LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Nghiên cứu các yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của chim yến Aerodramus fuciphagus giai đoạn từ 8 – 21 ngày tuổi” là
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
DƯƠNG THẾ BẢO
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ DINH DƯỠNG ẢNH HƯỞNG
ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG CỦA CHIM YẾN (Aerodramus
fuciphagus) GIAI ĐOẠN TỪ 8 – 21 NGÀY TUỔI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA, NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
DƯƠNG THẾ BẢO
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ DINH DƯỠNG ẢNH HƯỞNG
ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG CỦA CHIM YẾN (Aerodramus
fuciphagus) GIAI ĐOẠN TỪ 8 – 21 NGÀY TUỔI
PGS TS NGÔ ĐĂNG NGHĨA
Khoa sau đại học
KHÁNH HÒA, NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Nghiên cứu các yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của chim yến (Aerodramus fuciphagus) giai đoạn từ
8 – 21 ngày tuổi” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố
trong bất cứ chương trình khoa học nào khác cho tới thời điểm hiện tại
Khánh Hòa, ngày 13 tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn
Dương Thế Bảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Ban
Giám hiệu, Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường, Phòng Đào tạo Đại học và
Sau Đại học trường Đại học Nha Trang, Công ty Yến sào Khánh Hòa đã quan
tâm, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi làm việc trong suốt thời gian học tập và
nghiên cứu
Xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, các cô của trường Đại học Nha Trang đã
trang bị cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa học là TS
Đặng Thúy Bình – Viện Công nghệ sinh học – Trường Đại học Nha Trang và
ThS Nguyễn Anh Vũ – Phòng Khoa học Công nghệ - Công ty Yến sào Khánh
Hòa đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và
luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp
đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Khánh Hòa, ngày 13 tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn
Dương Thế Bảo
Trang 5MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
1.1.Tổng quan về chim yến Aerodramus fuciphagus (Thunberg, 1812) 3
1.1.1 Hệ thống phân loại: 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái: 3
1.1.3 Đặc tính phân bố 4
1.1.4 Đời sống tự nhiên của chim yến 5
1.1.5 Giá trị dinh dưỡng của tổ chim yến 5
1.1.6 Đặc điểm sinh sản của chim yến 6
1.1.6.1 Bắt cặp và làm tổ 6
1.1.6.2 Giao phối và đẻ trứng 6
1.1.7 Đặc điểm dinh dưỡng của chim yến 7
1.2.Tình hình nuôi chim yến Aerodramus fuciphagus (Thunberg, 1812) 8
1.2.1 Tình hình nuôi chim yến trên thế giới 8
1.2.2 Tình hình nuôi chim yến tại Việt Nam 9
1.3.Kỹ thuật ấp nuôi nhân tạo chim yến 10
1.3.1 Tổng quan quy trình 10
1.3.2 Tổng quan khẩu phần ăn nhân tạo cho chim yến 12
1.3.2.1 Lựa chọn nguyên liệu trong thành phần thức ăn 14
1.3.2.2 Các loại côn trùng sử dụng làm khẩu phần ăn cho chim yến 15
1.3.2.2.1 Dế cơm 15
1.3.2.2.2 Nhộng ruồi lính đen 16
1.3.2.2.3 Sâu gạo 17
2.1.Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 19
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC BẢNG vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
Trang 62.1.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 19
2.1.3 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 19
2.1.3.1 Chim yến Aerodramus fuciphagus 19
2.1.3.2 Nguồn nguyên liệu làm nghiệm thức thức ăn 19
2.1.3.3 Bố trí thí nghiệm 20
2.2.Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 21
2.3.Phương pháp nghiên cứu 22
2.4.1 Thành phần dinh dưỡng nguyên liệu và các nghiệm thức thức ăn cung cấp cho chim yến 22
2.4.2 Thí nghiệm nuôi chim yến từ giai đoạn 8 – 21 ngày tuổi bằng các nghiệm thức thức ăn 23
2.4.2.2 Thí nghiệm nuôi chim yến 24
2.4.4.Khảo sát ảnh hưởng của các khẩu phần thức ăn đến sinh trưởng và phát triển chim yến 25
2.4.4.2.2 Sự phát triển của bộ lông 26
2.4.4.2.3 Khả năng xuất hiện bệnh 26
2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 26
3.1 Kết quả 27
3.1.1.Thành phần dinh dưỡng của nguyên liệu (côn trùng) và các nghiệm thức thức ăn 27 3.1.2 Bố trí thí nghiệm nuôi chim yến giai đoạn 8 – 21 ngày tuổi bằng các nghiệm thức thức ăn 28
3.1.3 Khảo sát ảnh hưởng của các khẩu phần thức ăn đến sinh trưởng và phát triển chim yến 28
3.1.3 Tỷ lệ sống 29
3.2 Thảo luận 33
Kết luận 35
Kiến nghị 35
Tài liệu tiếng Việt 36
Tài liệu tiếng Anh 37
Trang 7DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BNNPTNT Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn
AOAC Association of Official Analytical Chemists (Hiệp hội các
nhà Hóa học phân tích chính thống)
tiêu chuẩn hóa quốc tế)
(Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc)
GC-FID Gas Chromatography – Flame Ionization Detector (Hệ
thống sắc ký khí – đầu dò ioan hóa ngọn lửa)
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Đặc điểm hình thái của chim yến Aerodramus fuciphagus 4
Hình 1.2 Phân bố chim yến Aerodramus fuciphagus trên thế giới 5
Hình 1.3 Các loại côn trùng trong mẫu thức ăn chim yến đảo 7
Hình 1.4 Dế cơm - Vòng đời của dế cơm 16
Hình 1.5 Ruồi lính đen - Vòng đời ruồi lính đen 17
Hình 1.6 Sâu gạo và Vòng đời của sâu gạo 18
Hình 2.1 Thiết kế thí nghiệm 19
Hình 2.2 Sơ đồ nghiên cứu 21
Hình 2.3 Mẫu thức ăn được đưa đi phân tích 22
Hình 2.4 Quy trình chế biến khẩu phần ăn 24
