Kết quả phân tích cho thấy có 10 nhân tố chủ yếu ảnh hưởng, có ý nghĩa thống kê đến thu nhập của nông hộ và mức đóng góp của từng nhân tố theo thứ tự tầm quan trọng giảm dần là: Quy mô h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN TRƯỜNG THI
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP NÔNG HỘ TẠI XÃ HÒA TRỊ, HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HOÀ - 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN TRƯỜNG THI
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP NÔNG HỘ TẠI XÃ HÒA TRỊ, HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Khánh Hòa, tháng 10 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Trường Thi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và viết luận văn này, tôi luôn nhận được sự hướng dẫn tận tình, lời động viên, sự thấu hiểu và sự giúp đỡ từ quý Thầy Cô giáo, Gia đình và Bạn bè Nhân đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy Phạm Thành Thái, người hướng dẫn tôi nghiên cứu Nếu không có những lời nhận xét, góp ý quý giá để xây dựng đề cương luận văn và sự hướng dẫn nhiệt tình, tận tâm của Thầy trong suốt quá trình nghiên cứu thì luận văn này đã không hoàn thành Tôi cũng học được rất nhiều từ Thầy về kiến thức chuyên môn, tác phong làm việc và những điều bổ ích khác
Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy, Cô giáo ở Khoa Kinh tế nói riêng và quý Thầy, Cô ở trường Đại học Nha Trang nói chung, nơi tôi học tập và nghiên cứu đã giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt khóa học này
Khánh Hòa, tháng 10 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Trường Thi
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Ý nghĩa của đề tài 4
1.6 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
2.1 Cơ sở lý thuyết về nông hộ 6
2.1.1 Khái niệm nông hộ 6
2.1.2 Phân loại nông hộ 7
2.1.3 Kinh tế nông hộ và đặc điểm của kinh tế nông hộ 7
2.2 Cơ sở lý thuyết về thu nhập của nông hộ 9
2.2.1 Khái niệm thu nhập nông hộ 9
2.2.2 Phân loại thu nhập nông hộ 11
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ 11
2.3.1 Nguồn nhân lực 11
2.3.2 Nguồn lực tài chính 12
2.3.3 Nguồn lực vật chất 12
2.3.4 Nguồn lực xã hội và nguồn lực tự nhiên 13
2.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 13
Trang 62.5 Các giả thuyết nghiên cứu 17
2.5.1 Trình độ học vấn có ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ 17
2.5.2 Quy mô hộ và số người sống phụ thuộc có ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ 17
2.5.3 Diện tích đất sản xuất có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ 18
2.5.4 Tiếp cận vốn tín dụng có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ 19
2.5.5 Số hoạt động tạo thu nhập có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ 20
2.5.6 Áp dụng kỹ thuật canh tác mới và sử dụng giống mới vào sản xuất 20
2.5.7 Kinh nghiệm làm việc của chủ hộ có ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ 21
2.5.8 Tham gia tập huấn thì có ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ 22
2.5.9 Tham gia vào chuỗi liên kết sản xuất lúa và hộ có sản xuất lúa xác nhận, lúa giống có ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ 22
2.5.10 Nghề nghiệp của chủ hộ có ảnh hưởng đến thu nhập 22
2.6 Mô hình nghiên cứu 23
2.6.1 Khung phân tích 23
2.6.2 Mô hình lượng hóa 24
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Quy trình nghiên cứu 25
3.2 Cách tiếp cận nghiên cứu 25
3.3 Nguồn số liệu được sử dụng trong nghiên cứu 26
3.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 26
3.4.1 Xác định cỡ mẫu 26
3.4.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 26
3.5 Loại dữ liệu và thu thập dữ liệu 27
3.5.1 Loại dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu 27
3.5.2 Thu thập dữ liệu 27
3.6 Các phương pháp phân tích dữ liệu 27
3.6.1 Thống kê mô tả 27
3.6.2 Phân tích tương quan và hồi quy bội tuyến tính 27
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 28
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu cho các biến định tính 29
Trang 74.1.1 Thống kê mô tả cho biến tiếp cận vốn 29
4.1.2 Thống kê mô tả cho biến Áp dụng kỹ thuật mới trong sản xuất 29
4.1.3 Thống kê mô tả cho biến tham gia chuỗi liên kết sản xuất 30
4.1.4 Thống kê mô tả cho biến giới tính 30
4.1.5 Thống kê mô tả cho biến hoàn cảnh gia đình 31
4.1.6 Thống kê mô tả cho biến nghề nghiệp của chủ hộ 31
4.1.7 Thống kê mô tả cho biến thu nhập khác 31
4.1.8 Thống kê mô tả cho biến tham dự tập huấn 32
4.1.9 Thống kê mô tả cho biến sử dụng giống mới trong sản xuất 32
4.1.10 Thống kê mô tả cho biến sản xuất lúa giống 33
4.2.1 Thống kê mô tả các biến độc lập định lượng 33
4.2.2 Những khó khăn thường gặp của nông hộ trồng lúa 35
4.2.3 Các tiêu chí cần hỗ trợ của Nhà nước để hộ gia đình nâng cao thu nhập 36
4.3 Kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ 37
4.3.1 Kết quả phân tích hồi quy 37
4.3.2 Kiểm tra các giả định của mô hình hồi quy 38
4.4 Thảo luận kết quả phân tích hồi quy 43
4.5 Xác định vị trí ảnh hưởng của các biến độc lập có ý nghĩa thống kê 49
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 50
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH 51
5.1 Kết quả nghiên cứu rút ra một số kết luận sau 51
5.2 Một số gợi ý chính sách chủ yếu cần tập trung 52
5.2.1 Đẩy mạnh việc áp dụng kỹ thuật canh tác mới vào sản xuất lúa 52
5.2.2 Gắn sản xuất theo chuỗi liên kết với hộ nông dân tham gia trồng lúa xác nhận, lúa giống là giải pháp hiệu quả và bền vững 54
5.2.3 Đa dạng ngành nghề cho lao động nông thôn 56
5.2.4 Nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích đất trồng lúa 56
5.2.5 Đẩy mạnh chính sách dân số, giảm số người phụ thuộc trong gia đình 58
5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FAO Tổ chức nông lương thế giới
GSO Tổng cục Thống Kê Việt Nam
UBND Uỷ Ban Nhân Dân
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các yếu tố tác động đến thu nhập qua các kết quả nghiên cứu 16
Bảng 3.1 Phân bổ mẫu nghiên cứu 26
Bảng 4.1 Phân phối tần suất của biến tiếp cận vốn 29
Bảng 4.2 Phân phối tần suất của biến Áp dụng kỹ thuật mới 29
Bảng 4.3 Phân phối tần suất của biến tham gia chuỗi liên kết sản xuất 30
Bảng 4.4 Phân phối tần suất của biến giới tính 30
Bảng 4.5 Phân phối tần suất của biến hoàn cảnh gia đình 31
Bảng 4.6 Phân phối tần suất của biến nghề nghiệp của chủ hộ 31
Bảng 4.7 Phân phối tần suất của biến thu nhập khác 31
Bảng 4.8 Phân phối tần suất của biến thu nhập khác 32
Bảng 4.9 Phân phối tần suất của biến sử dụng giống mới trong sản xuất 32
Bảng 4.10 Phân phối tần suất của biến hộ có sản xuất lúa giống 33
Bảng 4.11 Một số đại lượng thống kê mô tả chủ yếu cho các biến 33
Bảng 4.12 Khó khăn thường gặp của nông hộ trồng lúa 35
Bảng 4.13 Kết quả phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập 38
Bảng 4.14 Hệ số Centered VIF 39
Bảng 4.15 Thứ tự ảnh hưởng của biến độc lập 49
Bảng 5.1 Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết của nghiên cứu 51
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ 23
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Luận văn này tiến hành phân tích về các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ tại xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa Mục đích chính của nghiên cứu này là nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ tại xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa trên cơ sở đó đề xuất các hàm ý chính sách để nâng cao thu nhập cho nông hộ Nghiên cứu sử dụng dữ liệu sơ cấp và thứ cấp Dữ liệu sơ cấp dựa trên việc khảo sát số liệu từ 273 nông hộ tại 5 thôn trên địa bàn xã Số liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu từ Phòng thống kê huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên và các báo cáo của UBND xã Hòa Trị Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả và phân tích hồi quy tuyến tính bội để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ Kết quả phân tích cho thấy có 10 nhân tố chủ yếu ảnh hưởng, có ý nghĩa thống kê đến thu nhập của nông hộ và mức đóng góp của từng nhân tố theo thứ tự tầm quan trọng giảm dần là: Quy mô hộ; số người sống phụ thuộc trong hộ gia đình; nghề nghiệp của chủ hộ, hộ có
áp dụng kỹ thuật canh tác mới; đa dạng các hoạt động tạo thu nhập; diện tích đất sản
