xi TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Với mục tiêu đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của những người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, tác giả đã cung cấp tổ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN PHƯƠNG HOÀNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN CỦA NHỮNG NGƯỜI BUÔN BÁN NHỎ, LẺ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN PHƯƠNG HOÀNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN CỦA NHỮNG NGƯỜI BUÔN BÁN NHỎ, LẺ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Quyết định giao đề tài: 642/QĐ-ĐHNT ngày 12/6/2019
Quyết định thành lập hội đồng: 605/QĐ-ĐHNT ngày 16/6/2020
Người hướng dẫn khoa học:
TS HÀ VIỆT HÙNG Chủ tịch Hội Đồng:
TS PHẠM THÀNH THÁI Phòng Đào tạo Sau Đại học:
KHÁNH HÒA - 2020
Trang 3iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh với đề tài: “Các nhân
tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được công bố trong công trình nghiên cứu nào khác
Khánh Hòa, tháng 03 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Hoàng
Trang 4iv
LỜI CẢM ƠN
Sau hai năm học tập và nghiên cứu, hôm nay luận văn tốt nghiệp đã hoàn thành Đây là kết quả không chỉ từ sự cố gắng của bản thân mà còn có sự giúp đỡ, ủng hộ từ các Thầy cô, đồng nghiệp và gia đình
Trước tiên, tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, quý Thầy cô giáo Khoa Kinh tế - trường Đại học Nha Trang đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và giúp đỡ cho tôi trong suốt thời gian theo học và nghiên cứu tại trường Đặc biệt là thầy Hà Việt Hùng – người trực tiếp hướng dẫn tôi làm luận văn, đã rất nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn tôi hiểu rõ vấn đề thực tế của đề tài, đồng thời đóng góp ý kiến giúp cho đề tài của tôi hoàn thiện hơn
Tôi cũng xin cảm ơn Ban lãnh đạo cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Ninh Thuận và Bảo hiểm xã hội huyện Thuận Bắc; các anh chị đồng nghiệp; các đại lý thu và người dân trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận đã tạo điều kiện hỗ trợ, cung cấp thông tin xác thực
để tôi thực hiện thành công đề tài
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, người thân – những người luôn động viên, tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài một cách tốt đẹp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Khánh Hòa, tháng 03 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Hoàng
Trang 5v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG .ix
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN .xi
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 4
1.7 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
2.1 Cơ sở lý thuyết 6
2.1.1 Cơ sở lý thuyết chung về hành vi tiêu dùng 6
2.1.2 Một số khái niệm cơ bản về BHXH Việt Nam 8
2.1.3 Chính sách BHXH 14
2.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước và ngoài nước 19
2.2.1 Các nghiên cứu trong nước 19
2.2.2 Các nghiên cứu ngoài nước 22
2.3 Các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu 24
Trang 6vi
2.3.1 Các giả thuyết nghiên cứu 24
2.3.2 Mô hình nghiên cứu 27
Tóm tắt chương 2 27
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ BHXH TỈNH NINH THUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Giới thiệu về BHXH tỉnh Ninh Thuận 28
3.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển 28
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của BHXH tỉnh 30
3.2 Thực trạng và kết quả tham gia BHXHTN của người dân tại tỉnh Ninh Thuận 31
3.2.1 Thực trạng thực hiện chính sách BHXHTN thời gian qua 31
3.2.2 Kết quả đạt được 32
3.3 Phương pháp nghiên cứu 33
3.3.1 Quy trình nghiên cứu 33
3.3.2 Xây dựng thang đo 36
3.3.3 Xác định cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 40
3.3.4 Các phương pháp phân tích dữ liệu 41
3.3.5 Các bước phân tích dữ liệu 43
Tóm tắt chương 3 43
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
4.1 Mô tả mẫu 44
4.1.1 Về giới tính 44
4.1.2 Về tuổi 45
4.1.3 Về trình độ học vấn 46
4.1.4 Về thu nhập 47
4.1.5 Về công việc 47
4.1.6 Đã từng tham gia BHXH tự nguyện 48
4.1.7 Đã biết đến chính sách BHXH tự nguyện 48
4.1.8 Quyền lợi mang lại khi tham gia BHXH tự nguyện 49
4.2 Phân tích thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 49
Trang 7vii
4.2.1 Độ tin cậy của thang đo “Ý định tham gia” 50
4.2.2 Độ tin cậy của thang đo “Thái độ” 50
4.2.3 Độ tin cậy của thang đo “Tuyên truyền” 51
4.2.4 Độ tin cậy của thang đo “Kiến thức” 51
4.2.5 Độ tin cậy của thang đo “Trách nhiệm đạo lý” 51
4.2.6 Độ tin cậy của thang đo “Sự quan tâm đến sức khỏe” 52
4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 52
4.3.1 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các biến độc lập 52
4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến phụ thuộc 55
4.4 Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận 56
4.4.1 Xét ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 57
4.4.2 Phân tích hồi quy 58
4.4.3 Kiểm định mô hình hồi quy 59
4.5 So sánh kết quả với các đề tài làm cơ sớ trước đây 62
4.6 Thảo luận kết quả nghiên cứu 63
Tóm tắt chương 4 64
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65
5.1 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển BHXH tự nguyện cho những người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận 65
5.1.1 Nâng cao nhận thức của người dân về chính sách BHXH tự nguyện 65
5.1.2 Đổi mới công tác tuyên truyền, vận động tham gia BHXH tự nguyện 65
5.1.3 Đổi mới chất lượng tổ chức thực hiện chính sách BHXH tự nguyện 66
5.1.4 Hoàn thiện chính sách và tăng cường quản lý nhà nước về BHXH tự nguyện 67
5.2 Hạn chế của đề tài nghiên cứu và hướng nghiên cứu trong tương lai 68
5.3 Kết luận 68
Tóm tắt chương 5 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC
Trang 8viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH: An sinh xã hội
BHXH: Bảo hiểm xã hội
BHYT: Bảo hiểm y tế
BHXHTN: Bảo hiểm xã hội tự nguyện
EFA (Exploration Factor Analysis): Phân tích nhân tố khám phá
SPSS (Statistical Package for Social Sciences): Phần mềm xử lý thống kê dùng trong các ngành khoa học xã hội
TPB: Theory of Planned Behaviour
Trang 9ix
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Phân biệt BHXH với Bảo hiểm thương mại .13
Bảng 3.1: Số liệu thu BHXHTN tỉnh Ninh Thuận (2016-2019) .32
Bảng 3.2: Số người tham gia BHXHTN phân theo địa bàn huyện năm 2019 .32
Bảng 3.3: Tiến độ triển khai thực hiện nghiên cứu của đề tài 34
Bảng 3.4: Thang đo Ý định tham gia BHXHTN 36
Bảng 3.5: Thang đo thái độ đối với việc tham gia BHXHTN 37
Bảng 3.6: Thang đo Tuyên truyền về BHXH Tự nguyện .37
Bảng 3.7: Thang đo Kiến thức về BHXH Tự nguyện .38
Bảng 3.8: Thang đo Trách nhiệm đạo lý .39
Bảng 3.9: Thang đo Sự quan tâm sức khỏe khi về già .39
Bảng 3.10: Bảng phân phối mẫu khảo sát .41
Bảng 4.1: Phân tích độ tin cậy của Thang đo “Ý định tham gia” .50
Bảng 4.2: Phân tích độ tin cậy của Thang đo “Thái độ” .50
Bảng 4.3: Phân tích độ tin cậy của thang đo “Tuyên truyền” .51
Bảng 4.4: Phân tích độ tin cậy của thang đo “Kiến Thức” .51
Bảng 4.5: Phân tích độ tin cậy của thang đo “Trách nhiệm đạo lý” .51
Bảng 4.6: Phân tích độ tin cậy của thang đo “Sự quan tâm đến sức khỏe” .52
Bảng 4.7: Hệ số KMO và kiểm định Bartlett's các biến độc lập 53
Bảng 4.8: Phân tích nhân tố khám phá EFA cho tất cả các biến độc lập .53
Bảng 4.9: Hệ số KMO và kiểm định Bartlett's cho biến phụ thuộc .55
Bảng 4.10: Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến phụ thuộc 55
Bảng 4.11: Kết quả phân tích tương quan Pearson .57
Bảng 4.12: Kết quả phân tích hệ số hồi quy 58
Bảng 4.13: Kết quả phân tích ANOVA 59
Bảng 4.14: Mức độ giải thích của mô hình .60
Bảng 4.15: Bảng thống kê giá trị phần dư 60
Bảng 4.16: Bảng so sánh kết quả các đề tài trước đây .62
Trang 10x
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 2.1: Mô hình hành động hợp lý (TRA) 7
Hình 2.2: Mô hình hành vi dự định (TPB) .7