Hình 3.1 Tỷ lệ sống (%) chim yến con tại các nghiệm thức khảo sát 29
Hình 3.2 Mức độ tăng trọng của chim yến con tại các nghiệm thức khảo sát 30
Hình 3.3 Sự phát triển bộ lông chim yến con tại các nghiệm thức khảo sát 31
Hình 3.4 Chim yến đại diện của mỗi nghiệm thức 31
Hình 3.5 Khả năng xuất hiện bệnh của chim yến con tại các nghiệm thức khảo sát 32
Hình 3.6 Chim xuất hiện bệnh trong quá trình nuôi 33
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các giai đoạn phát triển của chim yến 12
Bảng 1.2 Thành phần thức ăn của chim yến hàng Việt Nam 12
Bảng 1.3 Thành phần hóa học cơ bản của thức ăn chim yến con 13
Bảng 1.4 Thành phần dinh dưỡng trong dế, thịt bò và thịt lợn 14
Bảng 2.1 Thời gian và khẩu phần ăn trong thí nghiệm nuôi chim yến 20
Bảng 2.2 Lượng thức ăn tương ứng theo ngày tuổi 25
Bảng 2.3 Chi tiêu đánh giá cảm quan sự phát triển bộ lông và khả năng xuất hiện bệnh ở chim yến thí nghiệm 26
Bảng 3.1 Thành phần dinh dưỡn gcủa nguyên liệu và các NT thức ăn 27
Bảng 3.2 Mức độ tăng trọng chim yến con tại các nghiệm thức khảo sát 29
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Chim yến cho tổ trắng ăn được (Aerodramus fuciphagus Thunberg, 1812) (hay còn
gọi là yến sào) là một loài chim nhỏ ăn côn trùng và chỉ bắt mồi trên không trung, sống bên trong các hang động ngoài đại dương hoặc trong các ngôi nhà được con người xây dựng dựa trên môi trường sống tự nhiên của chúng Chim yến sử dụng nước dãi để làm
tổ, tổ của chim yến là loại thực phẩm giàu dinh dưỡng nổi tiếng trên thế giới, có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa và nạn phá rừng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái của chim yến Điều kiện tự nhiên ngày càng trở nên khắc nghiệt cùng với sự biến đổi khí hậu toàn cầu, các cơn bão mạnh xuất hiện với tần suất cao hơn cũng góp phần gây hao hụt nguồn thức ăn chim yến
Để đảm bảo quần đàn chim yến phát triển ổn định, Công ty Yến sào Khánh Hòa
đã và đang hoàn thiện quy trình ấp nuôi nhân tạo chim yến Trong đó, trứng chim yến
từ các đảo sau khi đem về được ấp nở nhân tạo, đồng thời Công ty nghiên cứu xây dựng một khẩu phần thức ăn có nguồn gốc chủ yếu từ côn trùng cung cấp dinh dưỡng đảm bảo cho sự phát triển cần thiết của chim con Dựa trên khẩu phần thức ăn sử dụng trong quy trình ấp nuôi nhân tạo này, nhóm nghiên cứu sử dụng các loại côn trùng khác nhau
để tạo ra khẩu phần thức ăn mới sử dụng công tác nuôi dưỡng chim yến con
Mục tiêu của đề tài là xác định hàm lượng dinh dưỡng trong khẩu phần thức ăn hỗ trợ cho sự phát triển của chim yến con đạt kết quả tốt nhất Để đạt được mục tiêu này,
đề tài chọn ra loại côn trùng mới có khả năng thay thế cho nguồn nguyên liệu chính đang
sử dụng trong khẩu phần thức ăn hiện tại là nhộng ruồi lính đen Hermetia illucens và sâu gạo Zophobas morio Đề tài tiến hành thí nghiệm để đánh giá ảnh hưởng của ba
nghiệm thức thức ăn đến sự phát triển của chim yến con liên quan đến mức độ tăng trọng, sự phát triển của bộ lông và khả năng xuất hiện bệnh nhằm chọn ra khẩu phần thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng phù hợp nhất sử dụng trong tương lai
Kết quả, đề tài đã xác định được khẩu phần thức ăn sử dụng nhộng ruồi lính đen
Hermetia illucens có hàm lượng dinh dưỡng tối ưu hơn, đảm bảo cho sự sinh trưởng và
phát triển của chim yến con
Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tham khảo cho những nghiên cứu tương tự
về khảo sát thành phần côn trùng sử dụng trong chế biến khẩu phần thức ăn cho chim
yến Aerodramus fuciphagus, cung cấp thêm các dữ liệu khoa học về định hướng xây
dựng khẩu phần thức ăn sử dụng nguồn nguyên liệu chính từ côn trùng, là cơ sở cho
Trang 11nghiên cứu tạo ra khẩu phần thức ăn hoàn thiện nhất nhằm đảo bảo cho sự sinh trưởng
và phát triển của chim yến, góp phần phát triển quần thể đàn chim yến, phát triển nghề nuôi chim yến ổn định và bền vững
Từ khóa: Aerodramus fuciphagus, hàm lượng dinh dưỡng, tỷ lệ sống, mức độ tăng
trọng, sự phát triển của bộ lông, khả năng xuất hiện bệnh
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Yến sào (tổ của chim yến ăn được) là một loại thực phẩm giàu dinh dưỡng và có giá trị kinh tế cao trên Thế giới Đặc biệt, nó được sử dụng như một nguồn nguyên liệu quan trọng trong y học Trung Hoa từ thời nhà Đường (618 – 907 AD) (Lau & Melville, 1994) Hiện nay, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về giá trị dinh dưỡng của tổ yến
đã đưa đến kết luận yến sào có tác dụng rất tốt đối với sức khỏe con người (Lim & Cranbrook, 2002), cụ thể: tăng cường khả năng tái tạo mô và tế bào; cải thiện hệ miễn dịch, điều hòa các hoạt động sống trong cơ thể; tăng cường chức năng tim mạch; tổ yến giàu hoạt tính chống oxy hóa giúp chống lại các bệnh ung thư; hỗ trợ sự phát triển của
tế bào da; giảm thiểu sự mệt mỏi căng thẳng (Nurul Nabilah et al., 2018)
Loài chim yến cho tổ trắng ăn được thuộc Họ Yến (Apodiformes: Apodidae) có
tên khoa học là Aerodramus fuciphagus (Thunberg, 1812) phân bố chủ yếu ở vùng Đông
Nam Á, nhiều nhất ở Indonesia (Kalimantan, Sumatera, Java ) tiếp đến là Thái Lan, Malaysia, Việt Nam… (Nguyễn Quang Phách et al., 2002) Chúng là loại động vật ăn côn trùng trên không và bắt mồi khi đang bay, thường đảo lượn tại các khu vực thảm thực vật phát triển như rừng, đồng lúa, vườn cây ăn quả, vùng trồng cây cao su, cây cọ dầu… nơi có nguồn côn trùng dồi dào (Daniel & Clayton, 1999)
Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa và nạn phá rừng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái của chim yến Điều kiện tự nhiên ngày càng trở nên khắc nghiệt cùng với sự biến đổi khí hậu toàn cầu, các cơn bão mạnh xuất hiện với tần suất cao hơn cũng góp phần gây hao hụt nguồn thức ăn chim yến (Lương Công Bình et al., 2017)
Thêm vào đó, nghề nuôi chim yến mang lại hiệu quả kinh tế cao dẫn đến việc nhà yến phát triển đa phần mang tính tự phát, chưa có định hướng phát triển dài hạn trong khi việc quản lý điều kiện nuôi còn thiếu, chưa có quy định phù hợp tạo ra những nguy
cơ tiềm ẩn gây mất an toàn sinh học, dịch bệnh cho động vật và sức khỏe con người Chính vì vậy, cần có sự chủ động trong quy hoạch và quản lý nghề nuôi chim yến,
áp dụng công nghệ hiện đại kết hợp hoàn thiện khép kín quy trình nuôi nhằm ổn định nguồn thức ăn và quần đàn chim yến, tạo sản phẩm tổ yến xuất khẩu đạt chất lượng đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (Nguyễn Văn Trọng, 2018)
Trang 13Hiện nay, Công ty Yến sào Khánh Hòa đã hoàn thiện được quy trình ấp nuôi nhân tạo chim yến, xây dựng khẩu phần thức ăn nhân tạo bổ sung nguồn thức ăn cho chim con, tiến hành công tác di đàn chim yến tại các đảo thuộc khu vực tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Phú Yên, Côn Đảo… nhằm bổ sung số lượng quần thể Trong đó, quy trình xây dựng khẩu phần thức ăn nhân tạo bổ sung nguồn thức ăn cho chim con được Công ty Yến sào Khánh Hòa rất chú trọng bởi vì ở giai đoạn từ 8 – 21 ngày tuổi, bộ lông chim yến con có sự phát triển mạnh phụ thuộc vào khả năng cung cấp chất dinh dưỡng của nguồn thức ăn đồng thời ảnh hưởng sự phát triển của chim yến sau này Vì vậy, việc xác định và đa dạng hóa khẩu phần thức ăn nhân tạo cho chim yến con là hết sức cần thiết,
đây là lí do đề tài “Nghiên cứu các yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của chim yến (Ae rodramus fuciphagus) giai đoạn 8 – 21 ngày tuổi” được thực hiện
2 Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát các yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và xác định khẩu phần ăn phù hợp cho chim yến giai đoạn 8 – 21 ngày tuổi, góp phần hoàn thiện quy trình nuôi
3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu thành phần dinh dưỡng nguyên liệu và các nghiệm thức thức ăn cung cấp cho chim yến
Thí nghiệm nuôi chim yến từ giai đoạn 8 – 21 ngày tuổi bằng các nghiệm thức thức ăn đã khảo sát
Khảo sát ảnh hưởng của các khẩu phần thức ăn đến sinh trưởng và phát triển chim yến làm cơ sở cho việc xây dựng khẩu phần ăn thích hợp
Trang 14Giống: Aerodramus (Oberholser, 1906)
Loài: Aerodramus fuciphagus (Thunberg, 1812)
Do sự phân bố địa lý khác nhau trong quá trình tiến hóa tự nhiên, loài chim yến
Aerodramus fuciphagus đã xuất hiện một số biến dị nhỏ, do đó chúng lại được chia thành một số phân loài A.f vestitus phân bố ở Indonesia; A.f amechanus phân bố ở Malaysia; A.f germani phân bố ở Việt Nam, Malaysia, Philippines; cùng với một số phân loài khác được ghi nhận ở Ấn Độ (A f inexpectatus)
1.1.2 Đặc điểm hình thái:
Chim yến Aerodramus fuciphagus có trọng lượng trung bình 13,67g (nhỏ nhất
12,3g; lớn nhất 15,12g) Lông chim phần trên thân có màu đen hơi nhạt, phần dưới có màu xám đen hoặc nâu đen, hông có vệt nâu xám, lông đuôi màu đen, ngăn cách giữa
Trang 15phần lưng và phần đuôi là lông màu xám, móng chân màu nâu đen, mắt màu nâu đen hạt nhãn, cằm màu nâu xám bạc tạo thành vòng cườm
Mỏ chim yến màu đen có chiều dài trung bình 2,3 mm, chiều dài cánh 124 mm, lông cánh thứ cấp gồm 7 lông, lông cánh sơ cấp gồm 10 lông Lông đuôi có chiều dài trung bình 50,1 mm, lông đuôi thứ cấp gồm 10 lông Chân có 4 ngón, chiều dài cẳng chân trung bình 11 mm, ống chân chiều dài trung bình 21 mm, móng chân chiều dài trung bình 4,5 mm (Lê Hữu Hoàng et al., 2015)
Hình 1.1 Đặc điểm hình thái của chim yến Aerodramus fuciphagus
(Nguồn: Dương Thế Bảo)
1.1.3 Đặc tính phân bố
Loài A fuciphagus sinh sống nhiều từ vĩ độ 10o Nam đến 20o Bắc và kinh độ 95o
đến 115o Đông chủ yếu tập trung ở vùng Đông Nam Á, nhiều nhất ở Indonesia (Kalimantan, Sumatera, Java, Bli ) tiếp đến là Thái Lan, Malaysia, Việt Nam…
(Nguyễn Quang Phách et al., 2002)
Trang 16Hình 1.2 Phân bố chim yến Aerodramus fuciphagus trên thế giới (Nguồn:
http://datazone.birdlife.org/species/factsheet/Edible-nest-Swiftlet)
1.1.4 Đời sống tự nhiên của chim yến
Loài chim yến A fuciphagus sống thành quần đàn, làm tổ từng cặp riêng rẽ, nơi ở
gần khu vực có nước (sông, hồ, biển…), kiếm ăn ở các đồng ruộng, rừng cây thấp Chim yến là loài chim có thể bay lượn cao và bay xa đến 100km (Nguyễn Quang Phách et al., 2002)
Chim yến làm tổ ở các hang, đảo đá vôi ngoài biển, khu vực trong hang có nhiệt
độ không khí nằm trong phạm vi 27 – 31oC; độ ẩm không khí từ 70 – 85%; ánh sáng nhỏ hơn 0,4 lux; là khu vực yên tĩnh, an toàn, ít sự đe dọa của thú săn mồi, có lối bay vào và bay ra dễ dàng (Lê Hữu Hoàng et al., 2015)
Việc sinh sống ở nơi tối tăm trên các vách đá vôi thẳng đứng giúp chim yến tránh
xa khỏi những loài thú ăn mồi nguy hiểm như cú mèo, rắn, thằn lằn, chuột, gián… (Lim
& Cranbrook, 2002; Nguyễn Quang Phách et al., 2002) Chim yến có khả năng định vị bằng âm thanh trong các hang tối (Brinkløv et al., 2013)
1.1.5 Giá trị dinh dưỡng của tổ chim yến
Yến sào (tổ của loài chim yến Aerodramus fuciphagus) là nguồn tài nguyên quý,
