1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích hiệu quả chi phí của các hộ nuôi ốc hương thương phẩm tại thị xã ninh hòa, tỉnh khánh hòa

93 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ với đề tài: “Phân tích hiệu quả chi phí của các hộ nuôi ốc hương thương phẩm tại thị xã Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa” là công trình nghiên cứu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

PHÙNG BÌNH THẢN

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CHI PHÍ CỦA CÁC HỘ NUÔI

ỐC HƯƠNG THƯƠNG PHẨM TẠI THỊ XÃ NINH HÒA,

TỈNH KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

PHÙNG BÌNH THẢN

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CHI PHÍ CỦA CÁC HỘ NUÔI

ỐC HƯƠNG THƯƠNG PHẨM TẠI THỊ XÃ NINH HÒA,

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS LÊ KIM LONG Chủ tịch Hội Đồng:

TS PHẠM THÀNH THÁI

Phòng Đào tạo Sau Đại học:

KHÁNH HÒA - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ với đề tài: “Phân tích hiệu quả chi phí

của các hộ nuôi ốc hương thương phẩm tại thị xã Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa”

là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Khánh Hòa, tháng 4 năm 2020

Tác giả luận văn

Phùng Bình Thản

Trang 4

LỜI CAM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được rất nhiều sụ giúp đỡ

vô cùng quý giá, không thể diễn tả hết bằng lời

Trước tiên, tôi xin được gửi lời cám ơn sâu sắc đến Thầy PGS.TS Lê Kim Long, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài

Tôi xin gửi lời cám ơn đến quý thầy cô trường Đại học Nha Trang, những người đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong thời gian vừa qua

Xin chân thành cám ơn UBND thị xã Ninh Hòa, UBND các xã, Hội Nông dân thị xã Ninh Hòa cùng các hộ nuôi trên địa bàn thị xã, đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tiến hành khảo sát địa bàn và cung cấp những số liệu, thông tin liên quan, hữu ích cho luận văn này

Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè

đã giúp đỡ, đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin chân thành cám ơn!

Khánh Hòa, tháng 4 năm 2020

Tác giả luận văn

Phùng Bình Thản

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CAM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC VIẾT TẮT ix

DANH MỤC BẢNG x

DANH MỤC HÌNH xi

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xii

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Ý nghĩa nghiên cứu 3

1.7 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1 Các khái niệm 5

2.1.1 Khái niệm về nông hộ 5

2.1.2 Kinh tế hộ 5

2.1.3 Kinh tế hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ 7

2.1.4 Kinh tế hộ nông dân là chủ thể trong sản xuất nông nghiệp 8

2.2 Tổng quan về ngành nghề nuôi ốc hương thương phẩm 12

2.2.1 Giới thiệu chung về ngành nghề nuôi ốc hương thương phẩm 12

Trang 6

2.2.2 Kỹ thuật nuôi ốc hương thương phẩm (Babylonia areolata, Link 1807) 16

2.2.3 Một số lưu ý khi nuôi ốc Hương thương phẩm 19

2.3 Các lý thuyết kinh tế 20

2.3.1 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả chi phí, kỹ thuật và phân bổ trong sản xuất 20

2.3.2 Phương pháp phân tích màng bao số liệu DEA 24

2.3.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả chi phí 26

2.3.4 Phương pháp phân tích màng bao số liệu (DEA) 27

2.3.5 Ưu và nhược điểm của phương pháp DEA 30

2.4 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 31

2.4.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 31

2.4.2 Công trình nghiên cứu ngoài nước 34

2.5 Khung Phân tích của nghiên cứu 35

2.6 Mô hình nghiên cứu 36

2.6.1 Các giả thuyết nghiên cứu 36

2.6.2 Các định nghĩa của nhóm biến 36

Tóm tắt chương 2 37

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

3.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 38

3.2 Phương pháp chọn mẫu/quy mô mẫu 38

3.2.1 Tổng thể 38

3.2.2 Phương pháp chọn mẫu 39

3.2.3 Kích thước mẫu cần thu thập 39

3.3 Loại dữ liệu cần thu thập 40

3.4 Công cụ phân tích dữ liệu 40

3.5 Khung Phân tích của nghiên cứu 41

3.6 Các giả thuyết nghiên cứu 41

Tóm lược chương 3 43

Trang 7

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44

4.1 Điều kiện tự nhiên huyện Ninh Hòa 44

4.1.1 Vị trí địa lý 44

4.1.2 Đặc điểm địa hình 45

4.1.3 Khí hậu 45

4.2 Thông tin về hiện trạng các hộ nuôi ốc hương trên địa bàn thị xã Ninh Hòa 45

4.2.1 Mô tả mẫu điều tra theo địa điểm nuôi ốc hương 45

4.2.2 Phân bố mẫu điều tra theo trình độ học vấn 46

4.2.3 Phân bố mẫu theo số người tham gia nuôi ốc hương 47

4.2.4 Phân bố mẫu theo kinh nghiệm của người nuôi ốc hương 47

4.2.5 Phân bố mẫu theo tham gia đào tạo tập huấn của người nuôi ốc hương 48

4.2.6 Phân bố mẫu theo mật độ nuôi 48

4.2.7 Phân bố mẫu theo số tuổi chủ hộ nuôi 48

4.3 Hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả phân bổ (AE) và hiệu quả chi phí (CE) của mô hình nuôi ốc hương thương phẩm trên 1 ha 49

4.3.1 Hiệu quả kỹ thuật (TE) 49

4.3.2 Hiệu quả phân bổ (AE) 50

4.3.3 Hiệu quả chi phí (CE) 50

4.3.4 Hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả phân bổ (AE) và hiệu quả chi phí (CE) của mô hình nuôi ốc hương thương phẩm dưới 1 ha 51

4.4.1 Hiệu quả chi phí (CE) 52

4.4.2 So sánh các thước đo hiệu quả của hai mô hình 52

4.5 Phân tích các thước đo hiệu quả của tổng thể các hộ nuôi ốc hương thương phẩm 53

4.5.1 Hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi ốc hương thương phẩm 53

4.5.2 Hiệu quả phân bổ của hộ nuôi ốc hương thương phẩm 54

4.5.3 Hiệu quả chi phí của hộ nuôi ốc hương thương phẩm 55

Trang 8

4.6 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả chi phí của nghề nuôi ốc hương thương

phẩm tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa 56

4.7 Kết quả ước lượng các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả chi phí 57

4.8 Thảo luận kết quả nghiên cứu 59

4.8.1 Các chỉ tiêu hiệu quả 59

4.8.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả chi phí của các hộ nuôi ốc hương thương phẩm 60

Tóm tắt chương 4 61

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

5.1 Kết luận 62

5.1.1 Hiệu quả chi phí của hai mô hình nuôi ốc hương thương phẩm trên 1 ha và dưới 1 ha 62

5.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả chi phí của các hộ nuôi ốc hương thương phẩm 63

5.2 Kiến nghị giải pháp 63

5.2.1 Đối với chính quyền địa phương 63

5.2.2 Đối với người nuôi 66

5.3 Hạn chế nghiên cứu và các hướng nghiên cứu tiếp theo 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC VIẾT TẮT

AE (Allocative Efficiency): Hiệu quả phân bổ

CE (Cost Efficiency): Hiệu quả chi phí

CRS ( Constant Returns to Scale): Hiệu suất không đổi theo quy mô

DEA ( Data Envelopment Analysis): Phương pháp màng bao dữ liệu DSR (Decreasing Returns to Scale): Hiệu suất giảm dần theo quy mô

KHCN : Khoa học công nghệ

NTTS: Nuôi trồng thủy sản

SE (Scale Efficiency): Hiệu quả theo quy mô

TE (Technical Efficiency): Hiệu quả kỹ thuật

UBND: Ủy Ban Nhân Dân

VRS (Variable Returns to Scale): Hiệu suất biến đổi theo quy mô

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Định nghĩa các biến được đưa vào mô hình 41

Bảng 4.1 Diện tích điều tra 86 hộ nuôi ốc hương năm 2018 46

Bảng 4.2 Trình độ học vấn lao động chính trong mô hình nghiên cứu 46

Bảng 4.3 Phân bố mẫu theo số người tham gia nuôi ốc hương 47

Bảng 4.4 Phân bố mẫu theo kinh nghiệm người nuôi 47

Bảng 4.5 Nông hộ nuôi ốc hương tham gia đào tạo tập huấn 48

Bảng 4.6 Phân bố mẫu theo mật độ nuôi 48

Bảng 4.7 Phân bổ mẫu điêu tra theo tuổi của chủ hộ nuôi ốc hương 48

Bảng 4.8 Hiệu quả kỹ thuật của mô hình nuôi ốc hương thương phẩm trên 1 ha 49

Bảng 4.9 Hiệu quả phân bổ của hộ nuôi ốc hương thương phẩm trên 1 ha 50

Bảng 4.10 Hiệu quả chi phí của các hộ nuôi ốc hương thương phẩm trên 1 ha 50

Bảng 4.11 Hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi ốc hương thương phẩm dưới 1 ha 51

Bảng 4.12 Hiệu quả phân bổ của hộ nuôi ốc hương thương phẩm dưới 1 ha 51

Bảng 4.13 Hiệu quả chi phí của hộ nuôi ốc hương thương phẩm dưới 1 ha 52

Bảng 4.14 So sánh giá trị trung bình các thước đo hiệu quả 52

Bảng 4.15 Hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi ốc hương thương phẩm 54