Hình 2.3: Tổng thể Hệ thống BHXH của Việt Nam .15
Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu đề xuất 27
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 35
Hình 4.1: Phân bố mẫu theo giới tính 44
Hình 4.2: Phân bố mẫu theo tuổi .45
Hình 4.3: Phân bố mẫu theo trình độ học vấn .46
Hình 4.4: Phân bố mẫu theo thu nhập hàng tháng 47
Hình 4.5: Phân bố mẫu theo công việc 47
Hình 4.6: Phân bố mẫu đã từng tham gia BHXH tự nguyện 48
Hình 4.7: Phân bố mẫu đã biết đến chính sách BHXH tự nguyện .48
Hình 4.8: Phân bố mẫu quyền lợi mang lại khai tham gia BHXH tự nguyện 49
Biểu đồ 4.1: Đồ thị phân phối phần dư của mô hình hồi quy .61
Biểu đồ 4.2: Biểu đồ P-P plot phần dư của mô hình hồi quy .61
Biểu đồ 4.3: Biểu đồ Scatterplot phần dư của mô hình hồi quy 62
Trang 11xi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Với mục tiêu đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của những người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, tác giả đã cung cấp tổng quan tài liệu về chính sách BHXH, BHXH tự nguyện; tài liệu về lĩnh vực nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng sản phẩm, dịch vụ Từ đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu trên cơ sở tiến hành khảo cứu lý thuyết về hành vi người tiêu dùng nói chung TRA và TPB Đồng thời tác giả nghiên cứu đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh và phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện
Mặc dù đề tài đã giải quyết tốt mục tiêu nghiên cứu đề ra nhưng vẫn có một số hạn chế cần lưu ý Trước tiên, mẫu nghiên cứu của đề tài này dựa trên phương pháp lấy mẫu thuận tiện nên độ khái quát hóa của kết quả chưa cao Đồng thời còn khá nhiều biến số khác chưa được nghiên cứu như sự tin tưởng của những người buôn bán nhỏ lẻ vào hệ thống bảo hiểm xã hội, các giá trị cuộc sống theo đuổi… Các nghiên cứu
tương lai nên mở rộng hơn để bao gồm các biến số này
Từ khóa: Bảo hiểm xã hội tự nguyện, ý định tham gia, Ninh Thuận
Trang 12Là một trong những trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội quốc gia, chính sách bảo hiểm xã hội được Đảng, Nhà nước ta quan tâm từ rất sớm Ngay trong những ngày đầu giành độc lập, chủ quyền dân tộc, trong bối cảnh vừa kháng chiến vừa kiến quốc, nhiều văn bản quy định về chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội đã được chủ tịch
Hồ Chí Minh ký ban hành
Trải qua tròn 50 năm thực hiện bảo hiểm xã hội theo cơ chế bao cấp, cùng với việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, năm 1995 đã đánh dấu bước phát triển mới trong chính sách bảo hiểm xã hội theo cơ chế hạch toán độc lập và người lao động Từ kết quả của 12 năm thực hiện bảo hiểm xã hội theo các nghị định của chính phủ, năm
2006, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI, chính sách bảo hiểm xã hội lần đầu tiên được luật hóa và chính thức triển khai từ ngày 1 tháng 1 năm 2007 Với mục tiêu thực hiện bảo hiểm xã hội cho mọi người lao động, luật bảo hiểm xã hội 2006 đã mở rộng nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, đồng thời bổ sung quy định về loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện Chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện được thực hiện từ ngày 1/1/2008, mở ra cơ hội cho những người lao động tự do có thu nhập không ổn định như những người buôn bán nhỏ lẻ,….được hưởng lương hưu theo quy định của luật bảo hiểm xã hội
Kể từ khi luật bảo hiểm xã hội có hiệu lực thi hành, chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện đã phần nào đáp ứng đươc nhu cầu và nguyện vọng của đông đảo người lao động buôn bán nhỏ lẻ, Khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người lao động thuộc khu vực phi chính thức và lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, buôn bán nhỏ, lẻ có thu nhập thấp và không ổn định sẽ được hưởng lương hưu, đảm bảo ổn định cuộc sống khi về già Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện tạo sự công bằng, bình đẳng về quyền được hưởng BHXH của người lao động ở mọi
Trang 132
tầng lớp trong xã hội Đồng thời, thể hiện sự văn minh tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa, góp phần ổn định chính sách ASXH của quốc gia (Nguồn: trang 18 Tạp chí Bảo hiểm xã hội Việt Nam kỳ 02 tháng 07/2015(278))
Tuy nhiên theo số liệu thu bảo hiểm xã hội tự nguyện tại BHXH Ninh Thuận tính
người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện (Nguồn dân số theo số liệu điều tra dân số
và nhà ở năm 2019 tại văn bản số 83/BCĐTW-VPBCĐTW ngày 31/7/2019 của Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương) Như vậy, số người tham gia bảo
hiểm xã hội tự nguyện còn rất thấp so với số người trong độ tuổi lao động “Sở dĩ tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn thấp là do nhiều nguyên nhân Nguyên nhân đầu tiên là do nhận thức của người dân về chính sách BHXH nói chung và bảo hiểm xã hội tự nguyện nói riêng còn hạn chế, công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện còn hết sức khó khăn do các giải pháp mở rộng đối tượng này chưa thực sự hiệu quả nên vẫn còn tâm lý e ngại trong nhân dân và người lao động đặc biệt là đối tượng buôn bán nhỏ lẻ hay người lao động tự do Nguyên nhân thứ hai là do các nhân tố: đội ngũ đại lý thu ở cơ sở chưa nhiệt tình trong công tác tuyên truyền, vận động; lao động tự do chưa qua đào tạo, việc làm bấp bênh, thu nhập thấp, rào cản tâm lý, thái
độ, trình độ học vấn, sự quan tâm đến sức khỏe, nghề nghiệp Bên cạnh những nguyên nhân khách quan thì có thể nói một lý do quan trọng xuất phát từ công tác chỉ đạo, vận động, tuyên truyền, phổ biến về chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người lao động thuộc khu vực phi chính thức, lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư,
diêm nghiệp, buôn bán nhỏ, lẻ… chưa thực hiệu quả của các cấp, các ngành”.(Nguồn:
theo báo cáo tổng kết năm 2019 của Bảo hiểm xã hội tỉnh Ninh Thuận)
Từ đó, thấy được rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người dân nói chung cũng như những người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận nói riêng Vậy những nhân tố nào có ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của những người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận? Chúng cần thiết như thế nào đến ý định tham gia BHXH tự nguyện? Và làm cách nào để biết được các nhân tố này tác động đến ý định tham gia BHXH tự nguyện nhiều hay ít?
Có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến việc nghiên cứu các tác nhân ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ nói chung và trong lĩnh vực bảo hiểm nói riêng (Lê Văn Huy, 2016; Hồ Huy Tựu, 2008; Lê Thị Hương Giang, 2010; Nguyễn
Trang 143
Quốc Bình, 2013), nhưng tại tỉnh Ninh Thuận thì chưa có đề tài nào nghiên cứu về các tác nhân ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của những hộ kinh doanh, buôn bán nhỏ lẻ Với những lý do trên tôi chọn đề tài: ‘‘Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của những người buôn bán nhỏ, lẻ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp cuối khóa học
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của đề tài là xác định các nhân tố ảnh hưởng và tầm quan trọng tương đối của chúng ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXHTN của người lao động buôn bán nhỏ, lẻ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Để giải quyết mục tiêu chung này, đề tài hướng đến các mục tiêu cụ thể sau:
- Đánh giá tầm quan trọng tương đối của các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động buôn bán nhỏ, lẻ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
- Đề xuất các hàm ý ứng dụng nhằm phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người buôn bán nhỏ, lẻ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận?
- Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đối với ý định tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận như thế nào?
