Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp tiếp cận sinh kế và các phương pháp khác để phân tích đặc điểm sinh kế, làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo người DTTS từ các hoạt độn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TS Nguyễn Ngọc Duy Phòng Đào tạo Sau Đại học:
KHÁNH HÒA - 2020
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Phát triển sinh kế của hộ nghèo người DTTS tại khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa” là công trình nghiên cứu của cá
nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới
thời điểm này
Khánh Hòa, tháng 4 năm 2020
Tác giả luận văn
Lưu Hồng Vân
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trong hai năm học tập, nghiên cứu và tích lũy kiến thức tại Trường Đại học Nha Trang, tôi đã được Ban Giám hiệu Nhà trường, quý Thầy, Cô khoa Kinh tế hướng dẫn, truyền đạt nhiều kiến thức bổ ích; các cán bộ và chuyên viên Phòng Đào tạo sau Đại học đã giúp đỡ tận tình và tạo những điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành tất cả các môn học Đặc biệt, trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp, Tiến sĩ Phạm Hồng Mạnh đã hướng dẫn, hỗ trợ tận tình, trách nhiệm giúp tôi hoàn thành tốt
đề tài Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến tất cả quý Thầy, Cô về sự giúp
đỡ này
Xin trân trọng cảm ơn các anh/chị đang công tác tại Cục Thống Kê tỉnh Khánh Hòa, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Khánh Hòa, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Khánh Hoà, Ban Tuyên giáo Huyện ủy Khánh Sơn, Ban Tuyên giáo Huyện ủy Khánh Vĩnh, Ủy ban Nhân dân huyện Khánh Sơn, Ủy ban Nhân dân huyện Khánh Vĩnh, Đảng ủy các xã, thị trấn của huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh… đã cung cấp số liệu và giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thu thập thông tin cho luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã luôn sát cánh, động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Khánh Hòa, tháng 4 năm 2020
Tác giả luận văn
Lưu Hồng Vân
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH xi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Những đóng góp của đề tài 4
1.4.1 Về khoa học 4
1.4.2 Về thực tiễn 4
1.5 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 6
2.1 Khái niệm hộ gia đình và nông hộ 6
2.1.1 Khái niệm hộ gia đình 6
2.1.2 Khái niệm nông hộ và phân loại nông hộ 6
2.2 Kinh tế hộ gia đình và đặc điểm kinh tế của hộ gia đình nông thôn 8
2.2.1 Kinh tế hộ nông dân 8
2.2.2 Đặc điểm của kinh tế hộ gia đình nông thôn 9
2.3 Nghèo và các tiêu chí xác định hộ nghèo 9
Trang 82.3.1 Khái niệm về nghèo 9
2.3.2 Phân loại nghèo 10
2.3.3 Cơ sở xác định hộ nghèo 10
2.4 Sinh kế và khung phân tích sinh kế của hộ gia đình 12
2.4.1 Sinh kế, sinh kế bền vững và đa dạng sinh kế 12
2.4.2 Lý thuyết liên quan đến sinh kế 14
2.5 Tổng quan các công trình nghiên cứu điển hình 19
2.5.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước 19
2.5.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 21
2.6 Đánh giá các nghiên cứu liên quan 25
2.7 Khung phân tích của nghiên cứu 26
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 26
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa 27
3.1.1 Huyện Khánh Vĩnh 27
3.1.2 Huyện Khánh Sơn 31
3.2 Phương pháp nghiên cứu 36
3.2.1 Quy trình nghiên cứu 36
3.2.2 Nghiên cứu sơ bộ 37
3.2.3 Nghiên cứu chính thức 37
3.2.4 Phương pháp chọn mẫu và quy mô của mẫu điều tra 38
3.2.5 Mô hình kinh tế lượng 39
3.2.6 Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu 43
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 43
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 44
4.1 Đặc điểm tình hình nghèo của tỉnh Khánh Hòa và khu vực miền núi Khánh Hòa 44
4.1.1 Đặc điểm tình hình nghèo của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2016 - 2019 44
4.1.2 Đặc điểm tình hình nghèo của khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa 46
4.1.3 Kết quả thực hiện các chính sách giảm nghèo, nhất là các chính sách liên quan đến phát triển sinh kế cho hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 47
Trang 94.2 Kết quả điều tra hoạt động sinh kế của hộ nghèo người đồng bào DTTS tại khu
vực miền núi tỉnh Khánh Hòa 50
4.3 Hoạt động sinh kế và mối quan hệ giữa thu nhập và các nguồn vốn sinh kế của hộ nghèo DTTS tại khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa 58
4.3.1 Các hoạt động sinh kế và thu nhập từ các hoạt động sinh kế 58
4.3.2 Mối quan hệ giữa thu nhập và các nguồn vốn sinh kế của hộ nghèo đồng bào DTTS tại khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa 61
4.4 Kết quả phân tích tương quan và hồi qui 68
4.5 Bàn luận kết quả nghiên cứu 72
4.6 Đánh giá chung về hoạt động sinh kế của hộ nghèo đồng bào DTTS khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa 76
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 77
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 78
5.1 Kết luận 78
5.2 Định hướng và mục tiêu giảm nghèo của huyện Khánh Vĩnh và huyện Khánh Sơn giai đoạn 2018 - 2020 81
5.2.1 Định hướng phát triển sinh kế cho hộ nghèo DTTS khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa 81
5.2.2 Mục tiêu phát triển sinh kế cho hộ nghèo DTTS khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa 81
5.3 Các khuyến nghị chính sách 82
5.3.1 Các khuyến nghị chính sách về phát triển vốn nhân lực 82
5.3.2 Các khuyến nghị chính sách nhằm tăng cường vốn tài chính 84
5.3.3 Các khuyến nghị chính sách về vốn tự nhiên 85
5.3.4 Các khuyến nghị chính sách nhằm tăng cường vốn vật chất 86
5.3.5 Các khuyến nghị chính sách nhằm phát triển vốn xã hội 87
5.4 Hạn chế của nghiên cứu 88
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC
Trang 10UBMTTQVN: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
VASS : Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
WB : Ngân hàng thế giới
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Các chỉ số nghèo đa chiều tại Việt Nam 11
Bảng 3.1: Tóm tắt một số kết quả phát triển kinh tế - xã hội nổi bật của huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa 35
Bảng 3.2: Số lượng hộ nghèo được điều tra của từng địa phương trong mẫu nghiên cứu 39
Bảng 3.3: Tổng hợp các biến trong mô hình hồi qui đa biến 42
Bảng 4.1: Tình hình nghèo của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2016-2019 44
Bảng 4.2: Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo của hộ gia đình tại Khánh Hòa 45
Bảng 4.3: Tình trạng thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản của hộ nghèo Khánh Hòa 46
Bảng 4.4: Tình hình nghèo tại khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa (huyện Khánh Vĩnh và huyện Khánh Sơn) 46
Bảng 4.5: Tỉ lệ hộ điều tra tại các địa phương miền núi Khánh Hòa 51
Bảng 4.6: Giới tính của chủ hộ nghèo đồng bào DTTS trong mẫu điều tra 51
Bảng 4.7: Tình trạng sức khỏe của chủ hộ gia đình đồng bào DTTS 51
Bảng 4.8: Tỉ lệ hộ nghèo thuộc các dân tộc trong mẫu điều tra 52
Bảng 4.9: Đánh giá của hộ gia đình về tình trạng của hộ 52
Bảng 4.10: Nhận thức về điều kiện sống của hộ gia đình với đặc điểm dân tộc 53
Bảng 4.11: Trình độ học vấn của chủ hộ nghèo đồng bào DTTS 53
Bảng 4.12: Qui mô hộ nghèo đồng bào DTTS trong mẫu điều tra 54
Bảng 4.13: Số người phụ thuộc trong hộ nghèo đồng bào DTTS trong mẫu điều tra 54
Bảng 4.14: Đặc điểm diện tích đất sản xuất của hộ gia đình 55
Bảng 4.15: Đặc điểm tiếp cận nguồn vốn của hộ gia đình 56
Bảng 4.16: Số tiền vay của hộ gia đình trong mẫu điều tra 56
Bảng 4.17: Đặc điểm nguồn vốn vật chất của hộ gia đình 57
Bảng 4.18: Đặc điểm dân tộc hộ gia đình trong mẫu điều tra 57
Bảng 4.19: Đặc điểm tôn giáo hộ gia đình trong mẫu điều tra 58
Bảng 4.20: Khoảng cách từ nhà của hộ nghèo đến trung tâm huyện 58
Bảng 4.21: Hoạt động kinh tế của hộ nghèo đồng bào DTTS 59
Bảng 4.22: Đánh giá của hộ nghèo đồng bào DTTS về nguồn thu nhập chính của gia đình 59
Bảng 4.23: Đặc điểm và cấu trúc thu nhập của hộ gia đình 60
Trang 12Bảng 4.24: Mối liên hệ giữa thu nhập và đặc điểm giới tính của chủ hộ gia đình 61
Bảng 4.25: Mối liên hệ giữa thu nhập và đặc điểm sức khỏe của chủ hộ gia đình 62
Bảng 4.26: Mối liên hệ giữa thu nhập và tỉ lệ phụ thuộc của gia đình 62
Bảng 4.27: Mối liên hệ giữa thu nhập và học vấn của chủ hộ nghèo DTTS 63
Bảng 4.28: Mối liên hệ giữa thu nhập và nghề nghiệp của chủ hộ 64
Bảng 4.29: Mối liên hệ giữa thu nhập và đặc điểm đất sản xuất 64
Bảng 4.30: Mối liên hệ giữa thu nhập và đặc điểm vốn vay của chủ hộ gia đình 65