là loại thực phẩm cao cấp có nhiều chất bổ dưỡng Chúng có tác dụng trong quá trình cải thiện hệ miễn dịch và tái tạo tế bào (Cao et al., 2012), dùng cho điều trị phục hồi sau phẫu thuật cũng như là một liệu pháp trong điều trị ung thư và ngăn chặn sự tái phát của căn bệnh này (Rasher & Nazaimoon, 2010; Roh et al., 2011)
Trang 17Thành phần chính trong yến sào là glycoprotein, cấu tạo chính từ protein và các hợp chất carbohydrates, cùng với đó là các nguyên tố thiết yếu như calcium, sodium, magnesium, zinc, manganese và sắt Thành phần trong yến sào bao gồm chất béo (0,14 – 1,28%), tro (2,1%), carbohydrates (25,62 – 27,76%) và protein (62 – 63%) Các hợp chất monosaccharide của glycoprotein chứa 9% sialic acid (nguồn dinh dưỡng thiết yếu cần thiết cho sự phát triển của não bộ (Cao et al., 2012)); 4,19 – 7,2% galactosamine; khoảng 5,3% glucosamine; 5,03 – 16,9% galactose và khoảng 0,7% fucose (Noor et al., 2018), ngoài ra còn nhiều loại acid amin khác thiết yếu cho cơ thể như acid aspartic, serine, tyrosine, phenylalanine, valine, arginine, leucine…
1.1.6 Đặc điểm sinh sản của chim yến
(Lê Hữu Hoàng et al., 2015)
1.1.6.2 Giao phối và đẻ trứng
Chim yến giao phối chủ yếu vào ban đêm, tập trung chủ yếu trong hai khoảng thời gian từ 21 đến 23 giờ và 1 đến 3 giờ sáng, một ngày giao phối khoảng 3 đến 4 lần, thời gian giao phối từ 10 đến 15 giây Chim giao phối trước khi đẻ trứng từ 5 đến 8 ngày Sau khi đẻ trứng đầu tiên, thỉnh thoảng chim vẫn còn giao phối từ 2 đến 3 lần nhưng sau khi đẻ trứng thứ 2 thì không giao phối nữa Quá trình giao phối diễn ra như sau: chim trống bay đậu trên lưng chim máu, đồng thời vỗ hai cánh liên tục và mỏ chim trống cắn vào phần cổ chim mái, phần đuôi chim trống gập xuống và đuôi chim mái đưa qua một bên thực hiện quá trình giao phối
Trang 18Trứng chim yến có màu trắng, vỏ trứng mỏng dễ vỡ, kích thước trung bình 21,26
× 13,84 mm, trọng lượng 2,25 g Chim trống và chim mái thay phiên nhau ấp trứng và
đi kiếm ăn Trứng chim yến sẽ nở sau khoảng 23 – 24 ngày (Lê Hữu Hoàng et al., 2015)
1.1.7 Đặc điểm dinh dưỡng của chim yến
Theo các nghiên cứu trên thế giới, chim yến bắt mồi khi đang bay và chủ yếu là các loại côn trùng chân đốt như Bộ Hymenoptera, Diptera, Coleoptera, Jomoptera, Arachnida và các loại khác (Lourie & Tompkins, 2000) Khẩu phần ăn của chim yến cũng có thể bao gồm các loại côn trùng nhỏ thuộc Bộ Coleoptera bao gồm Họ Staphylinidae và Họ Carabidae có cấu trúc cánh cứng hơn được gọi là bọ cánh cứng
(Borror & Delong, 1971)
Ở Việt Nam, tỷ lệ các loại côn trùng trong thức ăn của chim bố mẹ và chim trưởng thành như sau: kiến thuộc Bộ Hymenoptera là 61,1%; mối thuộc Bộ Isoptera 14,7% và
ruồi nhỏ thuộc Bộ Diptera 7,8%; phần còn lại có tỷ lệ thấp: rầy xanh (Cicacellidae), rầy nâu (Delphacidae) Vào mùa mưa tỷ lệ mối trong ruột là 100% (Nguyễn Quang Phách, 1993)
Hình 1.3 Các loại côn trùng trong mẫu thức ăn chim yến đảo (Lê Hữu
Hoàng et al., 2018)
Trang 191.2 Tình hình nuôi chim yến Aerodramus fuciphagus (Thunberg, 1812)
1.2.1 Tình hình nuôi chim yến trên thế giới
Với công dụng đặc biệt của yến sào, tổ của chim yến A fuciphagus đã được nhập
khẩu vào thị trường Trung Quốc từ Thế kỷ 18 Bởi nhu cầu tiêu thụ của thị trường ngày càng cao, ngành công nghiệp yến sào trong tương lai sẽ đóng góp lớn cho nền kinh tế của Malaysia (Ibrahim et al., 2009)
Tại Indonesia, nghề nuôi chim yến (chủ yếu nuôi trong nhà) xuất hiện ở phía Đông đảo Java vào năm 1880 và phát triển mạnh từ những năm 1990, chính quyền các địa phương cũng tìm cách phát triển quần đàn chim yến và xây dựng hệ thống quản lý chặt chẽ nghề nuôi chim yến từ khâu quy hoạch xây dựng đến các loại chính sách liên quan đến thuế vụ, đặc biệt là chú trọng cải thiện môi trường sinh thái tạo nguồn thức ăn ổn định (Mardiastuti, 2016)
Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, hệ thống thiết bị hiện đại ở các nước có nghề yến phát triển như Indonesia và Malaysia được đầu tư như nhà yến sử dụng bộ cảm biến không dây tự động (Wireless Sensor Network – WSN) nhằm điều chỉnh tự động hỗn hợp mùi dẫn dụ trong nhà yến (Mamduh & Shakaffa, 2012) Bên cạnh đó, các yếu tố kỹ thuật để phát triển nghề nuôi chim yến trong nhà như cấu trúc nhà yến, kích cỡ quần đàn, các yếu tố nhiệt độ - độ ẩm, nơi ra vào hay thiên địch của chim yến cũng được tập trung nghiên cứu và đạt được những thành tựu đáng kể (Wan Khairy et al., 2015)
Tính đến năm 2016, có tổng cộng khoảng 36 dự án nghiên cứu được thực hiện với
sự tham gia của 38 chuyên gia cùng 266 nhà đồng nghiên cứu từ các trường Đại học ở Malaysia nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến ngành công nghiệp yến sào bao gồm: hàm lượng nitrite/nitrate trong tổ yến, sự khai thác quá mức tổ chim yến dẫn đến số lượng quần đàn suy giảm
Như vậy, vấn đề chung ở các nước có ngành công nghiệp yến sào phát triển mạnh như Indonesia và Malaysia liên quan đến sự suy giảm số lượng quần đàn chim yến nguyên nhân bởi sự bất cập trong chính sách quản lý việc khai thác tổ yến và thiếu nguồn thức ăn ổn định Do đó, một số nghiên cứu hướng đến khảo sát tiến hành nhằm tìm ra
Trang 20loại côn trùng phù hợp làm thức ăn nhân tạo bổ sung cho chim yến (Rahman et al., 2018)
1.2.2 Tình hình nuôi chim yến tại Việt Nam
Ở Việt Nam, nghề nuôi chim yến với mục đích thương mại xuất hiện vào năm