xuất của hộ; hộ có tham gia chuỗi liên kết sản xuất; hộ có vay vốn từ các định chế chính thức; hộ có tham gia sản xuất lúa xác nhận, lúa giống; hộ có sử dụng giống mới vào sản xuất
Dựa trên những kết quả nghiên cứu đó, đề tài đã đề xuất được một số hàm ý chính sách chủ yếu để nâng cao thu nhập cho các nông hộ tại xã Hòa Trị, huyện Phú
Hòa, bao gồm: một là, đẩy mạnh việc áp dụng kỹ thuật canh tác mới vào sản xuất lúa;
hai là, Gắn sản xuất theo chuỗi liên kết với hộ nông dân tham gia trồng lúa xác nhận,
lúa giống là giải pháp hiệu quả và bền vững; ba là, đa dạng ngành nghề cho lao động nông thôn; bốn là, Nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích đất trồng lúa;
năm là, Đẩy mạnh chính sách dân số, giảm số người phụ thuộc trong gia đình
Từ khóa: Nhân tố ảnh hưởng, thu nhập của nông hộ, xã Hòa Trị, Phú Hòa
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong điều kiện nước ta đang đẩy mạnh phát triển Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa, kinh tế hộ gia đình càng đóng vai trò quan trọng và là mấu chốt trong phát triển mối quan hệ giữa Nông nghiệp - Nông thôn - Nông dân theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành trung ương tại Hội nghị lần thứ bảy khóa
X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Hiện nay, cùng với xu thế phát triển của đất nước, kinh tế hộ nông dân Việt Nam đã thay đổi một cách cơ bản, nhất là việc nông dân ngày càng tiếp cận và ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm giải phóng sức lao động, nâng cao năng suất, đa dạng các loại hình sản xuất do
đó thu nhập đã được nâng lên, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết để khai thác và sử dụng nguồn lực như đất đai, công nghệ, con người
Theo công bố của Tổng cục Thống kê về tình hình Kinh tế Xã hội năm 2017, Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động của cả nước ước tính 48,2 triệu người, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động khu vực thành thị chiếm 33,4%; khu vực nông thôn chiếm 66,6% Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc ở khu vực thành thị chiếm 31,9%; khu vực nông thôn chiếm 68,1% Bên cạnh các chính sách hỗ trợ về sản xuất nông nghiệp của chính phủ, sự phát triển về khoa học kỹ thuật, xu hướng đổi mới
về sản xuất đối với hộ nông dân và số lượng lao động ở khu vực nông thôn lớn gấp đôi
so với khu vực đô thị Vì vậy, nghiên cứu về thu nhập của người dân sống ở nông thôn
có ý nghĩa quan trọng
Trong những năm qua, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan tới thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập từ các góc độ và phạm vi khác nhau như: Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ trong các mô hình sản xuất trên đất lúa tại tỉnh Vĩnh Long, (Lê Xuân Thái, 2014); Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở An Giang (Nguyễn Lan Duyên, 2014); Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập
hộ nông dân tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Nguyễn Khánh Doanh, Nguyễn Thị Gấm, La Thị Thùy Lê, Mai Thùy Dung); Ảnh hưởng của nguồn lực đến thu nhập của nông hộ tỉnh Thanh Hóa, nghiên cứu điển hình ở huyện Thọ Xuân và Hà Trung (Chu Thị Kim Loan, Nguyễn Kim Hướng, 2015); Tác động tín dụng đến thu nhập của nông hộ ở Việt Nam (Đinh Phi Hổ và Đông Đức, 2015); các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (Võ Thành Khởi, 2015) Tuy
Trang 13nhiên, điều kiện sản xuất (điều kiện văn hóa, điều kiện tự nhiên, kỹ thuật canh tác, mức
độ ứng dụng khoa học kỹ thuật…) là không giống nhau ở các địa phương, nên các
nghiên cứu trước không thể áp dụng tại xã Hòa Trị, đồng thời chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về thu nhập của nông hộ trên địa bàn xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa
để làm cơ sở cho việc đề ra những chính sách nhằm tăng thu nhập cho người nông dân
Xã Hòa Trị là xã đồng bằng, địa hình có hướng nghiêng dần từ Tây sang
Đông, nằm cách Trung tâm huyện Phú Hòa khoảng 10 km về phía Đông Phía Bắc giáp xã Hòa Kiến; phía Nam giáp xã Hòa Thắng, Hòa An; phía Đông giáp Thành phố Tuy Hòa; phía Tây giáp xã Hòa Quang Nam, Hòa Quang Bắc Địa hình tương đối bằng phẳng, là địa bàn quan trọng trong phát triển nông nghiệp, có hệ thống thủy lợi tưới tiêu khá chủ động, là vùng sản xuất lúa và cây lương thực chủ yếu của huyện, là địa bàn giáp ranh với Thành phố Tuy Hòa nên thuận lợi cho phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Diện tích tự nhiên là 1.596,03 ha, trong đó: diện tích đất nông
nghiệp 1.242,84 ha (chủ yếu trồng lúa); đất phi nông nghiệp 275,69 ha; đất chưa sử
dụng 77,5 ha) Có 21.886 nhân khẩu, với 5.520 hộ Nhân dân chủ yếu sống bằng nghề
trồng trọt (trồng lúa, cây hoa màu) và chăn nuôi (gia xúc, gia cầm), ngoài ra còn có một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp như Đan lát, nấu Rượu… và mua bán nhỏ
Trong những năm qua được sự tập trung chỉ đạo của huyện, địa phương đã áp dụng giống mới vào sản xuất, áp dụng kỹ thuật canh tác, đồng thời đẩy mạnh cơ giới hóa nên năng suất cây trồng, năng suất lao động ngày một tăng Hiện nay, thu nhập bình đầu người của xã là 36,5 trđ/người/năm (theo Chi cục thống kê Huyện Phú Hòa năm 2018), là một trong những xã có thu nhập bình quân đầu người cao hơn so với
trung bình của huyện (35,0 triệu đồng), nhưng vẫn còn thấp so với mặt bằng chung
tỉnh Phú Yên (39,7 triệu đồng)
Thực tế tại xã Hòa Trị, đối với hộ nông dân trồng lúa, diện tích ruộng được giao
cho mỗi hộ không tập trung (nhiều thửa ruộng ở nhiều cánh đồng khác nhau, bình
quân mỗi hộ có từ 3-6 thửa ruộng) và diện tích mỗi thửa ruộng nhỏ; thời gian qua, địa
phương đã thực hiện mô hình liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi sản xuất từ khâu
sản xuất đến khâu tiêu thụ (liên kết với Viện khoa học kỹ thuật duyên hải Nam trung
bộ, công ty giống lúa Thái Bình …) để sản xuất lúa xác nhận, lúa giống, bước đầu đã
mang lại hiệu quả tích cực, nhưng chưa phát triển mạnh (áp dụng khoảng 60% diện
tích lúa toàn xã) do người dân vẫn còn giữ tập quán canh tác cũ, không tuân thủ theo
Trang 14quy trình sản xuất mới nên chưa tham gia triệt để vào mô hình liên kết sản xuất, chưa xây dựng được thương hiệu lúa gạo của địa phương; một số hộ nông dân không còn thiết tha với trồng lúa vì lợi nhuận thấp
Về chăn nuôi, số lượng hộ dân chăn nuôi và số lượng đàn gia cầm, gia xúc ngày càng giảm do giá cả thị trường không ổn định theo hướng bất lợi cho người nông dân, bên cạnh đó dịch bệnh thường xuyên xảy ra nhất là trên đàn gà và đàn lợn; đồng thời trên địa bàn xã không có trang trại chăn nuôi tập trung, chỉ chăn nuôi nhỏ lẻ tại hộ gia đình
Để khuyến khích hộ nông dân trong sản xuất, địa phương đã áp dụng nhiều chính sách như: đối với những hộ nông dân có tham gia mô hình liên kết sản xuất thì được ưu tiên về giá và thu mua 1kg lúa tươi tại ruộng tính bằng 1kg lúa đã phơi khô
(thu nhập người nông dân tăng lên >1.000 đồng/kg), nếu nông dân tham gia mô hình
liên kết sản xuất thì doanh nghiệp sẽ hỗ trợ về giá mua lúa giống và phải tuân thủ quy
trình kỹ thuật mới… xã miễn thu các loại phí về nông nghiệp, thủy lợi; từng bước bê
tông hóa các tuyến đường nội đồng nhằm thuận lợi trong vận chuyển nông sản (19,39
km các tuyến đường nội đồng đã bê tông hóa, chiếm tỷ lệ 95,05%), bê tông hóa các
tuyến kênh mương đảm bảo cho việc tưới, tiêu các cánh đồng (số Km kênh mương đã
kiên cố hóa là 24,482km/30km đạt tỷ lệ:81,6%)… bên cạnh đó, việc quy hoạch từng
cánh đồng sản xuất như: sản xuất lúa giống, lúa xác nhận …đã làm cho việc áp dụng
cơ giới hóa thuận lợi hơn
Xuất phát từ thực tế nêu trên, việc chọn đề tài “ Phân tích các nhân tố ảnh
hưởng đến thu nhập nông hộ tại xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên” là cần
thiết và hữu ích, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân ở xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 15(3) Đề xuất các hàm ý chính sách liên quan đến nâng cao thu nhập cho nông hộ tại xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ tại xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa?
(2) Các nhân tố đó tác động như thế nào đến thu nhập của nông hộ tại xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa?