- Làm thế nào để khuyến khích ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động buôn bán nhỏ, lẻ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận trong thời gian tới?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Ý định tham gia BHXH tự nguyện của người buôn bán nhỏ, lẻ và các nhân tố ảnh hưởng đến nó
- Đối tượng khảo sát: Đối tượng khảo sát theo quy định của chính sách BHXH tự nguyện Cụ thể là người buôn bán nhỏ, lẻ tại tỉnh Ninh Thuận, 15 tuổi trở lên, có đủ năng lực để trả lời các câu hỏi điều tra Đề tài dự kiến thu thập một mẫu đại diện gồm
350 người lao động làm cơ sở nghiên cứu
Trang 151.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai giai đoạn chính: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức
- Nghiên cứu sơ bộ thông qua phương pháp định tính và nghiên cứu chính thức thông qua phương pháp định lượng
- Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính với
kỹ thuật thảo luận nhóm và phỏng vấn cá nhân Mục đích của nghiên cứu này nhằm khám phá các biến số mới và dùng để điều chỉnh và bổ sung thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXHTN của người lao động buôn bán nhỏ, lẻ
- Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng Dùng kỹ thuật thu thập thông tin trực tiếp bằng cách phỏng vấn người lao động buôn bán nhỏ, lẻ chưa tham gia BHXHTN trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận - Thông tin thu thập được sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0
+ Phân tích thống kê mô tả mẫu thu thập
+ Kiểm định độ tin cậy của các thang đo: bằng hệ số Cronbach Alpha để phát hiện những chỉ báo không đáng tin cậy trong quá trình nghiên cứu
+ Phân tích nhân tố khám phá EFA: bóc tách, sắp xếp các chỉ báo đo lường các khái niệm, biến tiềm ẩn
+ Kiểm định mô hình giả thuyết và các giả thuyết đề xuất bằng phân tích hồi quy
1.6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý luận: Kết quả của nghiên cứu góp phần củng cố và bổ sung cơ sở lý thuyết về những nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức mà trọng tâm là khu vực buôn bán nhỏ, lẻ
- Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu là một trong những đóng góp thực tiễn cho ngành BHXH tỉnh Ninh Thuận và ngành BHXH Việt Nam trong việc mở rộng và phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện
Trang 165
- Từ kết quả nghiên cứu, ngành BHXH sẽ biết được các yếu tố nào có ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động buôn bán nhỏ, lẻ, định hướng cho các nghiên cứu liên quan đến người lao động khu vực khác thuộc khu vực lao động phi chính thức Đồng thời làm rõ thực trạng tình hình BHXH tự nguyện thời gian qua, phân tích những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết và khuyến nghị định hướng phát triển, cũng như giải pháp phát triển đối tượng BHXH tự nguyện trong thời gian tới
1.7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 5 chương:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương này nhằm xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và cấu trúc của luận văn
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan tài liệu
Nội dung của chương này tác giả sẽ tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu Từ đó tác giả đưa ra các khái niệm và lý thuyết liên quan Trên cơ sở lý thuyết về các công trình nghiên cứu có liên quan, tác giả sẽ đề xuất
mô hình giả thuyết nghiên cứu
Chương 3: Tổng quan về BHXH tỉnh Ninh Thuận và phương pháp nghiên cứu
Trong chương này, tác giả sẽ đề cập đến quá trình hình thành, phát triển, cơ cấu
tổ chức của ngành bảo hiểm xã hội tỉnh Ninh Thuận
Trình bày, quy trình nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu sẽ được sử dụng trong nghiên cứu Ngoài ra, chương này trình bày các dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu
Chương 4: Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu
Nội dung chính của chương là trình bày và phân tích kết quả nghiên cứu Từ đó,
sẽ cung cấp những thảo luận về kết quả của nghiên cứu và so sánh với kết quả của các nghiên cứu trước đó
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Dựa trên những kết quả đã đạt được ở chương 4, chương cuối này sẽ đề xuất một
số giải pháp góp phần phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện của những người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Đồng thời, những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tương lai cũng được đề cập trong chương này
Trang 17CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU
và xu hướng mua
Fishbein và Ajzen (1975) đã nhìn nhận thái độ của khách hàng với đối tượng luôn liên quan một cách có hệ thống đối với hành vi của họ từ mô hình TRA Vì vậy mô hình này có mối quan hệ tốt hơn về niềm tin và thái độ của người tiêu dùng đến ý định hành vi Mô hình TRA giải thích các hoạt động phía sau hành vi, mô hình này cho thấy
ý định hành vi là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi tiêu dùng thực sự Nếu nhà nghiên cứu người tiêu dùng chỉ muốn quan tâm đến việc dự đoán hành vi tiêu dùng, họ có thể
đo lường ý định hành vi một cách trực tiếp Nhưng nếu nhà nghiên cứu quan tâm hơn nữa về sự hiểu biết các yếu tố cơ bản góp phần đưa đến ý định hành vi thì họ sẽ phải xem xét các yếu tố dẫn đến là thái độ và chuẩn chủ quan của khách hàng
Thái độ của khách hàng trong mô hình TRA được định nghĩa như là việc đo lường nhận thức (hay còn gọi là niềm tin) của khách hàng đối với một dịch vụ đặc biệt hoặc đo lường nhận thức của khách hàng về các thuộc tính của dịch vụ Khách hàng có thái độ ưa thích nói chung đối với những dịch vụ mà họ đánh giá tích cực và họ có thái
độ không thích đối với những dịch vụ mà họ đánh giá tiêu cực
Để hiểu rõ được ý định hành vi, chúng ta phải đo lường thành phần chuẩn chủ quan của người tiêu dùng Chuẩn chủ quan có thể được đo lường một cách trực tiếp thông qua việc đo lường cảm xúc của người tiêu dùng về phía những người có liên quan (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,…) sẽ nghĩ gì về ý định hành vi của họ, những người này thích hay không thích, đây là sự phản ánh việc hình thành thái độ chủ quan của họ
Mô hình TRA là một loạt các liên kết những thành phần thái độ Thái độ không ảnh hưởng mạnh hoặc trực tiếp đến hành vi mua Tuy nhiên, thái độ có thể giải thích trực tiếp được ý định hành vi Ý định hành vi thể hiện trạng thái ý định mua hay không
Trang 18mua một sản phẩm/ một dịch vụ trong thời gian nhất định Trước khi tiến đến hành vi mua thì ý định mua đã được hình thành trong suy nghĩ của người tiêu dùng Vì vậy, hành vi được tạo ra từ ý định, được quyết định bởi thái độ của mỗi người đối với việc thực hiện hành vi và các chuẩn mực chủ quan (Fishbein và Ajzen, 1975)
Hình 2.1: Mô hình hành động hợp lý (TRA)
(Nguồn: Fishbein và Ajzen, 1975)
2.1.1.2 Mô hình hành vi dự định (TPB – Theory of planned behavior)
Ajzen (1985) mở rộng mô hình hành động hợp lý (TRA) bằng cách đưa thêm các điều kiện khác vào mô hình đó là xét đến sự kiểm soát hành vi cảm nhận nhằm phản ánh nhận thức của người sử dụng về các biến bên trong và bên ngoài đối với hành vi Trong mô hình này, Fishbein và Ajzen cho rằng ý định hành vi bị ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan và sự kiểm soát cảm nhận đối với hành vi Thái độ đại diện cho niềm tin tích cực hay tiêu cực của con người và sự đánh giá về hành vi của mình Ngược lại, thái độ được hình thành từ niềm tin thể hiện ra bên ngoài về kết quả
cụ thể và sự đánh giá các kết quả đó Chuẩn mực chủ quan là nhận thức của con người
về áp lực chung của xã hội để thể hiện hay không thực hiện hành vi và ngược lại nó được quyết định bởi niềm tin chuẩn mực của con người Cuối cùng, sự kiểm soát hành
vi cảm nhận cho biết nhận thức của con người về việc thể hiện hay không thể hiện hành vi khi bị kiểm soát Con người không có khả năng hình thành ý định mạnh mẽ để thực hiện hành vi nếu họ tin rằng họ không có nguồn lực hay cơ hội cho dù họ có thái
Trang 19Một số nhà nghiên cứu đã xem xét tác động trực tiếp của thái độ, ảnh hưởng xã hội, (Scholderer & Grunert, 2001; Olsen, 2001), kiểm soát hành vi cảm nhận (Verbeke
& Vackier, 2005), các cảm nhận hành vi xã hội (Astrom & Rise, 2001; Berg, Jonsson
& Conner, 2000; Louis et al 2007) trong lĩnh vực hành vi tiêu dùng sản phẩm, dịch
vụ, nhưng vì chưa có nghiên cứu nào mà chúng ta biết đã kiểm định các cảm nhận hành vi xã hội trong việc tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ nói chung, và trong điều kiện Việt Nam nói riêng, vì vậy nghiên cứu này thừa nhận các kết quả của nghiên cứu trước tương ứng với các nhân tố của lý thuyết TPB mở rộng
2.1.2 Một số khái niệm cơ bản về BHXH Việt Nam
2.1.2.1 Khái niệm BHXH và Bảo hiểm xã hội tự nguyện
2.1.2.1.1 Khái niệm BHXH
Trong quá trình lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội cho thấy nhu cầu cơ bản của con người là ăn, mặc, ở Để đáp ứng nhu cầu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết Xã hội càng phát triển, mức độ thỏa mãn các nhu cầu của con người ngày càng cao Trong thực tế cuộc sống, không phải người lao động nào cũng có đủ điều kiện về sức khỏe, khả năng lao động để hoàn thành nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống ấm no hạnh phúc Bởi lẽ, người nào cũng có thể gặp phải những rủi ro, bất hạnh như ốm đau, tai nạn, già