Bảng 4.31: Mối liên hệ giữa thu nhập và đặc điểm dân tộc của hộ 66
Bảng 4.32: Mối liên hệ giữa thu nhập và đặc điểm tôn giáo của hộ gia đình 66
Bảng 4.33: Mối liên hệ giữa thu nhập và khoảng cách đến trung tâm huyện 67
Bảng 4.34: Kết quả phân tích tương quan 68
Bảng 4.35: Hệ số Centered VIF 69
Bảng 4.36: Kết quả phân tích hồi quy 71
Bảng 4.37: Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết của mô hình nghiên cứu 74
Trang 13DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Khung phân tích của nghiên cứu 26
Hình 3.1: Bản đồ hành chính và khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa 27
Hình 3.2: Sơ đồ Quy trình nghiên cứu 36
Hình 4.1: Vốn tài chính của hộ nghèo DTTS trong mẫu điều tra 56
Hình 4.2: Tỉ trọng trong cấu trúc thu nhập của hộ nghèo DTTS 60
Hình 4.3: Kiểm định phương sai thay đổi 69
Hình 4.4: Phân phối chuẩn của sai số ngẫu nhiên 70
Hình 4.5: Biểu đồ P- Plot phần dư chuẩn hóa 70
Trang 14TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Khánh Hòa là địa bàn thuộc khu vực duyên hải Nam Trung Bộ có 9 huyện, thị
xã, thành phố, trong đó Khánh Sơn và Khánh Vĩnh là hai huyện miền núi rất khó khăn Theo kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2019, trong số 09 huyện, thị
xã, thành phố, Khánh Vĩnh và Khánh Sơn là 02 huyện miền núi có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất (Khánh Vĩnh 32,88%; Khánh Sơn 33,30%) Số hộ nghèo của 2 huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh chiếm hơn 54,4% tổng số hộ nghèo toàn tỉnh (theo Quyết định phê duyệt kết quả rà soát hộ nghèo năm 2019 của UBND tỉnh Khánh Hòa) Do vậy, công cuộc giảm nghèo của tỉnh Khánh Hòa chỉ thành công khi tỉ lệ nghèo của hai huyện miền núi Khánh Vĩnh và Khánh Sơn giảm mạnh
Để thực hiện được mục tiêu đề ra, những năm qua, bên cạnh những chính sách của Trung ương, tỉnh Khánh Hòa đã triển khai nhiều chính sách nhằm cung cấp sinh
kế cho hộ nghèo, giúp người nghèo cải thiện cuộc sống, một số hộ vươn lên thoát nghèo bền vững Tuy nhiên, những ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu, việc tiếp cận thị trường, các rủi ro hội nhập ngày càng tăng đã tác động đáng kể tới sinh kế của người dân, nhất là người nghèo Nguồn lực sinh kế là đất đai, tài nguyên đang cạn kiệt dần, nguồn hỗ trợ tài chính từ các quỹ sẽ giảm; phần lớn đồng bào DTTS tại khu vực miền núi Khánh Hòa có trình độ nhận thức hạn chế, phương pháp canh tác lạc hậu, năng suất lao động thấp, Do đó, việc nghiên cứu các đặc điểm sinh kế của người nghèo DTTS tại hai huyện miền núi của tỉnh (Khánh Vĩnh, Khánh Sơn), để từ đó đề xuất các chính sách phát triển sinh kế cho người nghèo DTTS khu vực này là rất cần
thiết Với những lý do đó, tác giả chọn đề tài: “Phát triển sinh kế của hộ nghèo người DTTS tại khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa”
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp tiếp cận sinh kế và các phương pháp khác
để phân tích đặc điểm sinh kế, làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo người DTTS từ các hoạt động sinh kế, từ đó khuyến nghị các chính sách phát triển sinh kế nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trình độ văn hóa của các hộ nghèo DTTS đa số là thấp Thời gian đi học trung bình của chủ hộ chỉ 3,29 năm Quy mô học gia đình tương đối nhỏ, trung bình mỗi hộ có 4,51 người 91,5% số hộ có người phụ thuộc Người dân tộc Raglai chiếm chủ yếu trong cộng đồng DTTS ở Khánh Sơn, Khánh Vĩnh Hầu hết
hộ nghèo DTTS đều sinh sống trong tình trạng nhà cửa thiếu kiên cố, diện tích ở chật
Trang 15hẹp; tình trạng không được tiếp cận nước hợp vệ sinh và không sử dụng nhà tiêu hợp
vệ sinh còn phổ biến Đa số các hộ nghèo đồng bào dân tộc sống khá xa so với trung tâm của huyện Điều này giải thích cho những khó khăn trong các hoạt động giao thương và sinh kế của hộ
Trong 200 hộ điều tra, 174 lượt trả lời có hoạt động sinh kế liên quan đến việc làm rẫy, chiếm tỉ lệ cao nhất với 87,4% hộ gia đình trong mẫu điều tra; Làm thuê (chủ yếu là lột vỏ keo) có 116 lượt trả lời, chiếm 58,3% hộ gia đình trong mẫu điều tra Các hoạt động phi nông nghiệp không đáng kể (chỉ có 1,5% hộ gia đình làm nghề buôn bán) Đa phần các hộ này luôn ở trong vòng luẩn quẩn, rất khó để thoát nghèo
51,5% số hộ trong mẫu điều tra có đất sản xuất Diện tích đất sản xuất của các hộ khá đa dạng, thấp nhất là 1.000m2 và nhiều nhất là 40.000m2 Những hộ không có đất sản xuất thì chủ yếu đi làm thuê để kiếm sống Các hộ có đất sản xuất ít, các sản phẩm được tạo ra từ đất chủ yếu phục vụ cuộc sống của gia đình Chỉ có một số ít hộ có diện tích đất sản xuất lớn đã biết cách canh tác xen canh, kết hợp trồng cây công nghiệp, cây ăn quả hoặc chăn nuôi
Trong mẫu điều tra, 50,7% số hộ đã được tiếp cận các nguồn vốn vay để tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế gia đình, với số tiền chủ yếu từ 15 - 30 triệu đồng Đa số các hộ vay vốn từ Ngân hàng chính sách xã hội huyện Số hộ không vay vốn là do không biết sử dụng tiền vay để làm gì hoặc “sợ” không trả được nợ
Có 3 yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ nghèo đồng bào DTTS khu vực miền núi của Khánh Hòa từ các hoạt động sinh kế có ý nghĩa thống kê Trong đó, yếu tố số hoạt động sinh kế của hộ có tác động lớn nhất (hệ số hồi quy bằng 0,788), đặc điểm hộ gia đình là người đồng bào dân tộc Raglai có tác động lớn thứ hai (hệ số hồi quy bằng -0,373) và diện tích đất sản xuất có tác động lớn thứ ba (hệ số hồi quy bằng 0,355)
Từ kết quả nghiên cứu, luận văn đã đề xuất các chính sách nhằm phát triển sinh
kế đối với hộ nghèo người DTTS tại khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa
Từ khóa: Sinh kế, nghèo, dân tộc thiểu số, miền núi, Khánh Hòa
Trang 17CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề xoá đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn, luôn là sự quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua Đây cũng được coi là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hiện nay, Việt Nam đã là nước có mức thu nhập bình quân đầu người xếp ở nhóm nước có thu nhập trung bình của thế giới, thì bản chất của nghèo đói ở nước ta đã có những thay đổi nhanh chóng Các nhu cầu thiết yếu của người nghèo không chỉ đủ về lượng, mà còn đòi hỏi đảm bảo về chất
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm, đầu tư lớn cho công tác giảm nghèo, nhất là đối với khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa Trong đó, nhiều chủ trương, chính sách, chương trình, dự án đã được triển khai thực hiện nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của miền núi, tạo ra sự thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn miền núi Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực này còn khá cao, mức độ giảm nghèo chưa bền vững Đa số các hộ chỉ “thoát chuẩn nghèo”, số hộ nghèo vươn lên trở thành hộ khá, giàu rất ít Đời sống của các hộ thoát nghèo vẫn còn nhiều bấp bênh, tính tích lũy chưa cao, khả năng ứng phó với rủi ro thấp
Đối với tỉnh Khánh Hòa, cùng với việc phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì giải quyết các vấn đề an sinh xã hội luôn được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và UBMTTQVN tỉnh quan tâm và đặt thành một mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển, với một loạt các chính sách cụ thể Nhờ đó, trong giai đoạn 2016 - 2019, tỉnh Khánh Hòa đã giảm được 17.249 hộ nghèo, mức giảm tỉ lệ hộ nghèo đạt 6,62%, bình quân giảm 1,66%/năm Các chính sách, đề án giảm nghèo được triển khai thực hiện đồng bộ và có hiệu quả, góp phần thúc đẩy mục tiêu giảm nghèo và an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Mặc dù vậy, so với giai đoạn 2011 - 2015 có thể thấy, tỉ lệ giảm nghèo có xu hướng chậm lại, việc giảm nghèo ngày càng khó khăn và tốn kém nhiều hơn Nhiều hộ gia đình dù thoát nghèo nhưng vẫn ở trong tình trạng thiếu bền vững và
có thể tái nghèo nếu gặp các tác động bất lợi từ bên ngoài
Mặt khác, kết quả giảm nghèo ở các huyện, thị, thành phố trong tỉnh không đồng đều Trong khi các huyện, thị, thành phố đồng bằng, tỉ lệ hộ nghèo đã giảm hẳn, với nhiều mô hình thoát nghèo bền vững, thì tỉ lệ hộ nghèo ở hai huyện miền núi Khánh Sơn, Khánh Vĩnh lại vẫn ở mức cao, nhất là khu vực đồng bào dân tộc thiểu
Trang 18số Theo kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo, tính đến 31/12/2019, trong số
