Bài giảng Kinh tế vĩ mô - Bài 6: Cấu trúc thị trường cung cấp kiến thức về các mô hình thị trường cổ điển và đặc điểm của các thị trường đó; quyết định sản xuất tối ưu của các doanh nghiệp trong những mô hình thị trường khác nhau; tác động của hành vi doanh nghiệp trong các cấu trúc thị trường tới giá và sản lượng cân bằng; hiệu quả kinh tế và phúc lợi xã hội trong các mô hình thị trường khác nhau; cạnh tranh phi giá, khác biệt hóa sản phẩm và hành vi phụ thuộc chiến lược.
Trang 1
Hướng dẫn học
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu:
1 PGS TS Vũ Kim Dũng – PGS.TS Phạm Văn Minh (2011), Giáo trình Kinh tế học
vi mô , NXB Lao động xã hội
2 PGS TS Vũ Kim Dũng – TS Đinh Thiện Đức, Bài tập kinh tế học vi mô, (2011), NXB Lao động xã hội
Cần hiểu rõ các loại hình doanh nghiệp trong các cấu trúc thị trường khác nhau, phân biệt và lấy ví dụ thực tế về định giá; duy trì sản xuất trong tình trạng thua lỗ; quyết định ngừng sản xuất; các chiến lược trong thực tế mà các doanh nghiệp sử dụng để cạnh tranh với đối thủ trên thị trường Việt Nam và thế giới
Làm bài tập, đặc biệt là cách tính giá và sản lượng trong các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp
Học viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Trang Web môn học
Nội dung
Các mô hình thị trường cổ điển và đặc điểm của các thị trường đó
Quyết định sản xuất tối ưu của các doanh nghiệp trong những mô hình thị trường khác nhau
Tác động của hành vi doanh nghiệp trong các cấu trúc thị trường tới giá và sản lượng cân bằng
Hiệu quả kinh tế và phúc lợi xã hội trong các mô hình thị trường khác nhau
Cạnh tranh phi giá, khác biệt hóa sản phẩm và hành vi phụ thuộc chiến lược
Trang 2T ình huống dẫn nhập
Ngày 1/6/2009, General Motor – anh cả của nền công nghiệp ô tô nước Mỹ - đã đệ đơn xin phá sản lên chính quyền liên bang Mỹ CEO của GM Fritz Henderson cho rằng nguyên nhân chính cho thất bại của GM chính là sự cạnh tranh trên thị trường toàn cầu với ngày càng nhiều đối thủ
có thể sản xuất với chi phí thấp hơn
Chi phí vận hành của GM bao gồm cả các chi phí cố định và chi phí biến đổi, ngoài ra họ còn phải chịu thêm nhiều chi phí “tồn đọng” như quỹ lương hưu cho các công nhân về hưu hay tiền lãi trả cho các chủ nợ Trong năm 2008, GM bán được 8 triệu chiếc xe, thu về 144 tỉ đô la nhưng với chi phí vận hành là 176 tỉ đô la, GM bị lỗ 32 tỉ Trung bình mỗi chiếc xe bán ra tập đoàn này phải chịu khoản lỗ là 4000 đô la Không còn cách nào để cắt lỗ, GM đành quyết định rút lui khỏi thị trường
Để tiếp tục sự hoạt động của GM, chính phủ Mỹ và Canada đã cung cấp một số khoản vay Đồng thời GM “mới” thực hiện các kế hoạch cắt giảm chi phí trong quá trình “tái cấu trúc” doanh nghiệp để từng bước khắc phục thua lỗ và tiến đến sinh lời
Nguồn: Bade và Parkin, 2009
1 Theo bạn nguyên nhân nào dẫn đến sự thất bại của GM cũ?
2 Khi nhận được các khoản vay hỗ trợ của Chính phủ Mỹ và Canada để thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp, chi phí và quyết định sản xuất của GM mới
sẽ thay đổi như thế nào? Tại sao GM mới có thể từng bước khắc phục thua
lỗ và tiến đến có lợi nhuận?
