lập, kể cả những chi nhánh hay phân cục ngân hàng ngoại quốc mà hoạt độngthường xuyên là thi hành cho chính mình nghiệp vụ tín dụng, chiết khấu, tài chínhvới tiền ký thác của tư nhân hay
Trang 1TÍN DỤNG NGẮN HẠN VÀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
NGẮN HẠN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1 Một số vấn đề cơ bản về ngân hàng thương mại
1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại.
Cùng với sự phát triển của sản xuất lưu thông hàng hoá ngân hàng thươngmại đã ra đời và trở thành một thứ dầu bôi trơn cho cỗ máy kinh tế hoạt động mộtcách nhịp nhàng thông suốt Ngân hàng thương mại đã hình thành và tồn tại nhưmột tất yếu khách quan đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hàng hoá Sản xuất lưuthông hàng hoá càng phát triển nhu cầu giao lưu giữa các vùng càng tăng, tuynhiên do sự khác biệt giữa các vùng về tiền tệ cũng như sự khác biệt về địa lý làmnhu cầu đổi tiền cũng như gửi tiền và thanh toán hộ của các thương gia xuất hiện
Và cũng chính nhờ hoạt động nhận tiền gửi và thanh toán hộ mà những người giữtiền đã nắm trong tay một khối lượng tiền lớn từ đó họ dễ dàng thực hiện hoạt độngcho vay do tính vô danh của tiền tệ Ngân hàng thương mại đã ra đời từ đó cùngvới những nghiệp vụ cơ bản của nó, đến nay trải qua bao thăng trầm của nền kinh
tế hoạt động của Ngân hàng thương mại đã mở rộng không chỉ quy mô, chất lượng
mà số lượng, loại hình các dịch vụ cũng ngày càng mở rộng đáp ứng nhu cầu củakhách hàng Từ đó Ngân hàng thương mại đã trở thành một bộ phận không thểthiếu của nền kinh tế, hoạt động của Ngân hàng thương mại ảnh hưởng mạnh mẽđến sự phát triển của nền kinh tế
Trải qua thời gian tương đối dài với những biến động của nền kinh tế, rấtnhiều khái niệm về Ngân hàng thương mại đã được hình thành Ta thấy rằng Ngânhàng thương mại được xem xét ở rất nhiều khía cạnh khác như:
ở Việt Nam theo sắc lệnh 018CT/LDGCQL/SL ngày 20/10/1969 của chínhquyền Sài Gòn cũ cho rằng: Ngân hàng thương mại là mọi xí nghiệp công hay tư
Trang 2lập, kể cả những chi nhánh hay phân cục ngân hàng ngoại quốc mà hoạt độngthường xuyên là thi hành cho chính mình nghiệp vụ tín dụng, chiết khấu, tài chínhvới tiền ký thác của tư nhân hay chi nhánh hay chi nhánh công quyền.
Hay một cách tiếp cận Ngân hàng thương mại dựa trên những dịch vụ màngân hàng mang lại như Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tài chính tiền
tệ cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là nghiệp vụtín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chínhnhất so với bất kỳ một tổ chức kinh tế nào trong nền kinh tế
Theo pháp lệnh ngân hàng 23/5/1990 của Hội đồng Nhà nước xác định:Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu thườngxuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền
đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
Như vậy nhìn chung từ khái niệm ta có thể thấy rằng Ngân hàng thương mại
Do sự bùng nổ về thông tin và công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàngngày càng được hiện đại hoá Do đó để có thể cạnh tranh và hợp tác, hoạt độngngân hàng không chỉ bó hẹp trong phạm vi một vùng, một quốc gia mà hoà nhậptrong toàn cầu Điều đó tạo ra một cơ hội mới cho các ngân hàng trong việc phát
Trang 3triển sản phẩm mở rộng thị trường nhưng cũng tạo ra rất nhiều thách thức cho cácngân hàng trong sự cạnh tranh.