và chết, hoặc thiếu công việc làm do những ảnh hưởng của tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh hoạt cũng như các tác nhân xã hội khác Khi rơi vào các trường hợp
đó, thì ngoài những nhu cầu thiết yếu của con người còn xuất hiện thêm nhu cầu mới Bởi vậy, muốn tồn tại, con người và xã hội loài người phải tìm ra những cách giải quyết khác nhau
Vì vậy để khắc phục những rủi ro, bất hạnh giảm bớt khó khăn cho bản thân và gia đình thì ngoài việc tự mình khắc phục, người lao động còn được sự bảo trợ của cộng đồng và xã hội Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống BHXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển
Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn ); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và Nhà
Trang 20nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật Lúc đầu chỉ có giới thợ tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật Đến cuối những năm 1880, BHXH đã mở ra hướng mới Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo cơ chế ba bên Tính chất đoàn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét và BHXH dần dần đã trở thành một trụ cột cơ bản của hệ thống ASXH và được tất cả các
nước thừa nhận là một trong những quyền con người (Nguồn: Tạp chí Bảo hiểm xã
hội số 01/2005, số 02/2005 và số 04/2005)
Từ đó khái niệm BHXH được khái quát như sau: BHXH là sự bảo đảm thay thế
hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập
do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động, chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH (Nguồn: Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014)
2.1.2.1.2 Khái niệm Bảo hiểm xã hội tự nguyện
Trên cơ sở khái niệm chung về BHXH, Bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN) được định nghĩa là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất
Điều đó có thể được hiểu BHXH tự nguyện là một loại hình BHXH do Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách, tổ chức thực hiện để động viên, khuyến khích người lao động tiết kiệm thu nhập để tham gia nhằm tạo một quỹ tích luỹ sử dụng bù đắp thu nhập, ổn định cuộc sống cho người lao động khi hết tuổi lao động, giảm bớt gánh nặng cho cộng đồng, gia đình, góp phần đảm bảo công bằng, an sinh xã hội Đối với người lao động việc tham gia hay không hoàn toàn do bản thân người đó quyết định Tính “tự nguyện” được thể hiện ở chỗ họ có quyền lựa chọn việc có tham gia hay không, lựa chọn mức đóng và phương thức đóng vào quỹ BHXH theo quy định của pháp luật để phù hợp với khả năng kinh tế của bản thân họ Tuy nhiên khi người lao động đã tham gia BHXH tự nguyện thì cũng phải thực hiện theo các quy định của Nhà nước
BHXH tự nguyện là một loại hình BHXH do nhà nước ban hành và quản lý để vận động, khuyến khích NLĐ và người sử dụng lao động tự nguyện tham gia, nhằm
Trang 21đảm bảo bù đắp một phần thu nhập cho chính bản thân NLĐ và gia đình họ bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập do gặp phải những rủi ro xã hội như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già, tử tuất… đồng thời góp phần đảm bảo công bằng và ASXH (Nguyễn Xuân Cường, 2013)
2.1.2.2 Bản chất của BHXH
BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa Khi trình độ phát triển kinh
tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời phát triển Vì vậy, sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh
tế Một nền kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân thấp kém không thể có một hệ thống BHXH vững mạnh được Kinh tế càng phát triển, hệ thống BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH ngày càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng phong phú Thực chất BHXH là sự tổ chức chia sẻ hậu quả của những rủi ro xã hội hoặc các
sự kiện bảo hiểm Sự chia sẻ này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ BHXH Như vậy, BHXH cũng là quá trình phân phối lại thu nhập Xét trên phạm vi toàn xã hội, BHXH là một bộ phận của GDP, được
xã hội phân phối lại cho những thành viên khi phát sinh nhu cầu BHXH như ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (TNLĐ-BNN), già yếu, chết Xét trong nội tại BHXH, sự phân phối của BHXH được thực hiện cả theo chiều dọc và chiều ngang Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối của chính bản thân người lao động theo thời gian (nghĩa là sự phân phối lại thu khi còn khả năng làm việc và khi không còn khả năng làm việc) Phân phối theo chiều dọc là sự phân phối giữa những người khỏe mạnh cho người ốm đau, bệnh tật; giữa những người trẻ cho người già; giữa những người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp Nói cách khác, đây là sự phân phối lại thu nhập theo không gian
Qua đây có thể thấy, BHXH góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ BHXH là quá trình tổ chức sử dụng thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nước (GDP) để thỏa mãn nhu cầu an toàn kinh tế của người lao động và an toàn xã hội BHXH mang cả bản chất kinh tế và cả bản chất xã hội Về mặt kinh tế, nhờ sự tổ chức phân phối lại thu nhập, đời sống của người lao động và gia đình họ luôn được bảo đảm trước những bất trắc, rủi ro xã hội Về mặt xã hội, do có sự san sẻ rủi ro của BHXH, người lao động chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất
Trang 22đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra Ở đây, BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lấy của
số đông bù cho số ít”
Tuy nhiên, tính kinh tế và tính xã hội của BHXH không tách rời mà đan xen lẫn nhau Khi nói đến sự bảo đảm kinh tế cho người lao động và gia đình họ là đã nói đến tính xã hội của BHXH, ngược lại, khi nói tới sự đóng góp ít nhưng lại đủ trang trải mọi rủi ro xã hội thì cũng đã đề cập đến tính kinh tế của BHXH
Dưới góc độ kinh tế, BHXH là sự bảo đảm thu nhập, bảo đảm cuộc sống cho người lao động khi họ bị giảm hay mất khả năng lao động Có nghĩa là tạo ra một khoản thu nhập thay thế cho người lao động khi họ gặp phải các rủi ro thuộc phạm vi BHXH Dưới góc độ chính trị, BHXH góp phần liên kết giữa những người lao động xuất phát từ lợi ích chung của họ
Dưới góc độ xã hội, BHXH được hiểu như là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi thu nhập của họ bị giảm hay mất Thông qua đó bảo vệ và phát triển lực lượng lao động xã hội, lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động ổn định trật tự xã hội
2.1.2.3 Vai trò BHXH
BHXH với các chế độ trợ cấp của mình sẽ tạo nên một hệ thống chăm lo và bảo
vệ người lao động và gia đình họ khi gặp phải các rủi ro làm giảm hoặc mất đi nguồn thu nhập Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội của đất nước, vai trò của BHXH trong hệ thống An sinh xã hội và trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng to lớn Có thể khái quát vai trò của BHXH như sau:
Một là, BHXH góp phần ổn định đời sống của người lao động tham gia BHXH Những người tham gia BHXH sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ
bị suy giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm hoặc chết Nhờ có sự thay thế hoặc
bù đắp thu nhập kịp thời mà người lao động khắc phục nhanh chóng những tổn thất về vật chất, nhanh phục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình hoạt động bình thường
Hai là, BHXH góp phần đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội Để phòng tránh, giảm thiểu tổn thất, các đơn vị sử dụng lao động phải đề ra các quy định chặt chẽ về an toàn lao động buộc người lao động tuân thủ Nhưng khi có rủi
ro xảy ra cho người lao động, quỹ BHXH chi trả kịp thời, tạo điều kiện cho người lao động nhanh chóng ổn định cuộc sống và sản xuất Từ đó góp phần quan trọng làm ổn định nền kinh tế và xã hội
Trang 23Ba là, BHXH làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước BHXH được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động, giữa các bên tham gia và được hưởng BHXH Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách BHXH, tổ chức ra cơ quan chuyên trách thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động sự nghiệp BHXH Người sử dụng và người lao động có trách nhiệm đóng góp để hình thành quỹ BHXH Người lao động và gia đình họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH khi có đủ điều kiện theo quy định Từ đó tạo được niềm tin của người lao động đối với người sử dụng khuyến khích người lao động phấn khởi, tinh thần trách nhiệm của họ cũng được nâng lên trong lao động sản xuất
Bốn là, BHXH góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Một mặt quỹ BHXH được sử dụng để chi trả các chế độ BHXH cho bản thân và gia đình người lao động, mặt khác phần quỹ nhàn rỗi được đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu bảo toàn và tăng trưởng quỹ Xét cả hai mặt trên thì hoạt động của quỹ BHXH đều nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Hơn nữa, phân phối trong BHXH là sự phân phối lại theo hướng có lợi cho người có thu nhập thấp, là sự chia sẻ giữa những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người
