Trong bài báo này, chúng tôi sẽ thảo luận một số khái niệm công cụ có liên quan và điểm luận các nghiên cứu đi trước về tính hiệu quả của các chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần đế[r]
Trang 1ThS Bùi Thị Thanh Diệu 1 PGS.TS Trần Thành Nam 2
Tóm tắt: Chương trình giáo dục về sức khỏe tâm thần được xây dựng và phát
triển lần đầu tiên trên thế giới từ những năm 1997 giúp cung cấp kiến thức, niềm tin về các bệnh tâm thần và giúp cộng đồng nhận biết, phòng ngừa, quản lý và tìm kiếm trợ giúp khi gặp các vấn đề tổn thương sức khỏe tâm thần Nội dung chính của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần thường bao gồm thông tin về mối liên hệ giữa não bộ và sức khỏe tâm thần, cách thức quản lý căng thẳng hiệu quả, các hoạt động và nguồn lực để tăng cường sức khỏe tâm thần cũng như các chiến lược tìm kiếm sự trợ giúp Trong bài báo này, chúng tôi sẽ thảo luận một số khái niệm công cụ có liên quan và điểm luận các nghiên cứu đi trước về tính hiệu quả của các chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần đến nhận thức, thái độ và hành vi của cộng đồng.
Từ khóa: Sức khỏe tâm thần, Chương trình giáo dục, Hiệu quả tác động.
1 Đặt vấn đề
Trên thế giới, rối loạn tâm thần ảnh hưởng đến gần 20% thanh thiếu niên (WHO, 2014) và phần lớn các rối loạn tâm thần khởi phát trước năm 25 tuổi (Kessler & cs, 2005) Vì vậy, cần có những chương trình giáo dục cộng đồng giúp nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần (SKTT) giúp phát hiện sớm, phòng ngừa
và hỗ trợ làm giảm thiểu các rối loạn tâm thần Học sinh trung bình dành khoảng 30h/tuần ở trường và các nghiên cứu cũng chỉ ra tầm quan trọng của việc thiết kế các chương trình giáo dục sức khỏe nâng cao hiểu biết về SKTT cho GV; HS qua đó làm giảm tỉ lệ tổn thương, bỏ học và các rối nhiễu tâm trí khác (S Kutcher, 2015) Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đưa ra một số khái niệm cơ bản và điểm luận các nghiên cứu đi trước về tính hiệu quả của các chương trình giáo dục SKTT đã triển khai trên thế giới
1 Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng.
2 Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội.
Trang 22 Các khái niệm
2.1 Khái niệm giáo dục sức khỏe
Trong những năm gần đây, giáo dục sức khỏe đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe chung cho cộng đồng Nhưng trên thực tế, cá nhân
và gia đình chịu trách nhiệm về những quyết định ảnh hưởng đến sức khỏe của gia đình họ Vì vậy, để giúp cho người dân có những quyết định đúng đắn có lợi cho sức khỏe, người dân cần phải được cung cấp những kiến thức cần thiết, huấn luyện những kỹ năng và thực hành những hành vi có lợi cho sức khỏe Vì lẽ đó mà tuyên ngôn Alma Ata (1978 của Tổ chức Y tế thế giới) xem giáo dục sức khỏe như giải pháp hàng đầu để thực hiện chiến lược sức khỏe toàn cầu (Health Promotion, WHO, 2001) Đây cũng là giải pháp chiến lược của Việt Nam nhằm nâng cao sức khỏe cho người dân
Về bản chất, giáo dục sức khỏe cũng giống như giáo dục nói chung, đó là quá trình tác động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và hành vi sức khỏe của con người Qua đó, phát triển những hành vi có lợi nhằm mang lại tình trạng sức khỏe tốt nhất
có thể cho con người (Bộ Y tế, Truyền thông Giáo dục sức khỏe) Có thể thấy, định
nghĩa trên nhấn mạnh đến 3 lĩnh vực của giáo dục sức khỏe: (i) Kiến thức của con