Không những vậy, căn cứ vào tính chất sở hữu và hình thức góp vốn có rấtnhiều loại Ngân hàng thương mại như Ngân hàng thương mại quốc doanh, ngânhàng cổ phần, liên doanh, ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam… góp phần đa dạnghoá các loại hình ngân hàng tại Việt Nam Từ đó thúc đẩy sự tự do cạnh tranh mộtcách lành mạnh, giúp các ngân hàng từng bước tự phát triển, đổi mới, mở rộnghoạt động kinh doanh
1.2 Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là một đơn vị kinh doanh tiền tệ do đó các hoạt độngnghiệp vụ của ngân hàng đều hướng tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Để đạt đượcmục tiêu này Ngân hàng thương mại trong quá trình phát triển đã không ngừng đổimới, không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ sẵn có mà còn thường xuyênnghiên cứu nhằm cung cấp các sản phẩm dịch vụ mới phục vụ nhu cầu của ngườidân Tuy nhiên, một Ngân hàng thương mại luôn luôn tiến hành 3 nghiệp vụ cơbản :
Huy động vốn
Đối với hoạt động huy động vốn, đây là hoạt động “đầu vào” của ngân hàng,ngân hàng phần lớn dựa vào việc huy động tiền vốn nhàn rỗi tạm thời trong nềnkinh tế
Thông thường ngân hàng có các loại tiền gửi là tiền gửi không kỳ hạn, tiềngửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm
Để thực hiện được hoạt động huy động vốn, ngân hàng cần có một lượngvốn nhất định là vốn tự có Lượng vốn này chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng vốn sửdụng song nó rất quan trọng đối với hoạt động ngân hàng Đây là cơ sở thu hút tiền
Trang 4gửi của khách hàng, là nguồn để trang trải rủi ro khi gặp phải trong kinh doanh và
là chỉ tiêu để Ngân hàng Trung ương quản lý Ngân hàng thương mại
Hoạt động ngân quỹ nhằm bảo đảm khả năng thanh toán thường xuyên củangân hàng cho khách hàng Đây là tài sản không sinh lời hoặc sinh lời thấp nhưngtính lỏng cao và được coi như tiền mặt Do đó ngân hàng phải duy trì tài sản này ởmức độ hợp lý sao cho vừa đảm bảo tính thanh khoản vừa đảm bảo khả năng sinhlời
Ngoài ra ngân hàng còn sử dụng vốn vào hoạt động đầu tư chứng khoán trênthị trường để thu lợi nhuận và một phần đảm bảo khả năng thanh toán cho ngânhàng
Hoạt động trung gian
Hoạt động trung gian là việc ngân hàng cung cấp cho khách hàng một loạtcác dịch vụ liên quan như chuyển tiền, thanh toán hộ khách hàng thông qua cáchình thức ghi chép trên tài khoản của khách hàng, phát hành séc, uỷ nhiệm thu, uỷnhiệm chi, thư tín dụng, môi giới mua bán chứng khoán, quản lý hộ tài sản, tư vấncho doanh nghiệp…
Trang 5Ngày nay trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, hoạt động ngân hàng chịu
sự cạnh tranh gay gắt từ mọi hướng, chính vì vậy các ngân hàng tiến tới hoạt động
đa năng trên nhiều lĩnh vực, cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau Vì vậy các dịch vụcung cấp cho khách hàng cũng ngày càng tăng thêm như: kinh doanh ngoại hối,bảo lãnh, tư vấn, kinh doanh chứng khoán, dịch vụ rút tiền tự động, bảo đảm antoàn vật có giá, nghiệp vụ thuê mua,…Tất cả các nghiệp vụ đều có quan hệ chặtchẽ hỗ trợ nhau một mặt thoả mãn nhu cầu của khách hàng một mặt mang lại lợinhuận cho ngân hàng
2 Tín dụng ngân hàng.
2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là một phạm trù kinh tế tồn tại qua các hình thức xã hộikhác nhau Tín dụng là nghiệp vụ chính cơ bản nhất của các NHTM chính vì vậynhững về tín dụng đã được các nhà kinh tế tìm hiểu từ rất lâu Tuỳ theo các cáchtiếp cận khác nhau mà người ta đưa ra những khái niệm khác nhau về tín dụng
Theo cách hiểu thông thường, tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủthể dựa trên nguyên tắc tin tưởng nhau Trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tàisản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền haytài sản cam kết hoàn trả theo thời gian thoả thuận Hay nói một cách khác, tíndụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật haytiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng, sau đó hoàn trả tại một thời điểm nhấtđịnh trong tương lai với một lượng giá trị lớn hơn
Theo luật NHNN, tín dụng được định nghĩa như sau: “Cấu thành một nghiệp
vụ tín dụng là bất cứ động tác nào qua đó người đưa hay người hứa đưa vốn chongười khác dùng, hoặc cam kết bằng chữ ký cho người này như đảm bảo, bảochứng hay bảo lãnh có thu tiền”
Trang 6- Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một khoảng thời gian nhấtđịnh sau khi hết hạn theo thoả thuận phải hoàn trả cho người cho vay.