ốm yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống Từ
đó BHXH làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, góp phần bảo đảm sự công bằng xã hội
Năm là, BHXH trực tiếp thể hiện mục tiêu, lý tưởng, bản chất của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang phấn đấu để xây dựng thành nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
2.1.2.4 Phân biệt BHXH với Bảo hiểm thương mại
Bảo hiểm thương mại gồm những hoạt động mà ở đó các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro trên cơ sở người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro
đã thỏa thuận trước trên hợp đồng Ở Việt Nam, Bảo hiểm thương mại đang hoạt động với hai loại hình bảo hiểm là Bảo hiểm phi nhân thọ và Bảo hiểm nhân thọ Tương ứng với mỗi loại hình bảo hiểm có rất nhiều sản phẩm khác nhau Bảo hiểm phi nhân thọ
có các sản phẩm như: bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm tàu, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm sức khỏe, tai nạn, con người, bảo hiểm trách nhiệm, bảo hiểm dầu khí, hàng không, bảo hiểm hỏa hoạn, kỹ thuật - tài sản Bảo hiểm nhân thọ có các sản phẩm như: An sinh giáo dục, an khang thịnh vượng, an bình hưu trí, an hưởng hưu trí
Riêng BHXH hoạt động không vì mục đích kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận mà phục vụ cho lợi ích xã hội, vì quyền lợi của người tham gia BHXH Ở Việt Nam,
Trang 24BHXH được triển khai dưới hai hình thức là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện Sản phẩm của BHXH bắt buộc là trợ cấp hưu trí, tử tuất, mai táng phí, ốm đau, thai sản, nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khoẻ, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, khám chữa bệnh Sản phẩm của loại hình BHXH tự nguyện gồm khám chữa bệnh BHYT , riêng loại hình BHXH tự nguyện mới được triển khai từ tháng 1/2008, khi tham gia BHXH tự nguyện người tham gia sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí và tử tuất
Cùng với các quỹ tiền tệ khác, bảo hiểm thương mại có vai trò như một công cụ thực hiện bảo vệ con người, bảo vệ tài sản cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội Bảo hiểm thương mại hay BHXH cuối cùng cũng hướng đến mục tiêu là ổn định đời sống con người Tuy nhiên chúng ta có thể phân biệt ở những điểm khác nhau sau đây:
Bảng 2.1: Phân biệt BHXH với Bảo hiểm thương mại Yếu tố Bảo hiểm thương mại Bảo hiểm xã hội
- Thực hiện chính sách ASXH của nhà nước
quốc gia mà còn trải rộng xuyên quốc gia, bao gồm bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ
- Chỉ gói gọn trong sự nghiệp an sinh xã hội, chỉ diễn ra trong từng quốc gia
người
- Thu nhập người lao động
dụng lao động
dụng lao động, người lao động
- Sự hỗ trợ từ NSNN và nguồn viện trợ khác
rủi ro của đối tượng bảo hiểm dựa trên phạm vi bảo hiểm, giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm (do thỏa thuận giữa 2 bên)
- Dựa trên tiền lương hằng tháng của người lao động; quỹ lương người sử dụng lao động tham gia BHXH với 1 tỷ lệ nhất định do Nhà nước quy định
tư nhân (các tập đoàn, công ty, chi nhánh, đại lý…)
- Nhà nước là chủ thể duy nhất (thực hiện bởi cơ quan BHXH được tổ chức từ trung ương xuống địa phương) (Nguồn: Website baohiemxahoidabac.com)
(Nguồn: Website baohiemxahoidabac.com)
Trang 252.1.3 Chính sách BHXH
2.1.3.1 Khái niệm chính sách BHXH
Theo định nghĩa của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội:“Chính sách BHXH
là những quy định chung của nhà nước gồm những chủ trương, những định hướng lớn
về các vấn đề cơ bản của BHXH, như mục tiêu, đối tượng, phạm vi và chế độ trợ cấp, các nguồn đóng góp, cách thức thực hiện các chế độ BHXH”
Cùng với sự phát kinh tế xã hội của đất nước, chính sách bảo hiểm xã hội có vai trò to lớn trong hệ thống an sinh xã hội, có mối quan hệ tác động qua lại và hỗ trợ lẫn nhau với các chính sách xã hội khác để giải quyết các vấn đề liên quan đến con người
2.1.3.2 Chính sách BHXH trong hệ thống an sinh xã hội
Thuật ngữ an sinh xã hội (ASXH) được chính thức khai sinh với tư cách là tiêu
đề của một đạo luật ở Mỹ (Luật 1935 về An sinh xã hội), chỉ sự bảo vệ trong bốn trường hợp: tuổi già, chết, tàn tật và thất nghiệp.Trong hội nghị toàn thể các tổ chức lao động được Hội đồng quản trị của Văn phòng Lao động quốc tế triệu tập tại Geneve ngày 4/6/1952, Công ước 102 về an sinh xã hội ra đời và được ILO (Tổ chức Lao động quốc tế) thông qua ngày 28/6/1952 trở thành công ước quốc tế về an sinh xã hội Công ước 102 của ILO cho rằng: ASXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống đỡ sự hụt hẫng về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm đột ngột nguồn thu nhập vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và chết, kể cả sự bảo vệ chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình có con nhỏ Như vậy, ILO quan niệm đối tượng của ASXH là nhóm đối tượng có thu nhập không đủ trang trải cho những điều kiện tối thiểu và xã hội cần tiến hành đồng bộ các biện pháp công cộng khác nhau nhằm phân phối lại
Trong các cơ chế chủ yếu của hệ thống ASXH, BHXH là trụ cột quan trọng thứ nhất, tạo ra nguồn thu nhập thay thế trong trường hợp nguồn thu nhập bình thường bị gián đoạn đột ngột hoặc mất hẳn, bảo vệ cho những người lao động làm công ăn lương trong xã hội Các chế độ của BHXH đã hình thành khá lâu truớc khi xuất hiện thuật ngữ ASXH Hệ thống BHXH đầu tiên được thiết lập tại nước Phổ (nay là Cộng Hòa Liên Bang Đức) dưới thời của Thủ tướng Bismack (1850) và sau đó được hoàn thiện (1883-1889) với chế độ bảo hiểm ốm đau; bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp; bảo hiểm tuổi già, tàn tật và sự hiện diện của cả ba thành viên xã hội: người lao động; người sử dụng lao động và nhà nước Kinh nghiệm về BHXH ở Đức, sau đó, được lan dần sang nhiều nước trên thế giới, đầu tiên là các nước Châu Âu, tiếp đến là các nước Châu Mỹ Latinh, Hoa kỳ, Canada và cuối cùng là các nước Châu Phi, Châu Á
Trang 26Theo công ước 102 BHXH bao gồm 9 chế độ sau: (1) Chăm sóc y tế; (2)Trợ cấp
ốm đau; (3)Trợ cấp thất nghiệp; (4)Trợ cấp tuổi già; (5)Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; (6)Trợ cấp gia đình; (7)Trợ cấp thai sản; (8) Trợ cấp cho tình trạng không tự chăm sóc được bản thân (trợ cấp tàn tật); (9)Trợ cấp tuất
Việc áp dụng BHXH trên của quốc gia khác nhau thường cũng rất khác nhau về nội dung thực hiện tùy thuộc vào nhu cầu bức bách của riêng từng nơi trong việc đảm bảo cuộc sống của người lao động, ngoài ra, còn tùy thuộc vào khả năng tài chính và khả năng quản lí có thể đáp ứng Có nước quan tâm thực hiện các chế độ đảm bảo cho các rủi ro dễ xảy ra trước mắt như chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, các nước khác lại quan tâm đến các chế độ đảm bảo cho tuổi già, tuổi hưu trí, cho cái chết Tuy nhiên, xu hướng chung là theo đà phát triển kinh tế- xã hội, phù hợp với đặc điểm của từng nơi, bảo hiểm sẽ mở rộng dần về số lượng và nội dung thực hiện của từng chế độ
2.1.3.3 Các chính sách BHXH và các chế độ BHXH hiện hành tại Việt Nam
Trong quá trình thực hiện BHXH, hệ thống pháp luật và chính sách về BHXH ở nước ta đã dần dần được bổ sung và hoàn thiện Theo Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014, hiện nay chính sách BHXH nước ta gồm: chính sách BHXH bắt buộc và chính sách BHXHTN Đối với chính sách BHXH bắt buộc các chế độ BHXH hiện nay gồm: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất, tuy nhiên chính sách BHXHTN chỉ có hai chế độ là hưu trí
và tử tuất Tổng thể hệ thống BHXH Việt Nam được thể hiện trong hình 2.3
Hình 2.3: Tổng thể Hệ thống BHXH của Việt Nam
(Nguồn: Tạp chí kinh tế và dự báo số 15 (431) tháng 8/2008 – Đồng Quốc Đạt)
Trang 272.1.3.4 Chính sách BHXH tự nguyện
Đối tượng tham gia BHXHTN
- Người tham gia BHXHTN là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
- Cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến BHXHTN
- Đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 5 năm một lần;
- Đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người tham gia BHXH đã đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương theo quy định nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 10 năm (120 tháng) thì được đóng cho đủ 20 năm để hưởng lương Trường hợp người tham gia BHXH đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định mà thời gian đã đóng BHXH còn thiếu trên 10 năm nếu có nguyện vọng thì tiếp tục đóng BHXH TN theo một trong các phương thức trên cho đến khi thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 10 năm thì được đóng một lần cho những năm còn thiếu để hưởng lương hưu theo quy định
Mức đóng BHXHTN
- Mức đóng hằng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia BHXHTN lựa chọn Mức thu nhập tháng do người tham gia BHXHTN lựa chọn thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ
và cao nhất bằng 20 lần so với mức lương cơ sở tại thời điểm đóng