09 huyện, thị xã, thành phố, 02 huyện miền núi Khánh Vĩnh và Khánh Sơn có tỷ lệ hộ nghèo rất cao (Khánh Vĩnh 32,88%; Khánh Sơn 33,30%) Số hộ nghèo của 2 huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh chiếm hơn 54,4% tổng số hộ nghèo toàn tỉnh Do đó, công cuộc giảm nghèo của tỉnh Khánh Hòa chỉ thành công khi tỉ lệ nghèo của hai huyện miền núi Khánh Vĩnh và Khánh Sơn giảm sâu
Trong giai đoạn 2016 - 2020, tỉnh Khánh Hòa đề ra mục tiêu là giảm tỉ lệ hộ nghèo bình quân từ 1,5 đến 2%/năm Phấn đấu đến cuối năm 2020, tỉ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn dưới 2% Đối với huyện Khánh Vĩnh và Khánh Sơn, phấn đấu giảm tỉ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm từ 7-10% Đến cuối năm 2020, hai huyện thoát khỏi danh sách huyện nghèo theo Quyết định số 275/QĐ-UBND ngày 07/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ; chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao, thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo đến cuối năm 2020 tăng lên 1,5 lần so với cuối năm 2017 Đây là nhiệm vụ hết sức khó khăn, đặc biệt là trong điều kiện tỉnh Khánh Hòa chưa thể khắc phục triệt để những thiệt hại nặng nề do thiên tai liên tiếp xảy ra trong năm
2017 và năm 2018
Để thực hiện được mục tiêu đề ra, những năm qua, bên cạnh những chính sách của Trung ương, tỉnh Khánh Hòa đã xây dựng và triển khai các chính sách đặc thù nhằm hỗ trợ, giúp người nghèo miền núi nói chung, người đồng bào DTTS nói riêng tăng thu nhập như: chính sách tín dụng ưu đãi, giao đất, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, chính sách học nghề, tạo việc làm, chính sách xuất khẩu lao động, chính sách
hỗ trợ về nhà ở, bảo hiểm y tế, miễn giảm học phí, hỗ trợ sinh hoạt phí cho học sinh DTTS, Đây chính là quá trình cung cấp sinh kế cho người nghèo với kỳ vọng, việc thực hiện đồng bộ các chính sách, kết hợp với sự cố gắng, nỗ lực của người dân sẽ tạo
ra những kết quả quan trọng trong công tác giảm nghèo nói chung, từ đó đảm bảo kết quả thoát nghèo bền vững và lâu dài
Tuy nhiên, trong bối cảnh cả nước nói chung và Khánh Hòa nói riêng đang gặp phải rất nhiều khó khăn như: biến đổi khí hậu với tình trạng hạn hán, lũ lụt, bão xảy ra thường xuyên hơn, mức độ tàn phá ngày càng nặng nề hơn; các rủi ro thị trường và rủi
ro hội nhập ngày càng tăng; việc tiếp cận thị trường và tham gia chuỗi giá trị sản phẩm rất khó thực hiện đã tác động đáng kể tới sinh kế của người dân, trong đó người nghèo thường là đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất Trong khi đó, nguồn lực sinh kế của người nghèo là các nguồn lực tự nhiên - đất đai, tài nguyên rừng, tài nguyên biển,
Trang 19tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản đang cạn kiệt dần; nguồn hỗ trợ tài chính từ các quỹ sẽ giảm Mặt khác, phần lớn đồng bào dân tộc tại khu vực miền núi Khánh Hòa có trình độ nhận thức hạn chế, hoạt động nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, phương pháp canh tác lạc hậu, năng suất lao động thấp, việc làm bấp bênh Do đó, việc nghiên cứu các đặc điểm sinh kế của người nghèo DTTS tại hai huyện miền núi của tỉnh (Khánh Vĩnh, Khánh Sơn), để từ đó đề xuất các chính sách phát triển sinh kế cho người nghèo DTTS khu vực này là rất cần thiết
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Phát triển sinh kế của hộ nghèo người DTTS tại khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa” để góp phần đề xuất các chính
sách nhằm cải thiện sinh kế cho hộ nghèo người DTTS, mang lại hiệu quả và đảm bảo được mục tiêu giảm nghèo bền vững tại khu vực này
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu trên, các câu hỏi nghiên cứu bao gồm:
(1) Đặc điểm sinh kế và cấu trúc thu nhập từ các hoạt động sinh kế của hộ nghèo đồng bào DTTS tại khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa hiện nay như thế nào?
(2) Thu nhập từ các hoạt động sinh kế của hộ nghèo đồng bào DTTS tại khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nào, mức độ ảnh hưởng ra sao? (3) Cần có những chính sách nào để hỗ trợ phát triển sinh kế để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân tại khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa trong thời gian tới?
Trang 201.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến sinh kế, các chính sách giảm nghèo đã và đang triển khai tại khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa
nghèo toàn tỉnh (theo số liệu của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, năm 2019,
huyện Khánh Vĩnh có 3.105 hộ nghèo DTTS, chiếm 97,21% tổng số hộ nghèo của huyện Khánh Vĩnh; huyện Khánh Sơn có 2.222 hộ nghèo DTTS, chiếm 95,78% tổng số
hộ nghèo của huyện Khánh Sơn)
- Về thời gian: Việc thu thập thông tin (bằng bảng hỏi và trao đổi, phỏng vấn trực tiếp) được thực hiện trong khoảng thời gian tháng 5 - 7/2019
1.4 Những đóng góp của đề tài
1.4.1 Về khoa học
Thứ nhất, đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về đa dạng sinh kế, sinh
kế bền vững nói chung và sinh kế của hộ nghèo đồng bào DTTS nói riêng
Thứ hai, đề tài góp phần xây dựng khung phân tích và mô hình nghiên cứu về sinh kế bền vững trong việc phát triển sinh kế của hộ nghèo đồng bào DTTS tại khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa
1.4.2 Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu luận văn có các ý nghĩa thực tiễn sau đây:
Một là, giúp cho các chính quyền địa phương nhìn nhận về đặc điểm sinh kế của
hộ nghèo đồng bào DTTS tại khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa, từ đó có thể ban hành và triển khai các chính sách phù hợp với thực tiễn địa phương nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân khu vực này
Hai là, góp phần bổ sung, làm phong phú thêm thực tiễn và kinh nghiệm nghiên
cứu đối với vấn đề sinh kế và thu nhập của hộ nghèo khu vực miền núi, đặc biệt là thu nhập cho các hộ gia đình người DTTS
Thứ ba, kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, sinh viên
và học viên trong các cơ quan quản lý, các trường đại học khi nghiên cứu về sinh kế,
đa dạng sinh kế và sinh kế bền vững
Trang 211.5 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu Chương 3: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách
Trang 22CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm hộ gia đình và nông hộ
2.1.1 Khái niệm hộ gia đình
Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển Trải qua mỗi thời
kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới những hình thức khác
nhau song vẫn có bản chất chung đó là “hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành
viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội” (Nguyễn Thị Hương Dịu, 2009)
Theo Vương Thị Vân (2009), “ba tiêu thức chính thường được nói đến khi định
nghĩa khái niệm hộ gia đình: có quan hệ huyết thống và hôn nhân; cùng cư trú; có cơ
sở kinh tế chung” Trong nghiên cứu này, tác giả cũng cho rằng: “đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống Vì vậy, khái niệm hộ thường được hiểu đồng nghĩa với gia đình, nhiều khi được gộp thành khái niệm chung là hộ gia đình”
Như vậy, khái niệm “hộ gia đình” có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau Tuy nhiên, tựu chung lại, có thể thấy khái niệm “hộ gia đình” đều có những đặc điểm chung, đó là:
(i) Hộ gia đình thường gồm những thành viên có chung huyết thống Tuy nhiên, trong thực tế, có những trường hợp cá biệt, hộ cũng bao gồm cả những thành viên không cùng huyết thống như: con nuôi, người tình nguyện… Những người này được gia nhập “hộ” trên cơ sở có sự đồng ý và cùng có hoạt động kinh tế lâu dài với các thành viên trong hộ
(ii) Hộ đều có các hoạt động kinh tế để tạo thu nhập, nuôi sống các thành viên Do vậy, có thể coi hộ là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động là các thành viên; mỗi thành viên được phân công lao động rõ ràng; có vốn hoặc chương trình, kế hoạch sản xuất/kinh doanh chung Hộ là đơn vị vừa sản xuất, vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình Hộ không phải là một thành phần kinh tế đồng nhất, mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể
2.1.2 Khái niệm nông hộ và phân loại nông hộ
2.1.2.1 Khái niệm nông hộ
Theo Trần Xuân Long (2009) “nông hộ là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của
khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp Các
Trang 23hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua các nông hộ” Do vậy, có thể hiểu, nông hộ là những hộ mà ở đó hầu hết lao
động trong gia đình đều có hoạt động sản xuất nông nghiệp Họ kiếm sống từ các hoạt động kinh tế liên quan đến ruộng đất Họ cũng tham gia vào thị trường nhưng ở mức