- Giá trị được hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cáchkhác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức
Như vậy ở đây - tiền không được bỏ ra để thanh toán hay để bán mà là để chovay, tiền chỉ được nhượng đi với điều kiện là nó sẽ quay lại điểm xuất phát sau mộtthời gian nhất định - đó là đặc trưng thuộc về bản chất của ngành ngân hàng Ngoài
ra sự hoàn trả không chỉ phải bảo tồn về mặt giá trị mà còn cần có phần tăng thêmdưới hình thái lợi tức Lợi tức về tín dụng là thu nhập người cho vay nhận được từkhoản cho vay, nó là giá cả của hàng hoá cho vay
2.3 Phân loại tín dụng.
Tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản nhất và cũng mang lại lợi nhuậnchủ yếu cũng như rủi ro cho các ngân hàng Chính vì vậy, các nhà ngân hàng luônphải tìm ra các tiêu thức phân loại tín dụng để có thể dễ dàng quản lý, kiểm tra từ
đó phòng tránh rủi ro tín dụng Dựa vào các tiêu thức khác nhau ta có thể phân loạitín dụng như sau:
Căn cứ vào thời gian của khoản vay:
Trang 7Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận về thời hạn cho vay theo hailoại: tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung, dài hạn.
Tín dụng ngắn hạn: Đây là hình thức tín dụng thường có thời hạn dưới một
năm và mục đích thường để đáp ứng nhu cầu thiếu vốn tạm thời như phục vụ chothanh toán tiền, hàng hoá, tài trợ vốn lưu động hay thanh toán ngoại thương
Tín dụng dài hạn: Đây là các khoản tín dụng được cấp có thời hạn từ 6o thángtrở lên và cũng thường được sử dụng với mục đích xây nhà xưởng, đầu tư dâychuyền sản xuất lớn, những dự án có thời hạn thu hồi vốn dài Tuy nhiên thời giancho vay không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấyphép thành lập đơn vị, pháp nhân và không quá 15 năm đỗi với các dự án đầu tưphục vụ đời sống
Căn cứ theo hình thức bảo đảm:
Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: trong trường hợp này ngân hàng cấp
tín dụng cho khách hàng mà không cần có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh
mà dựa vào uy tín của khách hàng Những khách hàng được cấp tín dụng loại nàythường là những khách hàng quen, đã có uy tín với ngân hàng về việc trả đúng vàđầy đủ các khoản nợ của mình từ trước tới nay
Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng dựa
trên cơ sở có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh Tài sản dùng để thế chấp cầm
Trang 8cố có thể là nhà xưởng, xe cộ, các khoản phải thu, các trang thiết bị hay các tài sảnhình thành từ vốn vay, vật có giá hay giấy tờ có giá Ngoài ra, để đảm bảo chokhoản vay có thể được thực hiện bằng sự bảo lãnh của bên thứ ba được ngân hàngchấp nhận.
Căn cứ vào mục đích sử dụng:
Cho vay sản xuất kinh doanh: các khoản vay này thường được sử dụng để tài
trợ vốn lưu động của doanh nghiệp hay tài trợ cho việc xây dựng nhà xưởng, muasắm máy móc, thiết bị, mua nguyên vật liệu
Cho vay tiêu dùng: chủ yếu phục vụ cho nhu cầu mua sắm tiêu dùng của các hộ
gia đình và cá nhân như mua nhà cửa, xe máy, ô tô và các phương tiện cần thiếtkhác
Căn cứ vào phương thức cho vay:
Cho vay theo hạn mức tín dụng: theo hình thức này ngân hàng và khách hàng
thoả thuận và ký kết một hợp đồng hạn mức tín dụng duy trì theo thời hạn nhấtđịnh hoặc theo chu kì sản xuất kinh doanh
Cho vay từng lần: đây là hình thức tín dụng mà ngân hàng và khách hàng thoả
thuận và ký kết hợp đồng riêng với mỗi khoản vay khi khách hàng có nhu cầu Mỗilần khách hàng có nhu cầu vay vốn thì việc ký kết hợp đồng sẽ được thực hiện lại
từ đầu
Cho vay từng dự án đầu tư: tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực
hiện các dự án đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tưphục vụ đời sống
Cho vay hợp vốn: đối với những khoản vay lớn, một ngân hàng không đủ khả
năng hay không được phép cho vay đòi hỏi một nhóm các TCTD cùng cho vay
Trang 9Trong đó có một tổ chức tín dụng đứng ra làm đầu mối dàn xếp, phối hợp cácTCTD khác để cho vay.