(3) Những hàm ý chính sách nào có thể giúp nông hộ xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống của mình trong thời gian tới?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các vấn đề liên quan đến thu nhập của nông hộ tại xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung phân tích các nông hộ trồng lúa tại xã Hòa Trị
- Không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa
- Thời gian khảo sát: từ tháng 08 năm 2019 đến tháng 09 năm 2019
1.5 Ý nghĩa của đề tài
- Về khoa học: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thu nhập của nông
hộ, xây dựng mô hình nghiên cứu về các nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ
- Về thực tiễn: Những kết luận của đề tài sẽ là một tài liệu tư vấn, tham mưu
cho chính quyền địa phương định hướng, đề ra các giải pháp nâng cao thu nhập cho
nông hộ nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của địa phương Ngoài ra, kết
quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo và cho giáo viên, sinh viên ngành quản lý kinh tế
1.6 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn gồm năm chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, cũng như ý nghĩa của nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này trình bày cơ sở
lý thuyết về nông hộ, thu nhập, các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ; cũng như tổng quan các công trình nghiên cứu trước liên quan nhằm đúc kết thành khung
Trang 16phân tích phù hợp cho nghiên cứu của luận văn và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này giới thiệu các phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu trong luận văn như quy mô mẫu nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu, các công cụ dùng để phân tích số liệu,
Chương 4: Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu Nội dung chương này tập trung phân tích và thảo luận các kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và các hàm ý chính sách Chương này trình bày các kết luận rút ra từ nghiên cứu, cũng như đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao thu nhập cho nông hộ tại xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa
Trang 17CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cơ sở lý thuyết về nông hộ
2.1.1 Khái niệm nông hộ
Hộ nông dân (nông hộ) là những hộ gia đình chủ yếu hoạt động nông nghiệp, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn nhưng khó phân biệt các hoạt động có liên quan với nông nghiệp và không có liên quan với công nghiệp
Có nhiều định nghĩa khác nhau về nông hộ:
Theo Ellis (1993): Hộ nông dân còn được định nghĩa là các nông hộ thu hoạch, các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng lớn hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao
Theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc trong phân tích điều tra nông thôn 2011 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,….) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp ”
FAO (2007) định nghĩa nông hộ là những hộ có các hoạt động trong nghề trồng trọt, nghề rừng, nghề cá, nghề chăn nuôi và nghề nuôi trồng thủy sản Các sản phẩm nông nghiệp được hình thành thông qua quá trình quản lý và tổ chức sản xuất bởi các thành viên trong gia đình và phần lớn chủ yếu dựa vào lao động nhà, bao gồm cả nam lẫn nữ
Hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng Hộ nông dân là một doanh nghiệp không sử dụng lao động làm thuê, chỉ sử dụng lao động gia đình, theo nhà kinh tế học người Nga Tchayanov (1925)
Nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về nông hộ nhưng khái niệm nông hộ có
những điểm sau đây: Là những hộ gia đình sống ở nông thôn, lấy nông nghiệp làm
ngành nghề sản xuất chính; nguồn thu nhập chủ yếu bằng nghề nông; là đơn vị kinh tế
cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng
Trang 182.1.2 Phân loại nông hộ
Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động gồm có:
- Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không có phản ứng với thị trường: Loại hộ này
có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích, đó là việc sản xuất các sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong gia đình Để có đủ sản phẩm, lao động trong nông hộ phải hoạt động cật lực và đó cũng được coi như một lợi ích, để có thể tự cấp tự túc cho sinh hoạt, sự hoạt động của họ phụ thuộc vào:
+ Khả năng mở rộng diện tích đất đai + Có thị trường vật tư họ mua nhằm lấy lãi + Có thị trường lao động để họ bán sức lao động để có thu nhập
+ Có thị trường sản phẩm để trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình
- Hộ nông dân sản xuất hàng hóa chủ yếu: Loại hộ này có mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với thị trường vốn, ruộng đất, lao động
Theo tính chất lao động của ngành sản xuất hộ gồm có:
- Hộ thuần nông: Là loại hộ chỉ thuần túy sản xuất nông nghiệp
- Hộ chuyên nông: Là hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí, mộc nề, rèn, sản xuất nguyên vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ, dệt may, dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp
- Hộ kiêm nông: Là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công nghiệp, nhưng thu từ nông nghiệp là chính
- Hộ buôn bán: Ở nơi đông dân cư, có quầy hàng và buôn bán ở chợ
Các loại hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện cho phép, vì vậy sản xuất công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng sản xuất và xã hội ở nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại và dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn để chuyển hộ độc canh thuần nông sang đa ngành hoặc chuyên môn hóa Từ đó, làm cho lao động nông nghiệp giảm, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn hoặc làm cho đối tượng phi nông nghiệp tăng lên (Phạm Anh Ngọc, 2008)
2.1.3 Kinh tế nông hộ và đặc điểm của kinh tế nông hộ
Trong quá trình xây dựng Nông thôn mới, khái niệm kinh tế hộ gia đình được hiểu rằng đây là một lực lượng sản xuất quan trọng ở nông thôn Việt Nam Hộ gia đình nông thôn thường sản xuất những nông sản, kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh ngành nghề phụ (Đỗ Văn Quân, 2014)
Trang 19Kinh tế nông hộ là một hình thức kinh tế cơ bản có hiệu quả và tự chủ trong nông nghiệp Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài, dựa trên
sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng và tồn tại phát triển trong mọi chế độ kinh tế xã hội (Phạm Anh Ngọc, 2008)
Theo Tchayanov (1924), kinh tế hộ nông dân là một phương thức sản xuất tồn tại trong mọi chế độ xã hội Mỗi phương thức sản xuất có quy luật phát triển riêng của
nó, và trong mỗi chế độ, nó tìm cách thích ứng với cơ chế kinh tế hiện hành Mục tiêu của hộ nông dân là có thu nhập cao không kể thu nhập ấy có nguồn gốc nào, trồng trọt, chăn nuôi hay ngành nghề đó là kết quả chung của lao động gia đình (trích trong Đào Thế Tuấn, 1995)
Ellis (1988) cho rằng: Kinh tế nông hộ khác với những người làm kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường ở bốn yếu tố: đất đai, lao động, vốn và sự tiêu dùng Hộ là
cơ sở hoạt động của xã hội, giúp cho các tổ chức xác định, đánh giá kinh tế, cùng chung một nguồn vốn, các thành viên cùng sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập, mọi quyết định đều dựa trên những thành viên, kinh
tế nông hộ là một tổ chức kinh tế của nền kinh tế xã hội Các nguồn lực như đất đai, tư liệu sản xuất, lao động, vốn được đóng chung, chung một ngân sách, ngủ chung một mái nhà, ăn chung; mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống đều do chủ
hộ phát ra
Ở Việt Nam, từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI (1988) về
”Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, hộ nông dân đã thực sự trở thành những đơn vị
tự chủ trong sản xuất nông nghiệp Hộ được tự chủ trong sản xuất kinh doanh, được toàn quyền trong điều hành sản xuất, sử dụng lao động, mua sắm vật tư kỹ thuật, hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm do họ làm ra Như vậy, có thể hiểu kinh tế hộ gia đình là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, trong đó các thành viên
có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định (Mai Thị Thanh Xuân, Đặng Thị Thu Hiền, 2013)
Tóm lại, kinh tế nông hộ là một loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh của hộ gia
đình, trong đó các hoạt động chủ yếu là dựa vào lao động gia đình Quá trình phát triển của kinh tế hộ gắn liền với quá trình phát triển của hộ đang hoạt động
Trang 20 Đặc điểm của kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ có các đặc điểm cơ bản sau:
- Hoạt động của kinh tế nông hộ chủ yếu là dựa vào lao động gia đình hay là lao động có sẵn mà không cần phải thuê ngoài Các thành viên tham gia hoạt động kinh tế
hộ có quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế và huyết thống
- Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất không thể thiếu của sản xuất kinh tế
hộ nông dân
- Người nông dân là người chủ thật sự của quá trình sản xuất trực tiếp tác động vào sinh trưởng, phát triển của cây trồng vật nuôi, không qua khâu trung gian, họ làm việc không kể giờ giấc và bám sát vào tư liệu sản xuất của họ
- Kinh tế nông hộ có cấu trúc lao động đa dạng, phức tạp, trong một hộ có nhiều loại lao động, vì vậy chủ hộ vừa có khả năng trực tiếp điều hành, quản lý tất cả các khâu trong sản xuất, vừa có khả năng tham gia trực tiếp quá trình đó
- Do có tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất nên kinh tế
hộ nông dân giảm tối đa chi phí sản xuất, và nó tác động trực tiếp lên lao động trong
hộ nên có tính tự giác để nâng cao hiệu quả và năng suất lao động (Nguyễn Phạm Hùng, 2014)
2.2 Cơ sở lý thuyết về thu nhập của nông hộ
2.2.1 Khái niệm thu nhập nông hộ
Thu nhập là khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân, doanh nghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định từ công việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó Thu nhập có thể gồm các khoản như tiền lương, tiền công, tiền cho thuê tài sản, lợi nhuận kinh doanh
Các nhà khoa học khi nghiên cứu về nông hộ đều quan tâm đến vấn đề thu nhập của nông hộ từ nhiều khía cạnh khác nhau như:
Theo Tchayanov (1925): Thu nhập hộ nông dân không giống thu nhập của các
xí nghiệp tư bản Hộ nông dân là một doanh nghiệp không dùng lao động làm thuê, chỉ
sử dụng lao động gia đình Do không thuê lao động nên hộ nông dân không có khái niệm tiền lương và không thể tính lợi nhuận, địa tô, lợi tức Vì vậy, thu nhập hộ nông dân là phần còn lại sau khi lấy tổng giá trị sản xuất trừ đi tổng chi phí vật chất
Trần Xuân Long (2009) cho rằng thu nhập của một nông hộ là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động gia đình, cho tích lũy và tái sản xuất mở rộng nếu có
Trang 21Định nghĩa của FAO (2007) về thu nhập của nông hộ như sau: Thu nhập được xem là một phần tiền thưởng cho người chủ sở hữu các yếu tố sản xuất cố định như đất đai, vốn, lao
động khi đưa các yếu tố này tham gia vào quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm
Thu nhập của hộ = Tổng giá trị nông sản thu về - tổng chi phí cho các yếu
tố đầu vào – chi phí thuê lao động – chi phí lãi vay – chi phí thuê đất
(Các khoản chi phí này không bao gồm chi phí lao động gia đình tham gia vào quá trình sản xuất)
Phương pháp tự xác định thu nhập trong năm của hộ gia đình (Cục thống kê
tỉnh Phú Thọ, 2011): Thu nhập của hộ = Tổng thu – Tổng chi
Trong đó:
+ Tổng thu: Bao gồm các khoản thu hợp pháp trong năm của tất cả các thành viên trong hộ gia đình, như: thu từ các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ nông, lâm nghiệp, thuỷ sản; từ các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản; thu từ tiền công, tiền lương và các khoản thu nhập khác như: quà tặng, biếu, cho bằng tiền mặt hay hiện vật; các khoản lương hưu, trợ cấp các loại, thu
từ cho thuê nhà, cho thuê máy móc thiết bị, đất đai, tài sản khác, thu từ lãi tiền gửi ngân hàng, trúng xổ số, Không tính các khoản thu trợ cấp xã hội một lần, như: tiền mai táng phí, hỗ trợ thiếu đói,…
+ Tổng chi: Bao gồm các khoản chi phí hợp lý liên quan, tương ứng với phạm
vi nguồn thu trong năm của hộ Không tính các chi phí mà chưa cho thu
+ Trường hợp do thiên tai, bão, lũ, lụt, làm mất mùa và gây thiệt hại nặng nề đối với sản xuất, hộ phải đầu tư lại, cách tính để ghi vào chi phí sản xuất trong 12 tháng qua như sau:
Thiệt hại về những khoản chi phí thường xuyên (giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, trả công lao động thuê ngoài ) được tính toàn bộ vào chi phí sản xuất trong năm
Thiệt hại về những khoản chi phí đầu tư xây dựng cơ bản (chi phí một lần phân bổ cho nhiều năm), ví dụ như chi phí trồng vườn chè, xây ao cá, … được tính vào chi phí sản xuất trong năm bằng cách lấy toàn bộ chi phí thiệt hại về đầu tư xây dựng kiến thiết cơ bản vườn chè, ao cá, … chia cho số năm sử dụng vườn chè, ao cá, … đó, số tiền thiệt hại tính bình quân cho 1 năm được ghi vào phần chi phí sản xuất trong năm
Tóm lại: Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng định nghĩa theo cục thống kê tỉnh
Phú Thọ: Thu nhập của nông hộ là toàn bộ thu nhập bằng tiền và giá trị hiện vật sau
Trang 22khi trừ chi phí sản xuất mà hộ và thành viên của hộ nhận được trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm
Thu nhập bình quân đầu người/hộ = (1)
2.2.2 Phân loại thu nhập nông hộ
Thu nhập nông hộ được chia thành 3 loại như sau:
Thu nhập nông nghiệp: Bao gồm thu nhập từ các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp như: trồng trọt (lúa, màu, rau, quả, ); từ chăn nuôi (gia súc, gia cầm, ) và nuôi trồng thuỷ hải sản (tôm, cua, cá, )
Thu nhập phi nông nghiệp: Là thu nhập được tạo ra từ các hoạt động ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, bao gồm các ngành nghề chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, gia công cơ khí, Ngoài ra thu nhập phi nông nghiệp còn được tạo
ra từ các hoạt động thương mại dịch vụ như buôn bán, thu gom,
Thu nhập khác: Đó là các nguồn thu từ các hoạt động làm thêm, làm thuê; làm công ăn lương; từ các nguồn trợ cấp xã hội và sản xuất hoặc các nguồn thu nhập bất thường khác
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ
2.3.1 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng trong việc tạo ra thu nhập cho hộ gia đình bởi vì con người là trung tâm, là nguồn tài nguyên vô tận để tạo ra của cải vật chất Trong đó, trình độ học vấn là một khía cạnh rất quan trọng để đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực Một nguồn nhân lực được xem là có chất lượng cao khi trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, kỹ năng lao động Trình độ học vấn cao sẽ giúp
họ dễ dàng tiếp thu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác để tăng thu nhập
Độ tuổi của người lao động cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng lao động cũng như hình thức lao động Đặc biệt lao động ở nông thôn thì cần nguồn lao động trẻ, có sức khỏe tốt bởi vì hầu hết những công việc ở nông thôn thường là những việc làm nặng nhọc
Một số yếu tố khác cũng có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ như số nhân khẩu, tỷ lệ phụ thuộc, giới tính của chủ hộ, đặc điểm dân tộc tỷ lệ phụ thuộc là số người ăn theo trên một lao động trong hộ Tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì phúc lợi mà mỗi người trong hộ nhận được càng thấp, do một người lao động phải nuôi sống nhiều
Trang 23người hơn Đặc biệt là những hộ có nhiều trẻ em sẽ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn những hộ có ít trẻ em
2.3.2 Nguồn lực tài chính
Nguồn lực tài chính như một đòn bẩy góp phần phát huy các nguồn lực khác Nguồn lực tài chính của hộ bao gồm tiền tiết kiệm, tiền vay từ người thân và các tổ chức tín dụng…
Việc thiếu vốn để sản xuất kinh doanh dẫn đến khó có khả năng tiếp cận và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Mặt khác những hộ không có vốn
để sản xuất, không được vay ngân hàng (vì không có tài sản thế chấp), làm không đủ
ăn, thường xuyên phải đi làm thuê hoặc vay tư nhân để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tiếp cận tín dụng là điều kiện quan trọng để người
có thu nhập thấp có điều kiện đầu tư cho sản xuất nâng cao thu nhập cho nông hộ
2.3.3 Nguồn lực vật chất
Nguồn lực vật chất bao gồm đất đai, máy móc thiết bị phục vụ cho việc sản xuất Nguồn lực về tài chính có thể hình thành nên nguồn lực vật chất Tuy nhiên nếu nguồn lực vật chất sẵn có sẽ góp phần khuếch đại những nguồn lực khác
Đất sản xuất là một trong những nguồn lực vật chất quý giá giúp cho người dân phát triển kinh tế, bởi vì nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc thù, nơi đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, là môi trường cho cây trồng sinh trưởng và phát triển Đất sản xuất bao gồm đất trồng lúa, đất chuyên màu, đất trồng cây ăn trái, đất nuôi trồng thủy sản… Khi người nông dân canh tác trên một mảnh đất màu mỡ, phì nhiêu thì suất đầu
tư sẽ thấp hơn nhưng lại thu về được sản lượng cao hơn so với canh tác trên mảnh đất cằn cỗi, bạc màu, nhiễm mặn Những hộ sở hữu nhiều đất đai có thể đa dạng hóa cây trồng, nhờ đó cải thiện mức sống tốt hơn những hộ khác
Đối với các hộ sống ở nông thôn, gia súc (trâu, bò, lợn, ) là một phần quan trọng của tư liệu sản xuất vì nó cung cấp sức cày bừa, kéo và phân bón phục vụ sản xuất Ngoài ra, lợn nái, bò nái cung cấp con giống cho chăn nuôi của hộ gia đình
Cơ sở hạ tầng (điện, trường học, cơ sở y tế…), mặt khác khoảng cách từ hộ dân đến khu vực trung tâm xã cũng là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng tới năng suất nông nghiệp, gắn liền với sự phát triển các ngành phi nông nghiệp Những người dân sống gần khu trung tâm xã cũng có mức sống cao hơn và có khả năng tận dụng những ưu thế của thị trường hơn những hộ ở xa