người về sức khỏe; (ii) Thái độ của con người về sức khỏe; (iii) Hành vi của con người về sức khỏe
Giáo dục sức khỏe chính là quá trình tác động có mối quan hệ qua lại 2 chiều Giáo dục sức khỏe không chỉ là cung cấp thông tin một chiều mà là quá trình tác động qua lại và hợp tác giữa người giáo dục và đối tượng được giáo dục sức khỏe Vai trò của giáo dục sức khỏe là tạo ra những hoàn cảnh thuận lợi cho mọi người tự giáo dục mình, từ đó hướng đến và duy trì hành vi có lợi cho sức khỏe của cá nhân, gia đình và xã hội
Hiện nay, giáo dục sức khỏe được xác định là giải pháp quan trọng, chiến lược nhằm làm thay đổi hành vi sức khỏe; góp phần tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người Nếu giáo dục sức khỏe đạt kết quả tốt nó sẽ giúp làm tỉ lệ mắc bệnh,
tỉ lệ tàn phế và tử vong, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Ngoài ra, nó còn giúp làm tăng cường hiệu quả các dịch vụ y tế
2.2 Khái niệm sức khỏe tâm thần
Khái niệm sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới Theo đó, SKTT là một phần không thể tách rời của sức khỏe nói chung SKTT là khái niệm rộng chứ không phải chỉ là không có bệnh tâm thần và SKTT có mối liên quan mật thiết với sức khỏe thể
chất và hành vi SKTT được hiểu là “trạng thái khỏe mạnh của mỗi cá nhân để họ nhận
Trang 3biết được các khả năng của bản thân, có thể đương đầu với những căng thẳng thông thường trong cuộc sống, có thể học tập và làm việc một cách hiệu quả và có thể tham gia, góp phần vào hoạt động của cộng đồng” (WHO, 2005) Thật khó để đưa ra khái niệm chung cho
tất cả các quốc gia với nền văn hóa, kinh tế, chính trị … khác nhau song có thể thấy SKTT được biểu hiện qua 5 khía cạnh:
- Thứ nhất là một cuộc sống thật sự thoải mái;
- Thứ hai là, đạt được niềm tin vào giá trị bản thân, vào phẩm chất và giá trị của người khác;
- Thứ ba là có khả năng ứng xử bằng cảm xúc, hành vi hợp lý trước mọi tình huống;
- Thứ tư là khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển thoả đáng các mối quan hệ;
- Thứ năm là khả năng tự hàn gắn để duy trì cân bằng khi có các sự cố gây mất thăng bằng, căng thẳng
2.3 Khái niệm chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần (SKTT)
Giáo dục sức khỏe cũng mang bản chất của hiện tượng giáo dục nói chung Vì vậy, chương trình giáo dục sức khỏe hay giáo dục SKTT cũng chứa đựng tất cả các yếu tố của chương trình giáo dục Trên cơ sở khái niệm về chương trình giáo dục,
chương trình giáo dục SKTT được hiểu là sự trình bày hệ thống một kế hoạch tổng thể
các hoạt động giáo dục SKTT trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập, cách đánh giá kết quả học tập nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra.
Các thành phần cơ bản của chương trình giáo dục SKTT cũng giống như các chương trình giáo dục khác thường bao gồm:
- Mục tiêu giáo dục: thể hiện qua mục tiêu kiến thức, thái độ và hành vi về SKTT;
- Nội dung giáo dục về SKTT;
- Phương thức giáo dục SKTT;
- Các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục SKTT;
- Các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục về SKTT;
- Thời gian thực hiện
Trang 43 Các chương trình giáo dục về SKTT và bằng chứng về tính hiệu quả từ bằng chứng nghiên cứu trên thế giới
