Đặc biệt nhấn mạnh vai trò của yếu tố Căng thẳng kinh tế ảnh hưởng đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng Việt Nam đối với hàng hóa Trung Quốc, nghiên cứu dựa trên những sự kiện căng th
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-
TRẦN HOÀI PHÚC
KIỂM CHỨNG MỐI QUAN HỆ GIỮA SỰ CĂNG THẲNG QUỐC GIA, TÍNH VỊ CHỦNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ SẴN LÒNG MUA HÀNG HOÁ NGOẠI NHẬP
CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VIỆT NAM:
MỘT NGHIÊN CỨU TẠI TP.HCM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số : 60 34 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 09 NĂM 2017
Trang 2Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Thanh Xuân
Cán bộ chấm nhận xét 1: PGS TS Hoàng Thị Phương Thảo
Cán bộ chấm nhận xét 2: TS Trương Minh Chương
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG Tp.HCM ngày 25 tháng 08 năm 2017
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 Chủ tịch: PGS TS Phạm Ngọc Thúy
2 Thư kí: TS Nguyễn Thị Thu Hằng
3 Phản biện 1: PGS TS Hoàng Thị Phương Thảo
4 Phản biện 2: TS Trương Minh Chương
5 Ủy viên: PGS TS Lê Nguyễn Hậu
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận văn và Trưởng khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: TRẦN HOÀI PHÚC MSHV: 1570516
Ngày, tháng, năm sinh: 21-11-1992 Nơi sinh: Bến Tre
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60 34 01 02
I TÊN ĐỀ TÀI: KIỂM CHỨNG MỐI QUAN HỆ GIỮA SỰ CĂNG THẲNG QUỐC GIA, TÍNH VỊ CHỦNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ SẴN LÒNG MUA HÀNG HOÁ NGOẠI NHẬP CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VIỆT NAM:
MỘT NGHIÊN CỨU TẠI TP.HCM
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
Đề tài được thực hiện nhằm xác định và kiểm định mối quan hệ giữa các yếu
tố tính vị chủng, đánh giá sản phẩm và căng thẳng kinh tế đối với sự sẵn lòng mua hàng hoá ngoại nhập
Khám phá sự khác biệt về mối quan hệ giữa tính vị chủng, đánh giá sản phẩm
và căng thẳng kinh tế đối với sự sẵn lòng mua hàng hoá ngoại nhập theo trình
độ học vấn
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 28-11-2016
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 12-5-2017
V CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS LÊ THỊ THANH XUÂN
Trang 4Luận văn thạc sĩ là cột mốc quan trọng để kết thúc chương trình học, đồng thời cũng là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên bài bản nhất của tôi bên lĩnh vực khoa học xã hội, nên đối với tôi nó rất có ý nghĩa về mặt kỉ niệm, về mặt học thuật
có thể đây là tiền đề giúp tôi định hướng phát triển sự nghiệp nghiên cứu khoa học sau này
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ thầy cô, bạn
bè, gia đình và đồng nghiệp Đặc biệt là sự hỗ trợ tư vấn nhiệt tình từ cô Lê Thị Thanh Xuân, người đã giúp đỡ tôi rất nhiều để hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến cô Xuân và toàn thể thầy cô khoa Quản lý công nghiệp đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong hai năm qua giúp tôi hoàn thành khóa học cũng như luận văn tốt nghiệp này
Bên cạnh đó, tôi xin cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp, đặc biệt là những anh chị MBA các khóa trước đã chia sẽ rất nhiều kinh nghiệm và tài liệu giúp tôi có thể hoàn thành thành luận văn tốt nhất có thể
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình luôn là động lực lớn để tôi cố gắng học tập và vượt qua khó khăn để đạt được thành quả này
Trang 5Trong số các khái niệm lý thuyết nghiên cứu về hành vi tiêu dùng, sự sẵn lòng mua được xem là yếu tố dự đoán khuynh hướng hành vi của người tiêu dùng Vì thế nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá một số yếu tố tác động lên sự sẵn lòng mua hàng hóa ngoại nhập (cụ thể hàng hóa được Trung Quốc trực tiếp sản xuất ra toàn bộ bởi các doanh nghiệp Trung Quốc tại Trung Quốc) Các yếu tố khám phá bao gồm Tính vị chủng, Căng thẳng kinh tế, Đánh giá sản phẩm (tập trung vào đánh giá chất lượng cảm nhận) Đặc biệt nhấn mạnh vai trò của yếu tố Căng thẳng kinh tế ảnh hưởng đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng Việt Nam đối với hàng hóa Trung Quốc, nghiên cứu dựa trên những sự kiện căng thẳng kinh tế gần đây giữa Việt Nam và Trung Quốc để đánh giá sự tác động lên lòng tự hào dân tộc của người dân Việt Nam và sự sẵn lòng mua hàng hóa Trung Quốc của người tiêu dùng Việt Nam như thế nào, góp phần giúp cho các doanh nghiệp hiểu rõ hơn nữa về hai yếu
tố : tính vị chủng và căng thẳng kinh tế trong hành vi của người tiêu dùng Việt Nam đối với hàng hoá ngoại nhập (cụ thể là hàng Trung Quốc) Thêm vào đó, nghiên cứu này còn xem xét sự khác biệt giữa các nhóm yếu tố nhân khẩu học (trình độ học vấn) về mức độ tác động của các yếu tố Tính vị chủng, Căng thẳng kinh tế và Đánh giá sản phẩm lên sẵn lòng mua
Nghiên cứu được thực hiện qua hai bước chính đó là nghiên cứu sơ bộ (nghiên cứu định tính) và nghiên cứu chính thức (nghiên cứu định lượng) Nghiên cứu định tính nhằm điều chỉnh, bổ sung các biến quan sát được tham khảo từ các nghiên cứu trước đó sao cho phù hợp với đối tượng và điều kiện nghiên cứu thực tế tại Việt Nam Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn 2 nhóm, mỗi nhóm
5 người, cũng như khảo sát thử 20 người tiêu dùng ngẫu nhiên đảm bảo người trả lời hiểu đúng nghĩa của từng biến quan sát Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua hình thức phỏng vấn bằng phiếu khảo sát, 248 mẫu được sử dụng để đánh giá và kiểm định mô hình nghiên cứu thông qua các phương pháp phân tích dữ liệu
là đánh giá độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân
tố khẳng định (CFA) và phân tích mô hình cấu trúc trúc tuyến tính (SEM)
Trang 6Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính cho thấy yếu tố Không sẵn lòng mua hàng hóa Trung Quốc của người tiêu dùng Việt Nam chịu tác động của 3 yếu tố là Căng thẳng kinh tế, Tính vị chủng và Đánh giá sản phẩm Trong đó, Đánh giá sản phẩm mà cụ thể là đánh giá về mặt chất lượng có tác động trực tiếp lớn nhất đến không sẵn lòng mua, tiếp theo mới là Căng thẳng kinh tế và Tính vị chủng; đồng thời Căng thẳng kinh tế cũng có tác động trực tiếp đáng kể đến Tính vị chủng và Đánh giá sản phẩm Phân tích cấu trúc đa nhóm cho thấy không có sự khác biệt giữa các nhóm trình độ học vấn