độ thấp và không thường xuyên
Về hộ nông dân, theo định nghĩa của tác giả Frank Ellis (1988, trang 19) “Hộ nông dân là các hộ làm nông nghiệp, tự kiếm nghề sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường
và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo tác giả Lê
Đình Thắng (1993, tr.19) cho rằng “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức
kinh tế cơ sở trong nông nghiệp nông thôn” Trong khi đó, tác giả Đào Thế Tuấn
(1997, tr.75) thì nhận định: “Hộ nông dân chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo
nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và phi hoạt động nông nghiệp ở nông thôn” Còn tác giả Nguyễn Sinh Cúc (2001, tr.6) lại cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”
Từ những khái niệm trên đây có thể thấy, nông hộ có những tính chất, đặc điểm chung như sau:
- Nông hộ là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa sản xuất, vừa tiêu dùng Trình độ phát triển của nông hộ được xem xét ở mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng; cho thấy các mức độ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn; đồng thời cũng quyết định quan hệ giữa nông hộ và thị trường
- Bên cạnh các hoạt động nông nghiệp, hầu hết nông hộ đều có những hoạt động phi nông nghiệp ở các mức độ khác nhau để gia tăng thu nhập cho hộ Do vậy, rất khó
để xác định một cách chính xác phạm vi hoạt động của nông hộ
Trên cơ sở đối tượng, phạm vi, mục tiêu nghiên cứu, Đề tài này thống nhất tiếp cận theo quan điểm: Nông hộ là những hộ gia đình nông dân có thu nhập chủ yếu
từ hoạt động sản xuất nông nghiệp Do đó, theo quan điểm này, nếu hộ gia đình sống
Trang 24ở khu vực nông thôn nhưng thu nhập chủ yếu không phải từ sản xuất nông nghiệp thì không xem họ là nông hộ
2.1.2.2 Phân loại nông hộ
Theo Phạm Anh Ngọc (2008), tùy theo mục đích nghiên cứu, người ta phân chia nông hộ thành các dạng khác nhau
Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động, gồm có:
- Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp: Loại hộ này có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích, sản xuất các sản phẩm cần thiết để phục vụ cho tiêu dùng trong gia đình và gần như không có mối liên hệ nào với thị trường Lao động của mỗi thành viên trong nông hộ được coi như một lợi ích và họ phải luôn cố gắng hết sức để sản xuất ra sản phẩm phục vụ cho sinh hoạt của hộ
Hoạt động của họ phụ thuộc vào:
+ Khả năng mở rộng diện tích đất đai
+ Có thị trường lao động họ mua nhằm lấy lãi
+ Có thị trường lao động để họ bán sức lao động nhằm đem lại thu nhập
+ Có thị trường sản phẩm để trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình
- Hộ nông dân sản xuất hàng hóa chủ yếu: Loại hộ này có mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận Hoạt động của các thành viên trong hộ “rất nhạy cảm” với sự biến động của thị trường vốn, ruộng đất, lao động
Căn cứ vào tính chất lao động của ngành sản xuất, gồm có:
+ Hộ thuần nông: Là hộ chỉ thuần túy sản xuất nông nghiệp
+ Hộ chuyên nông: Là hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí, mộc, nề, rèn, sản xuất nguyên vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ, dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp
+ Hộ kiêm nông: Là hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công nghiệp, nhưng thu từ nông nghiệp là chính
+ Hộ buôn bán: Ở nơi đông dân cư, có quầy hàng và buôn bán ở chợ
- Các loại hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện cho phép
2.2 Kinh tế hộ gia đình và đặc điểm kinh tế của hộ gia đình nông thôn
2.2.1 Kinh tế hộ nông dân
Theo Tchayanov (1924), “Kinh tế hộ nông dân là một phương thức sản xuất tồn
tại trong mọi chế độ xã hội Mỗi phương thức sản xuất có quy luật phát triển riêng của
Trang 25nó, trong mỗi chế độ, nó tìm cách thích ứng với cơ chế kinh tế hiện hành Mục tiêu của
hộ nông dân là có thu nhập cao không kể thu nhập ấy có nguồn gốc nào, trồng trọt, chăn nuôi hay ngành nghề đó là kết quả chung của lao động gia đình”
Có thể thấy, kinh tế nông hộ được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài, dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất Đây là loại hình kinh tế cơ bản và chủ yếu trong nông nghiệp, bởi nó có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng và tồn tại phát triển trong mọi chế độ kinh tế, xã hội
2.2.2 Đặc điểm của kinh tế hộ gia đình nông thôn
Theo Phạm Anh Ngọc (2008), kinh tế hộ nông thôn có các đặc điểm cơ bản như sau:
- Nguồn lao động chủ yếu của kinh tế hộ nông dân là các thành viên trong gia đình Do vậy, kinh tế hộ nông dân luôn có sẵn lao động mà không cần phải thuê ngoài Yếu tố kinh tế và huyết thống giúp gắn kết chặt chẽ các thành viên trong các hoạt động của kinh tế hộ
- Mọi hoạt động của kinh tế hộ nông dân đều dựa trên tư liệu sản xuất quan trọng nhất và không thể thiếu là đất đai
- Trong quá trình sản xuất, nông dân vừa là người chủ, vừa là người lao động trực tiếp thực hiện các công việc giúp cho cây trồng, vật nuôi sinh trưởng và phát triển (không qua khâu trung gian) Người nông dân tự quyết định giờ giấc làm việc của bản thân, dựa theo tính chất của cây trồng, vật nuôi; đồng thời luôn bám sát vào các tư liệu sản xuất của họ
- Cấu trúc lao động của kinh tế nông hộ tương đối đa dạng và phức tạp do trong một hộ có thể có nhiều loại lao động Khi đó, đa số chủ hộ vừa đóng vai trò là người điều hành, quản lý, phân phối lao động ở các khâu trong sản xuất, vừa là người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất Do vậy, kinh tế hộ nông dân giảm được tối đa chi phí sản xuất và các thành viên trong hộ thường có tính tự giác để nâng cao hiệu quả và năng suất lao động
2.3 Nghèo và các tiêu chí xác định hộ nghèo
2.3.1 Khái niệm về nghèo
Nghèo là một khái niệm đa chiều, do đó chưa có một khái niệm thống nhất nào
Theo Ngân hàng thế giới, “nghèo là tình trạng không có khả năng có mức sống tối
thiểu Với cách đánh giá này thì điểm khởi đầu để xác định ranh giới đói nghèo là nhu
Trang 26cầu kcalo (năng lượng) tối thiểu được dùng cho mỗi người mỗi ngày Mức tối thiểu mà Ngân hàng thế giới sử dụng là 2100 kcalo/người/ngày với rổ lương thực thực phẩm gồm 40 sản phẩm” Ngân hàng thế giới gọi “đây là chỉ số phúc lợi - thước đo chất lượng cuộc sống và được biểu hiện ở mức thu nhập hay mức chi tiêu của hộ gia đình”
Tại Việt Nam, nghèo được thừa nhận theo khái niệm của Ủy ban kinh tế - xã hội
khu vực châu Á - Thái Bình Dương tổ chức ở Thái Lan năm 1993 Đó là: “Nghèo đói
là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”
(Chính phủ, 2003) Hiện nay, Việt Nam sử dụng chuẩn nghèo đa chiều dựa trên phương pháp tính Alkire và Foster
2.3.2 Phân loại nghèo
Nghèo tuyệt đối:
Khái niệm nghèo tuyệt đối đã được Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới đưa ra, khi nói về các vấn đề của các nước đang phát triển Ông định
nghĩa: “Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những
người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ, trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách, vượt quá sức tưởng tượng mang dấu
ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta”
Nghèo tương đối:
Theo Từ điển Xã hội học Oxford (2010) do Bùi Thế Cường, Đặng Thị Việt
Phương, Trịnh Huy Hóa dịch, “nghèo là tình trạng thiếu hụt các nguồn lực của các cá
nhân hoặc nhóm trong tương quan của các thành viên khác trong xã hội, tức là so với mức sống tương đối của họ” Như vậy, tình trạng của một bộ phận dân cư có mức
sống dưới mức trung bình của cộng đồng thì được xem là nghèo tương đối Điều này cho thấy, thước đo của “nghèo tương đối” không phải chỉ là thu nhập, các tiềm lực vật chất của cá nhân, hộ gia đình, mà còn bao gồm cả những yếu tố phi vật chất khác như
cơ hội được hưởng thụ các giá trị văn hóa, mức độ bình đẳng trong tiếp cận các dịch
vụ thiết yếu phục vụ cho cuộc sống và các hoạt động kinh tế khác…
2.3.3 Cơ sở xác định hộ nghèo
Hiện nay, Việt Nam sử dụng phương pháp Alkire và Foster để đo lường nghèo đa chiều, do tính đơn giản và phổ biến của phương pháp này Theo đó, để đo lường nghèo đa
Trang 27chiều cần xác định được các chiều thiếu hụt, các chỉ số đo lường và ngưỡng thiếu hụt trong từng chiều, xác định cách tính mức độ thiếu hụt và chuẩn nghèo đa chiều
Bảng 2.1: Các chỉ số nghèo đa chiều tại Việt Nam Chiều
1.1 Trình độ giáo
dục của người lớn
Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên đủ 15 tuổi trở lại không tốt nghiệp Trung học cơ sở
và hiện không đi học
10 Giáo dục
1.2 Tình trạng đi học
của trẻ em