Những nghiên cứu hiểu biết về SKTT cho thấy niềm tin sai lệch và định kiến về rối loạn tâm thần ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp cận dịch vụ của người bệnh
Từ đó, các chương trình can thiệp nhằm nâng cao hiểu biết về SKTT được xây dựng
và triển khai ở nhiều nơi trên thế giới Các nghiên cứu này bắt đầu từ những năm
1990 (Jorm, 1999), tập trung vào các nhóm đối tượng như cộng đồng, nhà chuyên môn, nhóm thanh thiếu niên, cá nhân và trường học
Thứ nhất là các chương trình giáo dục SKTT hướng đến cộng đồng và nhà chuyên môn Theo hướng này, Swagata Bapat đã triển khai và đánh giá hiệu quả của chương
trình “Read the Play” tại Úc năm 2009 40 huấn luyện viên và quản lý câu lạc bộ thể thao đã tham gia thực nghiệm Chương trình được tiến hành trong 8 giờ chia thành
3 buổi trong 3 tuần liên tiếp Nội dung chương trình gồm kiến thức và cách trợ giúp ban đầu cho những người trẻ tuổi bị trầm cảm, có ý nghĩ tự sát, rối loạn hành vi, lo
âu và sử dụng chất gây nghiện Chương trình đã được giảng dạy bởi 2 chuyên gia về SKTT Tác giả Swagata Bapat đã chứng minh được tính hiệu quả của chương trình bằng cách so sánh hiểu biết về SKTT của 40 người trước và sau khi tham gia thực nghiệm Sự thay đổi về khả năng nhận diện tăng trung bình từ 72,5% lên 92,5%, khả năng trợ giúp tăng với t (39) = 6,26 Tất cả câu trả lời sau tập huấn đều tăng lên và có
ý nghĩa về mặt thống kê Tuy nhiên, nghiên cứu này không có nhóm đối chứng và
số lượng mẫu tương đối ít
Một chương trình khác được triển khai bởi Marie Sutton tại Ailen vào năm
2016 Tác giả đã đánh giá tính khả thi của chương trình “can thiệp thông tin về rối loạn
tâm thần dành cho chuyên gia tiếp xúc với trẻ” 1032 chuyên gia được lựa chọn tham gia
nhóm thực nghiệm, nghiên cứu này không có nhóm đối chứng Nội dung chương trình gồm slide các bài giảng về dấu hiệu, nguyên nhân, cách hỗ trợ cho trẻ em có nguy cơ bị rối loạn tâm thần và bộ câu hỏi đánh giá Can thiệp được thực hiện bởi bác sĩ tâm thần với 82 lần trong hơn 3 năm Hiệu quả của chương trình được đánh giá dựa trên sự thay đổi của người tham gia trước và sau khi can thiệp Sau 3 năm, hiểu biết về SKTT của 1032 chuyên gia đã tăng lên đáng kể Có thể nói, chương trình của Marie Sutton khá công phu khi thực hiện trên số lượng mẫu lớn trong khoảng thời gian tương đối dài Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu này là không có nhóm chứng và khó để có thể kiểm soát hết các yếu tố khác ảnh hưởng đến kết quả đầu ra của chương trình
Cũng thời gian này, Hansson L cùng cộng sự đã thực hiện chương trình nâng cao hiểu biết về SKTT cho 3470 người Chương trình này tập trung cải thiện những hạn chế của các chương trình đã được thực hiện ở Thụy Điển Sau khi các chương
Trang 5trình trước đó được triển khai, thái độ kỳ thị vẫn tồn tại phổ biến và hiển nhiên trong
xã hội Nội dung chương trình gồm kiến thức, thái độ và những hành vi trợ giúp cho người có rối loạn tâm thần Tác giả đã chỉ ra sự thay đổi của người dân sau khi tham gia chương trình Tuy nhiên, nghiên cứu này không mô tả phương pháp đánh giá, cách thực hiện chương trình nên khó để thuyết phục về tính hiệu quả của nó Năm 2017, Choi Yun Jung đã triển khai chương trình giáo dục SKTT cho 63 phụ nữ di dân đã kết hôn tại Hàn Quốc Người tham gia được chia thành nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng Sách hướng dẫn thực hiện chương trình gồm tám