Trong điều kiện giới hạn về nguồn lực và thời gian, nghiên cứu này đã không tránh khỏi một số hạn chế nhất định Tuy nhiên, với kết quả đạt được, nghiên cứu này có thể hữu ích cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng kế hoạch phát triển chiến lược kinh doanh và chiến lược tiếp thị phù hợp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa trong nước
Trang 7In consumer behavior, willingness to buy is deemed as a factor predicting consumer behavior So this study aims to explore some of the factors that influence the willingness to buy imported goods (specifically, Chinese-made goods are directly produced by Chinese enterprises in China) Discovery factors include Ethnocentrism, Economic animosity and Product Judgement (focus on perceived quality) Particularly, emphasizes the role of the Animosity factor that affects the willingness of Vietnamese consumers to purchase Chinese goods, based on recent economic animosity between Vietnam and China to assess the impact on the national pride of the Vietnamese people and the willingness to buy Chinese goods
of Vietnamese consumers, helping businesses understand about the two factors: Ethnocentrism, Animosity in the behavior of Vietnamese consumers towards imported goods (namely, Chinese goods) In addition, this study examines the differences in the demographic factors (educational attainment) in terms of the impact of Ethnocentrism, Economic animosity and Product Judgement on the willing to buy
This study have two main steps: preliminary research (qualitative research) and formal research (quantitative research) Qualitative research aimed at adjusting and supplementing the observation variables are referenced from the previous studies to suit the object and conditions of the actual research in Vietnam Qualitative research was conducted through group interviews and randomly sampling 20 consumers to ensure that the respondents fully understood each observation variable Quantitative research was conducted through questionnaire interviews, with 248 samples used for evaluating and validating the research model through data analysis methods by Rating scale reliability, Exploratory Factor Analysis (EFA), Confirmatory Factor Analysis (CFA), and Structural Equation Modeling (SEM)
The results of analysis of the SEM showed that the factor of unwillingness to buy Chinese goods of Vietnamese consumers was influenced by three factors: Ethnocentrism, Animosity and Product Judgement In particular, product
Trang 8evaluations, in particular quality assessments, have the greatest direct impact on the unwillingness to buy, followed by Economic animosity and Ethnocentrism; At the same time, Economic animosity also have a significant direct impact on the Ethnocentrism and Product Judgement Analysis of multi-group structure shows no difference between education levels
In the condition of lack of time and resources, the research did not avoid some limitations However, with the results achieved, this study could be useful for businesses in developing strategies for business and marketing Especially, useful for businesses importing or distributing Chinese goods in the Vietnamese market
Trang 9Tôi xin cam đoan luận văn này là do tự bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Lê Thị Thanh Xuân và không sao chép từ bất kỳ công trình nghiên cứu của các tác giả khác để làm thành sản phẩm của riêng mình
Tất cả thông tin thứ cấp được sử dụng trong luận văn này đều có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng Các số liệu sơ cấp được sử dụng trong luận văn này đều được thu thập rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc và các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian dối nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về mặt nội dung của luận văn do tôi thực hiện Trường Đại học Bách khoa Tp.HCM không liên quan đến những vi phạm tác quyền và bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện nếu có
Tp.HCM, ngày 12 tháng 09 năm 2017
Người thực hiện luận văn
Trần Hoài Phúc
Trang 10LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ ii
ABSTRACT iv
LỜI CAM ĐOAN CỦA TÁC GIẢ LUẬN VĂN vi
MỤC LỤC vii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT xi
DANH MỤC BẢNG BIỂU xi
DANH MỤC HÌNH ẢNH xii
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1
1.1 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4
1.5 BỐ CỤC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4
1.6 TÓM TẮT CHƯƠNG 1 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
2.1.1 Lý thuyết về tính vị chủng 6
2.1.2 Lý thuyết căng thẳng kinh tế 6
2.1.3 Lý thuyết về đánh giá sản phẩm 8
2.1.4 Lý thuyết về sẵn lòng mua 8
2.2 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 9
Trang 112.2.1 Nghiên cứu của Klein, Ettenson và Morri (1998) 9
2.2.2 Nghiên cứu của Rose và Shoham (2009) 11
2.2.3 Nghiên cứu của Abraham (2013) 13
2.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC GIẢ THUYẾT 18
2.3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 18
2.3.2 Các giả thuyết 18
2.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 23
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 24
3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 25
3.2.1 Nghiên cứu sơ bộ 25
3.2.2 Nghiên cứu chính thức 25
3.3 THIẾT KẾ THANG ĐO KHÁI NIỆM NGHIÊN CỨU 26
3.3.1 Thang đo tính vị chủng 26
3.3.2 Thang đo căng thẳng kinh tế 27
3.3.3 Thang đo đánh giá sản phẩm 28
3.3.4 Thang đo không sẵn lòng mua 29
3.4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH SƠ BỘ 30
3.5 THIẾT KẾ MẪU: 34
3.6 KỸ THUẬT PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 35
3.7 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 38
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ 39
4.2 ĐÁNH GIÁ ĐỘ TIN CẬY THANG ĐO 41