Cho vay trả góp: khi vay vốn ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận
số lãi vốn vay phải trả cộng với nợ gốc được chia ra để trả nợ thành nhiều kỳ tronghợp đồng vay
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: ngân hàng cam kết bảo đảm cho
khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định Tuy nhiên nhiềutrường hợp khách hàng cần một lượng vốn lớn hơn, do đó ngân hàng và kháchhàng thường thoả thuận một hạn mức tín dụng dự phòng lớn hơn Đồng thời kháchhàng và ngân hàng thường phải quy định về thời hạn hiệu lực và mức phí trả chohạn mức tín dụng dự phòng
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: ngân hàng
chấp thuận cho khách hàng đựơc sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tíndụng để thanh toán tiền mua hàng hoá và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hayđiểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà TCTD thoả thuận bằng
văn bản pháp luật chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoảnthanh toán của khách hàng
Căn cứ vào phương thức trả nợ:
Trả nợ một lần: khách hàng và ngân hàng thoả thuận sẽ trả cả lãi và gốc một
lần duy nhất
Trả nợ làm nhiều lần: ngân hàng tính toán chia khoản nợ ra thành nhiều kỳ để
khách hàng có thể dễ dàng trả nợ
Trang 10Ngoài ra ngân hàng còn sử dụng nhiều phương thức để phân loại khác như dựavào hình thái tiền tệ hay dựa vào đối tượng vay từ đó để ngân hàng có thể dễdàng trong việc quản lý tránh nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng.
2.4 Vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng.
Điều hoà vốn, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng trong nền kinh tế Ngân hàng là chiếc cầu nối giữa
những người có vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế với những người cần vốn
để mở rộng kinh doanh, tiêu dùng… Trên cơ sở huy động nguồn vốn trong dân cưhay đi vay các tổ chức kinh tế khác ngân hàng tiến hành cho vay với các cá nhân,
tổ chức kinh tế đang cần vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh
Các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu thiếu vốn Nhờnguồn vốn mà ngân hàng cho vay doanh nghiệp không những đảm bảo quá trìnhsản xuất mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ hiện đại để
hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Từ đócác doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá đẩy nhanh quá trình táisản xuất mở rộng Như vậy, tín dụng ngân hàng đã biến các phương tiện hoạt động
có hiệu quả, thu hút nhanh chóng các vật tư lao động, những tiềm năng sẵn có khácvào sản xuất
Tín dụng ngân hàng giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tín dụng ngân hàng
là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nếumuốn khuyến khích ngành nghề hay thành phần kinh tế nào phát triển, ngân hàng
sẽ thực hiện ưu đãi tín dụng với ngành nghề hay khu vực đó Từ đó ngân hàng sẽtạo điều kiện để các doanh nghiệp đó dễ dàng tiếp cận được vốn vay ngân hàng, trởthành đòn bẩy để giúp ngành nghề đó phát triển
Trang 11Để thực hiện được việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục đích đã định, cácnhà ngân hàng cần phải nghiên cứu và thực thi chính sách tín dụng phù hợp để cóthể tác động vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Điều này đang là một vấn đềhết sức quan trọng ở nước ta, trong tình trạng cơ cấu kinh tế hiện nay còn nhiều bấthợp lý Đặc biệt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế,chuyển từ nền kinh tế
