1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sáng kiến môn Tiếng Anh THCS

37 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 799 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sáng kiến: “Bí quyết khắc phục những lỗi sai đọc và viết Tiếng Anh THCS” 1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1. Lý do chọn đề tài Ngày nay xu hướng hội nhập quốc tế trong nhiều lĩnh vực kể cả lĩnh vực giáo dục đã đưa tiếng Anh lên một vị trí hết sức quan trọng. Tiếng Anh là công cụ giao tiếp là chìa khoá dẫn đến kho tàng nhân loại. Vì vậy việc học tiếng Anh của học sinh THCS được học sinh, phụ huynh học sinh, giáo viên ngành giáo dục và cả nước đặc biệt quan tâm. Tiếng Anh trở thành một trong các môn chính yếu trong chương trình học của học sinh. Việc học và sử dụng tiếng Anh đòi hỏi cả một quá trình luyện tập cần cù sáng tạo của cả người học lẫn người dạy. Đặc biệt trong tình hình cải cách giáo dục như hiện nay, dạy tiếng Anh theo quan điểm giao tiếp được nhiều người ủng hộ.Theo phương pháp này học sinh có nhiều cơ hội để giao tiếp với bạn bè, với giáo viên để rèn luyện ngôn ngữ, chủ động tích cực tham gia vào các tình huống thực tế: Học đi đôi với hành. Đề án Ngoại ngữ 2020 đã thực hiện được 7 năm – một khoảng thời gian không dài nhưng đủ để giáo viên dạy tiếng Anh nhận ra những tồn tại trong phương pháp truyền thống từ đó có thể đưa ra những giải pháp để giúp học sinh cải thiện các kỹ năng nghe nói đọcviết. Trường THCS Mỹ Thắng, nơi tôi đang công tác là một ngôi trường đóng trên địa bàn xã Mỹ Thắng, một xã bãi ngang ven biển của huyện Phù Mỹ. Hầu hết người dân ở đây là ngư dân, điều kiện kinh tế còn rất khó khăn, điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến điều kiện và chất lượng học tập của học sinh trên địa bàn xã. Một phần do nhận thức chưa đúng đắn về tầm quan trọng của việc học ngoại ngữ của con em, mặt khác học sinh cũng chưa ý thức về tầm quan trọng của bộ môn. Là giáo viên trực tiếp đứng lớp năm học 20182019 tôi rất thắc mắc vì sao các em đã được học tiếng Anh 3 năm ở cấp tiểu học và ngay cả lớp 6, 7 mà kỹ năng đọc, viết lại quá yếu như vậy. Học sinh nông thôn thường rụt rè khi giao tiếp, cộng với việc không nắm chắc về ngữ pháp nên khi đọc, nói và viết Tiếng Anh các em luôn hay sợ sai. Ngại nói, ngại viết là một hạn chế lớn trong việc học ngoại ngữ. Làm thế nào cho học sinh cảm thấy tự tin khi sử dụng Tiếng Anh, đó là vấn đề đã thôi thúc tôi phải tìm cách giải quyết. Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc học Tiếng Anh, đã nhiều năm nay Bộ GD ĐTquyết định môn Tiếng Anh là một trong những môn học chính khoá ở tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục. Tiếng Anh ngày càng được đông đảo các tầng lớp trong xã hội quan tâm, càng có nhiều học sinh có hứng thú, có nhu cầu nghiên cứu chuyên sâu với môn học. Nhưng qua thực tế cho thấy học sinh trên địa bàn huyện nói chung và các học sinh ở trường THCS Mỹ Thắng nói riêng gặp rất nhiều lỗi khi sử dụng Tiếng Anh. Tại sao học sinh lại mắc quá nhiều lỗi như thế? Nguyên nhân dẫn đến việc mắc lỗi là gì? Sửa lỗi và giúp học sinh sữa lỗi như thế nào cho hiệu quả? Là những suy nghĩ, trăn trở boăn khoăn của bản thân tôi qua nhiều năm làm công tác giảng dạy môn tiếng Anh ở trường THCS Mỹ Thắng. Bởi vì khi thực hiện muốn nói điều gì thì phải hình dung ra cái gì mình cần nói ví dụ như có một câu nói như sau: “muốn nói nói gì thì phải uống lưỡi ba lần trước khi nói”. Chính vì vậy trong giao tiếp sẽ xảy ra nhiều lỗi trong quá trình giao tiếp, nói nhiều sẽ tìm ra được những lỗi khi vấp phải, và dễ dàng sữa chữa những lỗi đã mắc phải. Từ đó, tôi mạnh dạn đưa ra một số một số kinh nghiệm trong “Bí quyết khắc phục những lỗi sai đọc và viết Tiếng Anh THCS”

Trang 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Xác định mục đích nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng khảo sát, thực nghiệm 2

1.5 Phương pháp nghiên cứu 2

1.6 Phạm vi và thời gian nghiên cứu 3

2 NỘI DUNG 4

2.1 Những nội dung lý luận có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu 4

2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu 5

2.3 Mô tả phân tích các giải pháp (hoặc biện pháp, các cách ứng dụng, cách làm mới) mà tác giả đã thực hiện, đã sử dụng nhằm làm cho công việc có tính hiệu quả hơn 7