phần: (1) Căng thẳng; (2) Quản lý căng thẳng; (3) Thỏa mãn mối quan hệ với chồng; (4) Các mối quan hệ vui vẻ với trẻ em; (5) Các mối quan hệ hài hoà với gia đình; (6) Hiểu biết về SKTT; (7) Quản lý SKTT; (8) Sử dụng các dịch vụ chăm sóc SKTT Sách được dịch thành 8 ngôn ngữ khác nhau gồm tiếng Hàn, tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Nga, Mông Cổ, Thái Lan và Việt Nam Chương trình được thực hiện trong thời gian 8 tuần, mỗi tuần tương ứng với 1 nội dung Người tham gia được đánh giá trước và sau can thiệp bằng bảng hỏi hiểu biết về SKTT Nghiên cứu này không mô tả ai là người thực hiện chương trình Kết quả cho thấy, trước và sau chương trình, điểm trung bình hiểu biết về SKTT ở nhóm thử nghiệm tăng từ 2,65 (± 0,22) lên 2,78 (± 0,24), trong khi ở nhóm đối chứng giảm xuống còn 2,62 (± 0,22) Trước khi tham gia chương trình, mức độ stress ở nhóm thực nghiệm là 2,45 (± 0,58)
và 2,29 (± 0,60) trong nhóm đối chứng Sau chương trình, điểm số giảm 2,29 (± 0,54)
và 2,10 (± 0,59) ở cả hai nhóm Tất cả sự khác biệt đều có ý nghĩa thống kê (p < 0.001) Như vậy, chương trình của Choi Yun Jung đã chứng minh được tính hiệu quả khi làm giảm stress và tăng hiểu biết cho phụ nữ di dân Hàn Quốc Có thể nói, nghiên cứu này được thực hiện công phu, chi tiết khi xây dựng chương trình với 8 loại ngôn ngữ khác nhau
Hướng thứ hai là những nghiên cứu tập trung vào trường học bao gồm các chương trình tập huấn cho học sinh, giáo viên Theo hướng này phải kể đến chương trình được
thực hiện từ rất sớm của Petchers tại Hoa Kỳ vào năm 1988 Nghiên cứu được thực hiện trên 102 HS THCS Nội dung chương trình gồm tài liệu giảng dạy các khái niệm
cơ bản về SKTT và video hướng dẫn sử dụng kèm theo Chương trình so sánh hiểu biết về SKTT của HS trước và sau can thiệp Sau thực nghiệm, điểm số về kiến thức của học sinh tăng lên Như vậy, xét về tính hiệu quả, chương trình này đã đạt được mục tiêu Tuy nhiên, chương trình chỉ dừng lại ở việc cung cấp các khái niệm cơ bản chưa có can thiệp nhằm thay đổi thái độ và hành vi tìm kiếm trợ giúp chuyên nghiệp cho HS
Cũng tại Mỹ năm 1990, Battaglia đã triển khai can thiệp nhằm thay đổi thái độ
và hành vi tìm kiếm trợ giúp cho 1380 HS Kết quả được so sánh trước với sau khi
Trang 6can thiệp ở nhóm thực nghiệm và so sánh với 282 HS nhóm đối chứng Bác sĩ tâm thần là người trực tiếp trao đổi, trò chuyện với HS về trầm cảm, tự tử, sử dụng chất gây nghiện Sau can thiệp, HS nhóm thực nghiệm đã thay đổi thái độ và tăng hành vi tìm kiếm trợ giúp chuyên nghiệp so với trước và so với nhóm chứng Mặc dù nghiên cứu này đã chứng minh được tính hiệu quả song tác giả chưa xây dựng chương trình giáo dục một cách cụ thể mà chỉ tổ chức như một hoạt động ngoại khóa Năm 1998, tác giả Esters cũng đã triển khai chương trình nâng cao nhận thức
và thay đổi thái độ kỳ thị đối với rối loạn tâm thần cho 20 HS tại trường THCS ở Mỹ Chương trình gồm nhiều bài giảng cung cấp kiến thức cơ bản về một số rối loạn tâm thần cụ thể và bản chất của việc trợ giúp chuyên nghiệp Chương trình được giảng dạy trong 3 tuần, mỗi tuần 1 giờ học và được thực hiện bởi chuyên gia trong lĩnh vực SKTT Hiệu quả của chương trình được đánh giá thông qua hiểu biết về SKTT của HS nhóm thực nghiệm và so sánh với 20 HS nhóm chứng qua 3 lần khảo sát: trước, sau và sau 12 tuần can thiệp Kết quả sau tập huấn cho thấy điểm nhận thức