2004 ở một số tỉnh Nam Trung Bộ Tuy nhiên trong 10 năm trở lại đây nghề này mới phát triển mạnh với nhiều loại hình và quy mô khác nhau Hiện nay, có 42 trên 63 tỉnh thành có nghề nuôi chim yến với tổng cộng hơn 8.300 nhà yến, phân bố nhiều nhất ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và Duyên hải miền Trung (Nguyễn Văn Trọng, 2018) Chim yến sống trong nhà hầu hết tập trung ở các tỉnh từ Thanh Hóa đến Cà Mau, Phú Quốc – Kiên Giang và các tỉnh phía Tây như Bình Phước, Đắk Lắk Bên cạnh đó, dọc bờ biển Việt Nam còn có nhiều hang, đảo có tiềm năng nuôi chim yến, đặc biệt ở các tỉnh Nam Trung Bộ và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, tỉnh Khánh Hòa là địa phương tập tủng số lượng quần thể chim yến đảo nhiều nhất nước
Với điều kiện tự nhiên ưu đãi này, Công ty Yến sào Khánh Hòa đã nghiên cứu khảo sát các vấn đề liên quan đến âm sinh học chim yến làm cơ sở cho việc sử dụng âm thanh và tái sử dụng phân chim yến để xây dựng các sản phẩm hóa học dẫn dụ chim yến Khảo sát và hoàn thiện các mô hình nhà yến ứng dụng công nghệ hiện đại phù hợp với các loại hình sinh thái và sinh cảnh tự nhiên (ví dụ mô hình núi yến giả tại Trung tâm Dịch vụ tuyến Bắc Nam – Cam Thịnh) Đồng thời, Công ty Yến sào Khánh Hòa cũng hỗ trợ khoa kỹ thuật, quy hoạch xây dựng vùng nuôi chim yến cho các tỉnh tiềm năng phát triển nghề nuôi chim yến như Ninh Thuận, Phú Yên, Côn Đảo… Tiến hành nhân đàn, di đàn cho 173 hang yến tại Khánh Hòa, 13 hang yến tại Phú Yên và 9 hang yến tại Ninh Thuận Ứng dụng nhiều kỹ thuật phát triển quần thể chim yến đảo như cải tạo cấu trúc bên trong hang, dẫn dụ chim yến từ tự nhiên, làm đập chắn sóng, lưới giảm
áp lực sóng, xây dựng hang trú đông cho chim yến… (Lê Hữu Hoàng, 2019)
Hiện nay, nghề nuôi chim yến đang phát triển tự phát không có định hướng, hầu hết các địa phương chưa có quy hoạch cụ thể, quá trình đô thị hóa và nạn phá rừng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái của chim yến Chính vì vậy, để phát triển quần đàn chim yến ở Việt Nam, Công ty Yến sào Khánh Hòa đã hoàn thiện quy trình ấp nuôi nhân tạo - di đàn chim yến, đồng thời bước đầu xây dựng khẩu phần thức ăn nhân
Trang 21tạo bổ sung nguồn dinh dưỡng cho chim con đảm bảo nghề nuôi chim yến phát triển bền vững (Lê Hữu Hoàng, 2004) Tuy nhiên, khẩu phần thức ăn nhân tạo được Công ty sử dụng hiện nay có tỷ lệ sống chưa cao, chim trong quá trình nuôi vẫn còn mắc các bệnh
về tiêu hóa (đi phân lỏng màu xanh lá cây) và chim phát triển chưa tối ưu cần nhiều thời gian để chăm sóc chim đến khi bay được
Trước thực trạng trên, được sự cho phép của Công ty Yến sào Khánh Hòa, nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài khoa học này nhằm tìm ra khẩu phần thức ăn phù hợp nhất cho sự phát triển của chim yến góp phần hoàn thiện quy trình nuôi
1.3 Kỹ thuật ấp nuôi nhân tạo chim yến
1.3.1 Tổng quan quy trình
Kỹ thuật ấp nuôi nhân tạo chim yến Aerodramus fuciphagus của Công ty TNHH
Nhà nước MTV Yến sào Khánh Hòa (Công ty Yến sào Khánh Hòa) được xây dựng dựa trên cơ sở các đề tài nghiên cứu về đặc tính sinh học của chim yến sinh sống ở các hang đảo, nhà yến đã được công bố từ đề tài “Xây dựng quy trình công nghệ ấp nở nhân tạo
và nuôi dưỡng, chăm sóc chim yến giống” (đề tài khoa học cấp Nhà nước năm 2011 –
2015, đã nghiệm thu)
Theo quy trình ấp nuôi nhân tạocủa Công ty Yến sào Khánh Hòa, trứng chim yến được thu nhận tại các đảo yến Hòn Nội và Hòn Ngoại, sau khi kiểm tra phân loại, trứng đạt tiêu chuẩn được xếp vào các khay đựng làm bằng tấm mút xốp có đục lỗ nhỏ bằng kích thước quả trứng, đặt vào trong thùng vận chuyển trứng được vệ sinh thường xuyên – sát trùng bằng Virkon S 2% trước khi sử dụng
Trứng được phân thành 3 loại, bao gồm: trứng trắng (mới đẻ từ 1 – 5 ngày, chim chưa ấp, nhìn rõ buồng khí ở đầu tù), trứng hồng (chim đã ấp 3 -7 ngày, không nhìn thấy buồng khí, khi soi sẽ thấy có màu hồng, mạch máu bắt đầu phát triển) và trứng già (chim
đã ấp 2 – 3 tuần, vỏ màu trắng đục, hơi đen, buồng khí hoàn toàn không nhìn thấy, khi soi có thể thấy chim con chuyển động)
Sau khi bảo quản và phân loại xong, các khay trứng được chuyển vào trong máy
ấp trứng nhân tạo Khu vực ấp trứng tuân theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia vệ sinh thú
ý cơ sở ấp trứng gia cầm QCVN 01-82:2011/BNNPTNT
Chim con sau khi nở được nuôi nấng và chăm sóc liên tục trong khoảng thời gian
Trang 2260 ngày Giai đoạn từ 1 ngày tuổi đến 45 ngày tuổi (Bảng 1.1) chim con được nuôi
dưỡng trên tổ mô phỏng làm từ nhựa cứng có bán kính R = 55 mm và hình dáng tương
tự tổ yến, dán miếng lót được làm từ vải bố, có tác dụng giữ ấm cho chim con Tất cả tổ này đượctreo trên các giá gỗ có kích thước cao 1,60 m; dài 2,0 m; bề ngang 0,08 m đặt trong phòng nuôi yên tĩnh có nhiệt độ 30 – 32oC, độ ẩm 70 – 75% và ánh sáng 5 – 20 lux phù hợp với điều kiện sống của chim con Giai đoạn sau 45 ngày tuổi, chim có hiện tượng chéo cánh như chim trưởng thành và đập cánh liên tục để tập bay sẽ được chuyển qua nhà lưới có diện tích tối thiểu 25 – 30 m2, chiều cao 3,5 – 4,0m, lúc này chim được nuôi theo điều kiện môi trường tự nhiên, huấn luyện cho chim tập bay và bắt mồi
Bảng 1.1 Các giai đoạn phát triển của chim yến (Lê Hữu Hoàng et al., 2015)
Hình ảnh minh họa chim yến ở ngày đầu tiên và kết thúc của từng giai đoạn
tư thế phôi (đầu cúi sát bụng)
Giai đoạn này chim chỉ tăng khối lượng cơ thể
và ít có sự thay đổi đặc điểm bên ngoài
6 – 13
Mầm lông bắt đầu xuất hiện dưới lớp da ở lưng, cánh và đầu Đến 10 ngày tuổi, mầm lông mới bắt đầu nhú ra khỏi