2.3.1 Lỗi sai thứ 1: Giúp học sinh phân biệt cách dùng “as” và “like” 7

2.3.2 Lỗi sai thứ 2: Giúp học sinh dùng đúng đại từ nhân xưng làm chủ ngữ và tân ngữ 9

2.3.3 Lỗi sai thứ 3: Phân biệt “have/has” và “there is/ there are” 10

2.3.4 Lỗi sai thứ 4: Giúp học sinh dùng đúng “you” và “friend” 11

2.3.5 Lỗi sai thứ 5: Dùng đúng động từ số ít và động từ số nhiều 12

2.3.6 Lỗi sai thứ 6: Giúp học sinh phân biệt giữa ‘zero’ và ‘no’ 12

2.3.7 Lôi sai thứ 7: Dùng đúng giới từ, đặc biệt là hai giới từ “in” và “on” 14

2.3.8 Lỗi sai thứ 8: Phân biệt “o'clock” và “ hour” 15

2.3.9 Lỗi sai thứ 9: Giúp học sinh hiểu rõ “make”và “do” 16

2.3.10 Lỗi sai thứ 10: Phân biệt “after” và “behind” 16

2.3.11 Lỗi sai thứ 11: Giúp học sinh dùng đúng “hear” và “ listen” 17

2.3.12 Lỗi sai thứ 12: Phân biệt “wear” và “put on” 18

2.3.13 Lỗi sai 13: Giúp học sinh dùng đúng mạo từ “The” 18

2.3.14 Lỗi sai thứ 14: Chúng ta phân biệt giữa “Person – People” 19

2.3.15 Lỗi sai 15: Phân biệt giữa “made of” và “made from” 20

2.3.16 Lỗi sai thứ 16: Giúp học sinh phân biệt” much “và “many” 21

2.3.17 Lỗi sai thứ 17: Phân biệt dùng “ fetch “ và “ get “ 22

2.3.18 Lỗi sai thứ 18: Phân biệt cách dùng ‘ correct “ và ‘ repair “ 23

2.3.19 Lỗi sai thứ 19: Những cách đọc ngày tháng trong tiếng anh 23

2.3.20 Lỗi sai thứ 20: Những từ dễ bị phát âm sai 24

Trang 2

2.3.22 Lỗi sai thứ 22: Phân biệt cách dùng “ Whether – if” 27

2.3.23 Lỗi sai thứ 23: Phân biệt cách dùng “good” và “well” 28

2.3.24 Lỗi sai thứ 24: Phân biệt “wear” và “put on” 29

2.3.25 Lỗi sai thứ 25: Phân biệt ‘ steal’ và ‘ rob’ 29

2.4 Kết quả thực hiện 30

3 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 32

3.1 Kết luận 32

3.1.1 Nội dung 32

3.1.2 Ý nghĩa 32

3.1.3 Hiệu quả 32

3.2 Các đề xuất khuyến nghị 32

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

Trang 3

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay xu hướng hội nhập quốc tế trong nhiều lĩnh vực kể cả lĩnh vực giáo dục đã đưatiếng Anh lên một vị trí hết sức quan trọng Tiếng Anh là công cụ giao tiếp là chìa khoá dẫnđến kho tàng nhân loại Vì vậy việc học tiếng Anh của học sinh THCS được học sinh, phụhuynh học sinh, giáo viên ngành giáo dục và cả nước đặc biệt quan tâm Tiếng Anh trở thànhmột trong các môn chính yếu trong chương trình học của học sinh Việc học và sử dụng tiếngAnh đòi hỏi cả một quá trình luyện tập cần cù sáng tạo của cả người học lẫn người dạy Đặcbiệt trong tình hình cải cách giáo dục như hiện nay, dạy tiếng Anh theo quan điểm giao tiếpđược nhiều người ủng hộ.Theo phương pháp này học sinh có nhiều cơ hội để giao tiếp với bạn

bè, với giáo viên để rèn luyện ngôn ngữ, chủ động tích cực tham gia vào các tình huống thựctế: Học đi đôi với hành Đề án Ngoại ngữ 2020 đã thực hiện được 7 năm – một khoảng thờigian không dài nhưng đủ để giáo viên dạy tiếng Anh nhận ra những tồn tại trong phương pháptruyền thống từ đó có thể đưa ra những giải pháp để giúp học sinh cải thiện các kỹ năng nghe-nói- đọc-viết

Trường THCS Mỹ Thắng, nơi tôi đang công tác là một ngôi trường đóng trên địa bàn xã

Mỹ Thắng, một xã bãi ngang ven biển của huyện Phù Mỹ Hầu hết người dân ở đây là ngư dân,điều kiện kinh tế còn rất khó khăn, điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến điều kiện và chấtlượng học tập của học sinh trên địa bàn xã Một phần do nhận thức chưa đúng đắn về tầm quantrọng của việc học ngoại ngữ của con em, mặt khác học sinh cũng chưa ý thức về tầm quantrọng của bộ môn Là giáo viên trực tiếp đứng lớp năm học 2018-2019 tôi rất thắc mắc vì saocác em đã được học tiếng Anh 3 năm ở cấp tiểu học và ngay cả lớp 6, 7 mà kỹ năng đọc, viếtlại quá yếu như vậy

Học sinh nông thôn thường rụt rè khi giao tiếp, cộng với việc không nắm chắc về ngữ phápnên khi đọc, nói và viết Tiếng Anh các em luôn hay sợ sai Ngại nói, ngại viết là một hạn chếlớn trong việc học ngoại ngữ Làm thế nào cho học sinh cảm thấy tự tin khi sử dụng TiếngAnh, đó là vấn đề đã thôi thúc tôi phải tìm cách giải quyết

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc học Tiếng Anh, đã nhiều năm nay Bộ GD&ĐTquyết định môn Tiếng Anh là một trong những môn học chính khoá ở tất cả các bậc họctrong hệ thống giáo dục Tiếng Anh ngày càng được đông đảo các tầng lớp trong xã hội quantâm, càng có nhiều học sinh có hứng thú, có nhu cầu nghiên cứu chuyên sâu với môn học.Nhưng qua thực tế cho thấy học

Trang 4

sinh trên địa bàn huyện nói chung và các học sinh ở trường THCS Mỹ Thắng nói riêng gặprất nhiều lỗi khi sử dụng Tiếng Anh.

Tại sao học sinh lại mắc quá nhiều lỗi như thế? Nguyên nhân dẫn đến việc mắc lỗi là gì?Sửa lỗi và giúp học sinh sữa lỗi như thế nào cho hiệu quả? Là những suy nghĩ, trăn trở boănkhoăn của bản thân tôi qua nhiều năm làm công tác giảng dạy môn tiếng Anh ở trườngTHCS Mỹ Thắng

Bởi vì khi thực hiện muốn nói điều gì thì phải hình dung ra cái gì mình cần nói ví dụ như

có một câu nói như sau: “muốn nói nói gì thì phải uống lưỡi ba lần trước khi nói” Chính vìvậy trong giao tiếp sẽ xảy ra nhiều lỗi trong quá trình giao tiếp, nói nhiều sẽ tìm ra được nhữnglỗi khi vấp phải, và dễ dàng sữa chữa những lỗi đã mắc phải Từ đó, tôi mạnh dạn đưa ra một

số một số kinh nghiệm trong “Bí quyết khắc phục những lỗi sai đọc và viết Tiếng Anh THCS”

1.2 Xác định mục đích nghiên cứu

Với đề tài “Bí quyết khắc phục những lỗi sai đọc và viết Tiếng Anh THCS” sẽ giúp GV đạtđược lợi ích sau:

- HS sẽ hứng thú trong việc học Tiếng Anh, học kỹ năng đọc, viết một cách hiệu quả và sẽ

là nền tảng để học tốt các kỹ năng đọc, viết, đặc biệt là kỹ năng nói

- GV sẽ có nhiều thuận lợi trong việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

- Chia sẻ kinh nghiệm cùng với đồng nghiệp trong công tác giảng dạy đối với HS ở vùngbãi ngang ven biển

1.3 Đối tượng nghiên cứu

HS khối 7,8 thí điểm trường THCS Mỹ Thắng năm học 2018-2019 Có thể áp dụng nghiêncứu của đề tài rộng rãi cho tất cả các khối học Tiếng Anh trong huyện và các vùng bãi ngangven biển

1.4 Đối tượng khảo sát, thực nghiệm

Học sinh khối lớp 7,8Trường Trung Học Cơ Sở Mỹ Thắng

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài của mình một cách hiệu quả, tôi đã kết hợp sử dụng các phương phápsau đây:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: khai thác thông tin khoa học về phương pháp giảng dạy

có hiệu quả qua sách, tài liệu có liên quan … đặc biệt qua các khoá học bồi dưỡng thườngxuyên của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Sở Giáo Dục và Đào Tạo tỉnh nhà tổ chức

Trang 5

- Phương pháp quan sát: trực tiếp thực hiện giờ dạy ở lớp 7A1, 8A1 kết hợp với thực tiễnhọc tập của HS … để thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu.

- Phương pháp đàm thoại: trực tiếp trao đổi với học sinh trong lớp, ngoài lớp, với giáo viênchủ nhiệm và phụ huynh để tìm hiểu thông tin

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: thông qua kết quả kiểm tra đọc, viết thường xuyêntrong các tiết dạy như kiểm tra chi tiết trong bài đọc hiểu ngắn, kiểm tra 5 phút, 10 phút saumỗi đơn vị bài học hoặc sau một số đơn vị bài học

1.6 Phạm vi và thời gian nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu xoay quanh việc khai thác, thúc đẩy học sinh, giáo viên tích cực áp dụngnhững kỹ năng rèn luyện trong từng bài học để học sinh tích cực, thích thú, say mê hơn nữatrong quá trình học Tiếng Anh

Đề tài được thực hiện trong 2 năm từ năm học 2018 – 2019 đến hết học kỳ 1 năm học 2019– 2020

Tôi bắt đầu thực hiện nghiên cứu ở đầu năm học 2018 – 2019 và tiến hành như sau:

- Từ năm học 2018 – 2019: Tôi bắt đầu quan sát theo dõi hành vi của các em học sinh họctrường THCS Mỹ Thắng, thống kê những số liệu sau:

+ Hành vi vi phạm

+ Tổng kết học lực, hạnh kiểm cuối năm

- Từ năm học 2018 – 2019: Tôi bắt đầu áp dụng những giải pháp của đề tài vào lớp thíđiểm tiếp theo: 7A1, 8A1

- Năm học 2019 – 2020: Tôi tiến hành khảo sát, lấy phiếu điều tra, kiểm tra, đánh giá cáclớp chưa thực nghiệm 7A2, 8A2 thời điểm đầu năm

- Năm học 2018 – 2019, cuối HK I 2019 – 2020, sau khi áp dụng đề tài vào thực tế giảngdạy, tôi tiến hành lại toàn bộ tiến trình khảo sát và hoàn thành sáng kiến

2 NỘI DUNG

Trang 6

2.1 Những nội dung lý luận có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu

Tôi đã từng bắt gặp được một câu nói bổ ích: “Có lỗi là chuyện rất bình thường mà khôngmột ai không mắc lỗi, bởi vì từ những lỗi sai chúng ta mới tìm ra được cái đúng, cái chính xác

và với cái chính xác đó dẫn đến quá trình học tập Người học càng mắc nhiều lỗi thì càng cóđược nhiều cái đúng Càng có nhiều cái đúng, thì việc học lại càng diễn ra Chúng ta thườnghọc được nhiều điều từ những sai lầm của chúng ta hơn là từ những thành công”

Chúng ta biết rằng kỹ năng đọc và Viết là các kỹ năng sinh sản (productive skills) - họcsinh học và luyện tập đều vì mục đích là có thể dùng ngôn ngữ để diễn đạt ý của mình ( bằngcách đọc và viết) nên việc xuất hiện lỗi trong quá trình sử dụng ngôn ngữ là điều hết sức bìnhthường và không thể tránh khỏi

Chính vì vậy mỗi một giáo viên dạy Tiếng Anh cần nhận thức được điều này để có thái độđúng đắn khi học sinh của chúng ta mắc lỗi, và quan trọng hơn là để có phương pháp chửa lỗichính xác và phù hợp với từng lỗi cụ thể giúp học sinh chúng ta học tốt hơn và yêu thích mônTiếng Anh hơn

Qua những năm tháng giảng dạy tiếng Anh ở trường THCS Mỹ Thắng tôi nhận thấy rằnghọc sinh THCS rất thích, đặc biệt là các lớp học theo chương trình thí điểm rất thích thú vớimôn học tiếng Anh

Đặc biệt hơn nữa là những năm gần đây sở GD& ĐT Bình Định chỉ đạo ba môn thi tuyểnsinh bắt buột vào lớp 10 THPT của lớp 9 trong đó môn Tiếng Anh là môn thứ ba sau toán, văn,

đó là môn tiếng anh Những năm gần đây những học sinh khối 6, 7 hầu như thích thú môn họcnày hơn một số học sinh ở khối 8,9 Học sinh khối 6, 7 mạnh dạn nói, viết tiếng Anh hơn,mạnh dạn phát biểu trong giờ học hơn chứng tỏ học sinh khối 6,7 còn hồn nhiên, vô tư hơn nêncác em chưa thấy ngại khi đọc, khi viết và nhất là khi mắc lỗi Tiếng Anh là môn học khó chonên học sinh ngay từ đầu nếu không có phương pháp học đúng, giáo viên không kịp thời pháthiện, giúp đỡ sẽ dẫn đến việc học sinh “mất gốc” Và đó là nguyên nhân dẫn đến việc một sốhọc sinh khối 8, 9 ngại nói, đọc, nghe và viết tiếng Anh, điều này cũng là nguyên nhân củachất lượng môn Tiếng Anh ở trường còn rất thấp Các em sợ sai, sợ mắc lỗi, sợ xấu hổ với bạn

bè khi chính bản thân mình bị mắc lỗi Đó là nhận thức vô cùng sai lầm của các em Chính vìthế tôi càng cố gắng hơn trong việc giúp các em một lần nữa nhận ra được điều này "Có lỗi làchuyện rất bình thường mà không một ai không mắc lỗi, bởi vì từ những lỗi sai chúng ta mớitìm được cái đúng, cái chính xác và với cái chính xác đó dẫn đến quá trình học tập Người họccàng mắc nhiều lỗi thì càng có được nhiều cái đúng Càng có nhiều cái đúng, thì việc học lại

Trang 7

càng diễn ra Chúng ta thường học được nhiều điều từ những sai lầm của chúng ta hơn là từnhững thành công của mình"

Tôi luôn tạo cho các em cảm giác gần gũi thoải mái, tự nhiên, đặc biệt là sự tự tin khihọc Một trong những phương pháp để làm được điều này là tìm tòi , rút kinh nghiệm về một

số phương pháp chữa lỗi cho học sinh khi học sinh mắc lỗi mà không tạo cảm giác “mất mặt,

sợ hãi…” cho các em

2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình dạy học trên lớp thông qua phương tiện ngôn ngữ, tôi quan sát, lắng nghehọc sinh nói với học sinh, học trả lời các câu hỏi của thầy giáo, học sinh đọc bài, làm bài tậptrắc nghiệm để phát hiện ra các lỗi nói và viết của học sinh Đôi khi giáo viên bộ môn cũng tạo

ra những tình huống có vấn đề để dẫn dắt học sinh vào các lỗi thông thường này để cùng nhaugiải quyết, nhằm giúp các em ghi nhớ sâu sắc hơn những từ ngữ đó Các lỗi này đa số học sinhđều mắc phải trong suốt quá trình học tập Trong năm học này thông qua các tiết dạy nói, cácbài viết, các tiết chữa bài tôi đã mạnh dạn đề ra các cách giải quyết, cụ thể như sau:

- Tôi biết rõ anh ấy

I know him acxactly

* Nhận xét: học sinh khi nghe giáo viên đọc đọc từ know thì học sinh đọc là / kờ- nou /Hướng khắc phục: Giáo viên nêu quy tắc đọc của những từ bắt đầu bằng chữ “k” mà sau

nó là một âm “n” thì chúng ta khôn đọc âm “k” đó

Câu đúng: I know him acxactly

2 Trường hợp 2: Dùng hear thay vì listen và ngược lại:

- Tôi nghe thấy ai đó cười

I listen to somebody laughing

Có rất nhiều nguyên nhân sản sinh ra lỗi trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, tôi có thể đưa

ra một số nguyên nhân như sau:

1 Sự ảnh hưởng của ngôn ngữ mẹ đẻ (Mother – Tongue interference)

Trang 8

Đây là loại lỗi khá hệ thống trong quá trình học Tiếng Anh Học sinh khi học ngoại ngữthường áp dụng một cách máy móc cú pháp ngôn ngữ mẹ đẻ vào ngôn ngữ mà người đó đanghọc, nhưng thực tế là có rất nhiều điểm khác biệt về cú pháp giữa các ngôn ngữ khác nhau.Nhận thấy rằng chất lượng của môn ngoại ngữ còn thấp, mặc dù đội ngũ giáo viên Tiếng Anhcủa trường có trình độ chuyên môn vững vàng, có kinh nghiệm trong việc giảng dạy, đượcđánh giá cao trong cuộc thi cấp huyện

Học sinh cảm thấy khó khi tiếp cận với bộ môn này do:

- Học sinh thiếu thốn về sách tham khảo, sách bài tập, sách ngữ pháp và các tài liệu cầnthiết

- Học sinh nông thôn thường rụt rè khi giao tiếp, cộng với việc không nắm chắc về ngữpháp nên khi nói và viết Tiếng Anh các em luôn hay sợ sai Ngại nói, ngại đọc, ngại viết khôngchịu nghe là một hạn chế lớn trong việc học ngoại ngữ Làm thế nào cho học sinh cảm thấy sự

tự tin khi sử dụng Tiếng Anh, đó là vấn đề đã thôi thúc tôi phải tìm ra cách giải quyết

Có rất nhiều học sinh nói “He had a car new” (Anh ấy đã có một chiếc xe hơi mới) vìtrong Tiếng Việt tính từ thường đi sau danh từ còn trong Tiếng Anh thì gần như ngược lại,màcâu đúng phải là ; “He had a new car”

2 Sự liên đới về ngôn ngữ (Cross – association)

Sự liên đới là một hiện tượng ảnh hưởng qua lại giữa một số quy tắc về học ngôn ngữgiữa người này với người khác - quy tắc này có thể áp dụng được với người này nhưng hoàntoàn không phù hợp với người khác

3 Lỗi do bất cẩn (Errors due to carelessness.)

Các yếu tố về tâm lý như bất cẩn, mệt mỏi, hoặc quên qui tắc ngữ pháp cũng có thể lànguyên nhân gây ra lỗi trong quá trình sử dụng ngôn ngữ

Có rất nhiều học sinh khi nói “She live(s) in Qui Nhơn city with her family” (Cô ấy sống

ở Thành phố Qui nhơn cùng với gia đình của cô ấy), ở đây có thể học sinh quên quy tắc ngữpháp đó là thêm “s” vào sau động từ khi chúng ta chia ở ngôi thứ ba số ít ở thể khẳng định củathì hiện tại đơn giản, cũng có lúc do bất cẩn trong phát âm hoặc cũng có thể giải thích cho hiệntượng này là “ảnh hưởng không tích cực của ngôn ngữ mẹ đẻ” cũng được là bởi lẽ trong

Tiếng việt chúng ta nói “Cô ấy sống ở Thành Phố Qui nhơn cùng với gia đình của cô ấy vàTôi sống ở Thành Phố Qui nhon cùng với gia đình của tôi” động từ sống không có sự khácbiệt về hình thức động từ (tức là động từ không phải chia để phù hợp với ngôi số trong Tiếng

Trang 9

Việt) Trong khi đó câu đúng trong Tiếng Anh phải là: “She lives in Qui Nhon city with herfamily” và “I live in Qui Nhon city with my family”

2.4 Quá trình dạy học gây ra lỗi (Teaching – induced errors.)

Thói quen không tích cực trong quá trình dạy học cũng có thể là một trong những nguyênnhân gây ra lỗi Thừa nhận rằng “thật không dễ dàng để xác định các lỗi ngoại trừ những thiết

bị học kỹ năng, thủ thuật dạy học mà được áp dụng với người học” - nói cách khác việc ápdụng phương pháp học không phù hợp với học sinh có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của quátrình học ngôn ngữ

* Một số khảo sát trước khi thực hiện đề tài:

Kiểm tra kĩ năng nói: Unit 11(English 8)

Tôi chú ý kiểm tra cách dùng động từ trong câu gián tiếp:

tham gia

Số học sinhnói đúng

Sau đây là một số trường hợp mắc lỗi của học sinh và cách giải quyết các lỗi đó:

2.3.1 Lỗi sai thứ 1: Giúp học sinh phân biệt cách dùng “as” và “like”

Ex: - What does George do? - “He’s a teacher, like me “

Không nói là “as me”

‘George làm nghề gì ?’ ‘Anh ấy là một giáo viên như tôi’

Ex: - Be careful! The floor has been polished It’s like walking on ice

(Hãy cẩn thận ! Sàn nhà đã được đánh bóng đấy Nó trơn như đi trên băng vậy.)

Ex: - It‘s raining again I hate weather like this

( Trời lại mưa nữa Tôi ghét thời tiết như thế này)

Trang 10

Ex: - “What’s that noise?” “It sounds like a baby crying”.

(“Tiếng gì thế ? Nghe như là con nít khóc vậy”.)

Ex: What a beautiful house! It’s like a palace

* Nhận xét: Like là một giới từ Vì nó theo sau bởi danh từ (like a palace/ like your job)đại từ “like me / like this” hay thêm – ing “like walking” Bạn cũng có thể nói “like (something/ someone) – ing”

* Cách giải quyết: Giáo viên cần giải thích “like” và “as”

- “like”: nghĩa là tương tự như, giống như “like” trong những câu trên là

một giới từ.Cũng có thể nói “like ( somebody/ something) doing something”

Ex: What is that noise? It sounds like a baby crying

- Đôi khi like = ví dụ như, chẳng hạn như :

Ex: - Some sports, like motor racing, can be dangerous

- Cũng có thể sử dụng “as”

Ex: - Some sports, as motor racing, can be dangerous

- Chúng ta sử dụng “as” trước chủ ngữ + động từ:

Ex: - I didn’t move anything, I left anything as I found it

- They did as they promise

*Cho học sinh làm một số câu để sử dụng “as” và “like”

1 Do you think Ann looks ……… her mother?

2 He really gets on my nerves I can’t stand people ……… him

3 Why did’nt you do it ……… I told you to do it?

4 “Where does Bill work?” “He works in a bank, ……… most of his friends”

5 He never listens Talking to him is ……… talking to a wall

6 ………… I said yesterday, I’m thinking of going to Canada

Trang 11

7 Tom’s idea seemed a good one, so we did ……….he suggested.

8 It‘s a difficult problem I never know what to do in situations …… this

2.3.2 Lỗi sai thứ 2: Giúp học sinh dùng đúng đại từ nhân xưng làm chủ ngữ và tân ngữ

Trong thực tế học sinh thường dùng ‘you’ trong cách xưng hô, thông thường tiếng anh từ

bé các em được tập là xưng hô ‘you’ cho Ông hoặc bà hay là Bố hoặc Mẹ để gần gũi hơn , hay

là “I” thay vì “me” hoặc “he” thay vì “him”… (nói chung là nhầm lẫn giữa đại từ nhân xưnglàm chủ ngữ với đại từ nhân xưng làm tân ngữ)

‘Me’đi theo sau các giới từ như: of , in , on …và giữ chức năng làm tân ngữ trực tiếp vàtân ngữ gián tiếp trong câu

Ex: My mother always thinks of me

Ex: He gave I a pen new

I am waiting for she

* Nhận xét: Đa số học sinh chỉ nắm được từ “tôi” trong Tiếng Anh là “I” hoặc “anhấy” là “he” và các em chưa hiểu hết về chức năng chủ ngữ hoặc tân ngữ của các đại từ nhânxưng, qua đó các em diễn giải tiếng anh của mình theo kiểu câu của tiêng việt, hoặc các emchưa phân biệt từ loại tính từ hay danh từ trong một câu

Câu đúng là: He gave me a new pen

I am waiting for her

* Cách giải quyết: Trước tiên giáo viên phải giới thiệu về khái niệm chủ ngữ và tân ngữ:

- Chủ ngữ viết tiếng anh là “Subject” danh từ hoặc đại từ thường đứng trước động từ

- Tân ngữ trong câu nó thường là đứng vị trí thứ ba sau động từ rất dễ nhìn thấy ví dụ trongcâu bị động chủ ngữ là thứ 1, xác định động từ là thứ hai, còn thứ ba là tân ngữ

- Tân ngữ viết tắc ‘Object’ là danh từ hoặc đại từ đứng sau động từ

- Giới thiệu 7 đại từ nhân xưng làm chủ ngữ và tân ngữ:

Trang 12

They Them Họ

- Đưa ra một số câu, yêu cầu học sinh chọn đúng đại từ trong ngoặc:

1 Mrs Thu teaches ……… English (we / us)

2 On my father’s birthday, I bought a lot of flowers for …… (he / him)

3.We invited …… to our party (them / they)

4.What do ………… need ? ( you/ your ) Can……help you? (I/me)

5 Let…… know the truth (he/him)

6 He required………….to work harder (I/ me)

7 My mother always thinks of………( I / me )

8 His grandmother usually tells………stories in the everning ( him / his)

2.3.3 Lỗi sai thứ 3: Phân biệt “have/has” và “there is/ there are”

Ex: Have two books on the table

* Nhận xét: Đa số học sinh chỉ nghĩ rằng động từ “có” trong Tiếng Anh là “have/has” màquên mất rằng còn có cấu trúc với “there is/ there are”

Câu đúng: There are two books on the table

* Cách giải quyết: Giáo viên phân biệt cho học sinh rằng khi muốn nói “ai đó hoặc cái gì

đó có…” thì ta dùng động từ “have/has”, còn khi muốn diễn đạt ý “có cái gì đó” thì phải dùngvới cấu trúc “there is/there are”

- Cho học sinh luyện tập dùng “have/has” hay “there is/ there are” để điền vào chổ trốngtrong các câu sau:

a.There ………….a couch in the room

b It …………a big house

c.Thu……… lunch at 11.30 a.m everyday

d.Do you………… a round face and an oval face ?

e Lan ………… history on Tuesday

F.My house…………five windows

G.They ………… two sons

H In my class………thirteen boys and fifteen girls

Ex: ( 3 cây bút trên quyển sách):

Trang 13

There are three pens on the book.

(Đọc câu tiếng việt: Cô gái có ba cây bút):

=> The girl has three pens

2.3.4 Lỗi sai thứ 4: Giúp học sinh dùng đúng “you” và “friend”

- Học sinh thường nói: “I am Mary This is my you.”

* Nhận xét: Hầu hết các em học sinh lớp 6 thường nhầm lẫn "my you" là "bạn của tôi" Docác em chưa phân biệt được you là ngôi thứ hai - chỉ người nói

chuyện trực tiếp với mình, còn friend là bạn - người bạn

Câu đúng: I am Mary This is my friend

* Cách giải quyết: Cho một tấm hình, yêu cầu học sinh chọn you hay friend cho hai câusau:

His friend is very beautiful

You are my friend

Trang 14

2.3.5 Lỗi sai thứ 5: Dùng đúng động từ số ít và động từ số nhiều

Their son are from Australia

* Nhận xét: Khi thấy their thì các em đã cho là số nhiều, vì vậy các em thường dùng động

từ đi theo sau là số nhiều Giáo viên cần lưu ý cách sử dụng động từ theo sau là số ít hay sốnhiều phụ thuộc vào danh từ đóng chức năng chủ ngữ của câu

Câu đúng: Their son is from Australia

* Cách giải quyết: Đưa ra các cụm từ hoặc từ sau để các em xác định danh từ hoặc cụmdanh từ này là số nhiều hay số ít:

2.3.6 Lỗi sai thứ 6: Giúp học sinh phân biệt giữa ‘zero’ và ‘no’

Trong khi sử dụng tiếng anh đôi lúc chúng ta vẫn có thể nhầm lẫn khi sử dụng

‘zero‘ và ‘no’ Sau đây là những điểm giống và khác của hai từ đó

a Giống nhau : Cả “zero” và “no” đều đứng trước danh từ không đếm được, số ít hay sốnhiều Vì cả hai từ gần bằng nghĩa với “not any”

Trang 15

- “zero” luôn đứng trước một danh từ số nhiều đếm được:

Ex: Zero degrees centigrade is the same as 32 degrees fahrenheit

( O0C = 32 độ ) “degrees” – đếm được ở số nhiều

- “ zero “ đi với hầu hết danh từ không đếm được :

Ex: We are likely to see zero growth on the stock market this year

<=> We are not likely to see any growth on the stock market this year

- “ No”: Khi đi với danh từ không đếm được , “ no” thường đi với danh từ số nhiều, sẽ tạocảm giác dễ nghe và dễ hiểu hơn cho người nghe

Ex; It was early December and there were no leaves on the trees

b Khác nhau: -“Zero” là một số đếm có nghĩa là O và chúng ta có thể dùng “zero “ tương

tự như các số đếm bình thường khác

Ex: If you don’t learn hard, you will get zero mark in the final exam

(Nếu bạn không học chăm,bạn sẽ bị điểm O trong kì thi cuối năm.)

- “ No” là một lượng từ diễn tả số lượng giống như “ all “ , “every “, “ many “ “some” ,”any “, “each”, “ either “, “one “ , “ another”.Từ này có nghĩa gần giống với “ not any “ vàthường được sử dụng khi người nói muốn nhấn mạnh, hãy so sánh những câu sau:

Ex:- I have no idea what he is referring to.” (nhấn mạnh hơn)

(Tôi không biết anh ấy đang nói về điều gì)

Trang 16

So với:

- I don’t have any idea what he is referring to.( kém nhấn mạnh hơn)

- No students from the secondary school in New Town achieved the highest grades intheir end – of- year exam ( nhấn mạnh hơn)

Ex:-There weren’t any students from the secondary school in New Town who achievedthe highest grades in their end – of- year exam (kém nhấn mạnh hơn)

- I’m sorry I’ve got no time for that this afternoon (nhấn mạnh hơn)

(Xin lỗi, chiều nay tôi không có thời gian cho việc này)

2.3.7 Lôi sai thứ 7: Dùng đúng giới từ, đặc biệt là hai giới từ “in” và “on”

Ex: The plane is flying on the sky

The boys are swimming on the river

* Nhận xét: Theo Tiếng Việt của chúng ta là bay trên trời, đi hoặc chạy trên đường, nhưngtrong tiếng Anh là: in the sky; in the river

Câu đúng: The plane is flying in the sky

The boys are swimming in the river

* Cách giải quyết: Giáo viên chúng ta cần phải lưu ý cách nói và viết Tiếng Anh cho họcsinh khi sử dụng giới từ

* Phụ chú: Một số thành ngữ và cụm giới từ với in và on:

+ in short, in brief: tóm lại

Trang 17

in other words: nói cách khác

in one/a word: nói tóm lại

in all: tổng cộng

in general: nói chung

in particular: nói riêng

in the tree: trên cây

in the middle of: ở giữa

in front of: ở phía trước

+ on the branch: trên cành cây

on the left: bên trái

on the right: bên phải

on the wall: trên tường

on the floor: trên sàn nhà

2.3.8 Lỗi sai thứ 8: Phân biệt “o'clock” và “ hour”

Ex: It usually takes me two o’clock a day to do my homework

* Nhận xét: Cả hai từ trên đều có nghĩa là giờ, nhưng “o'clock”: là giờ đúng chỉ trên đồng

hồ, còn “hour” : là khoảng thời gian

Câu đúng: It usually takes me two hours a day to do my homework

* Cách giải quyết: Cho học sinh thực hành bài tập: Chọn True (T): đúng hoặc False (F):sai

(T) He goes to bed at 10 o'clock

(T) She sleeps 9 hours a day

(F) Mr Pike works in the fiels 8 o’clocks a day

Ex: Nhìn vào tranh nói giờ: - What time is it ?

-=> It is seven o’clock

Trang 18

2.3.9 Lỗi sai thứ 9: Giúp học sinh hiểu rõ “make”và “do”

Ex: Tom did a chair yesterday

* Nhận xét: "make " và "do" đều là hai động từ có nghĩa là: làm to do: làm ( nói chung ),còn to make: làm (tạo ra sản phẩm)

Câu đúng: Tom made a chair yesterday

* Cách giải quyết: Giáo viên đưa ra một số danh từ và cụm danh từ và một bảng gồm haicột chứa động từ “do” và “make” yêu cầu học sinh nhóm các danh từ đó vào cột đúng:

ex: the shopping, a copy, aedobics, morning exercise, a cake, a research, a phone call, anoise, housework, a boat, the homework, a lot of money

* Lưu ý: Tuy nhiên do và make còn được dùng trong rất nhiều thành ngữ thông dụng,chúng ta cần phải học thuộc vì không dựa vào ngữ nghĩa và qui tắc nào cả

to make a mistake: phạm lỗi lầm

to make a promise: hứa

to make a speech: phát biểu

to make an excuse: xin lỗi

to make a noise: làm ồn

to do evil ¹ to do good: làm điều ác ¹ thiện

to do one's best: làm hết sức mình

2.3.10 Lỗi sai thứ 10: Phân biệt “after” và “behind”

Ex: He comes behind me

The sun rises after the cloud

* Nhận xét: Các em chưa phân biệt được hai giới từ đồng nghĩa: "sau" Thật sự cách dùngchúng khác nhau, after vừa có nghĩa là "đằng sau", vừa có nghĩa là "sau khi"; còn behind cónghĩa là " ở đằng sau " ( không hiểu theo thời gian )

Câu đúng: - He comes after me

- The sun rises behind the cloud

* Cách giải quyết: Cho học sinh luyện tập: chọn after hay behind để điền vào chỗ trốngthích hợp:

- I arrive he had left

Ngày đăng: 26/01/2021, 11:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Jean- Marc Denommé &amp; Madeleine Roy là hai tác giả cuốn sách “ Tiến tới một phương pháp SPTT (bộ ba: Người học – người dạy – môi trường)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tới một phươngpháp SPTT (bộ ba: Người học – người dạy – môi trường")
8. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Tiếng Anh THCS NXB Giáo Dục Việt Nam Khác
10. Các lớp tập huấn, bồi dưỡng Tiếng Anh do Phòng, Sở GD tổ chức Khác
10. Đúc kết kinh nghiệm qua thực tế giảng dạy Khác
12. PRACTICAL ENGLISH USAGE của tác giả MICHAEL SWAN nhà xuất bản trẻ năm 1995 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w