Hộ gia đình có ít nhất 1 trẻ em trong độ tuổi
đi học (5-dưới 15 tuổi) hiện không đi học 10
2.1 Tiếp cận các dịch
vụ y tế
Hộ gia đình có người bị ốm đau nhưng
không đi khám chữa bệnh (ốm đau được xác
định là bị bệnh/chấn thương nặng đến mức phải nằm một chỗ và phải có người chăm sóc tại giường hoặc nghỉ việc/học không tham gia được các hoạt động bình thường)
10
Y tế
2.2 Bảo hiểm y tế Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ 6 tuổi
trở lên hiện tại không có bảo hiểm y tế 10
3.1 Chất lượng nhà ở
Hộ gia đình đang ở trong nhà thiếu kiên cố
hoặc nhà đơn sơ (Nhà ở chia thành 4 cấp
độ: nhà kiên cố, bán kiên cố, nhà thiếu kiên
cố, nhà đơn sơ)
10 Nhà ở
3.2 Diện tích nhà ở
bình quân đầu người
Diện tích nhà ở bình quân đầu người của hộ
thông tin 5.2 Tài sản phục vụ
tiếp cận thông tin
Hộ gia đình không có tài sản nào trong số các tài sản: Ti vi, radio, máy tính và không nghe được hệ thống loa đài truyền thanh xã/thôn
10
Nguồn: Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội, 2015
Trang 28Ngưỡng thiếu hụt đa chiều là mức độ thiếu hụt mà nếu hộ gia đình thiếu nhiều hơn mức độ này thì bị coi là thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Chỉ số nghèo
đa chiều toàn cầu (MPI) quy định ngưỡng thiếu hụt đối với một hộ gia đình là thiếu từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt trở lên Mức quy định ngưỡng thiếu hụt này cũng được áp dụng tại Việt Nam
2.4 Sinh kế và khung phân tích sinh kế của hộ gia đình
2.4.1 Sinh kế, sinh kế bền vững và đa dạng sinh kế
Sinh kế:
Từ những năm 1980, Robert Chambers là một trong những người đầu tiên có tác phẩm viết về các nội dung liên quan đến sinh kế 10 năm sau, năm 1990, Chamber và Conway và một số người khác đã phát triển các nội dung này, trong đó, phương pháp tiếp cận sinh kế đã được hoàn thiện cụ thể, rõ ràng hơn Mục đích chính của phương pháp tiếp cận sinh kế, một mặt là để cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống về mọi mặt của các hộ gia đình; mặt khác, nó hướng các nhà lãnh đạo, quản lý các phương pháp để phát triển nông nghiệp, nông thôn theo xu hướng bền vững và hiệu quả Chính vì vậy, các nội dung về sinh kế và phương pháp tiếp cận sinh kế đã nhanh chóng được đưa vào thực hiện ở các nước phát triển và ngày càng hoàn thiện hơn Trong Sách Trắng năm 1997, Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) đã coi việc
thực hiện cam kết về “những chính sách và hành động cho việc xúc tiến các loại hình
sinh kế bền vững” là một trong ba mục tiêu nhằm đạt được mục đích chung về xóa
đói giảm nghèo
Theo DFID (2003) “sinh kế gồm ba thành tố chính là nguồn lực và khả năng con
người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế” Wallman (1984) lại quan niệm
rằng: “sinh kế không đơn thuần chỉ là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi ở; mà nó
còn đề cập đến vấn đề tiếp cận các quyền sở hữu, thông tin, kỹ năng, các mối quan hệ”
Qua các khái niệm sinh kế trên có thể thấy, toàn bộ hoạt động của con người trong cuộc sống dựa trên những nguồn lực sẵn có như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, trình độ khoa học, công nghệ nhằm đạt được mục tiêu đều được coi là các hoạt động sinh kế Nguồn lực tài chính nói chung là những giá trị kinh tế mà các chủ thể tập hợp được để có thể đạt được mục tiêu Về cơ bản các hoạt động sinh kế do mỗi
cá nhân hay hộ gia đình tự quyết, dựa vào năng lực và khả năng của họ; đồng thời chịu tác động của các thể chế chính sách và các mối quan hệ xã hội
Trang 29Như vậy, các hoạt động sinh kế và vấn đề đói nghèo có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó, nếu hoạt động sinh kế đúng cách, hiệu quả sẽ có tác dụng đẩy nhanh quá trình xóa đói, giảm nghèo Do vậy, tiếp cận sinh kế là phương pháp rất thích hợp nhằm tìm hiểu nguyên nhân và các mặt của đói nghèo, để từ đó có những giải pháp hữu hiệu cho vấn đề giảm nghèo bền vững
Bản chất của phương pháp tiếp cận sinh kế là lấy người dân làm trung tâm, trao cho họ những quyền nhất định đối với phương tiện và tư liệu sản xuất; đồng thời hỗ trợ, hướng dẫn họ cách thực hiện để họ tự đạt được những kết quả từ hoạt động sinh kế
đó Phương pháp này sẽ giúp người dân đạt được những thành quả sinh kế lâu dài, bởi chính họ vừa là người trực tiếp thực hiện các hoạt động sinh kế, vừa là người thụ hưởng các kết quả từ hoạt động sinh kế Đây chính là động lực để người dân tích cực hơn trong các hoạt động sinh kế mới, gắn trách nhiệm của họ với nhau và với cộng đồng xã hội
Tính chất linh hoạt và khả năng áp dụng với nhiều tình huống là ưu điểm nổi trội của phương pháp tiếp cận sinh kế Do đó, hiện nay, người ta thường dùng phương pháp này trong việc xác định, thiết kế và đánh giá các chương trình dự án mới, đánh giá lại các hoạt động hiện có, cung cấp thông tin cho việc hoạch định chiến lược và sử dụng cho nghiên cứu
Sinh kế bền vững:
Khái niệm sinh kế bền vững cơ bản dựa trên nền tảng của khái niệm phát triển bền vững Dựa trên khái niệm sinh kế bền vững của Chambers và Conway (1992),
Scoones (1998), tác giả Phạm Hồng Mạnh (2012) định nghĩa: “Sinh kế bao gồm khả
năng nguồn lực (nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người”
Theo các nghiên cứu của Scoones (1998), Ashley, C và Carney, D (1999), DFID (2001) và Solesbury (2003), sinh kế bền vững thường được đánh giá trên hai phương diện là bền vững môi trường và bền vững xã hội Trong đó, bền vững môi trường là đề cập đến hoạt động sinh kế đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn lực tự nhiên theo hướng vừa khai thác, vừa bảo tồn; còn bền vững xã hội đề cập đến khả năng giải quyết những căng thẳng và đột biến trong xã hội của sinh kế Sau này, tác giả Phạm Hồng Mạnh (2012) đã phát triển, bổ sung thêm hai phương diện nữa để xác định tính bền vững của sinh kế là kinh tế và thể chế
Trang 30Như vậy, một sinh kế được coi là bền vững khi tính bền vững của nó được thể hiện trên 4 cả phương diện: kinh tế, môi trường, xã hội và thể chế Cụ thể: (i) Trên phương diện kinh tế, sinh kế phải đạt được và duy trì một mức phúc lợi kinh
tế cơ bản, mức phúc lợi này có thể khác nhau giữa các khu vực; (ii) Trên phương diện xã hội, sinh kế giúp giảm thiểu thấp nhất sự phân biệt xã hội và công bằng xã hội được thực hiện tối đa; (iii) Trên phương diện môi trường, sinh kế phải bảo tồn hoặc gia tăng các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì lợi ích của các thế hệ tương lai; (iv) Trên phương diện thể chế, các cấu trúc hoặc quy trình hiện hành liên quan đến sinh kế phải được thực hiện một cách liên tục và ổn định để hỗ trợ cho hoạt động sinh kế diễn ra thuận lợi và hiệu quả Cả 4 phương diện này đều có vai trò quan trọng như nhau và cần tìm ra sự cân bằng tối ưu giữa chúng
Cùng quan điểm trên, nhiều nhà nghiên cứu hiện nay quan niệm rằng: Một sinh
kế có những đặc điểm như: khả năng thích ứng và phục hồi trước những cú sốc hoặc đột biến từ bên ngoài; không phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài; duy trì được năng suất trong dài hạn của các nguồn tài nguyên thiên nhiên và không làm phương hại đến các sinh kế khác chính là một sinh kế bền vững
Đa dạng hóa được xem như là một quá trình mà trong đó, nông hộ lựa chọn
và xác định một tập hợp các hoạt động và tài sản sinh kế có tính đa dạng để cải thiện mức sống của họ Đa dạng hóa đòi hỏi sự đa dạng trong nội bộ ngành nông nghiệp (một hệ thống các loại cây trồng, vật nuôi và các hoạt động kinh tế khác có tính chất dựa vào tài nguyên thiên nhiên) và sự đa dạng các ngành kinh tế phi nông nghiệp của nông hộ Đa dạng hóa là một xu hướng có tính phổ biến trong nông nghiệp xuất phát từ yêu cầu của việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sản xuất và giảm thiểu rủi ro gây ra bởi các cú sốc từ môi trường sản xuất và thị trường nông nghiệp Các xu hướng chính trong chiến lược đa dạng hóa bao gồm: đa dạng hóa theo hướng chuyển đổi sản xuất lương thực tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, đáp ứng nhu cầu thị trường; đa dạng hóa các ngành kinh tế trong nông nghiệp kết hợp với các ngành nghề, dịch vụ phi nông nghiệp và đa dạng hóa theo hướng chuyển đổi từ các sản phẩm có giá trị thấp sang các sản phẩm, dịch vụ có giá trị cao (Theo Minot trích trong Nguyễn Đăng Hào, 2012)
2.4.2 Lý thuyết liên quan đến sinh kế
Theo DFID (1999), “phân tích sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem
xét toàn diện tất cả các yếu tố khác nhau ảnh hưởng như thế nào đến sinh kế của con