- Mức đóng 03 tháng hoặc 06 tháng hoặc 12 tháng một lần được xác định bằng mức đóng hàng tháng nhân với 3 đối với phương thức đóng 03 tháng; nhân với 6 đối với phương thức đóng 06 tháng; nhân với 12 đối với phương thức đóng 12 tháng một lần
- Mức đóng một lần cho nhiều năm về sau được tính bằng tổng mức đóng của các tháng đóng trước, chiết khấu theo lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân tháng
do Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố của năm trước liền kề với năm đóng
Trang 28- Mức đóng một lần cho những năm còn thiếu được tính bằng tổng mức đóng của các tháng còn thiếu, áp dụng lãi gộp bằng lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân tháng do Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố của năm trước liền kề với năm đóng
- Trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đã đóng theo phương thức đóng 03 tháng hoặc 06 tháng hoặc 12 tháng một lần hoặc đóng một lần cho nhiều năm
về sau mà trong thời gian đó Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn thì không phải điều chỉnh mức chênh lệch số tiền đã đóng
Hỗ trợ tiền đóng BHXH cho người tham gia BHXHTN
Mức hỗ trợ và đối tượng hỗ trợ:
Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo
tỷ lệ phần trăm (%) trên mức đóng bảo hiểm xã hội hằng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn, cụ thể:
- Bằng 30% đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ nghèo;
- Bằng 25% đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ cận nghèo;
- Bằng 10% đối với các đối tượng khác
Thời gian hỗ trợ tùy thuộc vào thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thực
tế của mỗi người nhưng không quá 10 năm (120 tháng)
Phương thức hỗ trợ:
- Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc đối tượng được hỗ trợ nộp số tiền đóng bảo hiểm xã hội phần thuộc trách nhiệm đóng của mình cho cơ quan bảo hiểm
xã hội hoặc đại lý thu bảo hiểm xã hội tự nguyện do cơ quan bảo hiểm xã hội chỉ định;
- Định kỳ 03 tháng, 06 tháng hoặc 12 tháng, cơ quan bảo hiểm xã hội tổng hợp số đối tượng được hỗ trợ, số tiền thu của đối tượng và số tiền, ngân sách nhà nước hỗ trợ theo mẫu do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Tài chính, gửi cơ quan tài chính để chuyển kinh phí vào quỹ bảo hiểm xã hội;
Chế độ hưu trí: Theo Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014:
Mức lương hưu hằng tháng
Từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành cho đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2018 mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH tương ứng với 15 năm đóng BHXH; sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động
đủ điều kiện quy định được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH
Trang 29được tính bằng 45% mức bình quân tháng đóng BHXH tương ứng với số năm đóng BHXH như sau:
a Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm
2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm;
b Lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản này được tính them 2%; mức tối
BHXH một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu:
Điều kiện hưởng: Người tham gia BHXHTN được hưởng BHXH một lần khi
thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi chưa đủ 20 năm đóng BHXH mà không tiếp tục tham gia BHXH;
Ra nước ngoài để định cư
Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đạn AIDS
và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế
c) Trường hợp thời gian đóng BHXH chưa đủ một năm thì mức hưởng BHXH bằng
số tiền đã đóng, mức tối đa bằng 02 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH
Trang 30 Chế độ tử tuất: Theo Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014:
Người tham gia BHXHTN khi chết thì thân nhân được hưởng chế độ trợ cấp mai táng phí (10 tháng lương tối thiểu đối với người đã có ít nhất 5 năm đóng BHXHTN hoặc người vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXHTN hay người đang hưởng lương hưu); Trợ cấp tuất 01 lần (Đối với người tham gia BHXHTN mà trước đó có thời gian tham gia BHXH bắt buộc dưới 15 năm hoặc đủ 15 năm nhưng thân nhân không đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng)
Trợ cấp tuất hàng tháng
Đối tượng: người đã có thời gian đóng BHXH bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên
(bao gồm người đang đóng BHXHTN; người đang bảo lưu thời gian đóng BHXHTN
và người đang hưởng lương hưu)
Mức trợ cấp tuất hàng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 50% mức lương tối
thiểu chung Trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hàng tháng bằng 70% mức lương tối thiểu chung
Số thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng không quá 4 người đối với
1 người chết Trường hợp có từ 2 người chết trở lên thì thân nhân của những người này được hưởng 2 lần mức trợ cấp hàng tháng
Thời điểm thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng kể từ tháng liền kề
sau tháng mà người tham gia BHXHTN chết
2.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.2.1 Các nghiên cứu trong nước
Lĩnh vực BHXH tự nguyện là vấn đề còn mới và hiện nay cũng chỉ thực hiện nghiên cứu trong phạm vi của một huyện hay một số ít các tỉnh Tại tỉnh Ninh Thuận, chưa có đề tài nghiên cứu về các ý định tham gia BHXH tự nguyện của những người buôn bán nhỏ lẻ Các đề tài nghiên cứu trong nước đa số hướng vào thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của những người buôn bán nhỏ lẻ, từ đó đưa ra các giải pháp phát triển BHXH tự nguyện cho những người buôn bán nhỏ lẻ Đề tài này cung cấp một số các nghiên cứu chính, quan trọng liên quan đến lĩnh vực này trong thời gian gần đây, nhất là kể từ khi Luật BHXH số 58/2014/QH13 được ban hành có nhiều sự thay đổi và có hiệu lực kể từ ngày 20/11/2014 Với thực tế của tác giả, những đề tài và bài viết sau đây đã được tiếp cận:
Trang 31Nghiên cứu tác giả Lê Thị Hương Giang năm 2010 về quyết định mua bảo hiểm
tự nguyện xe ô tô - Nghiên cứu thực tiễn tại thành phố Nha Trang đã dùng lý thuyết hành động hợp lý (TRA) và lý thuyết hành vi dự định (TPB) để giải thích các biến số ảnh hưởng, tác giả đã đưa ra một số biến số có thể áp dụng đối với mô hình của đề tài nghiên cứu như: thu nhập, giới tính, thái độ, hiểu biết …
Nghiên cứu của Trương Thị Phượng (2012) về các nhân tố ảnh hưởng ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức tại tỉnh Phú Yên Kết quả cho thấy “Truyền thông” giữ vai trò quan trọng tác động đến ý định tham gia bảo hiểm
xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức tại tỉnh Phú Yên Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa ý định tham gia BHXHTN của người lao động trong khu vực phi chính thức
Nghiên cứu của Phạm Thị Lan Phương và Nguyễn Văn Song (2013) về thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của người lao động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành điều tra 200 người, trong đó gồm 100 người đã tham gia BHXH tự nguyện
và 100 người chưa tham gia BHXH tự nguyện Số liệu nghiên cứu cho thấy số lượng người thuộc đối tượng tham gia BHXH tự nguyện theo ngành nghề có sự khác nhau
Số người tham gia hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nhiều gấp 3 lần số lao động thuộc lĩnh vực phi nông nghiệp Giai đoạn 2008-2012, mặc dù tổng số người tham gia BHXH tự nguyện có xu hướng tăng lên (bình quân tăng 106.7%/năm) song đối tượng tham gia thuộc lĩnh vực nông nghiệp lại có xu hướng giảm đi (từ 74.2% giảm xuống còn 71.1%) Kết quả điều tra cho thấy, nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện của người lao động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc rất lớn (khoảng 80%) Song số lượng người tham gia BHXH tự nguyện chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0.3%) trong tổng số đối tượng thuộc diện tham gia Có 7 nguyên nhân chính giải thích cho việc không tham gia BHXH tự nguyện của người lao động, đó là: (1) Việc làm không ổn định và thu nhập thấp (82%), (2) Mức phí đóng bảo hiểm cao (67%), thời gian để được thụ hưởng chế độ khá dài (58%), thủ tục tham gia còn rườm rà, phức tạp và chưa linh hoạt (65%), thiếu thông tin (56%), không tin tưởng (27%), không cần bảo hiểm (11%) Dựa trên dựa trên kết qủa nghiên cứu và phân tích, ba giải pháp cơ bản đã được đề xuất nhằm thu hút người lao động tham gia BHXH tự nguyện tại tỉnh Vĩnh Phúc
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ, Hồ Huy Tựu về một số nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia BHXH tự nguyện của người buôn bán
Trang 32nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An Nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia BHXH tự nguyện của người lao động buôn bán nhỏ, lẻ tại tỉnh Nghệ An Tác giả đã tiến hành khảo cứu các lý thuyết
về hành vi người tiêu dùng nói chung như TRA và TPB, đánh giá tổng quan các nghiên cứu trước đây liên quan đến hành vi người tiêu dùng nói chung và các nghiên cứu về sự quan tâm của người tiêu dùng trong lĩnh vực BHXH nói riêng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 7 biến tác động có ý nghĩa thống kê lên sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện với tầm quan trọng lần lượt là: Tuyên truyền về BHXH