Bảng 4.16 Phân nhóm hiệu quả kỹ thuật 54

Bảng 4.17 Hiệu quả phân bổ của các hộ nuôi ốc hương thương phẩm 55

Bảng 4.18 Phân nhóm hiệu quả phân bổ 55

Bảng 4.19 Hiệu quả chi phí của các hộ nuôi ốc hương thương phẩm 56

Bảng 4.20 Phân nhóm hiệu quả chi phí của các hộ nuôi ốc hương thương phẩm 56

Bảng 4.21 Các nhân tố ảnh hưởng tới chỉ tiêu hiệu quảchi phí 57

Bảng 4.22 Kết quả phân tích mô hình hồi quy Tobit 57

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Ao nuôi ốc hương 14

Hình 2.2 ốc hương thương phẩm 15

Hình 2.3 ốc hương bán cho tiểu thương 15

Hình 2.4 ốc hương giống 18

Hình 2.5 Hiệu quả chi phí, kỹ thuật và phân bổ của Farrell (1957) 21

Hình 2.6 Sơ đồ phản ánh các chỉ tiêu hiệu quả 29

Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu 41

Hình 4.1 Bản đồ địa lý thị xã Ninh Hòa 44

Hình 4.2 Hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi ốc hương thương phẩm 53

Hình 4.3 Hiệu quả phân bổ của hộ nuôi ốc hương thương phẩm 54

Hình 4.4 Hiệu quả chi phí của hộ nuôi ốc hương thương phẩm 55

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Nghiên cứu “Phân tích hiệu quả chi phí của các hộ nuôi ốc hương thương

phẩm tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa” có mục tiêu là phân tích hiệu quả

chi phí; đồng thời xác định các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả chi phí của các

hộ nuôi ốc hương tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa Từ đó đề xuất một số khuyến nghị cho chính quyền và chủ hộ nhằm nâng cao hiệu quả chi phí

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu sơ cấp và thứ cấp Dữ liệu sơ cấp dựa trên việc khảo sát số liệu từ 86 hộ dân tại 3 địa bàn, xã Ninh Thọ, Ninh Phú và xã Ninh Phước của thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa cho năm sản xuất 2018 Số liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu từ năm 2015 đến năm 2018 Các phương pháp phân tích chính được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh và DEA để phân tích hiệu quả chi phí của mô hình nuôi ốc hương trên 1 ha và dưới 1 ha và mô hình hồi quy Tobit để đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố tới hiệu quả chi phí

Với mẫu khảo sát của nghiên cứu chính thức n = 86 hộ, kết quả chính của nghiên cứu cho thấy hộ nuôi ốc hương trên 1 ha có hiệu quả chi phí cao hơn các

hộ nuôi ốc hương dưới 1 ha Nhưng nhìn chung hiệu quả chi phí của các hộ nuôi

ốc hương tại thị xã Ninh Hòa là tương đối tốt, qua thống kê phân nhóm hiệu quả chi phí cho thấy các hộ nuôi tốt (có hiệu quả chi phí trên 90%) đạt 30,23%, các

hộ đạt mức khá (có hiệu quả chi phí từ 70-90%) thì chiếm 61,63%, còn lại có hiệu quả chi phí nhỏ hơn 70% là 8,14%

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hiệu quả chi phí của các hộ nuôi có quy

mô trang trại lớn hơn 1 ha là tốt hơn, nguyên nhân là do cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ đều tốt hơn các hộ nuôi có quy mô trang trại nhỏ hơn 1 ha Phân tích hồi quy Tobit cũng cho thấy yếu tố quy mô trang trại và mật độ nuôi ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả chi phí của các hộ nuôi ốc hương

Để hướng đến một nghề nuôi ốc hương bền vững, việc khuyến cáo người dân nuôi với mật độ thấp và tạo điều kiện thuận lợi để người dân tích tụ ruộng đất đóng vai trò quan trọng

Từ khóa: Phân tích, Hiệu quả chi phí, thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa

Trang 13

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu

Ốc hương (Babylonia areolata) là một đặc sản biển cao cấp, xuất khẩu rất

được giá và những năm gần đây nghề nuôi ốc hương đã thật sự đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Ốc hương ở nước ta được xuất khẩu từ ngày con giống nhân tạo và Khánh Hòa đã trở thành “cái nôi” của nghề nuôi ốc hương dù đây là khu vực không có loại thủy sản này phân bố Tại VN, năm 1998 nhóm các nhà khoa học thuộc Trung tâm Nghiên cứu thủy sản 3 - Nha Trang (nay là Viện Nghiên cứu nuôi nuôi thủy sản 3) bắt đầu khởi xướng hướng nghiên cứu về đặc điểm sinh học, kỹ thuật sản xuất giống và nuôi ốc hương thương phẩm

Trong những năm gần đây, nghề nuôi ốc hương thương phẩm và sản xuất giống nhân tạo ốc hương ở các tỉnh miền Trung bắt đầu rộ lên như là một nghề mang lại lợi nhuận cao Nhiều người đã đổ xô nuôi loại đặc sản biển này Chính

vì thế, ngày càng nhiều các công trình nghiên cứu về các đặc điểm nuôi ốc hương được các nhà khoa học nghiên cứu và làm rõ nhằm góp phần phát triển nghề nuôi thủy sản này Tuy nhiên, hầu hết các đề tài chỉ mới tập trung vào việc nghiên cứu đặc điểm sinh học của ốc hương, nguồn thức ăn và các yếu tố mang lại hiệu quả kinh tế cho các nông hộ mà khan hiếm các đề tài liên quan đến hiệu quả chi phí của nghề này

Hiệu quả chi phí đo lường tiềm năng tiết kiệm chi phí sản xuất của nghề nuôi ốc hương quyết định đến giá thành khả năng cạnh tranh và lợi nhuận của nghề nuôi loại thủy sản đặc biệt này Vì vậy, việc hiểu rõ về hiệu quả chi phí này cũng như các nhân tố tác động đến hiệu quả chi phí của nghề nuôi ốc hương là một điều cần thiết, và cần được nghiên cứu để giúp nâng cao khả năng kinh tế cho các hộ nuôi thủy sản

Xuất phát từ bối cảnh thực tế của sự phát triển của ngành nuôi ốc hương tại Việt Nam nói chung, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa nói riêng; và các hạn hẹp trong các nghiên cứu trước đã thôi thúc tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu

“hiệu quả chi phí của các hộ nuôi ốc hương thương phẩm tại thị xã Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa”

Trang 14

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Với đề tài này tác giả mong muốn sẽ phân tích được hiệu quả chi phí của các hộ nuôi ốc hương thương phẩm tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa Từ đó

có giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả chi phí cho các hộ nuôi ốc

hương thương phẩm tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa trong thời gian tới

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Các nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung giải đáp các câu hỏi:

Việc nuôi ốc hương tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa đạt hiệu quả cao không?

Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả chi phí của các hộ nuôi ốc hương thương phẩm tại xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa?

Những giải pháp nào có thể nâng cao hiệu quả chi phí ốc hương của thị xã Ninh Hòa trong thời gian tới ?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về hiệu quả chi phí của các hộ nuôi ốc

hương thương phẩm tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi không gian: lựa chọn xã tập trung nuôi ốc hương lớn và đặc trưng của vùng cụ thể gồm có: xã Ninh Thọ, xã Ninh Phú và xã Ninh Phước thuộc thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

- Đề tài nghiên cứu sử dụng những số liệu sơ cấp là số liệu thô thực hiện lấy mẫu trong năm 2019 về dữ liệu sản xuất năm 2018, các số liệu thứ cấp được thu thập

và sử dựng phương pháp so sánh và DEA là số liệu của giai đoạn 2015 – 2018

Trang 15

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, tác giả điều tra, thu thập trên

cơ sở phiếu điều tra có hướng dẫn cách trả lời của 86 hộ nông dân nuôi ốc hương thương phẩm tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa Tất cả các thông tin thu thập được mã hóa các câu trả lời Sau đó, tác giả tiến hành nhập dữ liệu vào máy tính và sử dụng các phần mềm thống kê để mô tả, phân tích và kiểm định đối với các biến số cần nghiên cứu

Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phần mềm Microsoft Excel để nhập dữ liệu điều tra và xử lý số liệu thô Sau đó, sử dụng phương pháp phân tích màng bao dữ liệu DEA và kiểm định trung bình mẫu độc lập để đánh giá hiệu quả chi phí của ngành nghề nuôi ốc hương, sử dụng hàm hồi quy tobit để tìm các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chi phí

1.6 Ý nghĩa nghiên cứu

* Lý thuyết:

Kết quả của đề tài là hệ thống hóa về mặt lý luận, đo lường hiệu quả kỹ thuật, giúp cho người đọc có được cái nhìn tổng quát về bản chất của hiệu quả cũng như đo lường hiệu quả bằng phương pháp phân tích màng bao dữ liệu (DEA) Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo để các nghiên cứu sâu hơn về phân tích hiệu quả của việc sử dụng chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp

Tác giả xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả chi phí ngành nghề nuôi ốc hương của các hộ nuôi thủy sản tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa nhằm hỗ trợ nghiên cứu tham khảo, đóng góp vào cơ sở lý thuyết cho các nghiên cứu khác có liên quan

* Thực tiễn:

Đề tài này tác giả đánh giá thực trạng về tình hình các nhân tố ảnh hưởng đến ngành nghề nuôi ốc hương của các hộ nuôi thủy sản tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa để đề ra các giải pháp nhằm giúp các hộ nuôi ốc hương thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa nâng cao hiệu quả chi phí, qua đó sẽ nâng cao được lợi nhuận đầu tư, giúp nông dân có thể yên tâm và nuôi tốt hơn Đồng thời, với