về SKTT và thái độ đối với việc tìm kiếm trợ giúp chuyên nghiệp tăng có ý nghĩa so với nhóm chứng và giảm không đáng kể sau 12 tuần Nghiên cứu này cũng đánh giá được tính khả thi, hiệu quả tuy nhiên số lượng HS tham gia tương đối ít nên khó
để thuyết phục
Đến năm 2004, Watson cùng cộng sự đã xây dựng và triển khai chương trình nhằm tác động đồng bộ đến nhận thức, thái độ và hành vi tìm kiếm trợ giúp đối với rối loạn tâm thần cho 23 GV; 1566 HS lớp 6, 7, 8 của 16 Bang Chương trình bao gồm nhiều nguồn học liệu khác nhau như 5 bài giảng để GV áp dụng trong lớp học; các trường hợp thực tế đã trải nghiệm rối loạn tâm thần; video clip; sách hướng dẫn phương pháp tương tác, công cụ và một số nguồn tài liệu cập nhật trên mạng Internet Chuyên gia trong lĩnh vực SKTT sẽ tập huấn cho GV, sau đó GV sẽ tổ chức dạy cho HS trong 5 tiết học Nghiên cứu này đánh giá hiểu biết về SKTT của GV,
HS trước và sau can thiệp Nhóm tác giả cũng đã đạt được mục tiêu chương trình khi GV, HS đều có sự thay đổi rõ rệt trong nhận thức, thái độ và niềm tin vào các hình thức trợ giúp chuyên nghiệp sau khi tham gia Tuy nhiên, cũng giống như các nghiên cứu khác, nghiên cứu của Watson không có nhóm kiểm chứng
Tại Mỹ cũng có các chương trình của Naylor (2009) Trong nghiên cứu này, 2 trường học công lập được lựa chọn tham gia nhóm chính và nhóm thực nghiệm Nội dung gồm 6 bài giảng về các vấn đề SKTT phổ biến ở thanh thiếu niên: stress, trầm cảm, tự tử, rối loạn ăn uống, bạo lực và khuyết tật trí tuệ Hiệu quả được đánh giá thông qua bảng hỏi hiểu biết về SKTT của SH trước, sau và sau 8 tháng can thiệp Kết quả không thể hiện sự thay đổi về nhận thức nhưng thái độ của HS đối với người có rối loạn tâm thần tăng theo thời gian so với nhóm đối chứng
Trang 7Tại Úc, trên cơ sở kết quả nghiên cứu hiểu biết về SKTT của HS, nhiều chương trình can thiệp được thực hiện trên phạm vi lớn Trong đó phải kể đến chương trình của Wyn cùng cộng sự năm 2000 Chương trình này hướng đến GV và HS với mục tiêu nâng cao nhận thức, giảm khoảng cách xã hội đối với người rối loạn tâm thần
Để đạt mục tiêu, nhóm tác giả đã đưa ra bộ tài liệu hỗ trợ, hướng dẫn xây dựng chương trình tập huấn cho các trường Bộ tài liệu gồm nội dung giảng dạy và bảng hỏi đánh giá mức độ hiểu biết về SKTT, được xây dựng theo hướng mở để từng trường điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp Chương trình được giảng dạy bởi chuyên gia trong lĩnh vực SKTT Tuy nhiên, nghiên cứu này không có trắc nghiệm hay bảng hỏi đánh giá nhận thức trước – sau can thiệp HS và GV chỉ hoàn thành bảng hỏi sau khi được tập huấn Do đó, kết quả không thể hiện được sự thay đổi về các chỉ báo khoảng cách xã hội cũng như không thể đánh giá được sự thay đổi trong nhận thức
về SKTT của GV, HS Xét về mục tiêu, chương trình này không chứng minh được tính hiệu quả, tuy nhiên bước đầu cũng đã cung cấp cho GV và HS những thông tin
cơ bản về SKTT