Trang 242.3.4 Nguồn lực xã hội và nguồn lực tự nhiên
Nguồn lực xã hội được thể hiện ở khả năng hỗ trợ của các tổ chức Chính trị -
Xã hội như hội phụ nữ, hội nông dân, Đoàn thanh niên, trong việc phát triển kinh tế
hộ gia đình, tạo công ăn việc làm, góp phần tạo thêm nguồn thu nhập cho hộ gia đình Các tổ chức này có thể tự giám sát, kiểm tra, động viên lẫn nhau cùng làm kinh tế gia đình Và chính quyền địa phương có thể tuyên truyền các kế hoạch phát triển kinh tế
hộ thông qua các hội đoàn thể này
Nguồn lực tự nhiên như nước, thời tiết, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của con người, cây trồng, vật nuôi Nước giúp cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, ngoài ra, còn có thời tiết, khí hậu, nhiệt độ cũng là yếu tố quyết định đến sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng, vật nuôi
Tóm lại: Qua việc tổng quan lý thuyết nền và một số khái niệm liên quan đến
thu nhập nông hộ, tác giả nhận thấy những yếu tố sau đây sẽ là cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài này là: Trình độ học vấn của chủ hộ; độ tuổi lao động; số nhân khẩu, số người phụ thuộc trong hộ, giới tính của chủ hộ; tiếp cận nguồn vốn tín dụng; diện tích đất canh tác và các chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương
2.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian qua, có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về thu nhập nông hộ tại Việt Nam Trong giới hạn của tác giả, do không thể liệt kê tất cả các nghiên cứu liên quan đến đề tài này, nên sau đây tác giả chỉ trình bày tóm tắt một số nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả trong nước làm nền tảng cho việc xây dựng khung phân tích cho nghiên cứu này
Trần Xuân Long (2009) đã sử dụng dữ liệu chéo năm 2006 được thu thập bằng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA) và phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên tại 5 xã với tổng số 135 hộ ở huyện Tri Tôn để ước lượng một số nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở đồng bằng và miền núi tại huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang Tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy để ước lượng mô hình hồi quy đa biến với biến phụ thuộc là thu nhập của nông hộ trong một năm và 8 biến độc lập gồm tuổi của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, số lao động trong hộ, diện tích đất ruộng của hộ, giá lúa, tham dự khuyến nông, số nguồn thu nhập từ nông nghiệp và số nguồn thu nhập từ phi nông nghiệp Nghiên cứu đã phân tích thu nhập theo khu vực địa lý Kết quả cho thấy, các nhân tố ảnh hưởng đến thu
Trang 25nhập nông hộ ở khu vực đồng bằng là trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích đất ruộng của hộ, giá lúa, số nguồn thu nhập từ nông nghiệp Đối với khu vực đồi núi các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ là số lao động hộ, diện tích đất ruộng của hộ, số nguồn thu nhập từ nông nghiệp
Nguyễn Quốc Nghi, Trần Quế Anh và Bùi Văn Trịnh (2011) đã ước lượng mô hình hồi quy đa biến để xác định nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long bằng bộ dữ liệu thu được năm 2011
từ 5 xã với 182 hộ gia đình theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng Tác giả
sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính với biến phụ thuộc là thu nhập bình quân/người/tháng và 5 biến độc lập là số nhân khẩu trong hộ, kinh nghiệm làm việc của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, số hoạt động tạo thu nhập và độ tuổi của lao động Kết quả nghiên cứu cho thấy, thu nhập của nông hộ chịu sự tác động của những yếu tố là số nhân khẩu trong hộ, kinh nghiệm làm việc của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, số hoạt động tạo thu nhập và độ tuổi của lao động
Nguyễn Quốc Nghi, Bùi Văn Trịnh (2011) đã sử dụng số liệu từ cuộc điều tra
150 hộ Khmer ở tỉnh Trà Vinh và 90 hộ Chăm ở An Giang bằng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp với ngẫu nhiên năm 2010 để ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tộc thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long Nghiên cứu sử dụng hai mô hình hồi quy tuyến tính để so sánh, kiểm chứng mức độ tác động của trình độ học vấn đến thu nhập của hộ dân tộc thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long
Mô hình 1 với biến phụ thuộc là thu nhập bình quân/người/tháng và 7 biến phụ thuộc
là trình độ học vấn của chủ hộ, số nhân khẩu trong hộ, số hoạt động tạo thu nhập, độ tuổi lao động, tiếp cận chính sách hỗ trợ, tham gia hội đoàn thể và tình trạng vay vốn của hộ Mô hình 2 với biến phụ thuộc là thu nhập bình quân/người/tháng và 7 biến phụ thuộc là biến trình độ học vấn trung bình của lao động trong hộ, số nhân khẩu trong
hộ, số hoạt động tạo thu nhập, độ tuổi lao động, tiếp cận chính sách hỗ trợ, tham gia hội đoàn thể và tình trạng vay vốn của hộ sử dụng biến trình độ học vấn trung bình của lao động trong hộ Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập người dân tộc thiểu số là trình độ học vấn của chủ hộ, trình độ học vấn của lao động trong hộ, số hoạt động tạo thu nhập, tiếp cận chính sách hỗ trợ, số nhân khẩu của hộ và
độ tuổi của lao động trong hộ So sánh kết quả phân tích giữa hai mô hình cho thấy trình độ học vấn trung bình của lao động trong hộ có tác động đến thu nhập bình quân/người/tháng mạnh hơn trình độ học vấn của chủ hộ
Trang 26Nguyễn Lan Duyên (2014) đã sử dụng bộ dữ liệu được thu thập theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng tại 598 hộ ở An Giang để ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở An Giang Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê
để miêu tả thực trạng của các nông hộ và phương pháp bình phương bé nhất (OLS) để ước lượng mô hình hồi quy đa biến nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ Các biến độc lập tác giả đưa vào nghiên cứu gồm: trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích đất nông nghiệp, thời gian cư trú ở địa phương, số lao động của hộ, vị trí xã hội của hộ, khả năng vay, khoảng cách từ nơi ở của hộ đến đô thị, số tiền vay tín dụng chính thức và lãi suất vay Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố như trình độ học vấn, diện tích đất, thời gian sống tại địa phương, khoảng cách từ nơi ở đến đô thị, lượng vốn vay, lãi suất và số lao động có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở An Giang
Nguyễn Văn Phúc và Huỳnh Thanh Phương (2011) đã sử dụng dữ liệu từ 250
hộ gia đình tại 2 xã thuộc huyện Đức Hòa, Long An để ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập phi nông nghiệp của hộ gia đình ở huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính với 13 biến phụ thuộc là thu nhập phi nông nghiệp của hộ gia đình và các biến độc lập là tuổi chủ hộ, giới tính chủ hộ, trình
độ học vấn của chủ hộ, kinh nghiệm nghề nghiệp, số năm học nghề, quy mô hộ, tuổi trung bình, số năm đi học, số người làm việc, tài sản của hộ, thông tin việc làm, tình trạng giao thông, tín dụng Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập phi nông nghiệp của hộ gia đình là số người làm việc trong hộ, số năm đi học của chủ hộ, số năm học nghề của chủ hộ, học vấn trung bình của hộ, tín dụng, quy mô hộ gia đình, khoảng cách từ nhà đến đường giao thông chính
Nguyễn Tiến Dũng, Phan Thuận (2014) đã sử dụng dữ liệu từ 307 hộ nông dân tại 3 huyện của thành phố Cần Thơ theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm
để ước lượng mô hình hồi quy đa biến với biến phụ thuộc là thu nhập bình quân và 5 biến phụ thuộc là giới tính, chỉ tiêu sản xuất, giá lúa, diện tích đất canh tác và sản lượng lúa nhằm tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân trồng lúa ở Cần Thơ Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả thực trạng thu nhập của người trồng lúa ở Cần Thơ và phương pháp phân tích hồi quy để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người trồng lúa Kết quả cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người trồng lúa là giới tính, chỉ tiêu sản xuất, giá lúa, diện tích đất canh tác và sản lượng lúa
Nguyễn Khánh Lương và cộng sự (2014) đã sử dụng dữ liệu từ 200 hộ tại 5 xã trong huyện Phú Lương theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, dữ liệu được điều tra lặp lại 2 lần vào hai năm 2007 và 2011 để ước lượng mô hình Cobb Douglas phi tuyến
Trang 27tính với biến phụ thuộc là thu nhập bình quân của hộ và 6 biến độc lập là trình độ học vấn của chủ hộ, chi phí trồng trọt, chi phí chăn nuôi, diện tích đất sản xuất của hộ, lao động của hộ và biến giả về dân tộc nhằm đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ nông dân tại huyện Phú Lương Kết quả phân tích cho thấy, thu nhập của hộ nông dân đều phụ thuộc vào các nhân tố như trình độ học vấn của chủ hộ, hoạt động chăn nuôi, trồng trọt, diện tích canh tác và lao động Tuy nhiên, mức độ tác động của các nhân tố độc lập vào thu nhập hộ nông dân có sự thay đổi qua 2 năm 2007 và 2011 theo chiều hướng giảm; nhân tố trình độ học vấn ảnh hưởng mạnh tới thu nhập của hộ