Trang 16

kết quả nghiên cứu này sẽ giúp cho các nhà quản lý nuôi ốc hương, các công ty đầu tư có được những gợi ý quản trị tốt hơn cho công tác của mình

1.7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được chia làm

5 chương chính như sau:

Chương 1: Giới thiệu Chương này xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn của đề tài, cấu trúc của luận văn

Chương 2: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết Chương này trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết về nông hộ, kinh tế hộ, hiệu quả kinh tế, hiệu quả

sử dụng chi phí, hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành nghề nuôi ốc hương Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng chi phí Bên cạnh đó, chương cũng tổng quan các nghiên cứu trước trong và ngoài nước liên quan đến đề tài

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày cách tiếp cận nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu, loại dữ liệu thu thập và các công cụ phân tích dữ liệu; khung phân tích và các giả thuyết nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày khái quát về hiện trạng ngành nghề nuôi Ốc hương thương phẩm tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hoà Phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí Sự ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến hiệu quả sử dụng chi phí, của ngành nghề nuôi Ốc hương thương phẩm tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hoà Mối tương quan giữa hiệu quả sử dụng chi phí của ngành nghề nuôi Ốc hương thương phẩm

Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương này trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, gợi ý một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí của các hộ nuôi Ốc hương thương phẩm tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hoà

Trang 17

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các khái niệm

2.1.1 Khái niệm về nông hộ

Từ nhiều nghiên cứu cho thấy, có nhiều quan niệm của các nhà khoa học

về hộ Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ: Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công Theo Liên hợp quốc: Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và

có chung một ngân quỹ

Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triến Trải qua mỗi thời kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau song vẫn có bản chất chung đó là: Sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích luỹ cho gia đình và xã hội (Nguyễn Phạm Hùng, 2014)

Hộ nông dân còn được định nghĩa là các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng lớn hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao (Ellis, 1993)

Có nhiều định nghĩa về hộ, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu hộ có những đặc điểm sau: Hộ nông dân có những nét đặc trưng riêng, có cơ chế vận hành khá đặc biệt, không giống những đơn vị kinh tế khác, ở nông hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu và quản lí, sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất trao đổi, phân phối, sử dụng và tiêu dùng Do

đó, nông hộ có thể cùng lúc thực hiện nhiều chức năng mà các đơn vị khác không có được

2.1.2 Kinh tế hộ

Hộ là đơn vị kinh tế cơ sở mà ở đó diễn ra quá trình phân bố, tổ chức lao động, chi phí cho sản xuất, tiêu thụ, thu nhập, phân phối và tiêu dùng Về mặt

Trang 18

kinh tế, hộ gia đình có mối quan hệ gắn bó không phân biệt về tài sản, những người sống chung trong một gia đình có nghĩa vụ trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế Nghĩa là mỗi thành viên đều phải có nghĩa vụ đóng góp công sức vào quá trình xây dựng, phát triển của nông hộ và có trách nhiệm đối với kết quả sản xuất được Nếu sản xuất được kết quả cao, sản phẩm thu được người chủ hộ phân phối trước hết nhằm bù đắp chi phí bỏ ra, làm nghĩa vụ với nhà nước theo quy định của pháp luật, phần thu nhập còn lại nhằm trang trải cho các mục tiêu sinh hoạt thường xuyên của hộ gia đình và tái sản xuất lại Nếu kết quả sản xuất không khả quan, chủ hộ có trách nhiệm cao nhất và đồng trách nhiệm trong gia đình

Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của xã hội, trong

đó các nguồn lực của đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tuỳ thuộc vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển

Có ý kiến khác lại cho rằng, kinh tế nông hộ bao gồm toàn bộ các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng Kinh

tế hộ thể hiện được các loại hộ hoạt động kinh tế trong nông thôn như hộ nông nghiệp, hộ nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp, ngư nghiệp

Tôi đồng tình với quan niệm của Frank Ellis, về kinh tế hộ nông dân có thể tóm tắt như sau: "Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức

độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường" (Ellis, 1988)

Nhìn chung kinh tế hộ nông dân có những đặc điểm cơ bản sau:

+ Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống Về mức

độ phát triển có thể trải qua các hình thức: kinh tế hộ sinh tồn, kinh tế hộ tự cấp

tự túc và kinh tế hộ sản xuất hàng hoá

+ Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất Giải quyết mối quan hệ giữa nông

Trang 19

dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế nông hộ Ở nước ta, từ năm

1988 khi Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho các hộ nông dân, sản xuất nông nghiệp - mà đặc biệt là sản xuất lúa, đã có mức tăng chưa từng có

về năng suất và số lượng Người nông dân phấn khởi trong sản xuất Một vấn đề rất quan trọng ở đây là việc xác nhận họ được quyền kiếm sống gắn bó với mảnh đất của họ

+ Kinh tế hộ chủ yếu sử dụng lao động gia đình, việc thuê mướn lao động mang tính chất thời vụ không thường xuyên hoặc thuê mướn để đáp ứng nhu cầu khác của gia đình Một thực tế là hiệu quả sử dụng lao động trong nông nghiệp rất cao, khác với các ngành kinh tế khác

+ Sản xuất của hộ nông dân là tập hợp các mục đích kinh tế của các thành viên trong gia đình, thường nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn của cộng đồng Kinh tế hộ nông dân là tế bào kinh tế của sản xuất nông nghiệp, tất yếu có quan hệ với thị trường song mức độ quan hệ còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường Nếu tách họ ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại

2.1.3 Kinh tế hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ

Để đưa hộ nông dân tiến lên sản xuất hàng hoá thì điều quan trọng đầu tiên là phải xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ về mặt kinh tế, pháp

lý, thể hiện trên các mặt sau:

- Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất: Hộ nông dân phải có quyền sở hữu

về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác Ở nước ta chỉ khi giao quyền sử dụng đất ổn định và lâu dài cho các hộ nông dân thì hộ nông dân mới bắt đầu có quyền tự chủ trong sản xuất Cùng với việc giao quyền sử dụng ruộng đất cho hộ nông dân, họ còn được quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế ruộng đất như Luật đất đai đã quy định

- Quan hệ về quản lý: Do làm chủ về tư liệu sản xuất nên hộ nông dân cũng làm chủ trong quản lý sản xuất Hộ là người lựa chọn, định hướng sản xuất, định chỉ tiêu kế hoạch và thực hiện kế hoạch sản xuất về mặt pháp lý Hộ nông dân là đơn vị kinh tế độc lập do một người chủ hộ hay một người cónăng lực và uy tín trong gia đình đứng ra quản lý

Trang 20

Về hình thức quản lý cũng có những hộ liên doanh theo kiểu 2-3 hộ gia đình tự nguyện hợp nhất trong một "hộ" lớn hơn với tư cách pháp nhân mới để

có thêm năng lực về vốn, ruộng đất, kỹ thuật, có thêm sức cạnh tranh với các hộ khác Các dạng nông hộ này hiện nay có ở một số ngành sản xuất tương đối đặc biệt như nuôi tôm cá ven biển, sản xuất tiểu thủ công nghiệp -những ngành cần nhiều vốn và kỹ thuật hơn sản xuất truyền thống

- Về phân phối: Hộ nông dân có toàn quyền phân phối các sản phẩm làm

ra, các chi phí đều được tính từ đầu vụ người nông dân được kích thích sản xuất bằng vật chất do chính họ làm ra, không bị lãng phí hoặc bị chiếm đoạt trong khâu phân phối sản phẩm Sau khi dành cho tiêu dùng, họ có thể tự do mang trao đổi sản phẩm của mình trên thị trường mà không gặp bất cứ một sự ngăn cản nào Điều này sẽ kích thích nông hộ sản xuất hàng hoá

Hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, tự họ chịu trách nhiệm về những rủi ro trong sản xuất, tự quyết định sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Chính điều này làm cho hộ nông dân phải tính toán kỹ về hiệu quả kinh tế trong sản xuất, họ trở nên năng động trong kinh doanh Kết quả là tư liệu sản xuất, sức lao động được sử dụng có hiệu quả nhất Trong các yếu tố xác nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ trình bày ở trên, quyền được sử dụng ruộng đất lâu dài và làm chủ trong phân phối sản phẩm làm ra là hai yếu tố quan trọng nhất

2.1.4 Kinh tế hộ nông dân là chủ thể trong sản xuất nông nghiệp

a Sự tồn tại khách quan của kinh tế nông hộ

Cũng giống như quá trình sản xuất vật chất khác của xã hội, quá trình sản xuất nông nghiệp được tiến hành theo bốn giai đoạn: sản xuất - chế biến, bảo quản - lưu thông - tiêu dùng Ở bất cứ nước nông nghiệp nào, các quá trình trên đều do hộ nông dân, các trang trại đảm nhận hoặc ở từng giai đoạn đều có mối liên hệ chặt chẽ với nông dân Sản xuất nông nghiệp ở mọi quốc gia đều mang tính chất truyền thống lâu đời Nền nông nghiệp đã trải qua các hình thái kinh tế khác nhau như: nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Hiện nay kinh tế hộ gia đình được thừa nhận là hình thức kinh tế có hiệu quả nhất trong nông nghiệp Sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ và trang trại trong suốt lịch sử phát triển của ngành nông nghiệp là do những nguyên nhân khách quan sau:

Trang 21

- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật, các cơ thể sống, quá trình sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp là quá trình chuyển hoá về vật chất và năng lượng thông qua sự sinh trưởng của cây trồng, con gia súc Đó là quá trình liên tục đòi hỏi phải có sự chăm sóc thường xuyên của con người Nó khác hoàn toàn với các quy trình, các sản phẩm có thể phân chia rõ ràng trong các dây chuyền sản xuất công nghiệp Đặc thù trên của sản xuất nông nghiệp phù hợp với lao động có trách nhiệm trong gia đình, nó cũng phù hợp với kiểu tổ chức sản xuất gia đình, sản xuất trang trại Traianốp - nhà nông học Nga nổi tiếng đã rút ra kết luận: Càng gần, càng gắn bó với quá trình sinh học thì sản xuất càng mang tính hộ gia đình; càng xa quá trình sinh học càng có nhu cầu liên kết, tập trung hoá và chuyên môn hoá

- Về mặt xã hội, hộ nông dân là một tế bào bền vững của xã hội, là đơn vị tiêu chuẩn sản xuất cơ bản của nông nghiệp, mang tính đa dạng, phân tán, phức tạp của nghề nông, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và lao động Đặc điểm này làm cho sản xuất nông nghiệp phù hợp với sản xuất của hộ gia đình hơn bất kỳ tổ chức nào khác

Sự phát triển của công cụ sản xuất từ chiếc gậy dùng để chọc lỗ gieo hạt đến các công cụ thủ công và tiến bộ hơn là cày bừa, dùng sức kéo súc vật đến máy móc cơ khí ngày nay vẫn không làm mất đi công trình của kinh tế hộ gia đình Đối tượng dùng các công cụ sản xuất ấy là lao động gia đình Thực tiễn ở nước ta cho thấy, kinh tế hộ gia đình có sức sống riêng của nó, tuy trong thời gian dài ít được chú ý phát triển hoặc hạn chế và ngăn cản, nhưng sự tồn tại khách quan đã quyết định sự vận động và phát triển của nó, thể hiện khá rõ nét tính hiệu quả của sản xuất trên đất 5% của gia đình là bằng chứng mạnh mẽ của kinh tế hộ gia đình Đối với sản xuất nông nghiệp, không ở đâu, không một tổ chức nào có hiệu quả sản xuất cao như ở khu vực gia đình Thay đổi công cụ lao động chỉ trợ giúp cho các quá trình biến đổi sinh học diễn ra trong sản xuất chứ không làm thay đổi bản chất của quá trình đối với mục đích khai thác tốt hơn các điều kiện tự nhiên phục vụ cho con người Chính đặc điểm này quy định sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại Trong sản xuất

Trang 22

nông nghiệp cũng diễn ra quá trình xã hội hoá sản xuất Nhưng do đặc điểm riêng của ngành nông nghiệp - đối tượng của nó là các cá thể hoặc quần thể sinh vật, kết quả của sản xuất là các sản phẩm nông nghiệp- đòi hỏi quá trình sản xuất liên tục không thể phân chia thành các bán thành phẩm, từ người đầu tiên bắt đầu quy trình sản xuất đến sản phẩm cuối cùng; tốt nhất vẫn là do các hộ nông dân đảm nhận Hơn ai hết, họ gắn liền cuộc sống của gia đình họ với đất đai, với sản phẩm cuối cùng Từ những nhận định như trên có thể kết luận, đặc thù riêng của quá trình sản xuất nông nghiệp đã quyết định sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ gia đình là một đơn vị chủ thể của tổ chức sản xuất xã hội

b Vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển nông nghiệp

Như trên đã trình bày về sự tồn tại khách quan của hộ nông dân là do đặc điểm rất riêng của sản xuất nông nghiệp Nhiều nhà nghiên cứu đều thừa nhận

hộ là đơn vị kinh tế cơ bản, là chủ thể sản xuất nông nghiệp

Năm 1925, Traianốp - nhà nông học Nga xuất sắc đã nghiên cứu hình thái của gia đình nông dân không có lao động làm thuê và chỉ sử dụng sức lao động gia đình là hình thức tổ chức sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao trong điều kiện sản xuất nông nghiệp còn làm bằng thủ công Tổng kết kinh nghiệm của mô hình trang trại ở Mỹ, Anh, Hà Lan, Italia, ông cũng chứng minh sức sống của kinh tế hộ trên mảnh đất gia đình Một số nhà khoa học khác của lý thuyết phát triển coi kinh tế hộ là: "hệ thống các nguồn lực" có nghĩa hộ là đơn vị để duy trì

và phát triển nguồn lao động, vốn , đảm bảo cho quá trình phát triển của ngành nông nghiệp cũng như của toàn xã hội Hệ thống nguồn lực của hộ được sử dụng theo phương thức khác nhau, do đó đem lại hiệu quả khác nhau Vì thế các tác giả đã đưa ra ý kiến về chiến lược sử dụng các nguồn lực của hộ trong nông thôn Về phương diện lịch sử thì một trong những con đường tích luỹ cơ bản cũng bắt đầu từ quá trình kinh doanh của các gia đình Xã hội càng phát triển thì

sự phân công lao động càng diễn ra sâu sắc, càng tạo nhiều cơ hội để các cá nhân, các hộ tự nguyện tham gia vào sự phân công lao động của xã hội, xoá bỏ

sự ép buộc lao động đã có thời diễn ra ở một số nước, trong đó có nước ta Trong thành quả của cải cách kinh tế của các nước, có những đóng góp quan

Trang 23

trọng của kinh tế hộ Ở Trung Quốc đã giao quyền tự chịu trách nhiệm trong sản xuất và đơn vị sản xuất cơ bản ở nông thôn, vì thế sản xuất đạt kế tquả ngạc nhiên Trong nông thôn hình thành nhiều loại hình nông hộ, công nghiệp nông thôn phát triển nhanh, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế 12 -13%/ năm của nước này Các nước khác trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, Philippines trong chiến lược phát triển kinh tế cũng rất chú ý tới khu vực kinh tế nông thôn mà hạt nhân cơ bản là kinh tế nông hộ

Rất nhiều cuộc hội thảo quốc tế về kinh tế hộ đã khẳng định, ở các nước trong khu vực chủ thể kinh tế nông nghiệp là hộ nông dân Khi sản xuất gặp khó khăn và có biến động lớn thì kinh tế nông hộ có khả năng thích ứng cao, nó có khả năng phục hồi rất nhanh sau mỗi biến động Ở nước ta trong thời kỳ hợp tác hoá nông nghiệp, kinh tế hộ cũng chỉ được coi là "kinh tế phụ gia đình" nhưng trên thực tế sản xuất của nông hộ chiếm tới 48% giá trị tổng sản lượng nông nghiệp, thu nhập từ kinh tế gia đình chiếm 50-60% tổng thu nhập của hộ, Tuy kinh tế tập thể sử dụng trên 90% đất đai và các tư liệu sản xuất chủ yếu nhưng thu nhập của người nông dân từ kinh tế tập thể cũng chỉ chiếm 40-50% Thời kỳ này thực chất là thời kỳ trì trệ nhất của nông nghiệp nước ta trong hơn 30 năm qua Từ khi Nghị quyết 10 xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất - kinh doanh, kinh tế hộ đã có những bước phát triển đáng kể và khẳng định vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá

ở nước ta Nó thể hiện rõ trên các mặt:

- Phát huy tốt các tiềm lực sản xuất (lao động, đất đai, tiền vốn và các kinh nghiệm sản xuất ) để tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá cho xã hội, tạo ra bước tiến quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta từ những năm 1990 đến nay

- Phát triển kinh tế hộ tạo cho sản xuất phát triển, mặt khác mở rộng thị trường sản phẩm hàng hoá cho quá trình phát triển công nghiệp thành thị và nông thôn

- Phát triển kinh tế hộ không chỉ có vai trò to lớn về kinh tế mà nó còn có

ý nghĩa rất lớn về mặt xã hội vì việc gia tăng sản phẩm hàng hoá và hiệu quả

Trang 24

kinh tế trong nông nghiệp đã tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống - cơ sở kinh tế vũng chắc để giải quyết các vấn đề xã hội

2.2 Tổng quan về ngành nghề nuôi ốc hương thương phẩm

2.2.1 Giới thiệu chung về ngành nghề nuôi ốc hương thương phẩm

NTTS ở nước ta đã có sự thay đổi về phương thức và hoạt động tổ chức sản xuất Chuyển mạnh từ sản xuất mang tính tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa đáp ứng thị trường; từ quy mô hộ gia đình đơn lẻ sang quy mô trang trại, công ty và tổ hợp tác và chuyển từ nuôi các đối tượng truyền thống sang nuôi các đối tượng có giá trị thương mại cao Bên cạnh đó, hậu cần dịch vụ cho NTTS ngày càng được chú trọng, đặc biệt con giống, thuốc đã được nghiên cứu

và áp dụng vào sản xuất có hiệu quả Nhà máy chế biến các mặt hàng thủy sản được đầu tư xây dựng ngày càng nhiều, với công nghệ áp dụng tiên tiến đã đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm cho người nuôi và cung cấp sản phẩm thủy sản cho các thị trường trên thế giới để thu ngoại tệ cho đất nước; các mặt hàng thủy sản ngày càng được đa dạng hóa, đảm bảo chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong và ngoài nước