Trang 124.3 PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ 42
4.4 PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHẲNG ĐỊNH (CFA) 45
4.4.1 Kiểm định tính đơn hướng 47
4.4.2 Kiểm định giá trị hội tụ 47
4.4.3 Kiểm định độ tin cậy 48
4.4.4 Kiểm định giá trị phân biệt 48
4.5 KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH CẤU TRÚC TUYẾN TÍNH VÀ CÁC GIẢ THUYẾT 49
4.5.1 Kiểm định mô hình lý thuyết và các giả thuyết bằng mô hình cấu trúc tuyến tính 49
4.5.2 Đánh giá mô hình lý thuyết bằng Bootstrap 52
4.6 PHÂN TÍCH CẤU TRÚC ĐA NHÓM 53
4.7 THẢO LUẬN KẾT QUẢ 54
4.7.1 Nhận định về kết quả phân tích thang đo 54
4.7.2 Nhận định về mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 55
4.8 TÓM TẮT CHƯƠNG 4 57
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
5.1 TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 58
5.2 KẾT QUẢ CHÍNH VÀ ĐÓNG GÓP CỦA NGHIÊN CỨU 58
5.2.1 Kết quả và đóng góp về phương pháp nghiên cứu 58
5.2.2 Kết quả và đóng góp về mặt lý thuyết 59
5.3 HÀM Ý QUẢN TRỊ 59
5.4 KIẾN NGHỊ 61
5.5 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 62
Trang 13TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC A: THÀNH PHẦN THAM GIA PHỎNG VẤN 68
PHỤ LỤC B: BẢNG CÂU HỎI CHÍNH THỨC 69
PHỤ LỤC C: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 72
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG 95
Trang 14CFA (Confirmatory Factor Analysis): Phân tích nhân tố khẳng định
EFA (Exploratory Factor Analysis): Phân tích nhân tố khám phá
FTA (Free Trade Agreement): Hiệp định thương mại tự do
SEM (Structural Equation Modeling): Mô hình cấu trúc tuyến tính
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước đây 14
Bảng 3.1: Ký hiệu và nội dung các biến quan sát của thang đo tính vị chủng 26
Bảng 3.2: Ký hiệu và nội dung các biến quan sát của thang đo căng thẳng kinh tế 27 Bảng 3.3: Ký hiệu và nội dung các biến quan sát của thang đo đánh giá sản phẩm 28 Bảng 3.4: Ký hiệu và nội dung các biến quan sát của thang đo không sẵn lòng mua 29
Bảng 3.5: Kết quả thảo luận nhóm 31
Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả 39
Bảng 4.2: Kết quả đánh giá độ tin cậy của các thang đo 41
Bảng 4.3: Kiểm định KMO và kiểm định Bartlett 43
Bảng 4.4: Kết quả phân tích nhân tố khám phá lần cuối cùng 43
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định giá trị hội tụ, độ tin cậy tổng hợp và tổng phương sai trích 47
Bảng 4.6: Kiểm định giá trị phân biệt 48
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định các giả thuyết trong mô hình cấu trúc tuyến tính 50
Bảng 4.8: Kết quả ước lượng mô hình lý thuyết bằng Bootstrap (N=1000) 52
Trang 15Bảng 4.9: Sự khác biệt các chỉ tiêu tương thích của hai mô hình khả biến và bất biến
từng phần 53
Bảng 4.10: Giá trị của các mối quan hệ trong mô hình khả biến theo trình độ học vấn 54
Bảng 4.11: Giá trị của các mối quan hệ trong mô hình bất biến từng phần theo trình độ học vấn 54
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu về sự căng thẳng quốc gia đối với việc mua hàng hóa nước ngoài (Klein et al, 1998) 10
Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu thái độ của hai nhóm người gốc Do Thái và gốc Ả rập tại Israel đối với Anh và Ý (Rose et al, 2009) 12
Hình 2.3: Mô hình sự căng thẳng quốc gia đối với việc mua sản phẩm nước ngoài (Abraham, 2013) 13
Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu đề xuất 18
Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu chính thức với các giả thuyết 22
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 24
Hình 4.1: Kết quả phân tích nhân tố khẳng định của mô hình đo lường lần cuối cùng 46
Hình 4.2: Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính 49
Trang 16Chương này sẽ cung cấp thông tin tổng quan về bối cảnh của đề tài nghiên cứu Từ
đó nêu ra lý do hình thành đề tài, mục tiêu, phạm vi, ý nghĩa đề tài và bố cục đề tài nghiên cứu
1.1 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI
Quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội như phá vỡ hàng rào thuế quan giữa các nước, mở ra môi trường cạnh tranh hơn với hàng hóa, dịch vụ rẻ hơn và chất lượng tốt hơn, trong những năm qua, Việt Nam
đã chủ động tích cực hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Tuy nhiên, bên cạnh những
cơ hội đó thì các doanh nghiệp trong nước cũng phải chịu áp lực cạnh tranh gay gắt hơn từ các quốc gia khác Việc phá vỡ hàng rào thuế quan cũng sẽ tạo ra cơ hội cho hàng hóa được nhập khẩu từ các quốc gia khác cũng tham gia vào thị trường trong nước Như vậy, để có thể tồn tại và cạnh tranh trong một môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì các doanh nghiệp Việt Nam cần phải nỗ lực trong các hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình nhiều hơn
Theo Tổng cục Hải quan, thị trường nhập khẩu của Việt Nam năm 2016 vẫn chủ yếu tập trung tại Châu Á với kim ngạch hơn 140,76 tỷ USD, tăng 4,5% so với cùng
kỳ năm trước, và chiếm tỷ trọng 80,8% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước Trong đó, thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc với kim ngạch gần 49,93 tỷ USD, tăng 0,9%, và chiếm tỷ trọng 28,7%, đứng thứ 2 là thị trường Hàn Quốc đạt kim ngạch 32,03 tỷ USD, tăng 15,9%, chiếm tỷ trọng 18,4%; thị trường Nhật Bản đạt kim ngạch hơn 15,03 tỷ USD, tăng 4,7%, chiếm tỷ trọng 8,6%, (Thống kê Hải Quan, 18/01/2017) Qua các số liệu thống kê ở trên có thể thấy hàng hóa ngoại nhập nói chung, đặc biệt là hàng hóa Trung Quốc hiện nay đang có một vị trí đáng kể ở thị trường Việt Nam và đang có sức ép đáng kể đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa trong nước Vấn đề mà các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang quan tâm là các yếu tố nào đang tác động vào xu hướng mua