Tóm lại: Qua việc tổng quan một số nghiên cứu trước ở trong nước có liên
quan đến thu nhập nông hộ, tác giả nhận thấy rằng phần lớn các nghiên cứu trước đều
sử dụng một phương trình đơn, mô hình hồi quy đa biến để ước lượng
Bảng 2.1 Các yếu tố tác động đến thu nhập qua các kết quả nghiên cứu
1 Trình độ học vấn
Trần Xuân Long (2009); Nguyễn Quốc Nghi, Trần Quế Anh và Bùi Văn Trịnh (2011); Nguyễn Lan Duyên (2014); Nguyễn Văn Phúc và Huỳnh Thanh Phương (2011); Nguyễn Khánh Doanh và cộng sự (2014)
5 Số lao động hộ
Trần Xuân Long (2009); Nguyễn Lan Duyên (2014); Nguyễn Văn Phúc, Huỳnh Thanh Phương (2011); Nguyễn Khánh Doanh và cộng sự (2014)
Văn Trịnh (2011)
Dũng, Phan Thuận (2014); Nguyễn Khánh Doanh và cộng sự (2014)
11 Tiếp cận chính sách hỗ trợ Nguyễn Quốc Nghi, Bùi Văn Trịnh (2011)
15 Thời gian sống ở địa phương Nguyễn Lan Duyên (2014)
đô thị
Nguyễn Lan Duyên (2014); Nguyễn Văn Phúc, Huỳnh Thanh Phương (2011)
17 Số lần tham dự khuyến nông Trần Xuân Long (2009)
Trang 282.5 Các giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết nền về thu nhập của nông hộ và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập cũng như việc tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan ở trên, có thể xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ như sau:
2.5.1 Trình độ học vấn có ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ
Trình độ học vấn của các thành viên trong hộ nói chung và của chủ hộ nói riêng
có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ Trình độ học vấn cao sẽ dễ dàng tiếp thu, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất và sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác để tăng thu nhập
Theo Phạm Lê Thông (2012) đã chỉ ra rằng học vấn là yếu tố quan trọng quyết định thu nhập của người lao động; trình độ học vấn của người lao động càng cao thì thu nhập của họ cũng tăng theo Lê Văn Toàn (2006) cho rằng thu nhập của hộ gia đình có xu hướng tăng theo trình độ học vấn của chủ hộ và “ nếu một lao động nông thôn qua trường học, đào tạo từ 5-7 năm thì năng suất lao động của họ tăng lên 10-20% ” Nghiên cứu đã tìm ra xu hướng tác động của học vấn làm tăng giàu và giảm nghèo khi trình độ học vấn của chủ hộ tăng dần Tương tự, Nguyễn Thị Lệ Thúy, Bùi Thị Hồng Việt, Mai Ngọc Anh (2013) cũng cho rằng trình độ học vấn ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ; trình độ của chủ hộ càng thấp thì thu nhập cũng có xu hướng giảm Đa số các nông hộ rời vào tình trạng tách biệt xã hội về kinh tế, chủ hộ có trình
độ học vấn vẫn dưới mức trung học phổ thông Nghiên cứu của Trần Xuân Long (2009), Nguyễn Quốc Nghi (2011) đều cho rằng trình độ học vấn của chủ hộ đều tác động cùng chiều đến thu nhập của nông hộ Chủ hộ có trình độ học vấn cao họ sẽ có nhiều thuận lợi trong tiếp thu và áp dụng những kỹ thuật mới vào sản xuất hiệu quả hơn, giúp tăng cao hiệu quả kinh tế và nâng cao khả năng tu duy sáng tạo của người lao động Như vậy, các nghiên cứu thực nghiệm đã khẳng định số năm đi học của chủ
hộ và thu nhập của nông hộ có quan hệ đồng biến; học vấn của chủ hộ càng cao thì thu nhập của hộ càng cao
Do đó, giả thuyết H1: Trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì thu nhập của
nông hộ càng cao
2.5.2 Quy mô hộ và số người sống phụ thuộc có ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ
Số người sống phụ thuộc là số người chưa trưởng thành và những người đã trưởng thành, người hết tuổi lao động và không có hoạt động tạo thu nhập Khi số thành viên trong hộ không có việc làm tăng lên thì gánh nặng chi tiêu càng lớn, càng làm giảm khả năng tích lũy của gia đình Sự đông con đã làm cho quy mô hộ gia đình
Trang 29lớn Qui mô hộ gia đình càng lớn, số người sống trong hộ nhiều mức chi tiêu cho sinh hoạt và các hoạt động khác càng tăng trong khi các hoạt động tạo thu nhập không theo kịp Điều này làm cho các hộ gia đình phải đi vay mượn để phục vụ cho những nhu cầu tối thiểu của mình và lẽ tất yếu hộ rơi vào cảnh nghèo là khó tránh khỏi (Phạm Hồng Mạnh, 2011)
Theo Nghiên cứu của Nguyễn Văn Phúc, Huỳnh Thanh Phương (2011) chỉ ra rằng quy mô hộ gia đình có ảnh hưởng trái chiều với thu nhập phi nông nghiệp Lê Văn Toàn (2006) cho rằng gia đình đông con sẽ dẫn đến nghèo đói và số con trong các
hộ nghèo thường cao hơn các hộ giàu Nhóm có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất đều thuộc về những hộ gia đình có đông người Trần Thị Lệ Mỹ, Nguyễn Thị Hoàng Yến, Nguyễn Thị Minh Khánh (2012) cho rằng mối quan hệ giữa quy mô hộ và thu nhập hộ gia đình, có sự biến động về thu nhập của hộ khi số thành viên trong hộ giảm xuống Tỷ lệ phụ phuộc có xu hướng giảm dần mà thu nhập bình quân đầu người lại có xu hướng tăng lên rõ rệt Điều này cho thấy rằng khi tỷ lệ phụ phuộc giảm thi thu nhập của hộ gia đình tăng Như vậy, các nghiên cứu thực nghiệm đã khẳng định quy mô hộ và số người sống phụ thuộc trong hộ và thu nhập của nông hộ có quan hệ nghịch biến; quy mô hộ và số người sống phụ thuộc trong hộ càng thấp thì thu nhập của hộ càng cao
Do đó, các giả thuyết sau được đề xuất để kiểm định:
(H2) Quy mô hộ gia đình càng lớn thì thu nhập của nông hộ càng thấp
(H3) Số người sống phụ thuộc trong gia đình càng ít thì thu nhập của nông hộ
càng cao
2.5.3 Diện tích đất sản xuất có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ
Trong nông nghiệp, đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và khó thay thế Do phần lớn thu nhập của nông hộ phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, mà sản xuất nông nghiệp ở nước ta chủ yếu là thủ công và dựa vào đất nên quy mô đất đai sẽ quyết định thu nhập Việc không có hoặc có ít đất sản xuất làm hạn chế khả năng cải thiện thu nhập, bởi diện tích nhỏ hẹp thì sẽ khó áp dụng kỹ thuật canh tác hiện đại, do đó sản phẩm có chất lượng thấp, không đồng đều nên giá trị thấp nhưng giá thành lại cao Quá trình đô thị hóa ở các tỉnh thành phát triển đã dẫn tới quá trình chuyển đổi với quy mô lớn đất nông nghiệp thành đất phi nông nghiệp Quá trình này dẫn tới việc thu hẹp nhanh chóng đất sản xuất nông nghiệp và gây ra những tác động tiêu cực tới việc làm và thu nhập nông nghiệp của hộ gia đình vùng nông thôn Việt Nam
Trang 30Theo Lê Thị Nghệ, Lương Như Oanh, Phạm Quốc Trị (2006) cho rằng thu nhập của người dân thấp có nguyên nhân trực tiếp là do quy mô đất trung bình của các nông
hộ quá nhỏ Sự biến đổi các hệ thống ruộng đất trong các vùng khác nhau ở đồng bằng sông Hồng cùng với sự phát triển đô thị hóa, công nghiệp và giao thông đã làm mất đáng kể diện tích đất canh tác lúa nơi đây Điều đó dẫn đến việc giảm bình quân diện tích đất nông nghiệp/ đầu người và ảnh hưởng tới tính ổn định trong sản xuất nông nghiệp ở một số vùng
Theo MDPA (2004) một nông dân không còn sở hữu ruộng đất, họ dễ rơi vào cảnh nghèo khó Hầu hết các nông hộ nghèo bán đất hay cầm cố đất do gặp rủi ro trắc trở trong thu hoạch trong kinh doanh và trong cuộc sống hàng ngày Những rủi ro thất bát này dẫn đến thu nhập của gia đình kém đi, chi phí cuộc sống tăng lên; vì vậy họ dễ bị lâm nợ, buộc họ phải dùng đất đai như cứu cánh cuối cùng để thanh toán nợ nần và tiếp tục sống Như vậy, các nghiên cứu trên cho thấy diện tích đất sản xuất và thu nhập của nông hộ có quan hệ đồng biến; diện tích đất càng nhiều thì thu nhập của hộ càng cao
Do đó, giả thuyết H4: Diện tích đất sản xuất của hộ càng lớn thì thu nhập của
nông hộ càng cao
2.5.4 Tiếp cận vốn tín dụng có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ
Vốn là yếu tố đầu vào không thể thiếu bởi nông hộ cần vốn để mua vật tư, máy móc, thuê lao động, nhằm đảm bảo tính thời vụ và giảm thiểu rủi ro, qua đó làm tăng thu nhập ( Nguyễn Lan Duyên, 2014)
Tín dụng nông thôn rất cần thiết cho phát triển nông nghiệp Tín dụng làm giảm bớt những hạn chế vốn vào các hộ gia đình nông nghiệp ở khu vực nông thôn mà còn
là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập và chuyển đổi sản xuất, áp dụng công nghệ kĩ thuật mới trong nông nghiệp Bên cạnh đó trong thực tế chính sách tín dụng nông thôn ở Việt Nam vẫn còn một số bất cập như giới hạn mức cho vay phụ thuộc vào bản thân cá nhân vay tiền, khối lượng tài sản đảm bảo dùng để thế chấp, Thủ tục gắt gao, thẩm định, xét duyệt kỹ càng chính là yếu tố khiến cho những nông dân cần vốn rất khó tiếp cận với nguồn vốn vay ngân hàng dù mức lãi suất thấp hơn nhiều so với một số hình thức cho vay không chính thống (tín dụng phi chính thức), buộc họ phải vay tư nhân với lãi suất cao để phục vụ cho quá trình sản xuất và họ dễ rơi vào tình cảnh mắc nợ vì tới hạn không trả thì sẽ không được vay tiếp hoặc lãi suất tăng lên, làm bao nhiêu cũng không đủ trả nợ