Trang 36.1 Phân loại các cấu trúc thị trường
Về mặt nguyên lý, sự tác động qua lại giữa người bán và người mua xác định giá của từng loại hàng hoá, dịch vụ cụ thể, đồng thời xác định cả số lượng, chất lượng, chủng loại sản phẩm cần sản xuất và qua đó sẽ xác định việc phân bổ và sử dụng tài nguyên khan hiếm của xã hội Đây chính là nguyên tắc hoạt động của cơ chế thị trường Tuy nhiên hoạt động thực tế của thị trường rất phức tạp, phụ thuộc vào số lượng, quy mô, sức mạnh thị trường của những người bán và những người mua
Khi xem xét hành vi của thị trường, các nhà kinh tế chia thị trường thành các cấu trúc: thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường độc quyền, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo bao gồm cạnh tranh độc quyền và độc quyền tập đoàn
Khi phân loại, các nhà kinh tế sử dụng các tiêu thức cơ bản sau:
Số lượng người bán và người mua Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo và cạnh
tranh độc quyền có rất nhiều người bán và người mua Mỗi người trong số họ chỉ bán (hoặc mua) một phần rất nhỏ trong lượng cung thị trường Trong thị trường độc quyền bán thì một ngành chỉ có một người bán (người sản xuất) duy nhất Trong thị trường độc quyền mua chỉ có một người mua duy nhất Trong thị trường độc quyền bán tập đoàn có vài người bán, còn trong thị trường độc quyền mua tập đoàn chỉ có một số người mua
Tính đồng nhất của sản phẩm Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, sản phẩm
đồng nhất, trong thị trường cạnh tranh độc quyền sản phẩm khác nhau Trong thị trường độc quyền tập đoàn, sản phẩm có thể giống nhau có thể khác nhau một ít Trong thị trường độc quyền sản phẩm là độc nhất
Trang 4 Mức độ thông tin kinh tế của người bán và người mua Trong thị trường cạnh tranh
hoàn hảo, người bán và người mua đều không có ảnh hưởng gì đến giá thị trường của sản phẩm, hay không có sức mạnh thị trường Do thông tin kinh tế trong trường hợp này là hoàn hảo Trong thị trường độc quyền bán (mua) người bán (mua) có ảnh hưởng rất lớn đến giá thị trường của sản phẩm Do họ có lượng thông tin vượt trội so với người mua (bán)
Các rào cản gia nhập thị trường Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo các rào cản
gia nhập thị trường là rất thấp Ngược lại, trong thị trường độc quyền bán (mua), tập đoàn có những trở ngại đáng kể đối với việc gia nhập thị trường Chẳng hạn, trong các ngành sản xuất ô tô, luyện kim việc xây dựng nhà máy mới là rất tốn kém Đó chính là trở ngại lớn đối với việc gia nhập thị trường Khi một thị trường
có rào cản gia nhập lớn, các doanh nghiệp hiện tại trong ngành sẽ có sực mạnh trong định giá bán sản phẩm và ngược lại
6.2 Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Có nhiều người mua và người bán độc lập với nhau Thị trường cạnh tranh hoàn
hảo đòi hỏi có nhiều người mua và người bán mà mỗi người trong số họ hành động độc lập với tất cả những người khác
Sản phẩm đồng nhất: Tất cả các đơn vị hàng hoá trao đổi được coi là giống nhau
Dễ thấy trong các thị trường thực tế có đặc trưng này Chẳng hạn thị trường than