Trang 17Xét thấy giữa Việt Nam và Trung Quốc trong nhiều năm gần đây, nếu xét về vấn đề kinh tế thì có thể thấy gần đây hàng hoá Trung Quốc được cho là kém chất lượng Điển hình là vụ xe tải Trung Quốc kém chất lượng ồ ạt vào Việt Nam, theo thông tin từ Ủy ban An Toàn Giao Thông Quốc Gia năm 2014, xe tải giá rẻ nhập khẩu từ Trung Quốc đang tăng đột biến và tiêu thụ mạnh trên thị trường nội địa, tuy nhiên, qua kiểm định, chất lượng của nhiều lô hàng đều có vấn đề (Ủy ban An Toàn Giao Thông Quốc Gia, 2014) Hay việc Trung Quốc gây rối thị trường, ồ ạt thu mua xuất khẩu tôm nguyên liệu có thể dẫn đến tình trạng mất cân đối nghiêm trọng cơ cấu xuất khẩu, xuất thô nguyên liệu ngày càng tăng, ảnh hưởng xấu đến chiến lược phát triển ngành và hiệu quả đầu tư (Sở Công Thương Bến Tre, 2013)… gây ảnh hưởng tiêu cực đến vấn đề kinh tế Trong thời gian gần đây theo như nguồn tin của các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin, các dự án đầu tư của nhà thầu Trung Quốc kém chất lượng, đội vốn cao và chậm tiến độ, điển hình nhất là dự án đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông (VTV1, 2017)
Từ những vấn đề trên thì có thể thấy đây cũng là cơ hội cho các nhà sản xuất trong nước và cũng là lúc các nhà phân phối nhập khẩu hàng hoá có xuất xứ từ Trung Quốc nên cân nhắc lại chiến lược kinh doanh của mình Những yếu tố trên phần nào
có tác động tiêu cực đến hành vi của người tiêu dùng Thực tế vấn đề căng thẳng kinh tế nêu trên đang diễn ra như thế nào và mức độ ảnh hưởng của các vẫn đề căng thẳng kinh tế như thế nào đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng Việt Nam thì đến nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu chính thức đến vấn đề này
Vấn đề xem xét về những yếu tố tác động đến việc đánh giá, chọn lựa hay sẵn lòng mua giữa hàng hóa nội địa và hàng hóa ngoại nhập đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thực hiện Ở trong nước, đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này
và các yếu tố quan trọng thường được sử dụng trong các nghiên cứu này là tính vị chủng tiêu dùng (ví dụ: Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2008), Lê Nguyễn Hậu & ctg (2011), ); độ nhạy văn hóa (ví dụ: Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2008), ); Trong những năm gần đây, khi nghiên cứu tới vấn đề này, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã đưa yếu tố căng thẳng quốc gia,
Trang 18tức là xem xét sự căng thẳng giữa hai quốc gia về vấn đề kinh tế tác động lên sự đánh giá và sẵn lòng mua/không sẵn lòng mua hàng ngoại nhập, trong đó phải kể đến các nghiên cứu của Rose và Shoham (2009), Abraham (2013), Klein et al (1998), Tuy nhiên, ở Việt Nam thì vấn đề nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố này lên tính vị chúng, đánh giá sản phẩm hay sẵn lòng mua/không sẵn lòng hàng hóa, vẫn chưa được quan tâm và đưa vào nhiều trong các nghiên cứu
Với mục tiêu muốn tìm hiểu thực sự vấn đề căng thẳng quốc gia cụ thể là căng thẳng về mặt kinh tế có tác động đến tính vị chủng của người tiêu dùng Việt Nam hay không và từ đó họ đánh giá thế nào về chất lượng cũng như có sẵn lòng mua hàng hoá ngoại nhập mà cụ thể ở đây là hàng hóa Trung Quốc hay không sau những
sự kiện kinh tế gần đây, để từ đó có thể giúp các nhà phân phối hàng hoá nhập khẩu
từ Trung Quốc và các nhà sản xuất hàng hóa trong nước có chiến lược kinh doanh hợp lý hơn Vì vậy, đề tài “Kiểm chứng mối quan hệ giữa sự căng thẳng quốc gia, tính vị chủng ảnh hưởng đến sự sẵn lòng mua hàng hoá ngoại nhập của người tiêu dùng Việt Nam” được hình thành
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện nhằm xác định và kiểm định mối quan hệ giữa các yếu
tố tính vị chủng, đánh giá sản phẩm và căng thẳng kinh tế đối với sự sẵn lòng mua hàng hoá ngoại nhập
Khám phá sự khác biệt về mối quan hệ giữa tính vị chủng, đánh giá sản phẩm và căng thẳng kinh tế đối với sự sẵn lòng mua hàng hoá ngoại nhập theo trình độ học vấn
Trang 19 Phạm vi nghiên cứu: Là những người tiêu dùng Việt Nam có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, đã có tìm hiểu hoặc đã sử dụng sản phẩm của Trung Quốc hiện đang sinh sống trong khu vực Tp Hồ Chí Minh
1.4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu đem lại một số ý nghĩa về lý thuyết cũng như thực tiễn, cụ thể như sau:
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung vào cơ sở lý luận và các thang đo của các yếu tố tính vị chủng, căng thẳng kinh tế, đánh giá sản phẩm với sự
sẵn lòng mua của người tiêu dùng
Kết quả của nghiên cứu sẽ góp phần giúp cho các doanh nghiệp nhập khẩu, phân phối hàng hóa Trung Quốc và các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa Việt Nam hiểu rõ hơn nữa về các yếu tố tính vị chủng, căng thẳng kinh tế và đánh giá sản phẩm trong hành vi của người tiêu dùng Việt Nam đối với hàng hoá ngoại nhập (cụ thể là hàng Trung Quốc), từ đó có kế hoạch phát triển chiến lược kinh doanh và chiến lược tiếp thị phù hợp
1.5 BỐ CỤC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu được chia làm 5 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan – Trình bày lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên
cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của
đề tài nghiên cứu và bố cục của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu – Trình bày các khái
niệm, cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu đi trước, đề xuất mô hình nghiên cứu
và các giả thuyết cho mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – Trình bày quy trình nghiên cứu,
thiết kế nghiên cứu, thang đo của các khái niệm nghiên cứu, kết quả nghiên cứu định tính sơ bộ, mẫu và kỹ thuật phân tích số liệu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu – Trình bày kết quả nghiên cứu định lượng
để kiểm định thang đo, kiểm định mô hình lý thuyết và các giả thuyết đề ra, phân tích cấu trúc đa nhóm và thảo luận kết quả
Trang 20 Chương 5: Kết luận và kiến nghị - Trình bày tóm tắt các kết quả chính,
hàm ý quản trị, những đóng góp và những hạn chế của đề tài nghiên cứu nhằm định hướng cho các đề tài nghiên cứu tiếp theo
1.6 TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 đã giới thiệu và trình bày sơ lược những nội dung chính của một bài nghiên cứu như: lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu, làm tiền đề cơ bản cho một công trình nghiên cứu