da Chim cứng cáp hơn, mép mỏ và giò bắt đầu phát triển
Đây là giai đoạn chim có
sự thay đổi về đặc điểm bên ngoài rõ rệt nhất
Trang 2322 – 30 Lông bắt đầu phủ kín toàn cơ thể và chim đã
bắt đầu mở mắt
31 – 45
Lông chim bung đều và đến 37 ngày tuổi bộ lông được tạo thành khá hoàn chỉnh Chim bắt đầu đu tổ và vỗ cánh tập bay Vẩy sừng bao bọc lông ống ở cánh và ở đuôi bắt đầu bong ra gần hết, bộ lông óng mượt hơn
1.3.2 Tổng quan khẩu phần ăn nhân tạo cho chim yến
Dựa trên phương pháp nghiên cứu phân tích dạ dày của chim yến trưởng thành và phân tích các cục mồi mà chim bố mẹ mang về mớm cho con non của chúng thực hiện bởi Nguyễn Quang Phách et al (1993) đã cho kết quả thành phần côn trùng trong dạ dày chim yến trưởng thành giống với thành phần côn trùng chúng mang về mớm mồi chim con Việc phân tích cục mồi của chim con phản ánh đúng tỷ lệ vật mồi mà chim yến ăn
Cụ thể, tỷ lệ cao nhất là Bọ rầy (50,5%), thứ hai là Ruồi – Muỗi (20,5%) (Bảng 1.2)
Khối lượng cục mồi khoảng 0,6 – 1,0 g gồm 250 – 350 côn trùng nhỏ
Bảng 1.2 Thành phần thức ăn của chim yến hàng Việt Nam (Nguyễn Quang
Trang 24Mẫu nát không xác định - - - - 9,5 -
Thêm vào đó, theo phân tích thành phần hóa học (% trọng lượng tươi) thức ăn
trong dạ dày của chim yến con, đã cho ra kết quả (Bảng 1.3) như sau:
Bảng 1.3 Thành phần hóa học cơ bản của thức ăn chim yến con (Nguyễn Quang
Đối với chim yến, bộ lông đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của chim yến, chúng có ba tác dụng chính: bảo vệ cơ thể tránh các tác động cơ học bên ngoài; điều nhiệt giúp chống chịu với sự thay đổi của thời tiết và hỗ trợ chim bay được Chim con ở giai đoạn 14 – 21 ngày tuổi có sự thay đổi rõ rệt về bộ lông, ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của chim sau này Chính vì vậy, việc bổ sung dinh dưỡng và chăm sóc hợp lý ở giai đoạn này là rất quan trọng
Thông qua các nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng cần thiết cung cấp cho gia cầm
đã nêu ở phần trên, áp dụng với thực tế nghiên cứu về loài chim yến A fuciphagus, Công
ty Yến sào Khánh Hòa đã xây dựng khẩu phần ăn cho chim yến đáp ứng các nhu cầu:
Nhu cầu về năng lượng
Nhóm chất bột là nguồn cung cấp năng lượng chính trong khẩu phần ăn hàng ngày; trong đó, gạo lứt và ngô là hai loại ngũ cốc giàu tinh bột và năng lượng (có từ 3200 -
3400 kcal năng lượng trao đổi/kg thực phẩm)
Nhu cầu về protein
Trong ngành công nghiệp chăn nuôi gia cầm, côn trùng giàu protein được nhiều
Trang 25chuyên gia đánh giá là nguồn thức ăn thay thế cho cho các loại thực phẩm khác Trên thế giới, có khoảng 2.000 loại côn trùng được con người sử dụng hoặc dùng làm nguồn dinh dưỡng cho các loài động vật khác Côn trùng có sự đa dạng loài cao, chi phí nuôi thấp, tạo ra sinh khối lớn, vòng đời ngắn, sinh sản mạnh nhưng dễ kiểm soát, có giá trị dinh dưỡng cao về protein, chất béo, chất khoáng và vitamin (Ramos-Elorduy, 2005; Chapman, 2012).
Để nuôi chim yến đạt kết quả, các loại côn trùng nhỏ được lựa chọn làm thành phần chính trong khẩu phần thức ăn với các tiêu chuẩn tiên quyết: (1) kích cỡ côn trùng phải nhỏ khoảng 2 – 5mm để dễ nuốt; (2) cấu trúc của cơ thể không được quá cứng để tiêu hóa thuận lợi; (3) sự linh hoạt – đồng nghĩa với việc loại côn trùng này phải dễ nuôi, sinh sản tốt; (4) có vòng đời ngắn để việc sản xuất lấy sinh khối lớn đạt thuận tiện; (5) đạt được hiệu quả kinh tế và (6) có giá trị dinh dưỡng cao - vì chim yến sử dụng nước dãi để làm tổ nên côn trùng lựa chọn phải có hàm lượng protein cao (Kamruddin & Khoo, 2011)
Chính vì vậy, Công ty Yến sào Khánh Hòa đã sử dụng dế cơm (Brachytrupes portentosus) làm nguồn nguyên liệu chính trong chế biến thức ăn cho chim yến sử dụng
trong quy trình ấp nuôi nhân tạo
Thành phần dinh dưỡng của dế cơm (Bảng 1.3) không chỉ có nguồn protein cao
mà còn có các loại amino acid có lợi cho gia cầm đặc biệt là tryptophan, lysine, aniline…
Bảng 1.4 Thành phần dinh dưỡng trong dế, thịt bò và thịt lợn (trọng lượng tươi)
(Nguồn: cuu-cac-thanh-phan-dinh-duong-cua-De-M%C3%A8n-co-loi-cho-suc-khoe-con-
Trang 26Nguồn cung cấp năng lượng
Nguồn năng lượng chủ yếu cho cơ thể bắt nguồn từ Carbohydrates, Protein và Lipid Trong đó, Carbohydrates là nguồn cung cấp năng lượng chính, chiếm 70% tổng
số nhu cầu năng lượng trong khẩu phần ăn hàng ngày Nguồn cung cấp carbohydrates chủ yếu từ ngũ cốc (gạo, ngô, khoai, sắn…) và phụ phẩm (cám gạo, tấm…)
Nguồn cung cấp protein
Nguồn cung cấp chủ yếu cho động vật nói chung và chim yến nói riêng là protein động vật như dế cơm, cám tổng hợp… Tuy nhiên, nhằm cân đối các loại acid amin thiết yếu, đạm thực vật như đậu xanh, đậu phộng, mè đen… được bổ sung và phối hợp cùng protein động vật với tỷ lệ dưới 50% do nguồn đạm thực vật thường dễ bị biến đổi và giảm hàm lượng dinh dưỡng trong quá trình chế biến
Chính vì vậy, Công ty Yến sào Khánh Hòa đã lựa chọn 2 nguồn thức ăn chính (1) trứng kiến vàng có hàm lượng dinh dưỡng cao, protein chiếm tới 42 – 67% trong đó bao gồm 17 loại amino acids (8 loại amino acids không thay thế được) và 31 nguyên tố vi lượng (calcium, phosphorous…) với nhiều loại vitamin cần thiết (A, B1, B12, D, E…) kết hợp với (2) hỗn hợp thức ăn nhân tạo chế biến từ dế cơm có hàm lượng protein cao
(Lacey, 2016) và sâu gạo với hàm lượng chất béo nổi bật (Rahman Jabir et al., 2012)
xay nhuyễn chung với hỗn hợp bột cám cung cấp cho chim yến con 4 lần/ngày là công thức đang được sử dụng hỗ trợ cho sự phát triển của chim yến con