Một năm sau, Jorm tiến hành thực hiện chương trình giáo dục SKTT trong phạm vi 50 trường trung học tại Úc Số trường được chia thành nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm Chương trình này cũng nhằm mục tiêu tăng kiến thức, giảm khoảng cách xã hội và nâng cao khả năng tiếp cận với dịch vụ trợ giúp chuyên nghiệp cho HS, tập trung chủ yếu vào trầm cảm Chương trình được thiết kế thành các bài giảng với các hoạt động đi kèm và một số tài liệu phát tay nhằm cung cấp thông tin cho HS Chương trình kéo dài trong 3 năm, HS được đánh giá bằng bảng kiểm ở từng giai đoạn khác nhau của chương trình học Tuy nhiên, hiểu biết về SKTT của HS (chủ yếu là trầm cảm) không thay đổi sau tập huấn Mặc dù theo đánh giá của giáo viên và quản lý nhà trường là đã có những cải thiện tích cực ở môi trường học đường song chương trình đã không đạt được mục tiêu đưa ra
Đến năm 2013, một chương trình khác được thực hiện tại Úc bởi Hart và cộng
sự (chương trình Mental Health First Aid) Nội dung gồm 3 bộ bài giảng được thực hiện trong 3 buổi xoay quanh những kiến thức cơ bản về SKTT và thúc đẩy hành vi trợ giúp những người xung quanh Chương trình đánh giá trước, sau và sau 3 tháng tập huấn Chương trình này có điểm khác biệt là thúc đẩy hành vi hỗ trợ cho những người xung quanh Sau tập huấn, nhận thức về SKTT của 988 HS tăng lên, sự tự tin khi truyền đạt các kĩ thuật trợ giúp cho bạn bè, xu hướng tìm kiếm trợ giúp cho bản thân và hỗ trợ người khác tăng, giảm thái độ định kiến Nghiên cứu này không có nhóm đối chứng
Năm 2014, Yael Perry tiếp tục đánh giá hiệu quả của chương trình “HeadStrong
- phổ cập kiến thức SKTT dựa vào trường học” tại Úc Chương trình sử dụng cho 380
Trang 8HS lớp 10, chia thành 2 nhóm đối chứng và thực nghiệm “HeadStrong” gồm một cuốn sách nhỏ, slideshow và các phụ lục khác nhau Các hoạt động trong lớp được thực hiện trong khoảng 5 - 8 tuần, tổng cộng khoảng 10 giờ học GV sẽ tham gia tập huấn và triển khai tổ chức lại cho HS Người tham gia được đánh giá trước, sau can thiệp và theo dõi 6 tháng Điểm trung bình về kiến thức của HS nhóm thực nghiệm tăng lên, thái độ kỳ thị giảm so với nhóm chứng và không đổi sau thời gian 6 tháng Kết quả này cho thấy tính hiệu quả của chương trình HeadStrong và nó cũng phù hợp với các nghiên cứu khác về mối tương quan giữa giáo dục và kỳ thị
Tại các nước Châu Âu, các chương trình giáo dục nhằm nâng cao hiểu biết
về SKTT cũng được triển khai mạnh mẽ trong nhiều trường học Các chương trình tập trung chủ yếu cho HS trong độ tuổi từ 13 đến 15 Cụ thể là chương trình của Pinfold tại Anh năm 2003 cho 472 HS THCS Nội dung gồm các bài giảng về một số rối loạn tâm thần, cách duy trì trạng thái tinh thần khỏe mạnh và hạn chế việc gán nhãn đối với người mắc bệnh tâm thần Bài giảng được thực hiện trong 3 buổi do chuyên viên chăm sóc người bệnh tâm thần, chuyên gia SKTT và một người đã trải nghiệm rối loạn tâm thần trao đổi với HS Nghiên cứu sử dụng bảng hỏi đánh giá trước – ngay sau, sau 1 tuần và sau tập huấn 6 tháng Kết quả cho thấy có sự thay đổi đáng kể sau can thiệp, đặc biệt là thái độ đối với người bệnh Sau 6 tháng, mức
độ hiểu biết về SKTT của HS giảm đi nhưng vẫn khác biệt ý nghĩa so với trước khi tham gia khóa học Việc cho HS tiếp xúc, trao đổi với người trải nghiệm rối loạn tâm thần được xem là cách hiệu quả nhằm thay đổi thái độ kỳ thị Tuy chương trình đem lại sự thay đổi trong hiểu biết về SKTT cho HS nhưng hạn chế của nghiên cứu này là không có nhóm kiểm chứng
Đến năm 2006, một chương trình khác của Anh được triển khai bởi Essler cho