Trang 21Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2 sẽ tập trung vào việc trình bày cơ sở lý thuyết, giới thiệu về các nghiên cứu trước, cuối cùng là đề xuất mô hình nghiên cứu và phát biểu các giả thuyết có liên quan
sự vận dụng khái niệm tính vị chủng trong xã hội học vào môi trường kinh tế để biểu thị tính vị chủng trong hành vi tiêu dùng (Chryssochoidis et al., 2007) Theo
đó, Reardon et al (2005) đã định nghĩa vị chủng tiêu dùng là niềm tin rằng mua hàng hoá của nước ngoài là không yêu nước Nhiều nghiên cứu cho thấy tính vị chủng tiêu dùng có tác động tiêu cực đến sự sẵn lòng mua hàng ngoại nhập và tích cực đến sự sẵn lòng mua hàng nội của người tiêu dùng (Shimp & Sharma, 1987) Tính vị chủng tiêu dùng là sự vận dụng khái niệm tính vị chủng trong xã hội học vào môi trường kinh tế và kế thừa những giá trị cũng như đặc tính của tính vị chủng (Chryssochoidis et al., 2007) Khái niệm này biểu thị niềm tin của người tiêu dùng
về đạo đức và tính hợp lý trong việc tiêu dùng hàng nước ngoài
2.1.2 Lý thuyết căng thẳng kinh tế
Sự căng thẳng quốc gia được định nghĩa như là những tàn tích cả sự ác cảm liên quan đến các sự kiện chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao đã hoặc đang diễn ra, được cho là có ảnh hưởng trực tiếp và tiêu cực lên hành vi mua của khách hàng trên thị trường quốc tế (Ettenson & Klein, 2005; Riefler & Diamantopoulos, 2007)
Trang 22Sự căng thẳng quốc gia liên quan đến cảm xúc tiêu cực mạnh mẽ đối với việc mua các sản phẩm từ một hoặc một nhóm quốc gia mà họ không thích Phần lớn những khảo sát về sự căng thẳng quốc gia nhằm kiểm tra thái độ của các thành viên của một quốc gia hướng tới sản phẩm của một quốc gia khác (Klein et al., 1998 & Rose
et al., 2009) Nghiên cứu của Rose et al (2009) cho thấy sự căng thẳng quốc gia ảnh hưởng đến hành vi mua hàng hóa của một quốc gia khác giữa các nhóm văn hóa khác nhau hoặc Abraham (2013) đã cho thấy người Do Thái tránh mua các sản phẩm của Đức hoặc sự thù hận của người Trung Quốc đối với việc sẵn lòng mua hàng hoá Nhật Bản (Klein et al., 1998) Nếu khách hàng nghĩ rằng một quốc gia nước ngoài có thể làm tổn hại đến đất nước của họ, họ có khả năng thể hiện thái độ thù địch đối với đất nước đó Bản chất của cảm xúc thù địch thể hiện những căng thẳng quốc tế có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ của những người thuộc các quốc tịch khác nhau như thế nào Đó là, tình trạng thù địch của người tiêu dùng đối với một quốc gia và hậu quả của chúng gắn liền với hành vi chính trị; người tiêu dùng gián tiếp phản đối về các sự kiện quốc tế Cả hai chủ nghĩa vị chủng và thù địch có thể sẽ có một số ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng bởi các khía cạnh nhận thức và cảm xúc (Torres & Gutiérrez, 2007) Trong nghiên cứu này, đề cập đến những căng thẳng về các sự kiện căng thẳng kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc Căng thẳng kinh tế là những căng thẳng xuất phát từ những bất đồng về thương mại giữa các quốc gia với nhau (Klein & Morris, 1996; Klein & Ettenson, 1999; Hinck, 2004) Kết quả nghiên cứu của Klein & Morris (1996) cho thấy người Mỹ có thái
độ thù hằn về kinh tế đối với Nhật Bản vì họ cho rằng trong quan hệ thương mại giữa Nhật bản và Hoa Kì thì vẫn còn tồn đọng vấn đề về sự không công bằng đối với Hoa Kì Căng thẳng kinh tế có xu hướng phổ biến ở các nước nhỏ hoặc các quốc gia mà người dân có thể không hài lòng với thực trạng nền kinh tế của nước
họ bị chi phối bởi một quốc gia lớn hơn và mạnh hơn Căng thẳng kinh tế có thể dẫn đến sự thù hằn chung và dẫn đến việc không muốn mua hàng hóa của nước có sự căng thẳng chung được nói đến (Nijssen & Douglas, 2004)
Trang 232.1.3 Lý thuyết về đánh giá sản phẩm
Trong nghiên cứu này đánh giá sản phẩm tập trung vào việc đánh giá chất lượng cảm nhận “Chất lượng là mức độ phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng”, theo Hiệp hội Châu Âu về Kiểm soát Chất lượng (European Organization for Quality Control) Hay “Chất lượng là một tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn (Lê Nguyễn Hậu & ctg, 2011)
Chất lượng cảm nhận liên quan đến các đánh giá của khách hàng về sự nổi trội và tính ưu việt chung của sản phẩm, cảm nhận về chất lượng, chất lượng dựa trên kỹ thuật sản xuất và chất lượng khách quan (Zeithaml, 1988) Monroe & Krishnan (1985) cũng cho thấy rằng “Cảm nhận về chất lượng là khả năng cảm nhận đối với sản phẩm có thể cung cấp sự hài lòng tương đối cho sự lựa chọn sẵn có” Đối với người tiêu dùng trong nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, chất lượng cảm nhận có thể là thuộc tính có ý nghĩa nhất của sản phẩm, vì người tiêu dùng có xu hướng đã từng trải nghiệm những sản phẩm chất lượng kém được sản xuất bởi các công ty địa phương(Larttz et a1., 2002; Nguyen et a1., 2008)
2.1.4 Lý thuyết về sẵn lòng mua
Theo Ajzen (1991), một hành vi có thể được dự đoán bởi các ý định trước đó Quan điểm của lý thuyết hành vi hoạch định cho rằng ý định và khuynh hướng cá nhân là chỉ báo dự đoán hành vi Ý định được thừa nhận là động cơ dẫn đến hành vi, là dấu hiệu của mức độ sẵn sàng mua Như vậy, nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng lên hành vi là ý định hay khuynh hướng hành vi
Lý thuyết về hành vi hoạch định (TPB) là phần mở rộng của lý thuyết hành động lý luận (Ajzen & Fishbein, 1980; Fishbein & Ajzen, 1975) được nghiên cứu để khắc phục những hạn chế của mô hình lý thuyết ban đầu trong việc giải quyết các hành vi
mà con người có quyền kiểm soát đầy đủ ý chí của mình
Như trong các lý thuyết ban đầu của lý thuyết hành động lý luận, một nhân tố trung tâm trong lý thuyết về hành vi được hoạch định là ý định của cá nhân để thực hiện một hành vi nhất định Dự định được giả định để nắm bắt các yếu tố tạo động lực
Trang 24tác động lên hành vi, dự định là những dấu hiệu khó khăn làm thế nào để mọi người sẵn sàng thử, bao nhiêu nổ lực mà họ đang lên kế hoạch phát huy để thực hiện hành
vi
Trong nghiên cứu này, tác giả kiểm định mối quan hệ của ba nhân tố tính vị chủng, căng thẳng quốc gia, đánh giá sẳn phẩm ảnh hưởng như thế nào đến việc không sẵn lòng mua hàng hóa Trung Quốc của người tiêu dùng Việt Nam