Huỳnh Thị Đan Xuân, Mai Văn Nam (2011) khi nghiên cứu các yếu tổ ảnh hưởng dến thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm ở đồng bằng sông Cửu Long thấy
Trang 31rằng: Biến vay vốn có mối quan hệ cùng chiều với tổng thu nhập của hộ trong điều kiện các yếu tố khác không đổi khi hộ chăn nuôi có sử dụng vốn vay thì sẽ làm tăng tổng thu nhập của hộ Đa phần hộ chăn nuôi đều thiếu vốn để đầu tư vào sản xuất và khi thiếu vốn họ có thể đi vay từ các nguồn khác nhau như bạn bè, người thân, các ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân, Tuy nhiên, vẫn còn một số nông dân vẫn có quan niệm chỉ sử dụng vốn tự có mặc dầu là hạn hẹp nhưng vẫn e dè khi vay vốn, vì không muốn phải “mắc nợ” do đó việc đầu tư không hiệu quả Những hộ mạnh dạn vay vốn đầu tư thì hiệu quả hơn Theo Nguyễn Văn Phúc, Huỳnh Thanh Phương (2011) cho rằng tín dụng ảnh hưởng cùng chiều với thu nhập phi nông nghiệp Khi hộ có vay vốn ngân hàng thì thu nhập của hộ tăng lên so với hộ không vay vốn Như vậy, các nghiên cứu trên cho thấy tiếp cận vốn tín dụng chính thức và thu nhập của nông hộ có quan hệ đồng biến; hộ có tiếp cận vốn tín dụng chính thức thì có thu nhập cao hơn hộ không tiếp cận vốn tín dụng chính thức
Do đó, giả thuyết H5: Hộ có tiếp cận vốn tín dụng chính thức thì có thu nhập
cao hơn hộ không tiếp cận vốn tín dụng chính thức
2.5.5 Số hoạt động tạo thu nhập có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ
Đa dạng hóa nguồn thu nhập là điều rất quan trọng đối với nông dân, họ làm nhiều công việc khác nhau như làm thuê, buôn bán, ngoài nông nghiệp nằm trang trải chi phí trong gia đình Trong nghiên cứu của Lê Khương Ninh (2014) về thực trạng nông hộ ở đồng bằng sông Cửu Long sau 7 năm thực hiện chính sách tam nông thấy rằng các nông hộ với duy nhất một nguồn thu nhập có thu nhập bình quân là 54,5 triệu đồng/năm; số nông hộ với hai nguồn thu nhập có thu nhập bình quân là 59,8 triệu đồng; các nông hộ với ba nguồn thu nhập có thu nhập bình quân là 72 triệu đồng, các nông hộ có 4,5,6,7 nguồn thu nhập tăng dần từ 83,1; 92,4; 115,3 lên 132,4 triệu đồng Như vậy, nông hộ càng đa dạng hóa nguồn thu nhập thì thu nhập có xu hướng tăng Theo Nguyễn Quốc Nghi, Bùi Văn Trịnh (2011) cho rằng số hoạt động tạo thu nhập tương quan thuận với thu nhập, tức là hộ có nhiều hoạt động tạo thu nhập thì thu nhập của người dân sẽ tốt hơn Như vậy, các nghiên cứu trên cho thấy số hoạt động tạo thu nhập và thu nhập của nông hộ có quan hệ đồng biến, hộ có nhiều hoạt động tạo thu nhập thì thu nhập của nông hộ càng cao
Do đó, giả thuyết H6: Số hoạt động tạo thu nhập của hộ càng cao thì thu nhập
của nông hộ càng cao
2.5.6 Áp dụng kỹ thuật canh tác mới và sử dụng giống mới vào sản xuất
Hiện nay, việc chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa
(canh tác tuân thủ theo quy trình kỹ thuật nghiêm ngặc) đã và đang góp phần gia tăng
Trang 32hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích đất sản xuất (như áp dụng cơ giới hóa, kỹ thuật
gieo xạ mới đã góp phần: giảm chi phí đầu vào, giảm chi phí thu hoạch, tăng năng xuất), hướng tới phát triển bền vững trên cây lúa và thúc đẩy quá trình tái cơ cấu
ngành nông nghiệp của tỉnh và của huyện Phú Hòa Bên cạnh đó, áp dụng giống lúa mới vào sản xuất cũng góp phần quan trọng, theo đánh giá của ngành chuyên môn, các giống lúa mới đang thử nghiệm và một số giống đã đưa vào sản xuất phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương, có sinh trưởng phát triển tốt, ít sâu bệnh hại, năng suất cao từ 80 tạ/ha, phù hợp với điều kiện thâm canh của nông dân, cơ cấu giống chủ yếu là: ANS1, PY1, PY2, ĐV108, BĐR1, BĐR27, MT18, HP3,TH6
Trong nghiên cứu thực hiện mô hình 3 giảm, 3 tăng ở Việt Nam đăng trên Tạp Chí Khoa Học, Đại học Huế, tập 75, số 6, (2012) của Nguyễn Hồ Lam và Hoàng Thị
Nguyên Hải, chương trình “3G3T” (giảm lượng giống gieo sạ, phân bón, thuốc trừ
sâu; tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả), So với mô hình sản xuất lúa truyền thống,
thì năng suất ở mô hình 3G3T tăng lên đáng kể, từ 0,3 đến 1,5 tấn/ha Năng suất ở Bình Định, Cần Thơ, Vĩnh Phúc, Quảng Bình, Tiền Giang đã tăng lần lượt từ 6,3 lên 6,6 tấn/ha Lợi nhuận của mô hình sản xuất lúa áp dụng mô hình 3G3T so với mô hình sản xuất truyền thống trên nhiều địa phương khác nhau trong cả nước, tăng lên bình quân từ 1-3 triệu đồng/ha
Như vậy, thực tế tại địa phương cho thấy việc hộ nông dân có áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong khâu sản xuất (từ khâu gieo xạ đến khi thu hoạch) và việc ứng dụng những giống lúa mới vào thay thế những giống lúa cũ đã mang lại hiệu quả kinh
tế nhất định và theo chiều hướng tích cực
Do đó, giả thuyết H7: Hộ có áp dụng kỹ thuật canh tác mới thì thu nhập cao hơn hộ không áp dụng
Giả thuyết H8: Hộ có sử dụng giống mới vào sản xuất thì thu nhập cao hơn hộ
không áp dụng
2.5.7 Kinh nghiệm làm việc của chủ hộ có ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ
Kinh nghiệm là yếu tố quyết định đến việc sản xuất nông nghiệp, các chủ hộ có nhiều kinh nghiệm sẽ biết đưa ra các quyết định liên quan tới tiết kiệm chi phí sản xuất, chăm sóc bảo quản nông sản, dự đoán và ứng phó với những rủi ro trong quá trình sản xuất tốt hơn
Theo Nguyễn Quốc Nghi, Trần Quế Anh, Bùi Văn Trịnh (2011) cho rằng số năm kinh nghiệm làm việc của chủ hộ càng nhiều thì thu nhập bình quân của hộ sẽ càng tăng Kinh nghiệm sản xuất là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất lao
Trang 33động, từ đó nâng cao thu nhập bình quân của hộ gia đình ở khu vực nông thôn Như
vậy, nghiên cứu trên cho thấy kinh nghiệm làm việc của chủ hộ và thu nhập của nông
hộ có quan hệ đồng biến, số năm kinh nghiệm làm việc của chủ hộ càng nhiều thì thu
nhập của nông hộ càng cao
Do đó, giả thuyết H9: Kinh nghiệm làm việc của chủ hộ càng nhiều thì thu
nhập của nông hộ càng cao
2.5.8 Tham gia tập huấn thì có ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ
Theo nghiên cứu thực tiễn của tác giả Lê Nguyễn Đoan Khôi và Nguyễn Ngọc Vàng (2012) cho thấy: nếu nông hộ tham gia các chương trình tập huấn khuyến nông, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức trồng mới, áp dụng quy trình sản xuất mới, thì sẽ mang lại năng suất cao, tăng thu nhập cho nông hộ Do vậy, giả thuyết sau được đề xuất:
Giả thuyết H10: Hộ có tham gia tập huấn thì thu nhập cao hơn hộ không tập huấn
2.5.9 Tham gia vào chuỗi liên kết sản xuất lúa và hộ có sản xuất lúa xác nhận, lúa giống có ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ
Thực tế tại địa phương, đối với những hộ nông dân có tham gia mô hình liên kết sản xuất, tham gia sản xuất lúa giống, lúa xác nhận thì được doanh nhiệp ưu tiên hỗ trợ
30% giá lúa giống (hỗ trợ khoảng 10.000 đồng/kg lúa giống), hỗ trợ tư vấn về kỹ thuật mới về chăm sóc lúa như chương trình “3G3T” (giảm lượng giống gieo sạ, phân bón,
thuốc trừ sâu; tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả) đã chứng minh được tính ưu việt
tại địa phương, tạo ra nông sản chất lượng cao, an toàn cho người dùng, đến vụ thu hoạch thì doanh nghiệp cam kết thu mua 1kg lúa tươi tại ruộng tính bằng 1kg lúa đã
phơi khô (thu nhập người nông dân tăng lên >1.000 đồng/kg lúa), và các doanh
nghiệp cam kết thu mua lúa của nông dân có tham gia mô hình liên kết luôn nhỉnh hơn
giá trị trường từ >200 đồng/kg nên nông dân có lợi nhuận cao hơn Do vậy, tác giả đề xuất giả thuyết sau để đưa vào mô hình:
Giả thuyết H11: Hộ có tham gia vào chuỗi liên kết sản xuất có thu nhập cao
hơn hộ không tham gia
Giả thuyết H12: Hộ có sản xuất lúa xác nhận, lúa giống thì thu nhập cao hơn
hộ không sản xuất
2.5.10 Nghề nghiệp của chủ hộ có ảnh hưởng đến thu nhập
Theo Ths Đỗ Văn Quân (Viện Xã hội học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh), khảo sát năm 2012 ở các tỉnh Phía Bắc cho thấy, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ đang trở thành một nghề chính của nhiều chủ hộ gia
Trang 34đình Qua khảo sát cho thấy, độ tuổi của chủ hộ càng cao thì cơ cấu kinh tế hộ theo hướng nông nghiệp càng cao Ở các nhóm tuổi trẻ hơn, người lao động có xu hướng chuyển dịch sang các nghề phi nông nghiệp ngày càng mạnh mẽ hơn Chẳng hạn, ở nhóm tuổi 20-29, tỷ trọng lao động làm nông nghiệp đã xuống dưới 10%
Khó khăn và thách thức lớn đối với kinh tế hộ trong tiến trình hội nhập là chênh
lệch lớn về năng suất lao động giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp (theo bài
viết, Bức tranh kinh tế hộ nông dân hiện nay và một số vấn đề đặt ra, Tạp chí Cộng sản online) Khảo sát cho thấy, xét theo ngành nghề, thì mức thu nhập bình quân của