1.3.2.2 Các loại côn trùng sử dụng làm khẩu phần ăn cho chim yến
1.3.2.2.1 Dế cơm
Dế cơm Brachiytrupes portentosus (Lictenstein, 1796) thuộc họ Gryllidae (Dế
mèn), bộ Orthoptera (Cánh thẳng), chúng có màu vàng nghệ, 6 chân với 2 chân sau chắc khỏe kích thước lớn hơn những chân còn lại, có cặp râu dài gần như gấp đôi chiều ngang
cơ thể giúp định vị và tìm kiếm thức ăn
Trong tự nhiên, dế cơm sinh sản gần như quanh năm, trứng sau khi được thụ tinh
sẽ nở sau 9 – 12 ngày, trung bình một con dế cơm mái có thể đẻ ra 2.000 con Con non trưởng thành sau 40 – 45 ngày và bắt đầu sinh sản khi chúng được 50 – 55 ngày trở đi
(Hình 1.5)
Trang 27Hình 1.4 A Dế cơm; B Vòng đời của dế cơm
(Nguồn: http://cricketcare.org/life-cycle/)
Dế là loại côn trùng sử dụng làm nguồn thực phẩm tiêu thụ đã phát triển ở Thái Lan từ năm 1998 (Hanboonsong et al., 2013) Đến năm 2012, có đến 20.000 hộ nuôi dế trên đất nước này (Huis et al., 2013) Ở Việt Nam, nghề nuôi dế bắt đầu phát triển từ những năm 2007 nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường của du khách bốn phương (Nguyễn Thị Chắt, 2007) Ngoài việc sử dụng làm nguồn thức ăn cho con người, chúng có thể được sử dụng làm thức ăn cho các loài bò sát, cá, chim và động vật có vú khác (Miech, 2018)
Dế cơm tuy có hàm lượng protein cao nhưng lipid lại khá thấp, trong khi nhộng ruồi lính đen và sâu gạo không những có hàm lượng lipid tương đương với protein mà
còn có khả năng cung cấp nhiều loại amino acids thiết yếu cho các loại gia cầm (Bảng 1.4) nên nhóm nghiên cứu thử nghiệm sử dụng các khẩu phần thức ăn cho chim yến sử
dụng nguồn nguyên liệu chính là nhộng ruồi lính đen và sâu gạo
Bảng 1.5 So sánh thành phần dinh dưỡng trong dế cơm, nhộng ruồi lính đen, sâu gạo
STT (tính theo trọng lượng tươi) Tên chỉ tiêu Dế cơm (Finke, 2013) Nhộng ruồi (Kouřimská & Sâu gạo
Trang 28bộ Diptera (bộ hai cánh) Vòng đời của ruồi lính đen trải qua 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, nhộng và ruồi trưởng thành Phụ thuộc vào nhiệt độ và các điều kiện môi trường khác
mà giai đoạn thành nhộng xảy ra vào mùa xuân và tồn tại từ 9 ngày đến 5 tháng
- Sau giai đoạn giao phối, con cái bắt đầu đẻ trứng số lượng lớn, trứng được ủ khoảng 4 ngày đến 3 tuần để nở
- Ấu trùng trải qua 3 lần lột xác và cần khoảng 30 ngày để trở thành nhộng Trong giai đoạn này, chúng ăn rất nhiều để dự trữ chất béo trong cơ thể (Newton et al., 2005)
- Ruồi lính đen trưởng thành có hình dạng giống ong bắp cày, màu đen Chiều dài
cơ thể từ 15 – 20 mm, phần râu của ruồi thon dài chia làm 3 đốt, phần đầu của mỗi chân
có màu trắng (Tomberlin & Sheppard, 2006)
Theo nhiều nhà nghiên cứu, nhộng ruồi lính đen đã được xem xét là nguồn thức ăn chăn nuôi tiềm năng (St-Hilaire et al., 2007; Kroeckel et al., 2012; Makkar et al., 2014)
và đem lại lợi nhuận to lớn, có khả năng làm nguồn thức ăn bổ sung cho cá và các loại gia cầm Kết quả cho thấy nhộng ruồi lính đen có lượng protein thô 39,98% và lipid là 32,62% và nhiều loại dinh dưỡng quan trọng khác như chất khoáng, vitamin B1, B2, E
Sâu gạo Zophobas morio (Fabricius, 1776), là một loại bọ cánh cứng của họ
Tenebrionidae Theo Osborne (2018), vòng đời của chúng gồm 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, nhộng và bọ trưởng thành Bọ cánh cứng đen sau khi giao phối sẽ tìm chỗ đẻ trứng (trong đất, xác động vật đang thối rửa, vỏ cây mục hoặc các loại rau quả đang
Trang 29- Khi bắt đầu thành nhộng, ấu trùng cuộn tròn người lại và tạo thành lớp kén chắc chắn Trong giai đoạn này chúng không di chuyển cũng không ăn gì Quá trình biến hóa kéo dài 10 – 14 ngày
- Sau 2 tuần, nhộng phát triển thành bọ trưởng thành; có râu, chân, cánh và hệ thống sinh sản Thức ăn của chúng vẫn giống như trước, chúng thường thích nơi tối tăm
ẩm ướt hơn
Sâu gạo là loại côn trùng giàu protein và nhiều loại dinh dưỡng quan trọng khác
(Martin et al., 1969; Klasing et al., 2000; Aguilar-Miranda et al., 2002) Cụ thể, hàm lượng protein của sâu gạo ở mức 45 – 60% và lipid 30 – 45% trọng lượng khô Thêm vào đó, chúng rất dễ để nuôi (Li et al., 2013) Với những lí do này sâu gạo được dùng làm nguồn thức ăn cho nhiều loài động vật (Klasing et al., 2000)
Hình 1.6 A Sâu gạo; B Vòng đời của sâu gạo
(Nguồn: http://mealworms101.weebly.com/what-is-a-mealworm.html)
Trang 30CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Địa điểm nuôi chim thí nghiệm: Trung tâm Kỹ thuật công nghệ nuôi chim yến Sanatech, Công ty TNHH Nhà nước MTV Yến sào Khánh Hòa (gọi tắt: Công ty Yến sào Khánh Hòa) từ tháng 04/2018 đến tháng 12/2018 Địa chỉ: Quốc lộ 1A, xã Suối Hiệp, Diên Khánh, Khánh Hòa
2.1.3 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu
2.1.3.1 Chim yến Aerodramus fuciphagus
Chim yến Aerodramus fuciphagus được lựa chọn theo các tiêu chí như da hồng
hào căng mịn; hai mắt nhắm lại; mỏ lành lặn, đều, không bị lệch, dị hình; hai bàn chân xòe ra đều, bốn móng chân bấm chặt xuống tất lót tổ mô phỏng; bụng tròn, có chứa khối noãn hoàng bên trong; khi chạm vào chim con chúng ngóc đầu lên và há miệng đòi ăn
(Hình 2.1A)
Hình 2.1 Thiết kế thí nghiệm
A Chim yến con đạt tiêu chuẩn; B Phân lô thí nghiệm trên giá gỗ
2.1.3.2 Nguồn nguyên liệu làm nghiệm thức thức ăn
- Dế cơm Brachiytrupes portentosus (Lictenstein, 1796) thuộc họ Gryllidae (Dế
Trang 31nhóm thức ăn cung cấp protein có nguồn gốc thực vật (đậu xanh, đậu phộng, mè đen)