2.2 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.2.1 Nghiên cứu của Klein, Ettenson và Morri (1998)
Nghiên cứu “The Animosity Model of Foreign Product Purchase: An Empirical Test in the People’s Republic of China” của Klein, Ettenson và Morri (1998) đã giải thích vai trò của sự căng thẳng quốc gia và tính vị chủng tác động như thế nào đến việc đánh giá sản phẩm và dự định mua Thử nghiệm mô hình căng thẳng quốc gia đối với việc mua hàng hoá nước ngoài, cụ thể là của người dân Trung Quốc đối với hàng hoá Nhật Bản
Trong quá khứ Trung Quốc và Nhật bản từng là kẻ thù của nhau, bối cảnh nghiên cứu là để kiểm chứng sự căng thẳng quốc gia đối với việc đánh giá sản phẩm và dự định mua tại thành phố Nam Kinh, Trung Quốc, nơi từng bị phát xít Nhật chiếm đóng và thảm sát kinh hoàng trong chiến tranh Thế Giới lần thứ II
Trang 25Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu về sự căng thẳng quốc gia đối với việc mua hàng hóa nước ngoài (Klein et al, 1998)
Dữ liệu thu thập từ người tiêu dùng trưởng thành độ tuổi từ 18-72 sinh sống tại thành phố Nam Kinh, Trung Quốc, thành phố lớn thứ 11 Trung Quốc, trong đó nữa chiếm tỷ lệ 69.3 % độ tuổi trung bình là 35 tuổi Phương pháp thu thập dữ liệu ngẫu nhiên trên đường phố bằng kỹ thuật phỏng vấn người tiêu dùng để hoàn thành bảng khảo sát
Kết quả của cuộc nghiên cứu cho thấy, hai yếu tố căng thẳng quốc gia (căng thẳng kinh tế và căng thẳng chiến tranh) và tính vị chủng cho ra hai kết quả khác nhau đối với dự định mua Sự thù oán của người tiêu dùng Trung Quốc đối với Nhật Bản ảnh hưởng tiêu cực đến sự sẵn lòng mua hàng hóa Nhật Bản, và điều quan trọng hơn là ảnh hưởng này thì độc lập với việc đánh giá chất lượng hàng hóa Nhật Bản
Đây là mô hình nghiên cứu ban đầu tập trung vào cách nhìn nhận của người Trung Quốc đối với hàng hoá Nhật Bản Ưu điểm của nghiên cứu là nghiên cứu đầu tiên khám phá ra một hiện tượng tâm lý xã hội cấp vĩ mô ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng hàng hóa nước ngoài đó là những mâu thuẫn căng thẳng giữa hai quốc gia về các vấn đề trong quá khứ và hiện tại; tạo tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo sau
Sẵn lòng mua (Willing to buy)
Đánh giá sản phẩm (Product Judgment)
Trang 26này Hạn chế của nghiên cứu là chỉ dừng lại ở một trường quốc tế nhất định là Trung Quốc đối với Nhật Bản, các nghiên cứu trong tương lai cần thực hiện trong nhiều bối cảnh quốc tế khác nhau, bên cạnh đó chưa tìm ra được mối liên hệ giữa tính vị chủng và căng thẳng quốc gia
2.2.2 Nghiên cứu của Rose và Shoham (2009)
Nghiên cứu “The impact of consumer animosity on attitudes towards foreign goods:
a study of Jewish and Arab Israelis” của Rose và Shoham (2009) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của văn hóa nhóm (Sub-Cultural) khi đánh giá tình trạng thù địch của các cá nhân ở quốc gia này đối với sản phẩm hoặc hàng hoá của quốc gia khác Bối cảnh nghiên cứu được lựa chọn, đó là thái độ của người Israel gốc Do Thái và người Israel gốc Ả Rập đối với Anh và Italia, kiểm chứng tình trạng căng thẳng quốc gia đối với việc đánh giá sản phẩm và sự sẵn lòng mua sản phẩm của Anh và
Trang 27Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu thái độ của hai nhóm người gốc Do Thái và gốc
Ả rập tại Israel đối với Anh và Ý (Rose et al, 2009)
Dữ liệu cho nghiên cứu này được thu thập ở phần phía bắc của Israel vì nơi đây là đại diện tương đối cao ngang bằng nhau về số người Ả Rập và Do Thái Bảng câu hỏi được phân phát tại các trung tâm mua sắm và cộng đồng ở các các khu phố trung lưu
Kết quả nghiên cứu cho thấy cả hai tình trạng căng thẳng quốc gia (căng thẳng kinh
tế và căng thẳng chiến tranh) và tính vị chủng dẫn đến sự sẵn lòng mua sản phẩm của một quốc gia nào đó giảm Israel gốc Ả Rập cảm thấy thù hận Anh nhiều hơn người Israel gốc Do Thái, nên đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc đánh giá sản phẩm của Anh
Ưu điểm của nghiên cứu là đã kiểm chứng được yếu tố Căng thẳng quốc gia phần nào có tác động tiêu cực đến sự sẵn lòng mua hàng hóa ngoại nhập, bên cạnh đó khám phá ra được mối quan hệ tương quan giữa Căng thẳng quốc gia và tính vị chủng Hạn chế của nghiên cứu là chỉ thực hiện đối với hai nền văn hoá là Anh và
Ý, các nghiên cứu khác trong tương lai cần thực hiện ở những quốc gia khác với nhiều ngữ cảnh khác nhau, nghiên cứu bổ sung cũng có thể kiểm tra sâu hơn các nguyên nhân và cảm xúc liên quan đến sự thù địch của người tiêu dùng
Không sẵn lòng mua (Unwilling to buy)
Đánh giá sản phẩm (Product Judgment) Căng thẳng
quốc gia
(Animosity)
Tính vị chủng
(Ethnocentrism)
Trang 282.2.3 Nghiên cứu của Abraham (2013)
Nghiên cứu “Does Consumer Animosity Impact Purchase Involvement?: An Empirical Investigation” của Villy Abraham đã kiểm chứng kiểm chứng mối quan
hệ giữa hai yếu tố vô cùng quan trọng đó là sự tham gia của khách hàng và căng thẳng quốc gia, các tác giả tiến hành nghiên cứu tài liệu, đặc biệt là các lí thuyết liên quan đến hai khái niệm này trong mô hình nghiên cứu như: căng thẳng kinh tế (Economic animosity), tính vị chủng (consumer ethnocentrism), đánh giá chất lượng sản phẩm (judgments of product quality) và sự tham gia mua hàng
Nghiên cứu được thực hiện với người tiêu dùng Irael, để kiểm tra sự căng thẳng quốc gia của Irael tác động lên sự tham gia mua hàng của khách hàng đối với hàng hoá của Đức và Mỹ như thế nào với mô hình nghiên cứu đề xuất như sau:
Hình 2.3: Mô hình sự căng thẳng quốc gia đối với việc mua sản phẩm nước ngoài (Abraham, 2013)
Dữ liệu được thu thập trong suốt mùa đông năm 2009/2010 Cuộc khảo sát được tiến hành tại khu vực đô thị Tel-Aviv 176 người tiêu dùng được phỏng vấn ngẫu nhiên bên ngoài cửa của các cửa hàng điện tử và siêu thị 100 người tiêu dùng đã
Lựa chọn hàng hoá (Product Choice)
Đánh giá sản phẩm (Product Evaluation)
Trang 29đồng ý tham gia nghiên cứu (tỷ lệ đáp ứng: 57%) Các mẫu bao gồm 43 nam và 57
nữ và tuổi của họ dao động từ 18 đến 65