Chính vì thế, trong những năm qua NTTS nước ta đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ và đóng góp ngày càng to lớn trong ngành thủy sản nói riêng và kinh tế của đất nước nói chung Tốc độ tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu bình quân năm 14,72%/năm (giai đoạn 1995-2010) Năm 1995 chỉ đạt 621,4 triệu USD, đến năm 2010 đã đạt 4,94 tỷ USD (tăng gấp gần 8 lần) Về sản lượng thủy sản của cả nước tăng trung bình 9,87%/năm trong giai đoạn 1990-

2010, trong đó NTTS tăng trung bình 16,59%/năm, khai thác tăng trung bình 6,54%/năm; cơ cấu sản lượng từ NTTS chiếm từ 18% tổng sản lượng thủy sản toàn quốc năm 1990 đã tăng lên đến 56% năm 2010 (gần 2,8 triệu tấn) Giá trị sản xuất toàn ngành (theo giá thực tế) tăng từ 26.551,5 tỷ đồng năm 2000 lên 145.973 tỷ đồng năm 2010; trong đó giá trị sản xuất từ NTTS đạt 11.813,8 tỷ đồng năm 2000, (chiếm 44,5% tổng giá trị toàn ngành) tăng lên đạt 84.058,4 tỷ đồng năm 2010, chiếm 57,58% tổng giá trị sản xuất

Trang 25

Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn, song nghề NTTS nước ta vẫn còn nhiều tồn tại và đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức mới; nhiều nơi vì chạy theo lợi ích kinh tế đã phát triển tự phát không theo quy hoạch, trong khi đó cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất chưa được đầu tư đầy đủ, đồng bộ; việc áp dụng kỹ thuật mới, tiên tiến vào sản xuất còn nhiều hạn chế do thiếu vốn, thiếu

kỹ thuật; phát triển theo phong trào diễn ra nhiều nơi dẫn đến tình trạng ứ đọng sản phẩm, đặc biệt vẫn còn tình trạng bị ép giá vào thời điểm thu hoạch; thị trường xuất khẩu đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, rào cản thương mại ngày càng xiết chặt, cạnh tranh rất lớn đối với các nước xuất khẩu cùng mặt hàng,… Bên cạnh đó, trong sản xuất vẫn tiềm ẩn nguy cơ về dịch bệnh, ô nhiễm môi trường; công tác quản lý còn nhiều bất cập, chính sách thiếu về số lượng và hiệu lực thi hành chưa cao, chưa kịp thời, lực lượng cán bộ mỏng, năng lực hạn chế, trang thiết bị thiếu…

Hiệu lực của công tác quy hoạch đối với vấn đề quản lý cũng như triển khai các đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản còn khá khiêm tốn và chưa thực

sự phát huy tác dụng Chất lượng của công tác quy hoạch và thực thi quy hoạch còn nhiều bất cập, chồng chéo, mâu thuẫn Bên cạnh đó công tác quản lý và khâu nối từ quy hoạch đến thực hiện chương trình, dự án ở các địa phương gần như bị bỏ ngỏ, không được tổ chức giám sát, đánh giá và điều chỉnh kịp thời

Để khai thác và sử dụng hiệu quả tiềm năng NTTS cần thiết phải dựa vào điều kiện tự nhiên của từng vùng, điều kiện kinh tế xã hội của từng khu vực, khả năng đầu tư cho phát triển sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm và đặc biệt là năng lực nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ vào sản xuất,… trong

đó ngành nghề nuôi Ốc hương thương phẩm của các hộ gia đình tại thị xã Ninh

Hòa, tỉnh Khánh Hòa hiện nay đang ngày càng được phát triển và nhân rộng

Nếu năm 2015, diện tích nuôi ốc hương toàn tỉnh Khánh Hòa có 29 ha, thì năm 2016, diện tích đã tăng đến 111,55 ha, đến năm 2018 các hộ nuôi ốc ven biển tại thị xã Ninh Hòa tăng lên 341,3 ha Con ốc hương đang được coi là đối tượng nuôi triển vọng mà các hộ nuôi tôm thương phẩm thất bại chọn chuyển đổi

Trang 26

ao nuôi ốc hương, nhiều hộ nuôi tôm lân cận sợ rằng ao đìa nuôi ốc hương lẫn lộn trong vùng sẽ làm ảnh hưởng nghề nuôi tôm Song qua một thời gian nuôi đã chứng minh việc nuôi xen ốc hương trong vùng nuôi tôm không gây ảnh hưởng

gì, ngược lại còn là yếu tố quan trọng góp phần cải tạo ao đìa, môi trường vùng nuôi Trong thực tế, các ao đìa nuôi ốc hương phải thay nước hằng ngày nên nước luôn sạch, thức ăn cho ốc hương dù tươi sống nhưng không bao giờ bỏ thừa trong ao nên không gây ô nhiễm

Trang 27

Hình 2.2: ốc hương thương phẩm

Ngay từ khi khởi phát nghề nuôi ốc hương, Chi cục NTTS tỉnh trước đây

đã hướng dẫn các hộ nuôi ốc hương trên cát thu gom, xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường xung quanh và thường xuyên giám sát chặt chẽ Đến nay chưa có bằng chứng nào về tác động xấu của nghề nuôi ốc hương đến nuôi tôm, thay vào đó việc chuyển đổi đối tượng nuôi như ốc hương còn giúp cải tạo môi trường ao Điều đáng lo chính là giá cả đầu ra Năm 2015, ốc hương với giá bán khá cao, dao động 180.000-220.000 đồng/kg (loại 130 con/kg), hầu hết người nuôi đều có lãi; ở Ninh Phước, trung bình với diện tích nuôi 5 sào, có nhiều người lãi 2-3 tỷ đồng Thế nhưng, năm 2017 có thời điểm ốc hương bị tư thương

ép chỉ còn giá 120.000-130.000 đồng/kg, tức ngang với giá thành sản phẩm nên người nuôi không có lãi Tuy nhiên sau Tết giá tăng trở lại, hiện đang ở mức bán 180.000 đồng/kg (loại 60-80 con/kg)

Hình 2.3: ốc hương bán cho tiểu thương

Tính đến ngày 4/08/2017, tỉnh Khánh Hòa có khoảng 55 ha ao, đìa nuôi

ốc hương bị thiệt hại hoàn toàn, tập trung chủ yếu ở các địa phương vùng ven biển thị xã Ninh Hòa và huyện Vạn Ninh

Trang 28

Nghề nuôi ốc hương ở Khánh Hòa phát triển mạnh từ năm 2000 đến nay,

do đối tượng nuôi này cho giá trị kinh tế cao khi có giá từ 180.000 - 200.000 đồng/kg Để nghề nuôi ốc hương phát triển bền vững, ngành nông nghiệp Khánh Hòa đang nhân rộng mô hình “Nuôi kết hợp ốc hương với hải sâm và rong nho theo chuỗi giá trị” Mô hình này đang cho hiệu quả cao, khi năng suất ốc hương đạt 3,1 tấn/ha, hải sâm 2,1 tấn/ha và rong nho 3,8 tấn/ha

Bên cạnh đó, mô hình còn hạn chế được dịch bệnh, do đối tượng nuôi kết hợp là hải sâm và rong nhỏ có khả năng làm sạch môi trường nước trong ao nuôi

Tuy đầu tư vốn gấp đôi nuôi tôm nhưng với mức giá 180.000 đồng/kg sẽ cho thu nhập gấp 2,3 lần và không sợ bị rủi ro do dịch bệnh Từ hiệu quả kinh tế mang lại khá cao, để phát triển bền vững nghề nuôi ốc hương, Chi cục Thủy sản tỉnh khuyến khích và định hướng người nuôi tập trung đầu tư phát triển sản xuất theo chiều sâu, áp dụng các tiến bộ khoa học-kỹ thuật, đồng thời cần liên kết nhau trong việc tiêu thụ sản phẩm, tránh để tư thương ép giá

2.2.2 Kỹ thuật nuôi ốc hương thương phẩm (Babylonia areolata, Link 1807)

Công trình nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm ốc hương (Babylonia areolata, Link 1807) là công trình nghiên cứu đầu tiên và hoàn chỉnh về đối tượng ốc hương, một đối tượng xuất khẩu có giá trị ở nước ta Những nghiên cứu về sinh học, sinh thái, phân bố

là cơ sở khoa học cho việc quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn lợi ốc hương và cũng là cơ sở để xây dựng các biện pháp kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm

Lần đầu tiên ở Việt Nam đã cho sinh sản nhân tạo thành công giống ốc hương và nuôi thành ốc hương thương phẩm Công trình đã tạo ra qui trình công nghệ sản xuất giống nhân tạo tương đối ổn định và qui trình công nghệ nuôi ốc hương thương phẩm đạt hiệu quả kinh tế Công nghệ trên đã đưa ốc hương từ đối tượng hoang dã tự nhiên trở thành đối tượng nuôi thuỷ sản xuất khẩu và mở

ra triển vọng phát triển một nghề nuôi mới cho nhân dân các tỉnh ven biển miền Trung Công trình đã được giải thưởng sáng tạo Khoa học - Công nghệ Việt Nam 2001 và bước đầu đã được áp dụng ở nhiều nơi trong cả nước Hiện nay,

Trang 29

ốc hương đang được nuôi ở các tỉnh miền Trung như Khánh Hoà, Phú Yên, Quảng Ngãi, Ninh Thuận, Bình Thuận và Thừa Thiên Huế Nuôi ốc hương đã mang lại hiệu quả kinh tế cho các hộ ngư dân, đã tạo được niềm tin vào lợi ích của việc đầu tư nuôi ốc hương và đó chính là cơ sở để phát triển nghề nuôi ốc hương trong nhân dân Ðể cung cấp kiến thức mới đến tận người nuôi trồng thuỷ sản, Thông tin KHCN và Kinh tế Thuỷ sản xin trân trọng giới thiệu phần 3 của công trình là kỹ thuật nuôi ốc hương thương phẩm