104 HS lớp 10 Chương trình được thực hiện dưới hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm, thi đố, diễn kịch, trò chơi Hiểu biết về SKTT của HS được đánh giá trước – sau can thiệp và không có nhóm kiểm chứng Sau can thiệp, kiến thức về các rối loạn tâm thần của HS được cải thiện Tuy nhiên, thái độ kỳ thị, phân biệt đối xử với người bệnh tâm thần lại tăng Nghiên cứu này không cải thiện được thái độ của HS đối với người bệnh, do đó chưa chứng minh được tính hiệu quả của chương trình Tại nước Đức, Conrad cùng cộng sự đã tổ chức “tuần dự án” để giảm định kiến và khoảng cách xã hội với người bệnh tâm thần HS lớp 9, 10 trao sẽ trao đổi, trò chuyện với các thanh niên trải nghiệm trầm cảm, tâm thần phân liệt về biểu hiện bệnh, sự kỳ thị và những vấn đề xoay quanh cuộc sống của họ Kết quả được so sánh giữa trước, sau, sau 3 tháng can thiệp Sau khi tham gia “tuần dự án”, HS cởi mở hơn trong việc chia sẻ các vấn đề SKTT với GV Khoảng cách xã hội, thái độ với người bệnh tâm thần giảm nhưng không duy trì kết quả sau 3 tháng
Trang 9Ở Na Uy, 1070 HS từ 12 đến 17 tuổi đã tham gia chương trình phổ cập kiến thức
về SKTT trong thời gian 3 ngày HS được chia thành 3 nhóm, 1 nhóm thực nghiệm,
1 nhóm đối chứng không có bất kỳ tác động nào, 1 nhóm đối chứng được gợi ý để đọc các tài liệu liên quan Nội dung chương trình được thiết kế thành các bài giảng
do chuyên gia trong lĩnh vực SKTT tập huấn cho GV, GV tổ chức tập huấn lại cho
HS nhóm thực nghiệm Kết quả được đánh giá trước, sau và sau 2 tháng can thiệp Sau tập huấn, kiến thức về SKTT của HS nhóm thực nghiệm cao hơn 2 nhóm còn lại Mức độ nhận thức của HS nữ cao hơn nam Nghiên cứu không đề cập đến kết quả sau 2 tháng can thiệp Có thể nói, đây là nghiên cứu duy nhất sử dụng 2 nhóm chứng với 2 hình thức khác nhau Điều này chứng minh rằng, tập huấn là cách tốt
để thay đổi nhận thức cho HS
Ở Serbia, Pejović-Milovančević đã tiến hành chương trình tương tự vào năm
2009 Chương trình được thử nghiệm trên 63 HS và so sánh kết quả giữa trước – sau – sau 6 tháng can thiệp Nghiên cứu này cũng đạt được mục tiêu nâng cao nhận thức, giảm thái độ kỳ thị cho HS, kết quả được duy trì sau 6 tháng
Tại châu Á, nhiều chương trình cũng được triển khai ở các nước Nhật Bản, Hồng Kông, Trung Quốc, Pakistan … Đầu tiên là nghiên cứu của Rahman tại Pakistan năm
1998 Có thể nói chương trình này được thực hiện sớm so với các quốc gia châu Á khác và so với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội tại đất nước này Đây là chương trình giáo dục cơ bản về trầm cảm, loạn thần, rối loạn nghiện chất, chậm phát triển tâm thần thông qua bài giảng trên lớp và các poster 100 HS tham gia được chia thành nhóm thực nghiệm và nhóm chứng Hiểu biết về SKTT của HS được đánh giá bằng câu hỏi trắc nghiệm Sau tập huấn, điểm trung bình bài trắc nghiệm của HS nhóm thực nghiệm tăng lên và cao hơn so với nhóm chứng Hạn chế của nghiên cứu này là chỉ dừng lại ở việc tăng nhận thức mà chưa có sự thay đổi thái độ và hành vi trợ giúp cho HS
Tại Hồng Kông, năm 2001, Chan và Petrus Ng đã triển khai chương trình can thiệp trên 117 trung học phổ thông, 102 HS tham gia nhóm chứng Chương trình được diễn ra với nhiều hình thức như giảng dạy kiến thức 10 tuần/1 lần; ngày vì SKTT; hội thảo và triển lãm, HS tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân ở bệnh viện tâm thần Hiệu quả của chương trình được so sánh giữa trước, sau, sau 7 tháng can thiệp Không có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm trước khi tham gia nghiên cứu Sau thử nghiệm, kết quả của 2 nhóm có sự khác biệt về nhận thức (12.28 so với 13.66, t = -2.95, P <.005) Khi được tiếp xúc với bệnh nhân, thái độ kỳ thị giảm, lòng nhân từ và hướng đến người bệnh tăng lên và không đổi sau 7 tháng Có thể nói, chương trình của Chan đã đạt được mục tiêu, chứng minh tính hiệu quả khi hiểu biết về SKTT của
HS được duy trì sau 7 tháng Điều này cho thấy, sự kết hợp đa dạng các hình thức
Trang 10tập huấn, triển lãm, hội thảo… cần được xem xét để nâng cao hiệu quả của chương trình
Năm 2009, Chan tiếp tục thực hiện chương trình khác tại Hồng Kông với mục tiêu giảm định kiến đối với bệnh tâm thần phân liệt 255 HS trung học phổ thông được chia thành 3 nhóm thực nghiệm Cùng một nội dung nhưng 3 nhóm sẽ được tác động bằng 3 cách thức khác nhau: chỉ có bài giảng; bài giảng rồi đến video minh họa; video rồi đến bài giảng HS được kiểm tra bằng trắc nghiệm về thái độ định kiến, khoảng cách xã hội và kiến thức về tâm thần phân liệt trước - sau, sau 1 tháng can thiệp Sau thực nghiệm, chỉ có sự thay đổi đối với nhóm được tập huấn bằng bài giảng rối đến video minh họa Kết quả được duy trì trong 1 tháng Như vậy, cách tổ chức tập huấn đã đem lại kết quả khác nhau trên từng nhóm khách thể Nghiên cứu này giúp chúng ta xem xét sự ảnh hưởng của phương pháp tập huấn đến hiệu quả chương trình can thiệp
Tại Nhật Bản, năm 2015, Yasutaka Ojio đã triển khai chương trình trên 118 HS lớp 9 Nội dung chương trình là bài giảng về các rối loạn tâm thần và cách trợ giúp thích hợp Chương trình được giảng dạy bởi GV trong 2 tiết học, mỗi tiết 50 phút Các tác động của chương trình được đánh giá trước, ngay sau và 3 tháng sau tập huấn Kiến thức về SKTT và hành vi tìm kiếm trợ giúp của HS cải thiện ngay sau khi tập huấn (P < 0,001) và duy trì 3 sau tháng Như vậy, nghiên cứu này đã tạo được hiệu ứng khi chính GV có thể tác động để nâng cao nhận thức cho HS
Ở các nước châu Phi, nhiều chương trình cũng được thực hiện Cụ thể là nghiên cứu của Tolulope Bella tại Nigieria, 154 HS được chia thành 2 nhóm thực nghiệm
và đối chứng Chuyên gia SKTT trao đổi, thảo luận với HS trong 3 giờ về một số rối loạn tâm thần thường gặp và rào cản của sự kỳ thị Nghiên cứu đánh giá hiệu quả trước, sau và sau 6 tháng can thiệp Kết quả có sự khác biệt đáng kể về nhận thức giữa nhóm chứng và nhóm thực nghiệm nhưng không có sự khác biệt trong điểm thái độ và khoảng cách xã hội
Tại Malawi, chương trình giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, giảm kỳ thị, cách trợ giúp người rối loạn tâm thần được thực hiện trên 218 nhà giáo dục trong 35 trường học và câu lạc bộ ngoại khóa thanh niên (2015) Chương trình có tên gọi “The Guide” dựa trên phiên bản gốc triển khai ở Canada năm 2014 do S Kutcher biên soạn The Guide là sổ tay hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục SKTT dựa vào trường học, chủ yếu cho học sinh lớp 9,10 nhưng cũng có thể sử dụng cho học sinh lớp 8, 11, 12 Nội dung gồm 4 phần: (1) mở đầu; (2) cập nhật kiến thức giáo viên; (3) đánh giá học sinh; (4) các module So với các chương trình khác, chương trình The Guide được biên soạn khá hệ thống, chi tiết từng hoạt động, hướng dẫn cách thực hiện và cách đánh giá trước, sau khi học Ngoài ra chương trình còn kèm theo video;