Kết quả nghiên cứu cho thấy, những căng thẳng kinh tế không làm gia tăng mức độ tham gia mua hàng, chỉ có thể có một lý do hợp lý khác có thể làm gia tăng mức độ mua hàng của người đức đó là liên hệ với sự kiện vai trò của Đức quốc xã trong sự kiện thảm sát người do Thái (Holocaust), nhiều người Israel cảm thấy thù hận đối với Đức trong thế chiến thứ II Trong những năm chiến dịch quảng cáo khác nhau
sử dụng những đặc điểm và cảnh tượng khơi gợi lại nỗi đau chiến tranh Do đó, các chính phủ trên thế giới cần thiết lập các cơ quan có quyền lực pháp lý để xử phạt các trang web vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ người còn sống sót nhạy cảm với chiến dịch Holocaust
Ưu điểm của nghiên cứu này là khám phá ra được mối quan hệ nhân quả giữa căng thẳng quốc gia và tính vị chủng, trong khi những nghiên cứu trước chưa có, mở rộng nghiên cứu mức độ tham gia của khách hàng và sự lựa chọn hàng hóa Bên cạnh những kết quả đạt được, nghiên cứu vẫn còn tồn đọng một số hạn chế số hạn chế Thứ nhất, nghiên cứu là thăm dò tự nhiên, do đó một mẫu tương đối nhỏ được
sử dụng để kiểm tra các mối quan hệ giữa căng thẳng quốc gia và tham gia mua hàng Thứ hai, chỉ có một loại sản phẩm được khảo sát Thứ 2, nghiên cứu mô tả ở đây được tiến hành tại một quốc gia duy nhất và tham gia khảo sát trong bối cảnh Honocaust Cuối cùng, khó khăn trong việc tìm kiếm thang đo và cơ sở lý thuyết của nghiên cứu này để biện luận thực hiện nghiên cứu kiểm chứng lặp lại ở các môi trường quốc tế khác
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước đây
Villy
Abraham
(2013)
Kiểm chứng mối quan hệ giữa hai yếu tố vô cùng quan trọng đó là sự tham gia của mua hàng khách hàng và căng thẳng quốc gia
- Những căng thẳng kinh tế không làm gia tăng mức độ tham gia mua hàng, chỉ có thể có một lý
do hợp lý khác có thể làm gia tăng
- Nghiên cứu là thăm dò tự nhiên,
do đó một mẫu tương đối nhỏ được
sử dụng để kiểm tra các mối quan hệ giữa căng thẳng
Trang 30mức độ mua hàng của người đức đó là liên hệ với sự kiện vai trò của Đức quốc xã trong sự kiện thảm sát người
(Holocaust)
-Ưu điểm của nghiên cứu này là khám phá ra được mối quan hệ nhân quả giữa căng thẳng quốc gia và tính vị chủng, trong khi những nghiên cứu trước chưa có, mở rộng nghiên cứu mức độ tham gia của khách hàng và
sự lựa chọn hàng hóa
quốc gia và tham gia mua hàng
- Chỉ có một loại sản phẩm được khảo sát
- Nghiên cứu mô tả
ở đây được tiến hành tại một quốc gia duy nhất và tham gia khảo sát trong bối cảnh Honocaust
- Khó khăn trong việc tìm kiếm thang
đo và cơ sở lý thuyết của nghiên cứu này để biện luận thực hiện nghiên cứu kiểm chứng lặp lại ở các môi trường quốc tế khác
-Cả hai tình trạng căng thẳng quốc gia
và tính vị chủng dẫn đến sự sẵn lòng mua sản phẩm của một quốc gia nào
đó giảm Israel gốc
Ả Rập cảm thấy thù hận Anh nhiều hơn người Israel gốc Do Thái, nên đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc đánh giá sản phẩm của Anh
Chỉ thực hiện đối với hai nền văn hoá
là Anh và Ý, các nghiên cứu khác trong tương lai cần thực hiện ở những quốc gia khác với nhiều ngữ cảnh khác nhau Nghiên cứu bổ sung cũng
có thể kiểm tra sâu hơn các nguyên nhân và cảm xúc liên quan đến sự
Trang 31-Ưu điểm của nghiên cứu là đã kiểm chứng được yếu tố Căng thẳng quốc gia phần nào
có tác động tiêu cực đến sự sẵn lòng mua hàng hóa ngoại nhập, bên cạnh đó khám phá ra được mối quan hệ tương quan giữa Căng thẳng quốc gia và tính vị chủng
thù địch của người tiêu dùng
và dự định mua
- Thử nghiệm mô hình căng thẳng quốc gia đối với việc mua hàng hoá nước ngoài, cụ thể
là của người dân Trung Quốc đối với hàng hoá Nhật Bản
-Hai yếu tố căng thẳng quốc gia và tính vị chủng cho ra hai kết quả khác nhau đối với dự định mua
- Sự thù oán của người tiêu dùng Trung Quốc đối với Nhật Bản ảnh hưởng tiêu cực đến
sự sẵn lòng mua hàng hóa Nhật Bản,
và điều quan trọng hơn là ảnh hưởng
- Đây là mô hình nghiên cứu ban đầu tập trung vào cách nhìn nhận của người Trung Quốc đối với hàng hoá Nhật Bản
- Các nghiên cứu trong tương lai cần thực hiện trong nhiều bối cảnh quốc tế khác nhau
- Bên cạnh đó chưa tìm ra được mối
Trang 32này thì độc lập với việc đánh giá chất lượng hàng hóa Nhật Bản
- Ưu điểm: của nghiên cứu là nghiên cứu đầu tiên khám phá ra một hiện tượng tâm lý
xã hội cấp vĩ mô ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng hàng hóa nước ngoài đó là những mâu thuẫn căng thẳng giữa hai quốc gia về các vấn đề trong quá khứ và hiện tại; tạo tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo sau này
liên hệ giữa tính vị chủng và căng thẳng quốc gia
Trang 332.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC GIẢ THUYẾT
2.3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Từ những nghiên cứu trên, mô hình trong nghiên cứu này được xây dựng dựa vào
mô hình nghiên cứu chính của Rose et al (2009) và (Klein et al, 1998), (Abraham, 2013) Mô hình nghiên cứu đề xuất sau được đề xuất trong Hình 2.4
Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu đề xuất 2.3.2 Các giả thuyết
2.3.2.1 Căng thẳng kinh tế và tính vị chủng
Lý thuyết tiếp thị mô tả căng thẳng quốc gia (Cụ thể là những căng thẳng về mặt kinh tế) và tính vị chủng được xem là những khái niệm thể hiện trạng thái tâm lý và hành vi phản ứng đối với xuất xứ của một quốc gia cụ thể (Nijssen & Douglas, 2004) Căng thẳng quốc gia là những gì còn sót lại của sự ác cảm hoặc thù hận đối với một quốc gia (Klein et al., 1998; Riefler & Diamantopoulos, 2007) Cảm xúc này có thể ảnh hưởng đến hành động như một bản năng tự vệ và làm gia tăng sự đoàn kết trong một cộng đồng, hành vi tự vệ và tính vị chủng (Fishbein, 2003; Nijssen & Douglas, 2004) Các nghiên cứu này đã nhấn mạnh về sự cần thiết để nghiên cứu vấn đề căng thẳng quốc gia như là tiền thân của tính vị chủng, bởi vì chúng có thể có liên quan với nhau (Klein et al., 1998; Shankarmahesh, 2006) Như vậy, tình trạng căng thẳng quốc gia là một yếu tố quan trọng để xem xét khi nghiên
Không sẵn lòng mua
Đánh giá sản phẩm Tính vị chủng
Căng thẳng
kinh tế