Trang 31người Đây là cách tiếp cận toàn diện nhằm xây dựng các lợi thế hoặc chiến lược đặt con người làm trung tâm trong quá trình phân tích”
Trong quá trình phân tích sinh kế, việc nghiên cứu kết quả sinh kế luôn cần thiết và quan trọng Kết quả sinh kế được thể hiện ở các chỉ số như: thu nhập cao hơn, chất lượng cuộc sống nâng lên, khả năng tổn thương giảm, khả năng ứng phó với các cú sốc và đột biến từ bên ngoài tốt hơn, an ninh lương thực được củng cố và
sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên Do vậy, thông qua nghiên cứu kết quả sinh kế, chúng ta sẽ hiểu được động lực nào khiến người dân thực hiện các hoạt động sinh kế đó; trong một loạt các hoạt động sinh kế có thể thực hiện thì họ chọn ưu tiên hoạt động nào, lý do của sự lựa chọn đó; đồng thời cũng cho thấy phản ứng của người dân trước những cơ hội và thách thức mới Từ đó, chúng ta có thể biết được cần phải kết hợp và sử dụng các nguồn vốn sinh kế khác nhau gồm: đất đai, vốn, khoa học - công nghệ như thế nào cho hiệu quả và đạt được sinh kế bền vững Thực chất, phân tích sinh kế chính là việc tìm hiểu rõ các thành phần chính của sinh kế như: các nguồn vốn (hay tài sản) sinh kế, tiến trình thay đổi cấu trúc, chiến lược sinh kế và kết quả của chiến lược sinh kế đó
2.4.2.1 Nguồn vốn/tài sản sinh kế
Theo DFID (1999), “nguồn vốn là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất mà
con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh kế của họ Nguồn vốn hay tài sản sinh kế được chia làm 5 loại vốn cơ bản: vốn nhân lực, vốn tài chính, vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn xã hội” Khi xem xét nguồn vốn sinh kế, người ta không chỉ
xem xét hiện trạng các nguồn vốn mà cần xem xét khả năng hay cơ hội thay đổi của nguồn vốn đó trong tương lai
Vốn nhân lực (Human capital):
Là nguồn vốn bao gồm các yếu tố thuộc về con người như: kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ… Nó quyết định việc theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của mỗi cá nhân hoặc gia đình họ Đối với quy mô gia đình, số lượng và chất lượng của các thành viên chính là nguồn vốn nhân lực sẵn có Vốn nhân lực nhiều hay ít phụ thuộc vào quy mô hộ, trình độ,
kỹ năng, khả năng lãnh đạo và sức khoẻ của các thành viên gia đình
Có hai cách để hỗ trợ nguồn vốn nhân lực cho các gia đình là trực tiếp và gián tiếp Cách hỗ trợ trực tiếp là các khóa đào tạo, tập huấn hay hỗ trợ để duy trì việc đi học trong hệ thống giáo dục với chương trình giảng dạy bài bản, phù hợp với từng
Trang 32lứa tuổi Cách hỗ trợ gián tiếp thường được áp dụng với những trường hợp người dân
bị ngăn cản bởi những việc làm trái với lẽ thường (như những tiêu chuẩn xã hội hay chính sách cứng nhắc ngăn cấm phụ nữ tới trường) Tuy nhiên, dù được hỗ trợ trực tiếp hay gián tiếp thì nguồn vốn sinh kế chỉ thực sự gia tăng khi chính bản thân con người phải sẵn sàng tham gia, thậm chí đầu tư thêm thời gian, công sức, tiền của vào quá trình đào tạo, tích lũy kiến thức
Thực tế, để tăng hiệu quả của việc hỗ trợ, trước khi quyết định phương thức nào người ta thường nghiên cứu, thu thập thông tin về các phương thức kiếm sống, đặc điểm của người dân hoặc nhóm cộng đồng để phân tích; từ đó quyết định cách hỗ trợ
và xác định nhóm đối tượng hoặc địa phương cần thiết để hỗ trợ Trong nhiều trường hợp, người ta kết hợp cả hai hình thức hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp thông qua các chương trình trọng điểm hướng vào việc phát triển nguồn nhân lực Ngoài ra, để phát triển nguồn vốn nhân lực, người ta cũng triển khai các chương trình nhằm cải thiện phương thức tiếp cận với giáo dục chất lượng cao, thông tin, công nghệ; đào tạo nâng cao dinh dưỡng và sức khoẻ
Vốn tài chính (Financial capital):
Là nguồn vốn quan trọng, ảnh hướng lớn đến việc đạt được các mục tiêu trong hoạt động sinh kế Vốn tài chính có thể là: nguồn tiền dự trữ hiện tại của bản thân, gia đình và nguồn tiền từ bên ngoài (như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng) Có hai nguồn vốn tài chính chủ yếu là:
- Vốn sẵn có: Có thể là tiền do người dân tiết kiệm được, hoặc các loại tài sản
mà người dân sở hữu (như vật nuôi, cây trồng, nữ trang, máy móc, dụng cụ lao động…); có thể là nguồn tiền vay được từ các tổ chức ngân hàng
- Dòng tiền đều: Là loại tiền có được ngoài thu nhập thường xuyên, thường là tiền trợ cấp hoặc sự chuyển giao về kế hoạch đầu tư Tuy nhiên, nguồn tiền này chỉ
được coi là vốn tài chính khi được xác thực
- Vốn tự nhiên (Natural capital):
Là các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà con người có được, hay có cơ hội tiếp cận được để phục vụ cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế Vốn tự nhiên có thể là các hàng hoá công vô hình như không khí, tính đa dạng sinh học; hoặc là các tài sản được
sử dụng trực tiếp trong sản xuất như: đất đai, nước, cây trồng, vật nuôi Quy mô và chất lượng của nguồn vốn tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người
Trang 33Trong khung sinh kế bền vững, nguồn vốn tự nhiên và các tổn hại của người dân
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Sự biến đổi của khí hậu và thiên tai (như bão lụt, động đất, cháy rừng… ) đã tàn phá nguồn vốn tự nhiên, làm cho người dân, nhất là người nghèo bị thiệt hại nặng nề về nhà cửa, cây trồng, vật nuôi, đất đai… dẫn đến mất
kế sinh nhai Bên cạnh đó, các hoạt động sinh kế của con người liên quan đến đất đai, tính mùa vụ sẽ tác động trở lại, làm biến đổi năng suất và giá trị của nguồn vốn tự nhiên qua các năm
Từ tính chất đó của vốn tự nhiên, mục tiêu sinh kế bền vững là hướng đến việc hỗ trợ, cung cấp nguồn lực cho người dân để tạo ra và sử dụng nguồn vốn tự nhiên một cách hiệu quả Điều này có nghĩa là, cung cấp cho người dân phương pháp, cách thức, công nghệ… để họ sử dụng vốn tự nhiên ít nhất nhưng tạo ra được lượng sản phẩm nhiều nhất; từ đó, khắc phục tình trạng sử dụng lãng phí tài nguyên, dẫn đến nguy cơ cạn kiệt; đồng thời, giúp tái tạo, bảo tồn nguồn vốn tài nguyên cho các thế hệ tương lai
Vốn vật chất (Physical capital):
Gồm cơ sở hạ tầng xã hội và các tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế, như: giao thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống tưới tiêu, cung cấp năng lượng, nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin
Đối với người nghèo, việc hỗ trợ vốn vật chất, nhất là cơ sở hạ tầng là rất cần thiết Các chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng thường rất tốn kém, mặt khác chi phí dịch vụ đáp ứng cho việc duy trì, sửa chữa, nâng cấp cơ sở hạ tầng cũng rất cao, do đó người dân nói chung, người nghèo nói riêng không có khả năng chi trả cho những khoản này Thông thường, Nhà nước sẽ đứng ra cung cấp tài chính để đầu tư và trả các chi phí liên quan Quá trình cung cấp nguồn vốn vật chất này chính là cách hỗ trợ trực tiếp cho người dân; đồng thời Nhà nước cũng khuyến khích họ phát triển kĩ năng, năng lực để quản lý có hiệu quả nguồn vốn vật chất đó Ở nhiều địa phương, nếu được đầu tư đúng mức và phù hợp, loại tài sản này (như hệ thống đường xá, vận tải, y tế ) có thể giúp người nghèo thoát nghèo một cách nhanh chóng và bền vững
Vốn xã hội (Social capital):
Đây là một loại tài sản sinh kế khá đặc biệt, mà nhờ nó người dân có thể tạo ra cơ hội và có được lợi ích từ các hoạt động sinh kế Nó thể hiện trong các mối quan hệ xã hội (hoặc các nguồn lực xã hội) của người dân cả chính thức và phi chính thức Một người được coi là có vốn xã hội tốt khi họ thường xuyên có các tương tác với những
Trang 34người khác (có thể là người bảo lãnh, khách hàng quen hoặc chỉ là người có cùng mối quan tâm, sở thích, hoàn cảnh với họ) Các mối quan hệ này, ở thời điểm nhất định
sẽ phát huy giá trị của nó, giúp họ tăng uy tín hoặc cơ hội việc làm, cơ hội tiếp cận với các thể chế, nhất là các thể chế chính trị và cộng đồng Điều này sẽ đem lại những lợi ích cho người dân trong quá trình thực thi sinh kế
Đối với đa số người nghèo, vốn xã hội thường hạn chế Do đó, cần thuyết phục họ tăng cường tham gia các nhóm trong xã hội Khi người nghèo là thành viên của một nhóm, hội nào đó, họ sẽ chấp nhận và tuân thủ các quy tắc, chuẩn mực, tiêu chuẩn; đồng thời họ cũng xác lập cho mình các mối quan hệ, uy tín, ảnh hưởng của bản thân đối với người khác Nhờ đó, họ có thể có kết hợp với người khác trong quá trình hoạt động sinh kế; đôi khi còn được hưởng sự nhân nhượng, ưu đãi hoặc cắt giảm các chi phí giao dịch Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với người nghèo