các hộ nông nghiệp là thấp nhất (1,073 triệu đồng); của các hộ làm tiểu thủ công nghiệp có mức cao nhất (2,097 triệu đồng) Thu nhập thấp là một yếu tố buộc nhiều hộ gia đình phải dịch chuyển sang các nghề phi nông nghiệp Do vậy, tác giả đề xuất giả thuyết sau để đưa vào mô hình:
Giả thuyết H13: Chủ hộ làm nghề phi nông nghiệp thì hộ có thu nhập cao hơn
2.6 Mô hình nghiên cứu
2.6.1 Khung phân tích
Kế thừa từ các kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập nông
hộ của các tác giả nghiên cứu trước và từ cơ sở lý thuyết, khung phân tích bao gồm 12 nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ tại xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa
Hình 2.1 Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan
Số hoạt động tạo thu nhập
Kỹ thuật canh tác mới
Sử dụng giống mới
Kinh nghiệm làm việc của chủ hộ
Tham gia tập huấn
Tham gia vào chuỗi liên kết sản xuất
Sản xuất lúa xác nhận, lúa giống
Nghề nghiệp của chủ hộ
THU NHẬP NÔNG
HỘ
Trang 352.6.2 Mô hình lượng hóa
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ được thể hiện qua hàm hồi quy tuyến tính như sau:
Y= b0 + b1X1 + b2X2 + b3X3 + b4X4 + b5X5 + b6X6 + b7X7 + b8X8 + b9X9+
b10X10+ b11X11+ b12X12+ b13X13 + u
Với Y là biến phụ thuộc; Xi là biến độc lập (i = 1 - 13)
Bảng 1.2 Định nghĩa các biến được đưa vào mô hình
Kỳ vọng dấu
Y Biến phụ thuộc
(THUNHAP)
triệu đồng Thu nhập bình quân của hộ/năm
Biến độc lập
X1 HOCVAN Năm Số năm đi học của chủ hộ +
X2 QUIMOHO người Số người sống trong hộ (không tính
đến người ở thuê, ở nhờ) +
X3 PHUTHUOC người Những người không có hoạt động
tạo thu nhập cho hộ gia đình -
X4 DIENTICHDAT m2 Diện tích đất sản xuất của hộ +
X5 TIEPCANVON 1= Có
0=Không
Biến giả, nhận giá trị 1 nếu hộ có vay vốn từ các định chế chính thức, giá trị 0 nếu hộ không vay vốn
X8 GIONG MOI Hộ có sử dụng giống mới vào SX +
X9 KINHNGHIEM Năm Kinh nghiệm làm việc của chủ hộ +
Hộ có tham gia sản xuất lúa xác nhận, lúa giống +
Trang 36CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Với những mục tiêu đặt ra, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng trên cơ sở thu thập dữ liệu từ bảng câu hỏi điều tra nông hộ
3.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Nguồn: Xây dựng của tác giả
3.2 Cách tiếp cận nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đề ra thì quy trình nghiên cứu được tổ chức hai giai đoạn bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định tính
Xác định vấn đề, mục tiêu, nội dung và
đối tượng nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Thiết kế bản câu hỏi
Phỏng vấn chuyên gia, thảo luận nhóm
Điều tra thử (n=30) để hiệu chỉnh bản câu hỏi
Bản câu hỏi chính thức
Điều tra chính thức (n=270)
Xử lý số liệu
Đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao thu nhập cho nông hộ
Kết quả và giải thích kết quả
Trang 37bao gồm định hướng mô hình lý thuyết, từ đó thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
có liên quan đến nội dung nghiên cứu Nghiên cứu định lượng bao gồm hai nội dung
cơ bản là xây dựng phiếu điều tra, hoàn thiện bản câu hỏi và nghiên cứu chính thức bằng cách tiến hành điều tra theo phiếu điều tra Sau khi có kết quả điều tra, tiến hành phân tích thống kê mô tả và hồi quy bội
3.3 Nguồn số liệu được sử dụng trong nghiên cứu
- Thu thập số liệu thứ cấp: Số liệu thực hiện trong đề tài được thu thập từ xã Hòa Trị, Chi cục thống kê huyện Phú hòa, các cơ quan chuyên môn trên địa bàn huyện
và các nguồn khác như báo, tạp chí, trang web
- Thu thập số liệu sơ cấp: Thông qua phương pháp điều tra phỏng vấn, số liệu
sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp các nông hộ tại xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa thông qua bảng câu hỏi
3.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
3.4.1 Xác định cỡ mẫu
Trong phân tích thống kê, quy mô mẫu cần thu thập phải đủ lớn để đạt được mục tiêu nghiên cứu và đạt được độ tin cậy nhất định Quy mô mẫu của nghiên cứu được xác định phụ thuộc vào phương pháp phân tích được sử dụng Trong nghiên cứu này sử dụng phân tích hồi quy với dữ liệu chéo Theo Tabachnick & Fidell (2007) để phân tích hồi quy đạt được kết quả tốt nhất với dữ liệu là dạng số liệu chéo (cross-sectional data) thì quy mô mẫu phải thỏa mãn công thức n ≥ 50 + 8k (với k là số biến độc lập trong mô hình) Nghiên cứu này có tổng cộng là 12 biến độc lập nên số lượng mẫu tối thiểu cần thiết cho phân tích hồi quy là: n = 50 + 8*12 =146 quan sát Tuy nhiên, để gia tăng độ tin cậy khi ước lượng tác giả đã tiến hành điều tra 280 quan sát
3.4.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu được thu thập bằng phương pháp phi xác suất với kỹ thuật chọn mẫu định mức Bảng phân bố mẫu cho địa bàn nghiên cứu thuộc xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa như sau:
Bảng 3.1 Phân bổ mẫu nghiên cứu
Trang 383.5 Loại dữ liệu và thu thập dữ liệu
3.5.1 Loại dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu
Trong nghiên cứu này tác giả thu thập 2 loại giữ liệu:
Dữ liệu thứ cấp: Số liệu được thu thập từ phòng thống kê huyện Phú Hòa, niên
giám thống kê tỉnh Phú Yên năm 2018, các báo cáo của ủy ban nhân dân xã Hòa Trị và UBND huyện Phú Hòa,…
Dữ liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra, phỏng
vấn trực tiếp nông hộ
3.5.2 Thu thập dữ liệu
Bản câu hỏi để thu thập thông tin đã được gửi trực tiếp đến đối tượng khảo sát
và đề nghị thời gian thu lại sau khi hoàn tất Trên bản câu hỏi đã cam kết chỉ sử dụng thông tin cho mục đích nghiên cứu và cam kết bảo mật thông tin cho người trả lời
Bảng câu hỏi được thiết kế theo các bước sau:
Bước 1: Dựa vào cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan trước đây để hình thành bảng câu hỏi ban đầu
Bước 2: Bảng câu hỏi ban đầu được tham khảo ý kiến chuyên gia và thảo luận nhóm để điều chỉnh lại cho phù hợp Sau khi điều chỉnh, bảng câu hỏi gồm 3 phần chính gồm: Phần I: Thông tin chung; Phần II, Thu nhập, nguồn vốn, áp dụng kỹ thuật, giống mới; Phần III: Thông tin khác
3.6 Các phương pháp phân tích dữ liệu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, nghiên cứu này sử dụng các phương pháp phân tích sau đây:
3.6.1 Thống kê mô tả
Một số kỹ thuật phân tích dữ liệu bằng thống kê mô tả như: phân tích tần suất,
tỷ lệ %, giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất được sử dụng để cung cấp thông tin tổng quát hơn về tập dữ liệu nghiên cứu
3.6.2 Phân tích tương quan và hồi quy bội tuyến tính
- Nghiên cứu sử dụng ma trận tương quan để kiểm tra mối quan hệ tương quan giữa các biến độc lập với nhau và với biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu
- Mô hình hồi quy bội với phương pháp ước lượng bình phương bé nhất (OLS) được
áp dụng để kiểm định mô hình nghiên cứu, qua đó xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ
Trang 39TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Trong chương 3, nghiên cứu đã xây dựng quy trình nghiên cứu; cách tiếp cận, cách xác định cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu và các phương pháp phân tích nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra
Trang 40CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đã tiến hành điều tra các hộ gia đình tại 5 thôn trên địa bàn xã, cụ thể: thôn Phước Khánh, thôn Quy Hậu, thôn Phụng Tường 1, thôn Phụng Tường 2 và thôn Long Phụng
Mẫu nghiên cứu định lượng chính thức được điều tra là 280 quan sát thu thập, tuy nhiên có một số mẫu không hoàn chỉnh hoặc cung cấp những thông tin thiếu thực
tế nên không đáp ứng được yêu cầu của nghiên cứu Số mẫu đáp ứng được yêu cầu và đưa vào nghiên cứu là 273 quan sát
4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu cho các biến định tính
Trong nghiên cứu này có bốn biến độc lập định tính đó là: tiếp cận vốn; áp dụng
kỹ thuật mới trong sản xuất; tham gia chuỗi liên kết sản xuất; sản xuất lúa xác nhận, lúa giống, tham gia tập huấn về nông nghiệp Kết quả thống kê mô tả như sau:
4.1.1 Thống kê mô tả cho biến tiếp cận vốn
Bảng 4.1 Phân phối tần suất của biến tiếp cận vốn
Hộ có vay vốn (TIEPCANVON) Tần suất Tỷ lệ (%)
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra
Bảng 4.1 trình bày kết quả thống kê mẫu theo hộ vay vốn tín dụng Kết quả cho thấy: Trong tổng số 273 quan sát, có 75 hộ gia đình, chiếm 27,5% đã tiếp cận vốn vay
từ các ngân hàng trên địa bàn huyện (Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn…), đây là tỷ lệ khá thấp so với số hộ được khảo sát
“nguyên nhân chính ảnh hưởng đến thu nhập” là “thiếu vốn sản xuất” Hộ tự túc về vốn, không có nhu cầu vay vốn hoặc không vay được vốn chiếm 72,5%, có thể vì họ không có nhu cầu về vốn hoặc việc làm hiện tại không cần nhiều vốn như: làm thuê, buôn bán nhỏ hoặc không thuộc đối tượng vay vốn của một số Ngân hàng và chủ yếu theo phương châm “lấy công làm lãi”
4.1.2 Thống kê mô tả cho biến Áp dụng kỹ thuật mới trong sản xuất
Bảng 4.2 Phân phối tần suất của biến Áp dụng kỹ thuật mới
Áp dụng kỹ thuật mới (KYTHUAT)