Có 4 loại hình nuôi ốc hương thương phẩm: nuôi đăng, nuôi lồng, nuôi ao đất, nuôi bể xi măng Tuỳ thuộc điều kiện tự nhiên, vị trí nuôi từng vùng mà chọn loại hình nuôi cho thích hợp

a Ðiều kiện vùng nuôi

Chọn vị trí đặt lồng hoặc cắm đăng nuôi ở vùng nước trong sạch, chất đáy cát hoặc cát san hô, ít bùn Có độ mặn từ 25 – 35% và ổn định Nguồn nước không bị ảnh hưởng nước ngọt do tác động của nước sông vào mùa mưa Lồng, đăng được làm chắc chắn, có lưới bảo vệ bên ngoài ngăn không cho cá dữ, cua ghẹ lọt vào ăn ốc Ðộ sâu đặt lồng hoặc cắm đăng từ 1,5 mét nước trở lên

Ðăng nuôi phải chôn sâu xuống dưới cát ít nhất 10 cm để tránh ốc chui ra ngoài Ðộ cao lưới cắm đăng phải vượt quá mức nước triều cao nhất 1m để ốc không bị sóng đánh ra ngoài Trong quá trình nuôi thường xuyên kiểm tra lưới, phát hiện kịp thời dịch hại để diệt trừ, thường xuyên làm vệ sinh lồng lưới để nước lưu thông Lồng nuôi phải được chôn sâu dưới lớp cát đáy 5cm để có nền cát cho ốc vùi mình

Vùng nước trong sạch, không bị ảnh hưởng bởi nước ngọt, độ mặn 35% phần nghìn, pH 7,5-8,5, nhiệt độ 26-30 oC Chọn vùng có mực nước sâu ít nhất 1,5 m Ðăng nuôi chôn sâu xuống dưới đáy ít nhất 10 cm và cao hơn 1 m so mực nước triều cao nhất Mực nước trong ao nuôi 0,8 - 1,5 m, có hệ thống cấp thoát nước thuận lợi Nếu nuôi trong bể xi-măng thì bể nuôi cần che mát, đáy rải cát mịn dày 10-15 cm, mực nước nổi 0,5-1 m

25-b Thả giống

Kích cỡ giống : Cỡ giống thả tối thiểu đạt 8.000 - 10.000 con/kg trở lên

Trang 30

Mật độ thả ốc giống tùy thuộc vào kích thước ốc giống và hình thức nuôi Nuôi trong lồng đăng thả 500-1.000 con/m2 (với loại 8-9.000 con/kg); nuôi trong ao thả 50-100 con (loại 5-6.000 con/kg); nuôi trong bể xi-măng thả 100-

200 con (với loại 10-12.000 con/kg)

Hình 2.4: ốc hương giống

c Thời gian nuôi

Từ 5 - 6 tháng tuỳ theo điều kiện môi trường nuôi và quá trình quản lý chăm sóc

d Chăm sóc, quản lý

Thức ăn: Cá, cua, ghẹ, trai nước ngọt, don, sút, lượng thức ăn hằng ngày bằng 5 - 10% trọng lượng ốc nuôi Cá không quá nhỏ, để nguyên con thả vào cho

ăn Trai, sút, sò, hàu đập vỡ vỏ, cua, ghẹ lột mai, đập bể càng trước khi cho ăn

Theo dõi lượng thức ăn thừa hằng ngày để điều chỉnh hệ số thức ăn cho phù hợp Với toàn bộ thức ăn thừa, xương, đầu, cá, vỏ sò ra khỏi lồng để tránh ô nhiễm nước

Trường hợp nuôi lâu đáy lồng quá bẩn, có mùi hôi ốc sẽ không ăn và yếu dần, cần chuyển lồng sang vị trí mới Nuôi trong đăng cắm cố định cần ngăn thành nhiều ngăn, ốc được chuyển sang ngăn mới khi ngăn cũ nuôi lâu ngày đáy bẩn

Cho ốc hương ăn tôm, cá, thịt nghêu băm nhỏ (đã bỏ xương, vỏ) Thức ăn được băm ra (đối với loại thức ăn có kích thước lớn) và rửa sạch trước khi cho vào bể nuôi để hạn chế ô nhiễm Thức ăn được rãi đều khắp bể nuôi vì ốc hương giai đoạn nhỏ chỉ vận động được trong một bán kính nhất định

Trang 31

Mỗi ngày cho ốc hương ăn 2 lần ở 3 tháng đầu và 1 lần ở tháng thứ 4 trở

đi, cho ốc ăn vào buổi chiều tối Lượng thức ăn tùy theo tháng tuổi:

Tháng thứ nhất: 15 – 20% trọng lượng ốc nuôi

Tháng thứ hai: 10 – 15% trọng lượng ốc nuôi

Tháng thứ ba: 8 – 10% trọng lượng ốc nuôi

Tháng thứ tư về sau: 5 – 7% trọng lượng thân ốc nuôi

Phải đảm bảo cho ốc ăn đầy đủ Vào mỗi buổi sáng nên vớt tất cả thức ăn thừa: xương, đầu, cá, vỏ sò… ra khỏi bể trước khi thay nước và cho ăn Ngoài ra nên trộn thêm vitamine C, B1 Vào trong thức ăn để giúp ốc sinh trưởng nhanh

và tăng khả năng đề kháng của cơ thể Khi ốc nuôi đạt trọng lượng 60-80 con/kg thì tiến hành thu hoạch

2.2.3 Một số lưu ý khi nuôi ốc hương thương phẩm

Thứ nhất: Khâu cải tạo ao là quan trọng nhất, đặc biệt là cải tạo nền đáy cho sạch sẽ Vì phần lớn thời gian ốc Hương vùi mình trong cát, chỉ ngoi lên khi được cho ăn, nếu đáy cát không được làm sạch ngay từ đầu thì với lượng lớn thức ăn tươi hàng ngày sử dụng cùng với thời gian nuôi dài từ 5 đến 6 tháng sẽ làm đáy ao ô nhiễm, từ đó các mầm bệnh sẵn có trong ao sẽ bùng phát thành dịch Rút cạn nước, phơi đáy ao giữa các vụ nuôi, kết hợp bón vôi sát trùng ao,

sử dựng thêm clorua đẻ xử lý là việc làm cần thiết, thời gian phơi ao ngắt vụ từ 1 tháng trở lên, kết hợp dọn dẹp sạch rong và ốc tạp từ vụ trước để lại, lượng vôi bón từ 7 đến 10 kg/100 m2 Phủ lên đáy ao lớp cát biển sạch, dày khoảng 5 - 10

cm để ốc vùi mình

Thứ hai: Chọn con giống có chất lượng tốt, đã qua kiểm dịch Ốc có kích

cỡ đồng đều, vỏ mỏng màu sáng, có lớp da vỏ phát triển bên ngoài, có các vân màu nâu đậm Vỏ hoàn chỉnh, không bị mục hoặc bị gãy đỉnh vỏ, hình thành các vòng xoắn Không có dấu hiệu cho thấy ốc bị sưng vòi Kích cỡ giống 0,5 cm/con, mật độ thả 50 con/m2

Thứ ba: Thức ăn sử dụng là tôm, cá tạp, phải đảm bảo độ tươi, không có

mùi ôi thối, không bị dập nát, được vệ sinh sạch sẽ Không có hóa chất bảo quản Không mang mầm bệnh đối với ốc hương Lượng thức ăn hàng ngày bằng

Trang 32

5 - 10% khối lượng ốc trong ao Thức ăn được thả vào các sàn hoặc vó, đặt đều khắp trong ao Sau khi cho ăn 3 - 4 giờ, đặc biệt vào giờ vớt là khoảng 13h đến 15h hàng ngày thì gió nhiều tạo nên sống ảnh hưởng đáy đọng tạo bọt vào trong

ao ở cuối bờ hồ thì lúc này trong toàn bộ thức ăn thừa, xương, đầu cá ta vớt ra khỏi ao để tránh ô nhiễm

Thứ tư: Ao nuôi phải được thiết kế hợp lý, trong ao phải có đăng lưới để

ngăn không cho ốc bò đi Tùy vào hình thức nuôi đơn hay nuôi ghép ốc hương với các đối tượng khác mà bố trí đăng chắn cho phù hợp Thời gian đầu ốc còn nhỏ nên chắn lưới khoanh vùng diện tích nhỏ để ương nuôi, vừa dễ dàng chăm sóc, thu gom thức ăn thừa, vừa tiết kiệm lượng cát sạch làm nền đáy ao Sau khi

ốc đạt kích cỡ lớn hơn mới thêm cát sạch và mở rộng đăng chắn

Thứ năm: nên nuôi ghép với một số đối tượng khác, vừa tận dụng diện

tích mặt nước, tăng thêm thu nhập, vừa để xử lý, cải thiện môi trường nước ao nuôi Các đối tượng có thể nuôi ghép với ốc hương như cá dìa, rong câu, rong nho, tu hài, hải sâm

Trang 33

khái niệm hiệu quả chi phí, kỹ thuật và phân bổ cũng như mối liên hệ giữa các chỉ số này thông qua Hình vẽ 1 với trường hợp sản xuất đơn giản gồm 2 đầu vào

và một đầu ra như sau (để khái quát hóa, xem Chavas & Aliber, 1993)