tự cung tự cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta cần phải có những biệnpháp để thúc đẩy sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp, dịch vụ, thương mại,
du lịch…bởi ở nước ta tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm quá lớn trong khi tỷtrọng các ngành khác còn quá thấp so với các nước trên thế giới Để làm được điềunày chính sách tín dụng đóng một vai trò hết sức quan trọng, chú trọng vào côngtác tín dụng như vậy sẽ là một biện pháp để thực hiện thành công sự nghiệp côngnghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
Kích thích tính năng động linh hoạt cuả các doanh nghiệp Trong thời đại
ngày nay, khi thông tin và công nghệ thông tin thay đổi liên tục và phát triển mộtcách rất nhanh chóng, các doanh nghiệp luôn luôn đứng trước yêu cầu cần phảithay đổi cho phù hợp nhu cầu của thời đại Để thực hiện được điều này đòi hỏi cácdoanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi máy móc, kỹ thuật thay nâng cấp nhàxưởng, đổi mới sản phẩm…và ngân hàng chính là nơi cung cấp vốn trung và dàihạn tốt nhất cho các doanh nghiệp Qua đó, ngân hàng sẽ mang đến cho doanhnghiệp cơ hội để đổi mới kích thích tính năng động của doanh nghiệp Không chỉvậy, tín dụng ngân hàng còn thường xuyên bổ xung vốn lưu động cho doanhnghiệp trong quá trình hoạt động giúp doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội đầutư
Tín dụng ngân hàng giúp tăng nhanh vòng quay của vốn, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông Qua đó tín dụng ngân hàng giúp Nhà nước tăng cường quản
lý vĩ mô nền kinh tế Thông qua tín dụng, ngân hàng huy động được một lượng lớn
Trang 12tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, thực hiện cho vay, đầu tư vào sản xuất kinh doanh
mà không cần phát hành thêm tiền mặt Qua đó, ngân hàng còn thực hiện đượcnhiệm vụ điều hoà vốn giữa các vùng các ngành, các thành phần kinh tế qua đóviệc quản lý, lưu thông tiền tệ sẽ được thực hiện tốt hơn Hoạt động tín dụng càng
mở rộng thì càng hạn chế phương thức thanh tóan dùng tiền mặt do ngân hàng sửdụng phương thức chuyển khoản, L/C từ đó giảm chi phí lưu thông tiền mặttrong nền kinh tế
Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế Trong xu thế hội nhập quốc tế, mối quan hệ
giữa các nước trên thế giới và trong khu vực được mở rộng và phát triển đa dạng
cả về chiều rộng và chiều sâu Đây là một trong những nhân tố quan trọng tạo điềukiện đặc biệt cho các nước đang phát triển trên thế giới trong đó có nước ta Thựchiện chủ trương mở rộng hợp tác kinh tế, tăng cường các quan hệ đối ngoại do đóđầu tư vốn tín dụng thúc đẩy xuất khấu hàng hoá là mối quan tâm của các ngânhàng trong tình hình hiện nay Ngân hàng với tư cách là tổ chức kinh doanh tiền tệ,thông qua hoạt động cho vay sẽ trở thành nền tảng, là người cung cấp vốn cho cácnhà đầu tư kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá Từ đó ngân hàng sẽ trở thành đònbẩy thúc đẩy quá trình mở rộng và giao lưu kinh tế quốc tế, là phương tiện nối liềnnền kinh tế các nước
Qua đó ta thấy, tín dụng ngân hàng có một vai trò đặc biệt quan trọng đối vớinền kinh tế, là phương tiện, công cụ Nhà nước không chỉ có thể sử dụng để quản
lý, kiểm soát mà còn sử dụng để thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế, thực hiện cácchủ trương của Nhà nước
Trang 133.2 Đặc điểm.