- Dung dịch polyvid PP cung cấp thêm vitamin B1 cho các nghiệm thức thức ăn
2.1.3.3 Bố trí thí nghiệm
Chim yến được chia thành 3 lô thí nghiệm, mỗi lô gồm 30 chim con ứng với 3 nghiệm thức thức ăn (10 con/nghiệm thức), trọng lượng trung bình 4,023 ± 0,021(g) được đặt vào tổ mô phỏng làm từ nhựa cứng, hình bán nguyệt tương tự tổ yến thật, bán kính R = 55 mm đã có dán miếng lót được làm từ vải bố có tác dụng giữ ấm cho chim con Mỗi tổ mô phỏng cách nhau 15cm; 30 tổ mô phỏng được treo lên một giá gỗ có kích thước cao 1,6m, dài 2,0m và bề ngang 0,08m đã chia làm 3 tầng riêng biệt cách
nhau 0,5m (mỗi nghiệm thức là một tầng) (Hình 2.1B)
Để kết quả thí nghiệm được khách quan, các cá thể chim yến con được nhóm nghiên cứu nuôi trực tiếp từ giai đoạn 1 ngày tuổi
Chim được cho ăn 4 lần/ngày, cụ thể thành phần thức ăn được đưa ra trong Bảng 2.1: Bảng 2.1 Thời gian và khẩu phần ăn trong thí nghiệm nuôi chim yến Giai đoạn
(ngày tuổi)
Số lần cho ăn (lần/ngày) Thời gian cho ăn Loại thức ăn/Nghiệm thức
Chim con giai đoạn 1 – 5 ngày tuổi sẽ được cho ăn theo quy trình chuẩn của Công
ty Yến sào Khánh Hòa (trứng kiến vàng 4 lần/ngày) nhằm bổ sung nước và kích thích
hệ tiêu hóa của chim Chim con hay đòi ăn thường xoay trở nhiều trong tổ nên phải kiềm tra thường xuyên và điều chỉnh móng chân chim bám chắc vào tổ
- Sau giai đoạn 5 ngày tuổi, ngoài trứng kiến vàng các lô thí nghiệm được cho ăn bằng các NT thức ăn (NT 1, NT 2 và NT 3) với các mốc thời gian 6g00, 11g00 và 16g00 Chim rất háu ăn nên khi cho ăn xong cần quan sát tình trạng tiếp nhận và tiêu hóa thức
ăn chim yến con
Các nghiệm thức được thực hiện thành 2 lần Lần thứ nhất vào tháng 5/2018, lần
thứ hai vào tháng 8/2018
Trang 3221
2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
‘
Nghiên cứu các yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự sinh
trưởng của chim yến (Aerodramus fuciphagus) giai đoạn từ 8 –
21 ngày tuổi
Tuyển chọn chim yến con Phân tích thành phần dinh dưỡng các
loại côn trùng (dế cơm, nhộng ruồi lính đen, sâu gạo) và khẩu phần ăn
Thí nghiệm nuôi chim yến bằng các nghiệm thức thức ăn đã khảo sát
- 0,1% Polyvid PP
Nghiệm thức 3:
- 80% sâu gạo
- 19,9% bột cám tổng hợp
Trang 332.3 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thành phần dinh dưỡng nguyên liệu và các nghiệm thức thức ăn cung cấp cho chim yến
Phân tích thành phần dinh dưỡng các loại côn trùng và khẩu phần ăn
Nguồn côn trùng (dế cơm, nhộng ruồi lính đen, sâu gạo) được thu mua trực tiếp tại
cơ sở nuôi tư nhân tại đường Bằng Lăng, Xã Vĩnh Thái, Thành phố Nha Trang chia làm
3 bước chính:
Bước 1: Cân 100 g tươi mỗi loại côn trùng (mỗi loại 2 mẫu) bảo quản lạnh trong
hộp kín có dán nhãn ở nhiệt độ 5oC;
Bước 2: Nguồn côn trùng còn lại được sử dụng để chế biến các nghiệm thức thức
ăn Cân 100 g mỗi nghiệm thức (1 nghiệm thức 2 mẫu) bảo quản lạnh trong hộp kín có dán nhãn ở nhiệt độ 5oC
Bước 3: Tất cả mẫu côn trùng và nghiệm thức dược đem đi phân tích thành phần
dinh dưỡng tại Công ty TNHH Eurofinds Sắc ký Hải Đăng, Thành phố Hồ Chí Minh
(Hình 2.3)
Hình 2.3 Mẫu thức ăn được đưa đi phân tích
A Mẫu nghiệm thức thức ăn; B Mẫu côn trùng
Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích:
- Hàm lượng Carbohydrates (%) được phân tích theo AOAC 986.25 mod
- Hàm lượng Protein (%) được phân tích theo TCVN 4328-1:2007 (ISO 5983-1:2005)
- Hàm lượng chất béo (%) được phân tích theo TCVN 4331:2001 (ISO 6492:1999)
- Năng lượng (kcal/100g) được phân tích bằng phương pháp FAO 2013 77
- Chỉ tiêu Amino acids tổng (g/100g) được phân tích bằng hệ thống phân tích sắc ký khí GC-FID
Trang 34- Hàm lượng Calcium (mg/kg) được phân tích theo AOAC 968.08 (2011)
- Hàm lượng Phophorous (%) được phân tích theo TCVN 1525:2001 (ISO 6491:1998)
- Hàm lượng Methionine (g/100g) được phân tích bằng hệ thống phân tích sắc ký khí GC-FID
- Hàm lượng Cystine (g/100g) được phân tích bằng hệ thống phân tích sắc ký khí FID
GC So sánh sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hàm lượng dinh dưỡng của các chỉ tiêu
đã phân tích giữa các loại nguyên liệu (côn trùng) và giữa các nghiệm thức thức ăn Phân tích sự khác biệt về thành phần dinh dưỡng với các kết quả thí nghiệm nuôi chim yến để đánh giá sự liên quan giữa thành phần dinh dưỡng với sự phát triển của chim yến con
2.4.2 Thí nghiệm nuôi chim yến từ giai đoạn 8 – 21 ngày tuổi bằng các nghiệm thức thức ăn
2.4.2.1 Chế biến nghiệm thức thức ăn
Quy trình chế biến nghiệm thức thức ăn được thể hiện trong Hình 2.4
Vì thành phần cung cấp năng lượng gồm ngũ cốc (gạo, ngô, khoai, sắn…) và phụ phẩm (cám gạo, tấm…) có hàm lượng protein thấp (không quá 20%), các loại Acid amin không cân đối trong thành phần, hàm lượng Lipid và khoáng thấp nên lượng tinh bột thích hợp này trong khẩu phần thức ăn không quá 20%
Đầu tiên, các nguyên liệu được rửa bằng nước sạch nhằm loại bỏ tạp chất Với hỗn hợp bột cám, tiến hành sấy khô ở 100oC trong 2 tiếng, sau đó mang đi nghiền mịn bằng máy xay bột mịn 500g được mua tại Công ty Tiến Linh (Hưng Yên) từ 2 – 5 phút; thành phần côn trùng được cho vào nồi ngập nước và tiến hành luộc chín tại 100oC trong vòng
30 phút
Sau đó, tiến hành xay nhuyễn hỗn hợp bột cám và côn trùng bằng máy xay sinh tố,trong quá trình xay bổ sung thêm lòng đỏ trứng và dung dịch polyvid PP Sau 10 phút, thu hết phần hỗn hợp này thu được nghiệm thức thức ăn hoàn chỉnh Các nghiệm thức thức ăn được chế biến trước mỗi thời điểm cho chim yến ăn 30 phút