tự nguyện, Ý thức sức khỏe, kiến thức về BHXH tự nguyện, Thái độ, Kỳ vọng gia đình, Trách nhiệm đạo lý và Kiểm soát hành vi Từ đây, tác giả đề xuất các hàm ý ứng dụng nhằm gia tăng sự quan tâm của những người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An đối với BHXH tự nguyện Mặc dù đề tài đã giải quyết tốt mục tiêu nghiên cứu đề ra, nhưng vẫn có một số hạn chế cần lưu ý Trước tiên, đề tài chưa khảo sát đối tượng lao động ở những vùng sâu, vùng xa Vì mỗi ngành nghề, vùng miền khác nhau
sẽ có các đặc điểm khác nhau về tính chất công việc, trình độ, nhận thức, tập quán Hơn nữa, mẫu nghiên cứu của đề tài này dựa trên phương pháp lấy mẫu thuận tiện nên
độ khái quát hóa của kết quả chưa cao Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, trong tương lai hướng nghiên cứu có thể là: mở rộng thêm các nhân tố khác để có một mô hình hoàn thiện hơn, thiết kế mẫu đại diện hơn để có một bức tranh tổng quát về thực trạng BHXH tự nguyện tại Nghệ An cũng như xác định chính xác hơn cường độ quan hệ giữa các biến Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng nên được kiểm định lại ở các tỉnh thành phố khác nhằm tăng cường độ tin cậy cho mô hình nghiên cứu; cuối cùng là nghiên cứu sự quan tâm tham gia BHXH tự nguyện ở các nhóm đối tượng khác thuộc khu vực phi chính thức như: cán bộ không chuyên trách của xã, phường, thị trấn, người làm nghề tự do
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thu Thảo (2017) thực hiện nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHXH tự nguyện của những người buôn bán nhỏ, lẻ tại tỉnh Bến Tre Đề tài đã thực hiện một quy trình chặt chẽ, dựa trên mẫu đại diện của người lao động khu vực này, đã xây dựng và điều chỉnh thành công các thang đo trên cơ sở dựa vào mô hình hành vi dự định (TPB)
Bùi Hoàng Minh Thư (2018) thực hiện đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của nông dân trên địa bàn tỉnh Phú Yên Nghiên cứu
Trang 33này tác giả đã đánh giá thực trạng tình hình tham gia BHXHTN tại tỉnh Phú Yên, đồng thời tiến hành xây dựng quy trình nghiên cứu định lượng một cách chặt chẽ, định tính thông qua phỏng vấn trực tiếp và định lượng dựa trên điều tra trên diện rộng và điều chỉnh phù hợp với thực tiễn tại tỉnh Phú Yên
Nghiên cứu của Phan Khoa Cương, Hồ Thị Hương Lan, Lê Hoàng Anh (2018) về phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên – Huế Trong giai đoạn 2015-2017, số người tham gia BHXHTN tại trên địa bàn tỉnh có sự gia tăng, nhưng còn rát hạn chế Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do đối với người dân phí đóng còn cao, thời gian thụ hưởng chế độ dài và lợi ích khi tham gia còn hạn chế Các tác giả đã để ra ba biện pháp nhằm cải thiện tình hình tham gia BHXHTN như nâng cao nhận thức và ý thức của người dân, mở rộng đối tượng tham gia và hoàn thiện chính sách BHXHTN
2.2.2 Các nghiên cứu ngoài nước
Đối với nghiên cứu ngoài nước hiện nay chủ yếu tập trung trên cơ sở lý thuyết về hành vi về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng hay về các chính sách BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) cho người dân của một số nước
Nghiên cứu của Labuan (2012) về sự tham gia của bảo hiểm hồi giáo đã dùng lý thuyết hành động hợp lý (TRA) và lý thuyết hành vi dự định (TPB) để giải thích các biến số ảnh hưởng đến mức độ quan tâm tham gia bảo hiểm hồi giáo Trong đó nhấn mạnh các yếu tố như thái độ, cảm nhận hành vi và hiểu biết về bảo hiểm có liên quan đến sự quan tâm tham gia bảo hiểm hồi giáo Nghiên cứu của Lin Liyue; Zhu Yu (2006), “Multi-level analysis on the determinants of social insurance participation of China’s floating population: a case study of six cities”
Nghiên cứu giúp tác giả định hướng rõ khi nghiên cứu gợi ý tìm ra nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHYT là “nhận thức về tính ASXH khi tham gia BHYT”,
“sự hiểu biết về BHYT”
Min-Sun Horng và Yung-Wang Chang (2007) đã nghiên cứu nhu cầu về bảo hiểm phi nhân thọ tại Đài Loan và đã tìm ra nhân tố “thu nhập” có ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH, BHYT Nghiên cứu của Frank Charles Maduga (2015), “Public communication and social security delivery in Tanzania”
Nghiên cứu này xem xét liệu có sự thay đổi thái độ từ an sinh xã hội truyền thống sang hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại hay không Nghiên cứu cũng khám phá các
Trang 34loại hình truyền thông đang diễn ra và gợi ý những cách thức mà việc truyền thông có thể được cải thiện để có kết quả tốt hơn Hơn nữa, nghiên cứu đánh giá nhận thức và mức độ hiểu biết của công chúng về các chương trình an sinh xã hội hiện đại Nó đánh giá sự chấp nhận và sự sẵn lòng của mọi người để tìm hiểu về các kế hoạch và khám phá các yếu tố cản trở sự tham gia bảo hiểm xã hội
Nghiên cứu của Maranga Sebastien Nguluwe (2016), “Extending access to social security to the informal sector in South Africa: Challenges and prospects” Nghiên cứu cho thấy hiện nay tại Nam Phi hình thành hai khía cạnh riêng biệt của hệ thống an sinh
xã hội: đó là khái niệm bảo hiểm (BHXH) và khái niệm tái phân phối (trợ cấp xã hội) Câu hỏi đặt ra cho Chính phủ Nam Phi là liệu nên tập trung vào BHXH hay trợ cấp xã hội Có rất nhiều vấn đề xảy ra khi xây dựng hai hệ thống này Về BHXH, những câu hỏi quan trọng là liệu các đóng góp của người lao động có thu nhập thấp có phải là tự nguyện hay bắt buộc Về trợ cấp xã hội, những câu hỏi liên quan đến việc những khoản trợ cấp của Chính phủ giúp ích được gì trong việc giảm thiểu những rủi ro trong cuộc sống của những người nghèo Nghiên cứu chỉ ra rằng, các khoản trợ cấp xã hội là một công cụ quan trọng cho xã hội, hỗ trợ trong khuôn khổ bảo trợ xã hội chung Trợ cấp xã hội không chỉ cung cấp cho hộ gia đình thu nhập mà còn hỗ trợ việc giảm tốc
độ đói nghèo Hiện nay, Nam Phi có khoảng 23 triệu người nghèo, chiếm 45.5% dân
số, chính vì vậy chính phủ Nam Phi ưu tiên nguồn lực tài chính cho việc giảm thiểu người nghèo đói, dần dần xóa bỏ rào cản xã hội đã hình thành từ lâu đời Hệ thống an sinh xã hội này trong tương lai gần có thể giúp Chính phủ Nam Phi giảm số lượng người nghèo đói đồng thời giúp họ tiếp cận được các dịch vụ y tế, học đường… nhưng
về lâu dài chính sách này dần dần trở thành một gánh nặng kinh tế cho Chính phủ, không khuyến khích được sự phát triển của đất nước Vì vậy, đề tài này nên phân tích sâu hơn về những ưu điểm và nhược điểm của hai khía cạnh trong hệ thống an sinh xã hội của Nam Phi hơn là nhấn mạnh việc Chính phủ ưu tiên lựa chọn chính sách nào Nhìn chung các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến việc tìm hiểu nguyên nhân nhằm gia tăng số người tham gia BHXH cũng như tìm hiểu các nhân tố tác động đến ý định tham gia của người lao động Trong đó, đa số các nghiên cứu đều dùng lý thuyết hành vi tiêu dùng tự định (TPB – Theory of Planned Behaviour) để giải thích, chứng minh Vì vậy, đề tài này vận dụng lý thuyết TPB làm cơ sở để đo lường ý định tham gia BHXH tự nguyện của những người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
Trang 352.3 Các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu
2.3.1 Các giả thuyết nghiên cứu
2.3.1.1 Thái độ đối với việc tham gia
Đối với nghiên cứu này, thái độ là thái độ của người tham gia BHXH tự nguyện được lấy từ mô hình TRA (Fishbein và Ajzen, 1975) và TPB (Ajzen, 1991) Thái độ được giả thuyết là một trong những nhân tố quyết định chính trong việc lý giải hành vi tiêu dùng (Olsen, 2004) Thái độ được định nghĩa là một xu hướng tâm lý được bộc lộ thông qua việc đánh giá một thực thể cụ thể (chẳng hạn quan tâm đến sản phẩm bảo hiểm) với một số mức độ cảm nhận lợi ích của sản phẩm, thích-không thích, thỏa mãn- không thỏa mãn và phân cực tốt- xấu (Eagly & Chaiken, 1993) Như vậy, đối với với các sản phẩm bảo hiểm, thái độ của người tham gia được hiểu là đánh giá về các lợi ích, sự hữu ích thích thú của họ mang tính chất ủng hộ hay phản đối việc mua các sản phẩm bảo hiểm Nếu người tham gia đánh giá rằng việc tham gia BHXH tự nguyện là hữu ích đối với họ, thì theo lô gic của lý thuyết TRA và TPB, mức độ quan tâm đối với tham gia BHXH tự nguyện sẽ mạnh hơn Từ các cơ sở trên ta có giả thuyết thứ nhất:
Giả thuyết X1: Thái độ có ảnh hưởng cùng chiều đến ý định tham gia BHXH tự nguyện
2.3.1.2 Tuyên truyền về BHXH tự nguyện
Tuyên truyền giữ vai trò như hoạt động quảng bá làm gia tăng sự quan tâm của người tiêu dùng Thông tin tuyên truyền BHYT nói riêng đóng vai trò định hướng, giúp cho người dân từ biết đến hiểu, từ hiểu đến thực hiện và tham gia phát triển thêm chính sách BHXH tự nguyện Một trong những nguyên nhân dẫn đến người dân không quan tâm, không muốn tham gia BHXH tự nguyện là họ thiếu hiểu biết, chưa thấy lợi ích của việc tham gia hoặc thiếu tin tưởng vào hệ thống tổ chức thực hiện Do đó, vấn
đề đặt ra là phải tuyên truyền để người dân hiểu rõ về chính sách, chế độ, vai trò, ý nghĩa, tác dụng cũng như những lợi ích của BHXH tự nguyện để họ biết, tin tưởng và nhiệt tình tham gia Có thể tuyên truyền dưới nhiều hình thức khác nhau như tổ chức các hội nghị, đối thoại trực tiếp hoặc trên truyền hình, thông qua internet, phát hành tờ rơi, dán panô, áp phích….Thông tin truyên truyền không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc phổ biến chính sách mà còn góp phần định hướng chính sách đối với người tham gia
Theo Đặng Thị Ngọc Diễm (2010), yếu tố truyền thông đã tác động đến việc tiếp cận và sử dụng BHYT hộ gia đình của người dân hiện nay Tuyên truyền giữ vai trò
Trang 36như hoạt động quảng bá trong marketing hướng đến việc nhận biết, sự gia tăng quan tâm của người tiêu dùng, gia tăng tiêu dùng…(Nguyễn Thị Hồng Cẩm, 2012) Theo Nguyễn Xuân Cường (2013) và Nguyễn Thị Tuyết Mai (2015), tuyên truyền giữ vai trò quan trong nhất ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia BHXH tự nguyện
Mặt khác, qua phỏng vấn thử các chuyên gia, thảo luận nhóm với một số người tiêu dùng trong khu vực phi chính thức thì họ đều cho rằng yếu tố truyền thông là cần thiết Vì theo họ thì truyền thông sẽ giúp mang thông tin đến với đại đa số người dân
để từ đó họ nâng cao nhận thức, hiểu được tính ưu việc của chính sách BHXH tự nguyện nói riêng và những chủ trương, pháp luật của Đảng và Nhà nước nói chung Nếu thông tin tuyên truyền tốt, người dân sẽ hiểu được quyền lợi khi tham gia BHXH tự nguyện, từ đó họ tự giác tham gia Ngược lại, nếu không làm tốt công tác này thì người dân sẽ không biết, không hiểu rõ khi tham gia mình được gì, mất gì, nên việc phát triển BHXH tự nguyện chắc chắn gặp nhiều khó khăn Vì vậy nghiên cứu này đề nghị:
Giả thuyết X2: Tuyên truyền có ảnh hưởng cùng chiều đến ý định tham gia
xã hội càng có chiều hướng gia tăng do đó nhu cầu cần được bảo hiểm ngày trở nên cấp thiết, người dân đã ý thức được sự cần thiết của các loại hình bảo hiểm để giảm thiểu rủi ro khi gặp phải những biến cố bất ngờ trong cuộc sống cũng như tính ổn định
ở tuổi già Tuy nhiên, sự hiểu biết về BHXH tự nguyện vẫn còn nhiều hạn chế, khiến người dân ngần ngại trước khi quyết định tham gia, có thể kể ra đây một vài yếu tố chủ yếu như: mức phí, thủ tục, quyền lợi, các điều khoản hợp đồng không rõ ràng và gây hoang mang, khó hiểu cho người dân Điều kiện hưởng chế độ chưa thực sự hấp dẫn, không như ý muốn… Theo Đồng Quốc Đạt, (2009) Với giả thuyết rằng kiến thức về chính sách BHXH tự nguyện của người dân càng tốt thì thì ý định tham gia BHXH tự nguyện càng tăng Từ đó ta có giả thuyết thứ 4:
Trang 37Giả thuyết X3: Kiến thức về BHXH có ảnh hưởng cùng chiều đến ý định tham gia
BHXH tự nguyện
2.3.1.4 Trách nhiệm đạo lý
Đối với người Việt Nam, với truyền thống con cái phải chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già, điều này đã trở thành đạo lý, phong tục, thấm sâu trong tiềm thức mỗi con người Việt Nam Tuy nhiên, với xã hội ngày càng phát triển thì ngày nay con người đã có sự thay đổi về nhận thức khác đi, có nghĩa là sống có trách nhiệm với bản thân hơn đặc biệt là quan tâm đến việc tiết kiệm, tích lũy khi có thu nhập ổn định để đảm bảo có một nguồn thu nhập đảm bảo cuộc sống khi về già, không phải phụ thuộc vào con cháu và không trở thành gánh nặng cho gia đình Đối với việc tham gia BHXH tự nguyện, đây là một chính sách góp phần đảm bảo an sinh xã hội, giảm thiểu rủi ro, có nguồn thu nhập ổn định và được đảm bảo sức khỏe khi về già Đối với những người có độ tuổi trung niên, đã có gia đình và con cái mà có nguồn thu nhập ổn định, chưa tham gia loại hình bảo hiểm nào thì việc quan tâm đến việc tham gia BHXH tự nguyện được xem là một quyết định có ý nghĩa với bản thân và thể hiện có trách nhiệm với gia đình và con cái Các nghiên cứu trước đây (Olsen (2003), Nguyễn Quốc Bình, 2013, Đỗ Toàn Thắng, 2015) cũng đã chứng tỏ rằng trách nhiệm đạo lý là biến
số quan trọng làm gia tăng sự quan tâm của người tiêu dùng Do đó có thể đưa ra giả thuyết thứ 5:
Giả thuyết X4: Trách nhiệm đạo lý có ảnh hưởng cùng chiều đến ý định tham gia
BHXH tự nguyện
2.3.1.5 Sự quan tâm đến sức khỏe khi về già
Thực tế hiện nay tại tỉnh Ninh Thuận, đời sống người dân đã phần nào được nâng cao, thu nhập tương đối ổn định nên người dân đặc biệt quan tâm đến sức khỏe của bản thân khi về già Vì vậy, người dân sẽ chủ động tìm hiểu đến các sản phẩm, dịch vụ đảm bảo cuộc sống, sức khỏe cho họ khi tuổi xế chiều Sự quan tâm đến sức khỏe là một biến số mang tính động cơ, vừa mang tính chuẩn mực cá nhân liên quan đến sức khỏe bản thân (Olsen, 2001) Ý thức sức khỏe cao dẫn đến sự quan tâm cao đối với việc tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ có lợi cho sức khỏe trong hiện tại cũng như tương lai, điều này phù hợp với các khuyến cáo của các tổ chức sức khỏe trên thế giới cũng như các nghiên cứu của Tổ chức Lao động thế giới Ý thức sức khỏe cũng đã được tìm thấy là có ảnh hưởng tích cực đến ý định tham gia BHXH tự nguyện (Nguyễn Quốc Bình, 2013; Đỗ Toàn Thắng, 2015) Từ đó ta có giả thuyết:
Trang 38Giả thuyết X5: Sự quan tâm sức khỏe khi về già có ảnh hưởng cùng chiều đến ý
định tham gia BHXH tự nguyện
2.3.2 Mô hình nghiên cứu
Qua nghiên cứu cơ sở lý thuyết và tham khảo các mô hình nghiên cứu có liên quan của các tác giả trong và ngoài nước, tác giả xin đề xuất mô hình nghiên cứu gồm:
01 biến phụ thuộc “ Ý định tham gia BHXH tự nguyện” và 05 biến độc lập “(1) Thái
độ đối với việc tham gia BHXH tự nguyện, (2) Tuyên truyền về BHXH tự nguyện, (3) Kiến thức về BHXH tự nguyện (4) Trách nhiệm đạo lý, (5) Sự quan tâm sức khỏe khi
Chương này trình bày tổng quan tài liệu nghiên cứu, cơ sở lý luận về bảo hiểm
xã hội, chính sách BHXH, BHXH tự nguyện; cơ sở lý thuyết về hành vi của người tiêu dung, khái quát về bản chất, vai trò của chính sách BHXH nói chung và chính sách BHXH tự nguyện nói riêng Ngoài ra, bằng việc tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có thể cho phép chúng ta so sánh, đánh giá chính sách BHXH tại Việt Nam
so với một số quốc gia trên thế giới Chương này đề xuất mô hình nghiên cứu với 5 giả thuyết Chương tiếp theo trình bày thực trạng ngành BHXH là cơ quan thực hiện chính sách BHXH tự nguyện tại tỉnh Ninh Thuận và phương pháp nghiên cứu
Sự quan tâm đến sức
khỏe khi về già
Thái độ đối với việc
tự nguyện
Các biến kiểm soát: Giới tính, tuổi, thu nhập,
Trang 39CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ BHXH TỈNH NINH THUẬN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Giới thiệu về BHXH tỉnh Ninh Thuận
Tên đầy đủ: Bảo hiểm xã hội tỉnh Ninh Thuận
Địa chỉ: Số 01A Hoàng Diệu, phường Tấn Tài, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận
Đến năm 1994, để đáp ứng yêu cầu khách quan của sự phát triển, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động, trong đó có quy định về BHXH bắt buộc; Quỹ BHXH từ chỗ chủ yếu do Nhà nước bảo đảm, đã dần tiến tới hình thành nguồn Quỹ tập trung, độc lập với ngân sách, tự hạch toán bằng sự đóng góp của chủ sử dụng lao động, người lao động, được Nhà nước bảo trợ…
Để thực hiện có hiệu quả chính sách BHXH theo cơ chế mới, Chính phủ ban hành Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 thành lập BHXH Việt Nam thuộc Chính phủ, trên cơ sở đó BHXH Việt Nam ban hành quyết định số 33/QĐ-BHXHVN ngày 20/7/1995 về việc thành lập BHXH tỉnh Ninh Thuận Với chức năng nhiệm vụ chính là giải quyết chế độ chính sách, tổ chức thu, chi BHXH và quản lý quỹ theo quy định của Nhà nước Những năm đầu thành lập, BHXH tỉnh có 08 đơn vị trực thuộc gồm 4 BHXH huyện, thị xã và 4 phòng nghiệp vụ (Thu, Chế độ chính sách, Kế hoạch - Tài chính và Tổ chức – Hành chính) với 24 cán bộ, công chức, viên chức (CB-CC-VC) trong đó chỉ có 04 CB-CC có trình độ đại học Cơ sở vật chất, điều kiện làm việc hết sức khó khăn Đến năm 1997 tách phòng Kiểm tra ra khỏi phòng Tổ chức - Hành chính; năm 2003, thành lập mới phòng Công nghệ - Thông tin
Trang 40Thực hiện tiến trình cải cách bộ máy nhà nước, ngày 24/01/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 20/QĐ-TTg chuyển Bảo hiểm Y tế (BHYT) sang BHXH; đối với Ninh Thuận chính thức sát nhập từ 01/01/2003 Như vậy, từ thời điểm này toàn ngành tổ chức thực hiện thống nhất các chế độ BHXH, BHYT cho người lao động và nhân dân
Cùng với sự phát triển của toàn ngành, BHXH tỉnh Ninh Thuận đã không ngừng lớn mạnh và phát triển cả về tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Đội ngũ CB-CC-VC của đơn vị lúc mới thành lập chỉ 24 người, chủ yếu từ ngành Lao động – Thương binh - Xã hội và Liên đoàn Lao động chuyển sang, năm 2003 tiếp nhận thêm 22 CB-CC-VC từ BHYT chuyển sang Qua 20 năm xây dựng và phát triển, đến ngày 1/1/2020, BHXH tỉnh Ninh Thuận có 172 CB-CC-VC- LĐHĐ làm việc tại 10 phòng nghiệp vụ BHXH tỉnh và 06 BHXH huyện Cụ thể như sau:
1 BHXH tỉnh Ninh Thuận
2 BHXH huyện Ninh Hải
3 BHXH huyện Ninh Sơn
4 BHXH huyện Ninh Phước
7 Phòng thanh tra – kiểm tra
8 Phòng truyền thông và phát triển đối tượng
9 Văn phòng
10 Phòng công nghệ thông tin
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao, từ khi thành lập đến nay, BHXH tỉnh Ninh Thuận đã không ngừng nỗ lực để tổ chức triển khai thực hiện tốt chính sách