A

Hình 2.5 Hiệu quả chi phí, kỹ thuật và phân bổ của Farrell (1957)

Nguồn: Điều chỉnh từ Bogetoft & Otto (2010)

Với đầu ra và công nghệ sản xuất không đổi, tập công nghệ được định nghĩa ở trên có thể được viết lại thành tập đầu vào đó là

Với đầu ra y = y 0 không đổi và công nghệ sản xuất cho trước thì tập đầu vào (hay còn gọi là vùng sản xuất khả thi) chính là phần bên phải của đường biên

giới hạn khả năng sản xuất Rõ ràng, vùng này có hai đặc điểm là (i) tập lồi (convex); và (ii) với đầu ra không đổi, y 0, gia tăng đầu vào thì việc sản xuất luôn khả thi với công nghệ cho trước Tất cả các kế hoạch sản xuất phối hợp hai đầu

vào, x 1 và x 2, nằm trong vùng khả thi của sản xuất thì đều có thể sản xuất ra mức

đầu ra y 0 với công nghệ hiện tại

Hiệu quả chi phí, được đề cập đầu tiên bởi Farrell (1957), là khái niệm liên quan đến việc lựa chọn tỉ lệ phối hợp và sử dụng các yếu tố đầu vào sao cho chi phí sản xuất tối thiểu với sản lượng đầu ra, công nghệ và giá của các đầu vào

cho trước Giả sử rằng giá của đầu vào x 1 và x 2 lần lượt là r 1 và r 2 Lúc đó, AB là

Trang 34

đường đẳng phí, tức các kế hoạch sản xuất kết hợp x 1 và x 2 nằm trên đường AB đều có cùng một mức chi phí sản xuất, c 0 Đây là đường thẳng có hệ số góc

chính là tỉ trọng về giá thị trường của hai đầu vào (r 2 /r 1), như sau (Varian và cộng sự, 2010):

Khi giá thị trường cho trước, các đường đẳng phí sẽ dịch chuyển song song

và càng xa gốc tọa độ nếu các mức chi phí sản xuất càng lớn Như vậy, để sản

xuất ra y 0 với công nghệ và giá các đầu vào cho trước thì trạng thái sản xuất cho

chi phí sản xuất tối thiểu là tại C(x 1C , x 2C ), điểm mà đường đẳng phí (AB) tiếp tuyến với đường biên giới hạn khả năng của sản xuất (hay đường đẳng lượng y

= y 0) trên Hình vẽ 1

Farrell (1957) cho rằng, để sản xuất ra được đầu ra không đổi y 0 với công nghệ và giá các đầu vào cho trước, thì hiệu quả chi phí được định nghĩa chính

bằng mức chi phí sản xuất tối thiểu tại C chia cho mức chi phí sản xuất thực tế

Do C và F cùng nằm trên đường đẳng phí nên mức chi phí sản xuất tại C và F là như nhau Vì OFH thẳng hàng nên tỉ lệ phối hợp các đầu vào trong sản xuất tại

H và F là như nhau, tức (x 1H /x 2H ) = (x 1F /x 2F ) = a, hay x 1H = ax 2H và x 1F = ax 2F

Lúc này, hiệu quả chi phí của DMU H là: CE H = chi phí sản xuất tại C/chi phí sản xuất tại H = chi phí sản xuất tại F/chi phí sản xuất tại H, nghĩa là:

Kế tiếp, hiệu quả chi phí, CE, được phân rã thành các chỉ số hiệu quả thành

phần là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ như sau

Hiệu quả kỹ thuật (Technical efficiency, TE) còn được gọi là hiệu quả sử

dụng nguồn lực đầu vào của sản xuất Chỉ số này đánh giá trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào của các đơn vị sản xuất với một công nghệ cho trước Cụ thể,

với mức đầu ra y 0 cho trước và công nghệ sản xuất hiện tại, Hình vẽ 1 cho thấy

đơn vị sản xuất E nằm trên đường biên giới hạn khả năng sản xuất nên đạt hiệu quả kỹ thuật; H thuộc vùng khả thi nhưng không nằm trên đường biên giới hạn nên chưa đạt hiệu quả kỹ thuật; và OEH thẳng hàng Farrell (1957) đề xuất một

Trang 35

chỉ số tổng hợp đo lường hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào hướng tâm (nghĩa

là tất cả các đầu vào có thể tiết kiệm cùng một tỉ lệ) của DMU H chính là:

TE H = OE/OH = x 1E /x 1H = x 2E /x 2H (4)

Như vậy, x 1E và x 2E là mức các yếu tố đầu vào tối thiểu (với tỉ lệ phối hợp

các yếu tố đầu vào là không đổi, tức x 1E /x 2E = x 1H /x 2H ) để DMU H có thể sản xuất

được đầu ra y = y 0 với công nghệ sản xuất hiện tại Tóm lại, Thứ

nhất, TE = 1 ngụ ý rằng đơn vị sản xuất đang vận hành trên biên giới hạn khả năng sản xuất và được xem là đạt hiệu quả kỹ thuật Tiếp theo, TE < 1 nghĩa là đơn vị sản xuất chưa đạt hiệu quả kỹ thuật Chỉ số TE càng lớn cho thấy trình độ

sử dụng các nguồn lực đầu vào trong sản xuất càng cao với cùng một công nghệ cho trước

Hiệu quả phân bổ (Allocative efficiency, AE) là chỉ số đánh giá trình độ lựa chọn tỉ lệ phối hợp các đầu vào của sản xuất (x 1 /x 2 tối ưu) nhằm thiểu hóa chi

phí với giá của các đầu vào cho trước Theo Hình vẽ 1, E là trạng thái đạt hiệu quả kỹ thuật nhưng E chưa phải là trạng thái đạt chi phí sản xuất thấp nhất có thể để sản xuất ra y 0 với công nghệ sản xuất hiện tại, nghĩa là tỉ lệ phối hợp các

đầu vào x 1E /x 2E chưa tối ưu với các mức giá cho trước Trạng thái cho chí phí sản

xuất thấp nhất có thể với đầu ra y 0 và công nghệ hiện có chính là C, do đó tỉ lệ phối hợp các đầu vào x 1C /x 2C mới là tối ưu với các mức giá cho trước Như vậy,

hiệu quả phân bổ của DMU E , ký hiệu là AE E , chính là chi phí sản xuất tại C chia cho chi phí sản xuất tại E Do C và F cùng nằm trên đường đẳng phí, nên AE E sẽ

bằng chi phí sản xuất tại F chia cho chi phí sản xuất tại E Hơn nữa, vì x 1E /x 2E =

x 1H /x 2H nên hiệu quả phân bổ của DMU H là AE H sẽ bằng với AE E, nghĩa là:

Nhìn chung, Thứ nhất, AE = 1 hàm ý rằng DMU đã lựa chọn

được tỉ lệ phối hợp các đầu vào tối ưu với các mức giá đầu vào cho trước để tối

thiểu hóa chi phí sản xuất Tiếp theo, AE < 1 nghĩa là DMU chưa đạt hiệu quả phân bổ, tức chưa sản xuất ở mức tỉ lệ phối hợp các đầu vào tối ưu Lúc này, 1 –

AE chính là tỉ lệ tiết kiệm chi phí sản xuất lớn nhất mà một DMU đã đạt hiệu quả

Trang 36

kỹ thuật có thể cắt giảm bằng cách thay đổi tỉ lệ phối hợp các đầu vào về mức tối

ưu với giá các đầu vào cho trước

Từ (3), (4) và (5), ta có:

Rõ ràng, Thứ nhất, CE hay ngụ ý

rằng DMU đang đồng thời vận hành trên biên giới hạn khả năng sản xuất (đạt

hiệu quả kỹ thuật 100%) và sử dụng tỉ lệ phối hợp các đầu vào tối ưu (đạt hiệu

quả phân bổ 100%) với giá các đầu vào và công nghệ cho trước Khi CE hay

nghĩa là đơn vị sản xuất chưa đạt hiệu quả chi phí Như vậy, 1 –

CE chính là tỉ lệ tiết kiệm chi phí sản xuất lớn nhất có thể đạt được để sản xuất

ra đầu ra không đổi với công nghệ và các mức giá đầu vào hiện tại bằng việc đồng thời hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ

Tóm lại, hiệu quả chi phí, kỹ thuật và phân bổ của các DMU (ví dụ, các nông hộ nuôi ốc hương) là các chỉ số tương đối, đánh giá chất lượng hoạt động của đơn vị sản xuất về các khía cạnh khác nhau trong sản xuất Sự khác biệt về mức độ hiệu quả hay chất lượng hoạt động giữa các nông hộ về các mặt trong sản xuất có thể được giải thích bởi sự khác nhau về đặc điểm nông hộ, bao gồm đặc điểm về kinh tế - xã hội cũng như đặc điểm sản xuất của nông hộ ( Sharma

& Leung, 2003 và Iliyasu & cộng sự, 2014) Vì vậy, sau khi đã tính toán các chỉ

số hiệu quả này ở bước thứ nhất cho từng nông hộ, các nghiên cứu thực nghiệm trong NTTS thường tiếp tục thực hiện phân tích sự ảnh hưởng của các đặc điểm nông hộ đến các chỉ số hiệu quả chi phí, kỹ thuật và phân bổ ở bước thứ hai để làm căn cứ đề xuất các chính sách/giải pháp hướng đến sự phát triển bền vững (Iliyasu & cộng sự, 2014)