- Do nguồn vốn tín dụng ngắn hạn dùng để cung cấp vốn cho chi tiêu, muanguyên vật liệu, trả lương, bổ xung vốn lưu động nên số vốn vay thường nhỏ,nguồn vốn được quay vòng nhiều Trong khi đó đối tượng sử dụng vốn từ nguồntrung và dài hạn thường là những tài sản cố định có thời gian sử dung lâu dài vìvậy thời gian sử dụng vốn lâu, nguồn vốn không được quay vòng nhiều
- Thời hạn thu hồi vốn nhanh: do vốn tín dụng ngắn hạn thường được sử dụng
để bù đắp những thiếu hụt trong ngắn hạn, để đảm bảo cân bằng ngân quỹ, giúpdoanh nghiệp đối phó với những chênh lệch thu chi trong ngắn hạn Thôngthường những thiếu hụt này chỉ mang tính tạm thời hay mang tính mùa vụ, sau đókhoản thiếu hụt này sẽ được bù đắp hoặc sẽ sớm thu lại dưới hình thái tiền tệ vìvậy thời gian thu hồi vốn sẽ nhanh
- Rủi ro do tín dụng ngắn hạn mang lại thông thường không cao Do khoảnvay chỉ cung cấp trong thời gian ngắn vì vậy ít chịu ảnh hưởng của sự biến độngkhông thể lường trước của nền kinh tế như các khoản tín dụng trung và dài hạn.Ngoài ra, các khoản vay được cung cấp cho các đơn vị sản xuất kinh doanh theohình thức chiết khấu các giấy tờ có giá, dựa trên tài sản bảo đảm, bảo lãnh đồngthời khoản vay thường đựơc tiến hành khi có nhu cầu cấp thiết về vốn ngắn hạn và
Trang 14chắc chắn sẽ có khoản thu bù đắp trong tương lai vì vậy rủi ro mang đến thườngthấp
- Lãi suất thấp: lãi suất cho vay được hiểu là khoản chi phí người đi vay trảcho nhu cầu sử dụng tiền tạm thời của ngươì khác Chính vì rủi ro mang lại củakhoản vay thường không cao do đó lãi suất người đi vay phải trả thông thường nhỏhơn lãi suất khoản vay tín dụng trung và dài hạn tương ứng
- Hình thức tín dụng phong phú: Để đáp ứng nhu cầu hết sức đa dạng của kháchhàng, để góp phần phân tán rủi ro, đồng thời để tăng cường sức cạnh tranh trên thịtrường tín dụng, các ngân hàng thương mại không ngừng phát triển các hình thứccho vay trong nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn của mình Điều đó đã làm cho các hìnhthức tín dụng ngắn hạn rất phong phú như: nghiệp vụ ứng trước, nghiệp vụ thấuchi, nghiệp vụ chiết khấu
- Là loại hình kinh doanh chủ yếu tại các ngân hàng thương mại Xuất phát từđặc trưng của ngân hàng thương mại: là ngân hàng kinh doanh tiền gửi, mà trong
đó chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn, nên để đảm bảo khả năng thanh khoản của mình,các ngân hàng thương mại đã cho vay chủ yếu là ngắn hạn
3.3 Các hình thức tín dụng ngắn hạn
3.3.1 Chiết khấu thương phiếu
Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại,trong đó ngân hàng trao cho người có trái phiếu một số tiền bằng giá trị đáo hạncủa trái phiếu trừ đi một số tiền lãi, hoa hồng và một số chi phí khác Tiền lãi tính
từ ngày chiết khấu tới ngày đáo hạn trái phiếu
Chứng từ chiết khấu có một số đặc trưng là: chứng từ có giá ; được thanh toán
số tiền đúng bằng mệnh giá chứng từ chiết khấu; thời hạn thanh toán là thời hạnngắn ( 90 đến 180 ngày)
Trang 15Trong nghiệp vụ chiết khấu, ngân hàng đưa cho khách hàng của mình một sốtiền để sử dụng ngay và chỉ thu số tiền đó về khi trái phiếu đáo hạn Về nguyên tắc,ngân hàng có thể nhận chiết khấu tất cả các trái phiếu nhưng thông thường ngânhàng thích nhất là hối phiếu
Khi khách hàng có nhu cầu chiết khấu, khách hàng phải nộp cho ngân hàngcác loại giấy tờ sau:
- Đơn xin chiết khấu
- Bảng kê thương phiếu kèm theo các thương phiếu xin chiết khấu
Sau khi nhận được các hồ sơ, ngân hàng tiến hành thẩm định các mặt sau:
- Tính hợp pháp, hợp lệ của các thương phiếu
- Xem xét mối quan hệ thương mại của các chủ thể liên quan đến thươngphiếu
- Nghiên cứu khả năng trả nợ của các chủ thể có liên quan, đặc biệt là ngườithụ lệnh (người phải thanh toán thương phiếu) và người thụ hưởng (người xin chiếtkhấu)
Ngân hàng chỉ chấp nhận chiết khấu những thương phiếu đủ điều kiện sau:
- Còn thời hạn thanh toán theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
- Phải hợp lệ về mặt hình thức và nội dung
- Đối với hối phiếu thì phải có chữ ký chấp nhận của người thụ tạo
- Khách hàng phải chuyển nhượng quyền sở hữu cho ngân hàng dưới hìnhthức ký hậu
Trang 16Sau khi thẩm định, ngân hàng loại trừ những thương phiếu không đủ điều kiệnchiết khấu hay còn nghi ngờ khả năng thanh toán, rồi tính số tiền ngân hàng trả chokhách hàng theo các thương phiếu nhận chiết khấu.
Đến thời hạn thanh toán thương phiếu, ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ ở ngườichịu trách nhiệm thanh toán thương phiếu Nếu người này không thanh toán, ngânhàng có thể chọn một trong hai cách xử lý sau:
- Ngân hàng có thể trích tài khoản tiền gửi thanh toán của người xin chiếtkhấu để thu hồi, sau đó trả lại thương phiếu để họ tự đòi nợ
- Ngân hàng tiến hành thủ tục để truy đòi số nợ: theo luật định, ngân hàng cóquyền chỉ định một trong số những người tham gia ký chuyển nhượng thươngphiếu để trả nợ cho ngân hàng Trong trường hợp này, ngân hàng thường chỉ địnhngười nào có đủ khả năng tài chính nhất
Ưu điểm và nhược điểm của nghiệp vụ chiết khấu:
Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng có khá nhiều ưu điểm, đó là:
- Chiết khấu là nghiệp vụ ít rủi ro, khả năng thu hồi nợ của ngân hàng là kháchắc chắn
- Đây là hình thức tín dụng khá đơn giản, ít phiền phức với ngân hàng
- Chiết khấu không làm đóng băng vốn của ngân hàng vì thời hạn chiết khấungắn và ngân hàng thương mại có thể khá dễ dàng xin tái chiết khấu thương phiếu
ở Ngân hàng Nhà nước
- Tiền cấp cho khách hàng khi chiết khấu thường được chuyển vào tài khoảntiền gửi của khách hàng, bởi vậy nó lại tạo nguồn vốn cho ngân hàng
Trang 17- Tất cả những ai kí tên vào thương phiếu đều có trách nhiệm thanh toán vàtrong thực tế không một doanh nghiệp nào từ chối thanh toán do đó đây là hìnhthức cho vay ít rủi ro nhất.
Tuy vậy, trong nghiệp vụ chiết khấu, ngân hàng thương mại vẫn có thể gặpphải rủi ro do ba nguyên nhân cơ bản sau:
- Ngân hàng nhận chiết khấu những thương phiếu giả mạo
- Giấy nhận nợ luân chuyển theo dây chuyền trong đó có một khâu hỏng dẫnđến khó khăn trong thanh toán
- Công ty mẹ phát hành cho Công ty ty con nhưng Công ty mẹ phá sản
3.3.2 Nghiệp vụ tín dụng ngân quỹ
Tín dụng ngân quỹ là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn mà trong đó ngân hàng
cho khách hàng vay để đảm bảo sự cân đối ngân quỹ hàng ngày của khách hàng vàđược thực hiện dưới hai hình thức chủ yếu là ứng trước trên tài khoản hoặc thấuchi
3.3.2.1 Ứng trước trên tài khoản
Ứng trước trên tài khoản là loại tín dụng mà ngân hàng cho khách hàng vaytiền bằng cách mở và ứng cho họ một số tiền trên tài khoản của khách hàng tạingân hàng Từ tài khoản đó, khách hàng có thể ký phiếu lĩnh tiền tới mức tín dụng
mà ngân hàng cấp cho mình
Nếu căn cứ vào tính chất đảm bảo thì tín dụng ứng trước bao gồm: ứng trước
có đảm bảo và ứng trước không đảm bảo
- Ứng trước có bảo đảm: khi nào khách hàng thực sự vay tiền thi phải thếchấp hay cầm cố một tài sản hay một giá trị làm đảm bảo nhất định cho khoản tiền