Để tạo lập và xây dựng vốn xã hội cho người dân, thể chế địa phương đóng vai trò quan trọng Đó có thể là các hoạt động trực tiếp (về giáo dục, đào tạo hay phân phối các nguồn lực) hoặc các hoạt động gián tiếp (bằng việc tạo môi trường thể chế, chính trị một cách dân chủ, thông thoáng) Việc trao quyền cho các nhóm cũng có thể được xem như một nỗ lực để tăng vốn xã hội cho cá nhân và cộng đồng Để thực hiện được điều này, chính quyền địa phương cần xem xét mục đích, khả năng ảnh hưởng của nhóm trong việc giúp các thành viên cải thiện đời sống Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu gia tăng nguồn vốn xã hội cần phải có sự hỗ trợ từ các lĩnh vực khác như: gắn chặt trách nhiệm của các tổ chức tín dụng vào nguồn vốn xã hội, kết hợp với quản lý, thực thi tốt các biện pháp phòng ngừa rủi ro
2.4.2.2 Tiến trình và cấu trúc (Structure and processes)
Đây là yếu tố thể chế, tổ chức, chính sách và luật pháp có khả năng ảnh hưởng đến việc tiếp cận các nguồn vốn, điều kiện trao đổi các nguồn vốn và thu nhập từ các chiến lược sinh kế khác nhau Những yếu tố trên có tác động thúc đẩy hoặc hạn chế đối với các chiến lược sinh kế Chính vì thế, sự hiểu biết các cấu trúc, tiến trình có thể xác định được những cơ hội cho các chiến lược sinh kế thông qua quá trình chuyển đổi cấu trúc
2.4.2.3 Kết quả sinh kế (livelihood outcome)
Kết quả của sinh kế là thành phần quan trọng của khung sinh kế Đó là mục tiêu
hay kết quả của các chiến lược sinh kế Kết quả của sinh kế nhìn chung là cải thiện
Trang 35phúc lợi của con người nhưng có sự đa dạng về trọng tâm và sự ưu tiên Đó có thể là cải thiện về mặt vật chất hay tinh thần của con người như: xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập hay sử dụng bền vững và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Cũng tùy theo mục tiêu của sinh kế, các tổ chức, cơ quan sẽ có những quan niệm khác nhau về mức độ quan trọng của các thành phần trong sinh kế, từ đó đề ra những phương pháp để đạt được mục tiêu sinh kế
2.4.2.4 Chiến lược sinh kế
Theo Ellis (2000)“Chiến lược sinh kế là tập hợp của các hoạt động nhằm tạo ra
các phương tiện, các nguồn thu nhập cho sự tồn tại và phát triển của các nông hộ” Nói
cách khác, chiến lược sinh kế là các khả năng phối kết hợp các hoạt động, các sự lựa chọn để tối ưu hóa việc sử dụng các tài sản sinh kế hiện có của nông hộ, nhằm đạt được các mục tiêu như các hoạt động sản xuất, hoạt động đầu tư và hoạt động tái sản xuất Chiến lược sinh kế là một hợp phần quan trọng trong sinh kế của nông hộ và có mối quan hệ phụ thuộc vào các tài sản sinh kế của nông hộ Chiến lược sinh kế được thực hiện thông qua các hoạt động sinh kế dựa trên các tài sản sinh kế hiện có, nhằm tạo ra các nguồn thu nhập đáp ứng nhu cầu đa dạng của nông hộ tại các thời điểm khác nhau Nhìn chung, các hoạt động sinh kế có tính đa dạng và thay đổi qua thời gian, nhằm thích ứng với các cơ hội và thách thức được tạo ra bởi sự thay đổi của môi trường sinh kế và sự tương tác của chúng qua thời gian (Scoones, 1998; Ellis, 2000; Davies, 1996; Carney, 1998; Barrett and Reardon, 2000)
2.5 Tổng quan các công trình nghiên cứu điển hình
2.5.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Ở ngoài nước có một số các công trình nghiên cứu liên quan đến đa dạng sinh kế
và thu nhập như:
Nghiên cứu của Sarah (2010) “Yếu tố quyết định của nông thôn đa dạng hoá thu
nhập hộ gia đình ở Senegal và Kenya”, đã sử dụng mô hình hồi qui tobit với biến phụ
thuộc là mức độ đa dạng hóa được đo lường bằng chỉ số Herfindahl nghịch đảo Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ giáo dục cao, tiếp cận thị trường, dễ dàng tiếp cận giao thông vận tải, vốn xã hội liên quan đến việc đổi công cho nhau là những nhân tố quyết định tích cực đến đa dạng hóa thu nhập
Lanjouw, Murgai và Stern (2013) nhận thấy đa dạng hóa hoạt động phi nông nghiệp ở Ấn Độ không chỉ dẫn tới tăng thu nhập và giảm đói nghèo, mà còn là phương
Trang 36tiện để gỡ bỏ các rào cản dịch chuyển kinh tế giữa các nhóm nghèo nhất trong xã hội Tuy nhiên, họ cũng nhấn mạnh rằng, đi kèm với đa dạng hóa là tăng bất bình đẳng thu nhập ở cấp thôn/làng và tình trạng bất bình đẳng này đến lượt nó có thể có tác động đến đồng thuận xã hội
Nghiên cứu của Ersado L (2013), “Đa dạng hóa thu nhập tại Zimbabwe”, sử dụng
mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là mức độ đa dạng hóa được đo lường bằng nguồn thu nhập bình quân đầu người và chỉ số đa dạng Herfindahl Giới tính của chủ hộ, số lượng thành viên là người lớn trong hộ, lượng mưa có liên quan đến đa dạng hóa thu nhập
Nghiên cứu của Emmanuel Ekow Asmah (2012), về đa dạng hóa sinh kế nông thôn và cải cách ngành nông nghiệp ở Ghana Mô hình hồi quy với các biến phụ thuộc
là mức độ đa dạng được đo lường bằng tỷ lệ thu nhập nông nghiệp và chỉ số đo lường mức độ đa dạng hóa Kết quả nghiên cứu cho thấy, các hộ gia đình sống trong các cộng đồng tiếp cận với phân bón, giao thông công cộng và các thị trường sản phẩm địa phương có nhiều khả năng tham gia vào đa dạng hóa phi nông nghiệp và tận hưởng cải thiện phúc lợi
Nghiên cứu của tác giả Sricharoena & Buchenrieder (2006) về phân tích thành phần chính của đói nghèo tại miền Bắc Thái Lan, đã sử dụng dữ liệu thu thập tại chín ngôi làng ở huyện Mae Rim, tỉnh Chiang Mai Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) để xác định các yếu tố quan trọng nhằm giải thích đói nghèo hộ gia đình Các yếu tố liên quan đến đánh giá đói nghèo là điều kiện sống, tài sản vật chất, nguồn nhân lực và các vấn đề an ninh lương thực Yếu tố làm cho người nghèo trở nên nghèo hơn đó là nguồn nhân lực
Nghiên cứu của Awuse & Tandoh-Offin (2014) đã sử dụng phương pháp phân tích nhân tố (EFA) để xác định các yếu tố di cư và nghèo đói của người dân tại Ghana Nghiên cứu đã điều tra 345 hộ gia đình từ bảy vùng của Ghana Kết quả cho thấy, các biến quan trọng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng di cư tại các địa phương ở Ghana là: yếu tố kinh tế, yếu tố nhân khẩu học, yếu tố xã hội và văn hóa, các yếu tố địa lý, chính trị và thể chế, phúc lợi và nghèo đói
Trong khi đó, nghiên cứu của Newman, Tarp và van den Broeck (2014) chỉ ra các ảnh hưởng tích cực của vốn xã hội, được đo lường qua sự chia sẻ thông tin và trở thành thành viên của Hội Phụ nữ, tới tiết kiệm của hộ gia đình (do đó có thể coi là tác động tới sự phát triển), Markussen và Tarp (2014) lại cho rằng “liên kết” vốn xã hội,
Trang 37dưới hình thức các liên kết không chính thức giữa người nông dân và viên chức chính quyền địa phương, sẽ làm lệch hướng sự phân bổ tín dụng, chuyển khoản tiền tệ và đầu tư nông nghiệp Tương tự, nghiên cứu của Newman và Zhang (2015) cho thấy
“các hộ gia đình có liên kết chính trị thường tiếp cận dễ dàng hơn tới các nguồn lợi
ích công hơn các hộ gia đình khác”, và Kinghan cùng Newman (2015) cũng nhận định
“các gia đình có liên kết chính trị thường có khả năng cao hơn các hộ khác trong việc
thành lập doanh nghiệp phi nông nghiệp” Nghiên cứu đã cho thấy việc là thành viên
của tổ chức tự nguyện và các nhóm xã hội tự nguyện không có ảnh hưởng tới thu nhập
hộ gia đình Điều này không loại bỏ khả năng rằng có suất sinh lợi kinh tế xã hội (ở cấp độ cộng đồng) tích cực từ các hoạt động của những nhóm này hoặc rằng nhóm có ảnh hưởng tích cực lên các khía cạnh khác của phúc lợi hộ gia đình hơn là thu nhập Những đề tài và công trình nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, quan điểm từ những phương pháp tiếp cận và phạm vi nghiên cứu khác nhau trong việc nghiên cứu nghèo đói, các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của người nghèo, nhất là trong cộng đồng dân cư người DTTS
2.5.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Mặc dù Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng cao và giảm nghèo nhanh kể từ khi thực hiện Đổi mới vào năm 1986, tuy nhiên các bằng chứng định tính và định lượng đều cho thấy rằng những thành quả này không được chia sẻ đồng đều giữa các nhóm
dân tộc (World Bank 2012; The Economist 2015) Sử dụng thu nhập của hộ là một chỉ
số của phúc lợi, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng phúc lợi của các hộ DTTS không những luôn thấp hơn các hộ Kinh mà sự chênh lệch thậm chí còn bị nới rộng hơn trong những năm 1990 (Van de Walle và Gunewardena 2001; Baulch et al, 2007; Baulch, Phạm, và Reilly, 2012) và sinh kế giúp cho họ thoát nghèo cũng hạn chế hơn nhiều so với nhóm dân tộc Kinh (Glewwe, Gragnolati, and Zaman 2002) Có rất nhiều lý do được đưa ra nhằm giải thích cho sự chậm phát triển các hộ DTTS ở Việt Nam Nhóm DTTS có ít sở hữu về (đất đai, giáo dục, tiếp cận tín dụng v.v…) đồng thời hiệu quả sử dụng nguồn lực thấp hơn Khi xem xét về các nguồn thu nhập cho thấy, các hộ DTTS
có sự đa dạng hóa thu nhập sang các hoạt động phi nông nghiệp nhiều hơn, nhưng khi
đa dạng hóa, họ thường phụ thuộc vào các tài nguyên chung nhiều hơn, trong khi các
hộ dân tộc Kinh chủ yếu tham gia vào các công việc được trả lương hoặc tự sản xuất, kinh doanh Nhìn chung, các nghiên cứu về chủ đề này đã kết luận rằng, mặc dù đa dạng hóa có tương quan dương với thu nhập và sự giàu có (Economic Vietnam, 2013),
Trang 38nó cũng có thể dẫn tới tăng bất bình đẳng do các hộ với những đặc tính và điều kiện ban đầu thuận lợi hơn có thể được hưởng lợi nhiều hơn Điều này nhấn mạnh khả năng
có các tác động lưỡng cực từ hoạt động phi nông nghiệp, trong đó, các hộ nghèo thường tham gia vào các hoạt động thu lợi ít hơn, hộ giàu hơn tham gia vào các hoạt động có thu nhập cao hơn Những tác động khác nhau của việc tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp cũng có thể quan sát được khi đó là hệ quả của các yếu tố “đẩy” như các cú sốc, giảm thiểu rủi ro và sinh tồn
Trong khi đó, Imai, Giaha, và Thapa (2015) nhận thấy, các hộ tham gia vào khu vực phi nông nghiệp có chi tiêu bình quân đầu người cao hơn ở cả Việt Nam và Ấn
Độ ; tiếp cận các công việc phi nông nghiệp cũng giảm tính tổn thương trước các cú sốc, giảm rủi ro Tuy nhiên, các tác động này lớn hơn đối với các hộ tham gia vào các công việc có kĩ năng so với các hộ thực hiện các công việc chân tay/không kĩ năng Hoang, Pham, và Ulubas¸og˘lu (2014) gợi ý rằng, đa dạng hóa sinh kế có thể đóng vai trò như là một công cụ hiệu quả trong việc giảm nghèo ở Việt Nam Họ nhận thấy rằng, ứng với việc có thêm một thành viên của hộ làm các công việc phi nông nghiệp, xác suất nghèo đói sẽ giảm 7-12% và có thể tăng chi tiêu của hộ lên tới 14% trong thời gian hai năm
Nguyễn Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2014) với nghiên cứu “Những nhân
tố quyết định đa dạng hóa thu nhập và ảnh hưởng đối với thu nhập hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam”, đã sử dụng mô hình hồi quy tobit hai giới hạn với biến phụ thuộc
được đo bằng chỉ số Herfindahl nghịch đảo Kết quả nghiên cứu cho biết, nhân tố tác động tích cực đến thu nhập nông hộ là vốn con người, sở hữu vốn tài chính lớn, khả năng tiếp cận tín dụng và vốn xã hội
Nghiên cứu của Nguyễn Đăng Hào (2012), “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa
chọn chiến lược sinh kế của các nông hộ tại vùng cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế”,
sử dụng mô hình hồi quy logistic với biến phụ thuộc Y là biến đại diện cho chiến lược sinh kế được các nông dân lựa chọn Kết quả nghiên cứu cho thấy, dựa vào nông nghiệp vẫn là một chiến lược sinh kế quan trọng đối với các hộ trong khu vực Tuy vậy, chiến lược sinh kế đang có sự thay đổi theo hướng đa dạng hóa và có sự khác biệt lớn giữa các điểm nghiên cứu và giữa các nhóm hộ
Bùi Thị Tám và những người khác (2009) với nghiên cứu “Vận dụng hàm xác
suất cận biên BAYES trong đánh giá quan hệ giữa đa dạng hóa sinh kế và hiệu quả kinh tế của nông hộ miền Trung”, đã cho thấy, đa dạng sinh kế được coi là một chiến
Trang 39lược khá phổ biến của các nông hộ để ứng phó với những điều kiện bất thường có thể xảy ra trong sản xuất, thị trường; đồng thời, việc đa dạng sinh kế giúp cho các hộ sử dụng tốt hơn các nguồn lực và nâng cao hiệu quả sản xuất Bằng việc vận dụng hàm BAYES và số liệu điều tra, các tác giả kiểm định và chấp nhận giả thiết đa dạng hóa sinh kế nông nghiệp ở miền Trung Ngoài ra, nghiên cứu cũng khẳng định, việc đa dạng sinh kế giúp cho các hộ nông dân có thể giảm nghèo và tránh các rủi ro trong việc canh tác
Nghiên cứu của Phạm Hồng Mạnh và Hà Thị Thiều Dao (2014) về “Giải quyết
sinh kế cho gia đình ngư dân nghèo tại khu vực đầm Thủy Triều, Cam Ranh, Khánh Hòa”, đã chỉ ra giải pháp để giải quyết sinh kế cơ bản của các hộ gia đình nghèo ở
đầm Thủy Triều ven biển miền Trung Tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy logistic và cho thấy, ngoài đặc điểm nhân khẩu học (tỷ lệ phụ thuộc, giáo dục của các thành viên
hộ gia đình và tỷ lệ việc làm của người lớn), thì nỗ lực gia tăng phương tiện đánh bắt
cá (thuyền) đã ảnh hưởng đến thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình
Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh (2011), “Các yếu tố ảnh
hưởng đến thu nhập của người DTTS ở Đồng bằng sông Cửu Long”, đã sử dụng
phương pháp thống kê mô tả và hồi quy tuyến tính đa biến Qua nghiên cứu số liệu điều tra trực tiếp từ 150 hộ Khmer ở tỉnh Trà Vinh, 90 hộ Chăm ở tỉnh An Giang cho
thấy, “các nhân tố tác động đến thu nhập bình quân/người của hộ DTTS ở đồng bằng
sông Cửu Long là: trình độ học vấn của chủ hộ, trình độ học vấn của lao động trong
hộ, số nhân khẩu trong hộ, số hoạt động tạo thu nhập của hộ, độ tuổi của lao động trong hộ và tiếp cận với các chính sách hỗ trợ Trong đó, nhân tố số nhân khẩu và độ tuổi của lao động trong hộ tỷ lệ nghịch với thu nhập bình quân/người của hộ dân tộc thiểu số, nhân tố số hoạt động tạo ra thu nhập của hộ có tác động mạnh nhất đến thu nhập bình quân/người của hộ DTTS ở Đồng bằng sông Cửu Long”
Trần Quế Anh & Bùi Văn Trịnh (2011) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình khu vực nông thôn huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long”, đã sử
dụng phương pháp thống kê mô tả và hồi quy tuyến tính đa biến Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuy mức sống của người dân ở khu vực nông thôn ngày càng được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều hộ gia đình có mức thu nhập khá thấp Nguồn thu nhập chính của phần lớn hộ gia đình phụ thuộc vào nghề nông nên thu nhập tương đối thấp và bấp bênh Các nhân tố như: số nhân khẩu, kinh nghiệm làm việc của chủ hộ, độ tuổi của
Trang 40lao động, trình độ học vấn của chủ hộ và số hoạt động tạo ra thu nhập đều ảnh hưởng đến thu nhập bình quân/người của hộ gia đình khu vực nông thôn
Trong thời gian gần đây, Báo cáo phân tích xã hội quốc gia Việt Nam năm 2009
của Ngân hàng Thế giới (WB, 2009) đã tổng kết: “các nhóm DTTS đang gặp bất lợi ở
6 yếu tố cơ bản dẫn đến kết quả sinh kế thấp hơn so với nhóm đa số Đó là bất lợi về tiếp cận giáo dục, di chuyển lao động, tín dụng, đất sản xuất, tiếp cận thị trường và định kiến của nhóm đa số”
Theo số liệu của VHLSS về nghèo DTTS tại Việt Nam (không bao gồm người Kinh và người Hoa) cho thấy: Cả 6 yếu tố trên đều góp phần giải thích sự khác biệt về
mức sống giữa các nhóm DTTS và nhóm đa số và “6 yếu tố đó kết hợp lại tạo thành
một vòng luẩn quẩn dẫn đến nghèo trong đồng bào DTTS giảm chậm”
Mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói, tính dễ tổn thương ở các cộng đồng DTTS tại Việt Nam với biến đổi khí hậu và thiên tai đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu của các cơ quan phát triển Liên Hiệp quốc, Ngân hàng Thế giới (WB) và các tổ chức phi chính phủ (NGOs) Tổng hợp ý kiến từ các nghiên cứu đó, Gay McDougall (2010),
một chuyên gia độc lập về các vấn đề DTTS của Liên Hiệp quốc, chỉ rõ: “Biến đổi khí
hậu có thể làm cho mực nước biển tăng lên, có khả năng ảnh hưởng đến hàng triệu người sống ở vùng đồng bằng và vùng ven biển, đòi hỏi phải tái định cư hàng loạt ở các khu vực miền núi… Và điều đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến diễn biến kinh tế - xã hội của các cộng đồng DTTS”
Dựa trên kết quả khảo sát tại các tỉnh Lạng Sơn, Hải Dương, Kon Tum, Bình Thuận và An Giang, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS, 2011) đã phân tích bối cảnh nghèo của đồng bào DTTS, trong đó đề cập đến những khó khăn chính về cơ sở
hạ tầng, tạo việc làm, khả tiếp cận các dịch vụ xã hội, chất lượng giáo dục và các rào cản ngôn ngữ Nghiên cứu của Baulch và Vũ (2012) phân tích ảnh hưởng của các đặc điểm (nhân khẩu hộ gia đình, trình độ học vấn, sở hữu đất, đặc điểm xã hội…) và các yếu tố khác (như chất lượng đất, chất lượng giáo dục, các rào cản văn hóa, định kiến
và kỳ thị với đồng bào DTTS…) đến sự khác biệt về thu nhập/chi tiêu giữa nhóm dân tộc đa số và các nhóm DTTS Kết quả là, khác biệt về đặc điểm đóng góp gần một nửa vào khác biệt về mức sống; ngược lại, khác biệt về hiệu quả thu nhập đóng góp trên một nửa vào sự khác biệt về mức sống; tỷ trọng thu nhập của nhóm DTTS từ việc làm phi nông nghiệp, kinh doanh, dịch vụ và tiền gửi nhỏ hơn nhiều so với nhóm đa số