2.3.2 Phương pháp phân tích bao số liệu DEA (Xem Lê Kim Long, 2017)

Năm 1984, mô hình toán DEA đã được hoàn thiện với giả thiết về công nghệ có năng suất thay đổi theo quy mô (variable returns to scale, VRS), được gọi là mô hình BCC (Banker & cộng sự, 1984) Trong lĩnh vực NTTS, các nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận phân tích DEA phần lớn đều sử dụng mô hình

Trang 37

BCC (xem Iliyasu & cộng sự, 2014) Cụ thể mô hình BCC theo định hướng đầu

vào áp dụng để tính toán hiệu quả kỹ thuật (TE) trong nghiên cứu này được trình

bày như sau

Giả sử rằng có n hộ nuôi ốc hương thương phẩm Dữ liệu cho tất cả các hộ nuôi ốc hương thương phẩm được biểu diễn bởi ma trận yếu tố đầu vào, X, và đầu ra Y Khi đó, mô hình toán BCC cho hộ nuôi ốc hương thương phẩm thứ i, với i (i = 1, 2,…, n), là:

Với các ràng buộc:

(7)

Giá trị sẽ là mức hiệu quả kỹ thuật theo định hướng đầu vào (TE i) của hộ

nuôi ốc hương thứ i, và có giá trị nằm trong khoảng từ 0 đến 1 Tiếp theo,

trong mô hình (7) là vec-tơ trọng số không âm, xác định sự kết hợp tuyến tính của các hộ tham chiếu để xây dựng biên giới hạn khả năng sản xuất về lý thuyết

của công nghệ hiện tại cho hộ nuôi ốc hương thứ i Hơn nữa, là ràng buộc về công nghệ có tính chất năng suất thay đổi theo quy mô Ràng buộc thứ nhất ở (7) hàm ý rằng hộ nuôi ốc hương hiệu quả về mặt lý thuyết sẽ sinh ra

lượng đầu ra lớn hơn hoặc bằng mức sản lượng đầu ra thực tế của hộ thứ i với

cùng một lượng đầu vào cho trước

Trong ràng buộc thứ hai, X chính là mức đầu vào tối thiểu của hộ nuôi ốc hiệu quả về lý thuyết với mức đầu ra cho trước của hộ nuôi ốc thứ i, và x i , là

mức đầu vào thực tế của hộ nuôi ốc i nhân với chỉ số mức hiệu quả của nó Chú

ý rằng bài toán này được giải n lần, mỗi lần cho một hộ nuôi trong mẫu

Tiếp theo, để tính toán hiệu quả chi phí và phân bổ, bài toán quy hoạch

tuyến tính của cách tiếp cận phi tham số được viết cho hộ nuôi ốc hương thứ i

như sau (xem Chavas & Aliber, 1993):

Trang 38

Với các ràng buộc:

(8)

phí (CE) của nông hộ thứ i chính là mức chi phí sản xuất tối thiểu (bằng x i

*

nhân với giá đầu vào) chia cho chi phí sản xuất thực tế, tức là:

Do đó, hiệu quả phân bổ được tính là:

AE i = CE i /TE i (10)

2.3.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả chi phí

Hiệu quả chi phí được nâng cao thì ta có thể tiết kiệm mức chi phí tối đa để sản xuất được lượng đầu ra không đổi Đối với sản xuất nuôi trồng, nâng cao hiệu quả chi phí là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng Muốn nâng cao hiệu quả chi phí trong việc sản xuất nuôi trồng thì một trong những vấn đề cốt lõi là phải tiết kiệm nguồn lực Cụ thể, với nguồn lực đất đai có hạn, yêu cầu đặt ra với người sử dụng đất là làm sao tạo ra được số lượng nông sản nhiều và chất lượng cao nhất Mặc khác, cũng phải thường xuyên bồi đắp, chăm sóc đất Từ đó sản xuất NTTS mới có cơ hội để tích luỹ vốn tập trung vào tái sản xuất mở rộng Nâng cao hiệu quả chi phí là nâng cao hiệu quả sản xuất là tất yếu của sự phát triển xã hội Tuy nhiên, ở các đơn vị khác nhau thì có sự quan tâm khác nhau Đối với người sản xuất, tăng hiệu quả chính là giúp họ tăng lợi nhuận Ngược lại, người tiêu dùng muốn tăng hiệu quả chính là họ được sử dụng hàng hoá với giá thành ngày càng hạ và chất lượng ngày càng tốt hơn Khi xã hội ngày càng phát triển, công nghệ ngày càng cao, việc nâng cao hiệu quả sẽ gặp

Trang 39

nhiều lợi nhuận Nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí sẽ làm cho xã hội tốt hơn, lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng ngày càng được nâng lên Tuy nhiên, việc nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí sẽ phải đối diện với nhiều vấn đề như cân bằng giữa chi phí và kết quả, cũng như những ảnh hưởng của việc nâng cao hiệu quả chi phí sẽ ảnh hưởng đến xã hội cũng như môi trường ở thởi điểm

hiện tại và lâu dài

2.3.4 Phương pháp phân tích màng bao số liệu (DEA)

Phương pháp phân tích màng bao số liệu sử dụng kiến thức về mô hình toán tuyến tính, mục đích là dựa vào số liệu đã có để xây dựng một mặt phẳng phi tham số (mặt phẳng giới hạn sản xuất) Khi đó, hiệu quả hoạt động của các

tổ chức, doanh nghiệp sẽ được tính toán dựa theo mặt phẳng này

Phương pháp phân tích bao số liệu DEA dùng để xây dựng đường giới hạn sản xuất, được đề xuất đầu tiên bởi Farrell (1957) Một thời gian dài sau đó, phương pháp này chỉ được quan tâm bởi một số ít nhà khoa học (Coelli et al., 2005) Sau đó, các tác giả Boles (1966), Shephard (1970) và Afriat (1972) đã đề xuất các mô hình toán học có thể giải quyết hiệu quả các bài toán có liên quan đến tính toán hiệu quả, năng suất của các doanh nghiệp Tuy nhiên, vào thời điểm đó các phương pháp này vẫn chưa nhận được sự ủng hộ rộng rãi Theo Coelli (2005), tình trạng này xảy ra cho đến khi khái niệm và phương pháp

“phân tích bao số liệu” được sử dụng trong bài báo của Charnel, Cooper (1978)

Dựa vào nhiều nghiên cứu trước đó, Coelli và các cộng sự (2005) đã thiết lập mô hình phân tích DEA, theo đó, TE, AE và CE có thể được đo lường bằng cách sử dụng mô hình phân tích màng bao dữ liệu định hướng đầu vào theo biến

cố định do quy mô (CRS-DEA model)

Hiệu quả kĩ thuật

Hiệu quả kĩ thuật phản ánh khả năng của người sản xuất có thể sản xuất mức đầu ra tối đa với một tập hợp đầu vào và công nghệ cho trước hoặc tối thiểu hóa các yếu tố đầu vào để sản xuất ra một lượng đầu ra không đổi Hai cách định nghĩa này về hiệu quả kĩ thuật có thể được biết đến với hai cách đo lường hiệu quả định hướng đầu ra và định hướng đầu vào tương ứng Hai cách đo lường

Trang 40

này sẽ cho kết quả giống nhau nếu chúng ta sử dụng mô hình hiệu suất không đổi theo quy mô Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp đo lường

hiệu quả theo định hướng đầu vào

Giả sử ta có dữ liệu của I công ty, mỗi công ty sử dụng N đầu vào và M đầu ra Với công ty thứ i, dữ liệu về đầu vào được thể hiện bằng véctơ cột xi và đầu ra được diễn tả bằng véctơ cột yi Như vậy, số liệu đầu vào và đầu ra của tất

cả các công ty được thể hiện bằng ma trận X (N hàng, I cột) và ma trận Y (M hàng, I cột)

Phương pháp sử dụng các “tỷ lệ” được xem là phương pháp trực quan mô

tả phân tích bao số liệu (DEA) Với mỗi công ty, chúng ta sẽ đo tỷ lệ của tổng số lượng các sản phẩm đầu ra trên tổng số lượng các đầu vào đã sử dụng (u’yi/v’xi) với u là véc tơ số lượng đầu ra (M hàng 1 cột); v là véc tơ số lượng đầu vào (N hàng 1 cột)

Mô hình DEA được sử dụng để tính toán hiệu quả kĩ thuật như sau

(1)

Trong đó, θ - Đại lượng vô hướng, thể hiện mức độ hiệu quả của doanh nghiệp;

λ –Véc tơ hằng số Nx1

Bài toán (1) được giải N lần, nghĩa là từng lần đối với mỗi doanh nghiệp

Như vậy giá trị nghiệm  được xác định cho từng doanh nghiệp Nếu  = 1 nghĩa là doanh nghiệp đạt hiệu quả;  < 1 nghĩa là doanh nghiệp không đạt hiệu quả Các doanh nghiệp không đạt hiệu quả có thể chiếu lên đường giới hạn hiệu

quả, khi đó ta nhận được tổ hợp tuyến tính (X, Y) – là vị trí của doanh nghiệp

tham chiếu giả định Đối với các doanh nghiệp không đạt hiệu quả (θ < 1) có thể

thiết lập mục tiêu giảm tỷ lệ các yếu tố đầu vào một đại lượng là  trong khi vẫn giữ các giá trị sản xuất lượng như trước

Trong hình 2.5, 4 doanh nghiệp A, B, C, D đều sản xuất ra một mức sản lượng như nhau sử dụng hai biến đầu vào là x1 và x2 Doanh nghiệp A, C, D đạt

0

, 0

, 0

), (

Y y

i i

Ngày đăng: 26/01/2021, 10:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm