và PSW ban đầu có thể nhận thấy không có sự khác biệt nhiều về cấu trúc vật liệu vì số lượng các peak cũng như bước sóng của các dao động là tương tự nhau Cả hai vật liệu đều có mặt các liên kết nhóm chức trong cấu tạo của polystyrene như liên kết C-C, C-H (vòng thơm), C-H (CH2X)[10, 11]

Từ hình ảnh chụp phổ hồng ngoại FTIR của PSW sau biến tính (PSW-S) thì một số dải hấp thụ mới xảy ra là 1492,90 cm-1; 1375,25 cm-1

(dao động O-H); 1128,36 cm-1 (dao động S=O); 1070,49 cm-1; 1029,99 cm-1; 1006,84 cm-1(dao động C-S) cho thấy nhóm –SO3H có trong

PSW-S Trong khi đối với PS-S thì chỉ xuất hiện hai bước sóng 1369,45 cm-1(dao động O-H) và 1028,06 cm-1 (dao động C-S) của nhóm –SO3H [7, 8, 12, 13] Như vậy, cả hai vật liệu sau khi biến tính bằng acid sulfuric 98% đều có các peak thể hiện sự có mặt nhóm –SO3H, tuy nhiên phổ FTIR của PSW-S thể hiện sự xuất hiện của nhóm –SO3H rõ ràng hơn so với phổ FTIR của

PS - S

Hình 1 Phổ FTIR của nhựa polystyrene thải trước

Trang 3

và sau khi biến tính

Hình 2 Phổ FTIR của polystyrene nguyên sinh trước

và sau khi biến tính

3.2 Thời gian phản ứng và bão hòa của vật liệu

trao đổi ion chế tạo từ PSW khi xử lý Cu(II)

trong nước

Với nồng độ kim loại ban đầu là 100 mg/l,

chiều cao vật liệu 10 cm là không đổi, hiệu suất

loại bỏ Cu2+ trong nước theo thời giam phản ứng

được thể hiện như Hình 3 và Hình 4 Kết quả

của cột 8 mm cho thấy, với PSW-S thì hiệu suất

cao nhất là 74,13% sau thời gian trao đổi là 1

giờ và thời gian bão hòa vật liệu là 14 giờ

Trong 4 giờ đầu, khả năng loại bỏ Cu(II) theo

thời gian của nhựa trao đổi giảm nhanh, đây là

khoảng thời gian diễn ra quá trình phản ứng

mạnh mẽ, sau 14 giờ thì vật liệu đã hoàn toàn bị

bão hòa Hiệu suất loại bỏ Cu(II) của PS-S kém

hơn 49,42 lần so với PSW-S với thời gian phản

ứng tối ưu của PS-S là 2 giờ, thời gian bão hòa

vật liệu là 12 giờ Cột 6 mm, PSW–S thì hiệu

suất cao nhất là 37,73% sau thời gian trao đổi là

30 phút và thời gian bão hòa vật liệu là 8 giờ

Trong 2 giờ đầu, khả năng loại bỏ Cu(II) của

nhựa trao đổi giảm nhanh theo thời gian nên đây

là khoảng thời gian diễn ra quá trình phản ứng

mạnh mẽ nhất, sau 14 giờ thì vật liệu đã hoàn

toàn bị bão hòa Hiệu suất loại bỏ Cu(II) của

PSW-S gấp 11,39 lần hiệu suất loại bỏ Cu(II)

của PS-S Thời gian phản ứng tối ưu của PS-S là

2 giờ, thời gian bão hòa vật liệu là 16 giờ

0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 0

10 20 30 40 50 60 70 80

PSW - S

PS - S

Thời gian (giờ)

Hình 3 Hiệu suất xử lý Cu(II) của PS-S, PSW-S theo

thời gian sử dụng cột 8 mm

0 5 10 15 20 25 30 35 40

PSW - S

PS - S

Thời gian (giờ)

Hình 4 Hiệu suất xử lý Cu(II) của PS – S, PSW – S

theo thời gian sử dụng cột 6 mm

3.3 Ảnh hưởng của tốc độ dòng vào của vật liệu trao đổi ion chế tạo từ PSW khi xử lý Cu(II) trong nước

Khảo sát ảnh hưởng của tốc độ dòng tới khả năng trao đổi ion Cu(II) lên nhựa PSW-S và

PS-S được nghiên cứu bằng cách thay đổi tốc độ dòng vàora khỏi cột ion Thời gian phản ứng cố định như đã khảo sát (cột 8 mm - 1 giờ với

S, 2 giờ với PS-S; cột 6 mm - 30 phút với

PSW-S, 2 giờ với PS-S) Hiệu suất trao đổi Cu(II)ứng với các tốc độ dòng khác nhau được biểu diễn ở Hình5 và Hình 6 Đối với cột 8 mm, khi tốc độ dòng vào tăng từ 1,48 ml/phút đến 9,55 ml/phút, hiệu suất đã giảm một cách đáng kể, từ 74,13% còn 5,43% (giảm 13,7 lần); giảm nhanh ở khoảng từ 1,48 ÷ 2,45 ml/phút Đối với cột 6

mm, tốc độ dòng vào tăng (từ 1,02 ml/phút đến

Trang 4

2,68 ml/phút) hiệu suất đã giảm một cách đáng

kể, từ 37,73% còn 6,4% (giảm 5,9 lần); giảm

nhanh trong khoảng tốc độ 1,02 ÷ 1,23 ml/phút

Do đó, hiệu suất loại bỏ ion Cu(II) cao hơn với

tốc độ dòng chậm hơn.Kết quả phân tích có thể

được giải thích rằng, tốc độ dòng chảy càng

chậm thì thời gian tiếp xúc giữa các ion kim loại

và nhựa trao đổi ion càng tăng, do đó lượng ion

bị giữ a lại trên bề mặt vật liệu trao đổi ion liệu

càng tăng

10

20

30

40

50

60

70

80

lưu lượng ( ml/p)

Hình 5 Hiệu suất xử lý Cu (II) của PSW-S theo tốc

độ dòng sử dụng cột 8 mm

0.810 1.02 1.23 1.65 2.68

5

10

15

20

25

30

35

40

PSW - S

lưu lượng ( ml/p)

Hình 6 Hiệu suất xử lý Cu(II) của PSW-S theo tốc

độ dòng sử dụng cột 6 mm

3.4 Ảnh hưởng của chiều cao vật liệu trao đổi

ionchế tạo từ PSW khi xử lý Cu(II) trong nước

Để khảo sát ảnh hưởng của chiều cao vật

liệu tới khả năng loại bỏ Cu(II) của nhựa trao

đổi ion được thực hiện với 5 chiều cao vật liệu,

tốc độ dòng và thời gian phản ứng như đã khảo

sát Hiệu suất xử lý ion Cu(II) đối với các độ cao

cột trao đổi khác nhau được biểu diễn trong

Hình7 và Hình8 Kết quả thực nghiệm của cột 8

mm cho thấy, với các điều kiện trên thì 10 cm vật liệu PSW-S cho hiệu suất trao đổi cation 74,13% là cao nhất; cột 6 mm thì 15 cm là chiều cao chohiệu suất trao đổi cation cao nhất (44,34%) Còn đối với PS-S thì hiệu suất là không đáng kể với bất cứ chiều cao vật liệu nào Điều đó có thể giải thích do thời gian bão hòa vật liệu và thời gian phản ứng tối ưu là khác nhau ở các điều kiện khác nhau Với tốc độ dòng 1,48 ml/phút, thời gian trao đổi là 1 giờ thì 10

cm là chiều cao phù hợp nhất để cho hiệu suất

xử lý cao nhất ở cột đường kính 8 mm Tương tự

ở ự cthì cột 6 mm, tốc độ dòng 1,02 ml/phút, thời gian phản ứng 30 phút thì 15 cm mới là chiều cao vật liệu tối ưu để cho hiệu suất trao đổi ion cao nhất

2.5 5 7.5 10 12.5 15 17.5 20 22.5 0

10 20 30 40 50 60 70 80

PSW - S

PS - S

Chiều cao vật liệu (cm)

Hình 7 Hiệu suất xử lý Cu(II) của PSW-S, PS-S theo

chiều cao vật liệu sử dụng cột 8 mm

4 6 8 10 12 14 16 18 20 22 -10

0 10 20 30 40 50

Chiều cao vật liệu (cm)

Hình 8 Hiệu suất xử lý Cu(II) của PSW-S, PS-S theo

chiều cao vật liệu sử dụng cột 6 mm

3.4 Mô hình động học Thomas và Yoon-Nelson.

Trang 5

Để đánh giá chính xác hơn dung lượng trao

đổi cực đại của vật liệu và thời gian nồng độ ion

bị trao đổi giảm đi 1/2 dựa trên mô hình động

học của Thomas và Yoon – Nelson, các dạng

phương trình tuyến tính được xây dựng áp dụng

cho cột trao đổi trong 12 giờ Các hằng số của

hai mô hình được tính toán và trình bày trong

Bảng 1, phương trình động học Thomas được

thể hiện ở Hình 9a và phương trình động học

Yoon-Nelson được thể hiện ở Hình 9b.Theo mô

hình động học Thomas, dung lượng trao đổi cực

đại q0 cột 8 mm là 4,06 mg/g, giá trị này là

tương đương so với q0 tính được trong quá trình

thực nghiệm, q0 = 4,11 (theo công thức (1) –

phần 2.1)(q = 4,11) Giá trị cao của hệ số tương

quan R2 (R2> 0,8) cho thấy các dữ liệu thực

nghiệm ở cột 8 mm phù hợp với mô hình động

học Thomas Chính vì hệ số tương quan R2 của

phương trình động học Thomas cho cột 6 mm

không đủ lớn để tính toán được giá trị hợp lý của

hệ số KT và q0

Với mô hình động học Yoon – Nelson, KYN

và q0 giảm khi kích thước cột giảm Tuy nhiên, thời gian để vật liệu xử lý được 50% Cu(II) này lại có sự sai khác ở thực nghiệm đối với cột 6

mm Nhìn vào kết quả xử lý thì hiệu suất xử lý

Cu cao nhất của cột 6mm chỉ đạt 43,34% - chưa đạt đến hiệu suất xử lý để bão hòa 1/2 vật liệu

Vì vậy, không tìm được giá trị τ của phương trình động học Yoon – Nelson cho cột 6 mm Hơn nữa, giá trị cao của hệ số tương quan R2

(R2> 0,8) cho thấy, các dữ liệu thực nghiệm ở cột 8 mm phù hợp với mô hình động học Yoon -Nelson và ở cột 6 mm (R2< 0,8) là chưa phù hợp với mô hình động học Yoon - Nelson

Bảng 1 Các tham số đặc trưng trong mô hình động học Thomas và mô hình động học Yoon – Nelson

Hình 9 Phương trình động học Thomas (a) và Yoon – Nelson (b) dạng tuyến tính của quá trình trao đổi ion Cu(II) lên nhựa thải polystyrene biến tính (PSW-S) theo thời gian

Kết luận

Vật liệu PS, PSW biến tính có mặt của nhóm –SO3H Hơn nữa, nhựa thải PS biến tính có sự xuất hiện nhóm chức –SO3H là nhiều hơn hẳn so với PS nguyên sinh biến tính Nhựa trao đổi cation PSW-S có kết quả xử lý Cu(II) nhiều so với PS-S (74,13% với PSW-S và9,61% với PS-S) Với cột trao đổi ion đường kính 8 mm thì điều kiện để xử lý Cu(II) cao nhất (74,13%) là chiều cao vật liệu 10 cm, tốc độ dòng 1,48 ml/phút, thời gian phản ứng 1 giờ Các dữ liệu ở cột cũng là phù hợp với phương trình động học

0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

-5

-4

-3

-2

-1

0

1

2

f(x) = − 0.78 x + 1.39 R² = 0.94

f(x) = − 0.72 x − 0.27 R² = 0.91

cột 6 mm

t (phút)

-2

-1

0

1

2

3

4

5

f(x) = 0.78 x − 2.18 R² = 0.94

f(x) = 0.72 x + 0.27 R² = 0.91

cột 6 mm

t (phút)

Trang 6

Thomas và phương trình động học Yoon –

Nelson; với thời gian bão hòa vật liệu của

PSW-S là 14 giờ và dung lượng trao đổi cực đại 4,11

mg/g

Tài liệu tham khảo

lần 2016.

<http://www.earthresource.org/>, 2016.

khỏe con người 2008: Đại học quốc gia Hà

Nội.

Chee Sien, Removal of Cu(II) from Water by

Adsorption on Chicken Eggshell

International Journal of Engineering &

Technology IJET-IJENS 2013 13: p 40.

Kinetics of Ion Exchange Materials Journal

of Chemistry, 2013 2013: p 11.

hardness of water using sulfonated waste

plastic Desanilation, 2008 222: p 81 - 86.

SPECTROSCOPY TUTORIAL: SULFUR

Spectroscopy, 2010.

Softening and De-Ironing of Ground Water using Sulfonated Polystyrene Beads.

International Journal of Engineering Research & Technology (IJERT), 2014 3(6).

design parameters for breakthrough curve analysis and kinetics of fixed bed column for Cu(II) cations using lignocellulosic wastes.

Bioresources 2015 10: p 732-749.

OF POLYMERR SAMPLES Spectroscopic

Analysis of Polymerrs (Polystyrene, LDPE)

by Using Fourier Transform Infrared & UV-Vis, 2014.

Chemistry Libretexts.

Pilot Plant Scale and Physical Properties of Sulfonated Polystyrene Journal of the

Brazilian Chemical Society, 2003 14.

Analysis and Monitoring RAMAN DATA

AND ANALYSIS, 2014.

[2]

Modification of polystyrene waste by Sulfuric acid to

removeCu(II) from aqueous solution Pham Thi Hang Hai, Nguyen Minh Phuong, Nguyen Thi Hien,

Pham Hoang Giang, Pham Thi Thuy*, Dang Thi Thanh Huyen**

*Falcuty of Environmental Sciencies, VNU University of Science, 334 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi.

** National University of Civil Engineering, 55 Giai Phong, Hai Ba Trung, Hanoi

Abstract: The study evaluated the possibility of removing Cu(II) in PSW before and after having

sulfuric acid modified polystyrene plastic waste Fourier transform infrared (FTIR) was performed to study the characteristic of the material and showed that additional Sulfonic group were presented The results of the ion exchange column model showed that the efficiency of Cu(II) ion treatment depends on its reaction time, its height of the exchange material column, and its current velocity through the column Testing with the columns which have diameter of 8mm and 6mm, then the 8mm diameter one gives the highest efficiency of 74.13% at 1 hour reaction time, 10 cm material layer height and 1.48 ml per min flowing velocity The experimental data was consistent with Thomas and Yoon-Nelson kinetic models

Key words: ion exchange, polystyrene plastic, process metal.

Ngày đăng: 26/01/2021, 11:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w