đá thuộc cùng một cấp chất lượng, hoặc thị trường xăng, mỗi đơn vị là bản sao y hệt của một đơn vị bất kỳ khác Bởi vậy người mua không bao giờ phải quan tâm đến việc họ mua các đơn vị đó của ai
Thông tin hoàn hảo Tất cả người mua và người bán đều có hiểu biết đầy đủ về các
thông tin liên quan đến việc trao đổi
Tự do gia nhập và rút khỏi thị trường Không có gì cản trở việc gia nhập và rút
khỏi thị trường
Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo có thể bán tất cả sản lượng của mình ở mức giá thị trường đang thịnh hành, nếu doanh nghiệp đặt giá cao hơn thì doanh nghiệp sẽ không bán được vì người tiêu dùng sẽ mua sản phẩm của doanh nghiệp khác Theo nghĩa đó, doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo không có sức mạnh thị trường, tức là không có khả năng kiểm soát giá thị trường đối với sản phẩm mình bán Sản lượng của doanh nghiệp là vô cùng nhỏ so với sản lượng của thị trường, vì thế doanh nghiệp không có ảnh hưởng đáng kể đến tổng sản lượng hoặc giá trên thị trường
Mỗi doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo có thể bán mọi đơn vị sản lượng của mình tại mức giá thị trường Đây là đặc trưng nổi bật của việc không có sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo Các doanh nghiệp cạnh tranh không thể gây ảnh hưởng độc lập đến giá thị trường Do đó đường cầu mà mỗi doanh nghiệp canh tranh hoàn hảo gặp phải là đường nằm ngang tại vị trí giá cân bằng thị trường Hay nói một cách khác, mỗi doanh nghiệp canh tranh hoàn hảo là một người chấp nhận giá bán trên thị trường (price-taker)
Trang 5Chúng ta cần phân biệt một cách rõ ràng giữa đường cầu thị trường và đường cầu về sản phẩm của mỗi doanh nghiệp Đường cầu thị trường luôn là một đường có độ dốc
âm như trong hình 6.1b Ngược lại đường cầu về sản phẩm của mỗi doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo là đường nằm ngang như tronh hình 6.1a, nó hàm ý rằng hệ số co giãn của cầu theo giá đối với sản phẩm của mỗi doanh nghiệp là vô cùng – cầu hoàn toàn co giãn Giả sử một ngân hàng thương mại cổ phẩn nào đó trên thị trường Việt Nam tăng lượng bán ngoại tệ của mình từ 300 lên 500 nghìn USD mỗi ngày Điều này sẽ không ảnh hưởng gì đến thị trường USD với mức giá 21.000 VND/1USD và lượng 800 triệu USD Quyết định của thị trường được xác định bởi sự tương tác của tất cả các doanh nghiệp và những người mua trên thị trường chứ không phải bởi quyết định của một doanh nghiệp
d
300 ngàn21000
Hình 6.1 Đường cầu của doanh nghiệp CTHH và đường cầu thị trường
6.2.3 Sản lượng của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo
Giả định tối đa hoá lợi nhuận thường được sử dụng trong kinh tế vi mô vì nó mô tả hành vi của doanh nghiệp một cách chính xác ở một mức độ hợp lý và tránh được những phức tạp không cần thiết khi phân tích
TC
Hình 6.2 Tối đa hoá lợi nhuận trong ngắn hạn
Trang 6Vì lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí nên để tìm ra sản lượng tối đa hoá lợi nhuận ta phải phân tích doanh thu và chi phí của nó Tổng doanh thu là TR = P × q Tổng chi phí cũng phụ thuộc vào sản lượng Do đó lợi nhuận của doanh nghiệp là:
Vì doanh nghiệp có chi phí cố định và chi phí biến đổi tuân theo quy luật năng suất cận biên giảm dần nên tổng chi phí không phải là đường thẳng Độ dốc của nó là chi phí cận biên (phần gia tăng của tổng chi phí khi sản lượng tăng thêm 1 đơn vị) TC(q) dương (TC(q) > 0) ngay tại mức sản lượng bằng không vì có chi phí cố định trong
để bù đắp chi phí Doanh thu cận biên lớn hơn chi phí cận biên nói lên rằng tăng sản
và tăng cho đến tận khi sản lượng đạt tới q* Tại đó doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên, q* là sản lượng tối đa hoá lợi nhuận Khoảng cách giữa đường TR và TC,
lượng q*, doanh thu cận biên nhỏ hơn chi phí cận biên, lợi nhuận giảm, điều này phản ánh tổng chi phí tăng nhanh hơn tổng doanh thu
Ta cũng có thể chứng minh quy tắc này bằng đại số như sau:
6.2.4 Lựa chọn sản lượng trong ngắn hạn
Hình 6.3 minh họa đường cầu và đường tổng chi phí bình quân (ATC), chi phí biến đổi bình quân (AVC) và chi phí cận biên (MC) của một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo Doanh nghiệp này tối đa hoá lợi nhuận tại q* vì ở đó MC = P Nếu doanh nghiệp
Trang 7sản xuất mức sản lượng q1, ở đó MC < P thì doanh nghiệp có thể tăng lợi nhuận bằng
như vậy giảm sản lượng sẽ làm tăng lợi nhuận vì tiết kiệm được phần chi phí vượt quá phần tăng trong tổng doanh thu
Hình này còn cho ta thấy lợi nhuận ngắn hạn của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo Khoảng cách AB là hiệu số giữa giá và tổng chi phí bình quân ở mức sản lượng q*, đó
là lợi nhuận bình quân (lợi nhuận tính trung bình cho một đơn vị sản phẩm) Vì thế
q C
A
B
Hình 6.3 Lựa chọn sản lượng của doanh nghiệp CTHH
Trong ngắn hạn không phải lúc nào doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo cũng thu được lợi nhuận Hình 6.4 cho thấy một tình huống trong đó chi phí cố định quá cao làm cho tổng chi phí bình quân cao hơn nhưng chi phí biến đổi bình quân và chi phí cận biên vẫn giữ nguyên Tại mức sản lượng tối ưu q*, giá thấp hơn tổng chi phí bình quân,
Trường hợp này doanh nghiệp có hai sự lựa chọn trong ngắn hạn: tiếp tục sản xuất hoặc đóng cửa Doanh nghiệp có thể tiếp tục sản xuất và chịu lỗ trong ngắn hạn vì doanh nghiệp kỳ vọng sẽ thu được lợi nhuận trở lại trong tương lai, khi giá của sản phẩm tăng hoặc chi phí sản xuất giảm Trong hai phương án trên doanh nghiệp sẽ chọn phương án nào có lợi hơn
AVC
q
E F H
PmG I
Trang 8Trong hình 6.4 ta thấy nếu doanh nghiệp sản xuất ở mức sản lượng tối ưu doanh
đóng cửa sản xuất doanh nghiệp sẽ mất toàn bộ chi phí cố định là diện tích hình chữ
một phần thua lỗ ít hơn so với trường hợp đóng cửa
Tuy nhiên, khi mức giá trên thị trường giảm xuống dưới mức chi phí biến đổi bình quân tối thiểu thì doanh nghiệp nên ngừng sản xuất vì khi đó phần thua lỗ nếu doanh nghiệp tiếp tục hoạt động sẽ lớn hơn so với chi phí cố định Điểm mà giá thị trường đối với sản phẩm của doanh nghiệp bằng chi phí biến đổi bình quân tối thiểu được gọi
là điểm đóng cửa sản xuất của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo
Như vậy chúng ta có thể nói rằng chi phí cố định không liên quan đến quyết định sản lượng của doanh nghiệp trong ngắn hạn nhưng lại là yếu tố quyết định đối với việc xem xét xem có nên rút khỏi ngành trong dài hạn hay không
Đường cung của một doanh nghiệp cho thấy doanh nghiệp sẽ sản xuất mức sản lượng nào ở mỗi mức giá trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi Như phân tích ở trên, các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo sẽ tăng sản lượng đến mức mà giá bằng chi phí cận biên và sẽ đóng cửa nếu giá nhỏ hơn chi phí biến đổi bình quân Như vậy, với những mức sản lượng dương đường cung ngắn hạn của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo là một phần của đường chi phí cận biên quân trên điểm chi phí biến đổi bình quân tối thiểu
Hình 6.5 Đường cung ngắn hạn của doanh nghiệp CTHH
Tương ứng với mỗi mức giá lớn hơn chi phí biến đổi bình quân tối thiểu, bằng nguyên tắc tối ưu (MC = P) ta xác định được mức sản lượng mà doanh nghiệp cạnh tranh hoàn
ngừng cung ứng sản phẩm
Đường cung ngắn hạn của các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo dốc lên do có quy luật năng suất cận biên giảm dần mà chúng ta đã nghiên cứu trong nội dung lý thuyết sản xuất Giá thị trường tăng sẽ làm cho các doanh nghiệp trong ngành gia tăng sản lượng
Trang 9Giá cao hơn làm cho phần sản lượng gia tăng có lãi và làm tăng tổng lợi nhuận, vì mức giá đó áp dụng cho tất cả các đơn vị sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất
Đường cung của ngành hay thị trường trong ngắn hạn được hiểu là đường biểu diễn các mức sản lượng mà ngành cung cấp trong ngắn hạn tương ứng với mỗi mức giá Sản lượng cung cấp của cả ngành là tổng sản lượng của tất cả các doanh nghiệp trong ngành hay cung của ngành bằng tổng hợp các đường cung của doanh nghiệp theo chiều sản lượng Cách xây dựng đường cung ngắn hạn của ngành được minh họa trong hình 5.6
S
Giá ($/ Đơn giá)
P3
P2
P 1
Hình 6.6 Đường cung ngắn hạn của ngành CTHH
Trong hình 6.6, đường cung ngắn hạn của ngành được tổng hợp từ đường cung ngắn
ứng của ngành tại mỗi mức giá bằng tổng sản lượng của cả 3 doanh nghiệp
6.2.6 Thặng dư sản xuất của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo
Thặng dư sản xuất (PS) của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo được hiểu là phần chênh lệch giữa mức giá bán sản phẩm thực tế doanh nghiệp nhận được mà mức giá
mà doanh nghiệp sẵn sàng bán đối với mỗi đơn vị sản phẩm Như phân tích ở trên, ta
có nguyên tắc quyết định sản xuất đối với doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo là MC =
P Như vậy, ta có thể hiểu thặng dư sản xuất của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo là phần chêch lệch giữa giá bán sản phẩm thực tế và chi phí cận biên Nó có thể được biểu diễn như trong hình 6.7
Trang 10Số lượng
Giá ($/ đơn vị sản lượng)
Thặng dư sản xuát
MC
AVC P B
Hình 6.7 Thặng dư sản xuất của doanh nghiệp CTHH
Trong hình 6.7, thặng dư sản xuất là phần diện tích tô đậm và có được xác định thông qua công thức sau:
PS = TR – VC Thăng dư sản xuất có mối quan hệ trực tiếp với lợi nhuận doanh nghiệp
Như vây có thể hiểu:
= PS – FC
6.2.7 Quyết định sản xuất của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo và cân bằng thị
trường trong dài hạn
Trong dài hạn doanh nghiệp có thể thay đổi tất cả các yếu tố sản xuất, bao gồm cả quy
mô lao động và tư bản Bên cạnh đó thị trường cạnh tranh hoàn hảo được giả định rằng các doanh nghiệp có thể tự do gia nhập hoặc rút khỏi ngành mà không có một rào cản nào Do đó quyết định sản xuất dài hạn có những đặc điểm khác so với phân tích ngắn hạn ở trên
Động cơ lý giải cho sự tham gia thị trường của các doanh nghiệp mới là lợi nhuận kinh tế thu được Việc các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo có lợi nhuận kinh tế dương trong ngắn hạn sẽ thúc đẩy sự gia nhập của các doanh nghiệp ngoài ngành Trong hình 6.8, khi thị trường cân bằng trong ngắn hạn tại giá bán sản phẩm trên thị
đang xem xét này thu được lợi nhuận kinh tế dương tương ứng với các chi phí ngắn hạn (SMC và SAC) Lợi nhuận kinh tế này sẽ thu hút sự tham gia của những doanh
nhuận kinh tế của doanh nghiệp sẽ bằng 0 Tức là không còn động cơ cho sự tham gia của những doanh nghiệp khác Tại vị trí đó ngành cạnh tranh hoàn hảo đạt cân bằng
Trang 11dài hạn Tại vị trí cân bằng dài hạn của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo ta có điều kiện sau:
Trong đó LMC và LAC là các chi phí cận biên và chi phí bình quân dài hạn của doanh nghiệp Cần lưu ý rằng chi phí dài hạn luôn là chi phí tối ưu của doanh nghiệp Như vậy xu hướng thay đổi từ ngắn hạn sang dài hạn của một ngành cạnh tranh hoàn hảo là quá trình sàng lọc những doanh nghiệp nào có chi phí không hợp lý Hay nói một cách khác, khi ngành cạnh tranh hoàn hảo đạt cân bằng dài hạn, các doanh nghiệp trong ngành là những doanh nghiệp có chi phí hợp lý nhất và sẽ quyết định sản xuất tại mức giá bằng với chi phí dài hạn bình quân tối thiểu
SAC SMC P
Hình 6.8 Cân bằng dài hạn của doanh nghiệp và ngành CTHH
6.2.8 Cạnh tranh hoàn hảo và hiệu quả
Trong các phân tích trên chúng ta hình dung được một cách cơ bản nguyên tắc hoạt động của thị trường cạnh tranh hoàn hảo và quyết định sản xuất của mỗi doanh nghiệp trên thị trường đó Tuy nhiên có một số vấn đề cần giải đáp liên quan đến lợi ích của loại hình thị trường này đối với xã hội
Một đặc điểm nổi bật có thể rút ra từ quyết định sản xuất của doanh nghiệp trong cấu trúc cạnh tranh hoàn hảo là trong dài hạn doanh nghiệp sẽ sản xuất tại vị trí tối thiểu của đường chi phí bình quân (xem hình 6.8a) Lợi nhuận kinh tế của các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo bằng không trong dài hạn sẽ mang lại lợi ích lớn nhất cho người mua Điều này hàm ý rằng nếu chúng ta bỏ qua sự ảnh hưởng của các nhân tố khác đến chi phí thì hao phí nguồn lực xã hội cho sản xuất hàng hóa dịch vụ trong cạnh tranh hoàn hảo là thấp nhất
Bên cạnh đó do đặc điểm chấp nhận giá thị trường của các doanh nghiệp trong cấu trúc cạnh tranh hoàn hảo, thị trường này luôn tạo ra giải pháp phân bổ nguồn lực tối
đa hóa phúc lợi xã hội như minh họa trong hình 6.9 Bất kỳ một sự phân bổ nào khác
sự phân bổ này đểu thể hiện rằng phần gia tăng lợi ích của một bên (bên bán hoặc bên mua) phải trả giá bằng phần lợi ích giảm xuống của bên còn lại và tạo ra một phần tổn thất vô ích cho xã hội
Trang 12S P
D
Thặng dư tiêu dùng Thặng dư sản xuất
Hình 6.9 Cạnh tranh hoàn hảo và hiệu quả phân bổ
Tuy nhiên, thị trường cạnh tranh hoàn hảo cũng tồn tại một số hạn chế khi so sánh với các mô hình thị trường khác ở phần sau Thứ nhất, sự đồng nhất tuyệt đối của sản phẩm trong cạnh tranh hoàn hảo sẽ làm giảm khả năng lựa chọn của người mua và do
đó giảm cầu đối với sản phẩm Thứ hai, việc có quá nhiều doanh nghiệp dẫn đến mỗi doanh nghiệp không có sức mạnh thị trường và quy mô sản lượng của doanh nghiệp quá nhỏ Điều này sẽ triệt tiêu sự ảnh hưởng của tính kinh tế nhờ quy mô và do đó mỗi doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm của mình với giá thành cao Trên thực tế sự ảnh hưởng của tính kinh tế nhờ quy mô làm cho mô hình cạnh tranh hoàn hảo khó có thể tồn tại Qua quá trình hoạt động một số doanh nghiệp sẽ lớn lên, sẽ mở rộng quy
mô và do đó sẽ có lợi thế trong định giá sản phẩm Các doanh nghiệp còn lại sẽ bị loại khỏi thị trường do quy mô nhỏ, giá thành cao Thứ ba, với lợi nhuận kinh tế nhỏ hoặc bằng không sẽ ràng buộc các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo trong việc đầu tư cho hoạt động nghiên cứu triển khai nhằm cải tiến sản phẩm, cải tiến quá trình sản xuất v.v và như vậy xã hội sẽ không được thụ hưởng phần lợi ích từ hoạt động này
Độc quyền bán
Thị trường bao gồm một người bán duy nhất đối với
một loại sản phẩm không có sản phẩm thay thế gần
gũi và nhiều người mua Ví dụ: ngành điện Việt Nam
Trang 136.3.2 Các nguyên nhân dẫn đến độc quyền bán
Một doanh nghiệp có thể được lợi thế độc quyền bán nhờ một số nguyên nhân cơ bản sau:
Tính kinh tế của quy mô Một doanh nghiệp đạt được tính kinh tế của quy mô do
việc mở rộng sản lượng sẽ loại bỏ được các đối thủ và cuối cùng sẽ là người bán duy nhất trên thị trường nếu mức sản lượng có chi phí bình quân dài hạn tối thiểu của nó là đủ lớn để đáp ứng cầu thị trường
Bằng phát minh sáng chế (bản quyền) Luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, bằng phát
minh sáng chế cho phép các nhà sản xuất có thể có được vị trí độc quyền bán
về một sản phẩm hoặc một quy trình công nghệ mới trong một khoảng thời gian nhất định
Kiểm soát các yếu tố sản xuất Một doanh nghiệp có thể có được vị trí độc quyền
bán nhờ quyền sở hữu một loại đầu vào (nguyên liệu) ưu việt để sản xuất một loại sản phẩm nào đó
Quy định của chính phủ Một doanh nghiệp có thể trở thành độc quyền hợp pháp nếu
nó là người duy nhất được cho phép sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm, dịch vụ nào đó
Ví dụ: EVN, Tổng công ty đường sắt Việt Nam, Tổng công ty bưu chính
Độc quyền bán là người bán sản phẩm duy nhất trên thị trường, do đó đường cầu thị trường lúc này là đường cầu đối với sản phẩm của doanh nghiệp độc quyền đó Đây là đường có độ dốc âm phản ánh hành vi của tất cả những người mua trên thị trường và tuân theo luật cầu đã được trình bày ở bài 2 Đây cũng chính là đường doanh thu bình quân của doanh nghiệp độc quyền (AR = TR/Q = P)
Do đường cầu của doanh nghiệp có độ dốc âm nên trong trường hợp này sẽ có sự khác biệt giữa giá bán sản phẩm (doanh thu bình quân) và doanh thu cận biên Ta xem xét
ví dụ giả định trong bảng 6.1 để thấy rõ mối quan hệ này
Bảng 6.1: Tổng doanh thu, doanh thu bình quân và doanh thu cận biên Giá (P) Sản lượng
(Q)
Tổng doanh thu (TR = P.Q)
Doanh thu bình quân (AR=TR/Q)
Doanh thu cận biên (MR = ÄTR/ÄQ)