Trang 34cứu đánh giá của người tiêu dùng đối với các sản phẩm nước ngoài, đặc biệt là nó
có thể làm gia tăng tính vị chủng của người tiêu dùng (Nijssen & Douglas, 2004)
Vì vậy, giả thuyết H1 có thể được phát biểu như sau:
H1: Tình trạng căng thẳng kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam càng cao thì
sẽ làm tăng tính vị chủng của người tiêu dùng Việt Nam
2.3.2.2 Tính vị chủng và đánh giá sản phẩm
Tính vị chủng của người tiêu dùng là những niềm tin, quan niệm sẵn có về sự đúng đắn và phù hợp về đạo đức trong việc mua hàng nước ngoài ( Shimp & Sharma 1987; Shimp & Shin, 1995) Khái niệm này có các đặc điểm sau: Một là kết quả của lòng yêu nước và sự lo ngại mất khả năng kiểm soát các lợi ích kinh tế của quốc gia mình do các tác động xấu của việc nhập khẩu mang đến; Hai là tạo ra tâm niệm không mua hàng ngoại Đối với người có tính vị chủng cao, việc mua hàng ngoại không chỉ đơn thuần là vấn đề về kinh tế mà nó còn mang giá trị đạo đức, không mua hàng ngoại là yêu nước, là hành vi đúng đắn; trái lại mua hàng ngoại là không đúng đắn, là đi ngược lại với lợi ích quốc gia; Ba là dẫn đến định kiến chống lại việc nhập khẩu Do đó kết quả của tính vị chủng là sự đánh giá thiên vị, nâng cao hàng nội và hạ thấp hàng ngoại, luôn ưu tiên hàng nội và không sẵn lòng mua hàng ngoại Người có tính vị chủng càng cao thì càng đánh giá thấp hàng ngoại (Klein et
al, 1998) Kết quả đánh giá thiên vị đó góp phần hỗ trợ trực tiếp làm gia tăng thái độ bài xích (nên việt hóa) hàng ngoại Vì vậy, giả thuyết H2 có thể được phát biểu như
sau:
H2: Người tiêu dùng Việt Nam có tính vị chủng càng cao thì họ sẽ đánh giá hàng hóa Trung Quốc càng thấp
2.3.2.3 Căng thẳng kinh tế và đánh giá sản phẩm
Người tiêu dùng có thể nhận thấy rằng sản phẩm xuất xứ của một quốc gia nào đó
có chất lượng, nhưng do sự căng thẳng với quốc gia giữa quốc gia của họ và một quốc gia khác sẽ phần nào ảnh hưởng đến việc đánh giá sản phẩm của họ đối với hàng hóa sản phẩm quốc gia khác Nghiên cứu của Rose et al (2009) chỉ ra rằng sự
Trang 35căng thẳng quốc gia có ảnh hưởng tiêu cực đến sự đánh giá phẩm của quốc gia khác
Thời gian gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin việc Trung Quốc làm loạn giá nông sản tại Việt Nam hoặc các công trình được nhà thầu Trung Quốc thi công như: đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông bị chậm tiến độ, đội vốn không đảm bảo an toàn lao động Những sự kiện kinh tế này có thể gây tiêu cực đến
sự đánh giá hàng hóa Trung Quốc của người tiêu dùng Việt Nam Nghiên cứu này nhằm kiểm định sự tác động của yếu tố căng thẳng kinh tế lên sự đánh giá hàng hoá Trung Quốc Vì vậy, giả thuyết H3 có thể được phát biểu như sau:
H3: Tình trạng căng thẳng kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam càng cao thì người tiêu dùng Việt Nam sẽ đánh giá hàng hóa Trung Quốc càng thấp
2.3.2.4 Đánh giá sản phẩm và Không sẵn lòng mua
Nguồn gốc xuất xứ của một sản phẩm đã lý giải được những ý niệm định kiến của khách hàng về sản phẩm của quốc gia đó ((Nakos & Hajidimitriou, 2007) Theo Maheswaran (2006) chỉ ra rằng nhận thức tích cực về một quốc gia dẫn đến sự thuận lợi hơn trong việc đánh giá hàng hoá và dịch vụ của quốc gia đó Nghiên cứu của Nijssen & Douglas (2004) cho thấy có sự tương quan nghịch biến giữa việc đánh giá sản phẩm nước ngoài và sự miễn cưỡng mua hàng hóa nước ngoài hoặc nghiên cứu của Rose et al (2009) cũng chỉ ra rằng việc đánh giá tích cực/tiêu cực sẽ ảnh hưởng tích cực/tiêu cự đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng giữa các nhóm văn hóa khác nhau Vì vậy, giả thuyết H4 có thể được phát biểu như sau:
H4: Người tiêu dùng Việt Nam đánh giá hàng hóa Trung Quốc càng cao thì sự không sẵn lòng mua của họ càng thấp
2.3.2.5 Căng thẳng kinh tế và sự Không sẵn lòng mua
Nhìn chung, phần lớn những nghiên cứu trước đây đã khám phá ra rằng sự căng thẳng quốc gia (cụ thể là căng thẳng kinh tế) có tác động tiêu cực đến sự sẵn lòng mua của khách hàng trong quốc gia này đối với sản phẩm của quốc gia có tình trạng căng thẳng (Klein et al., 1998; Nijssen & Douglas, 2004; Ettensen & Klein, 2005)
Vì vậy, giả thuyết H5 có thể được phát biểu như sau:
Trang 36H5: Tình trạng căng thẳng kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam càng cao thì
sự không sẵn lòng mua hàng hóa Trung Quốc của người tiêu dùng Việt Nam càng cao
2.3.2.6 Tính vị chủng và Không sẵn lòng mua
Klein và Ettensen (1999) cho rằng tính vị chủng người tiêu dùng góp phần vào xu hướng tránh mua các sản phẩm nước ngoài nói chung của người tiêu dùng Tính vị chủng được mô tả như là một liên kết giữa các chuẩn mực xã hội, đạo đức và hành
vi của người tiêu dùng, trong khi tình trạng thù địch là một yếu tố nhấn mạnh đến
sự gắn bó tình cảm của người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý của sản phẩm Người tiêu dùng có tính vị chủng thường tin rằng việc mua sản phẩm nước ngoài sẽ làm tổn thương nền kinh tế trong nước và việc làm của quốc gia mình (Shimp & Sharma, 1987; Balabanis et al., 2002) Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy tính vị chủng có tác động tiêu cực đến sự sẵn lòng mua hàng ngoại nhập và tích cực đến sự sẵn lòng mua hàng nội của người tiêu dùng (Shimp & Sharma, 1987) Vì vậy, giả thuyết H6 có thể được phát biểu như sau:
H6: Tính vị chủng của người tiêu dùng Việt Nam càng cao thì sự không sẵn lòng mua hàng hóa Trung Quốc của người tiêu dùng Việt Nam càng cao
2.3.2.7 Yếu tố nhân khẩu học
Trình độ học vấn là một trong những yếu tố cá nhân được xem là có ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng Trình độ học vấn khác nhau cũng tạo ra các nhu cầu rất khác nhau trong hành vi tiêu dùng (Kotler & Armstrong, 2004) Vì vậy, nghiên cứu này sẽ đề xuất tìm hiểu sự khác biệt giữa ảnh hưởng của các yếu tố căng thẳng quốc gia, tính vị chủng, đánh giá sản phẩm lên không sẵn lòng mua của người tiêu dùng Việt Nam đối với hàng hóa Trung Quốc ứng với nhóm nhân khẩu học là trình
độ học vấn Vì vậy, giả thuyết H7 có thể phát biểu như sau:
H7: Có sự khác biệt giữa các nhóm trình độ học vấn về mức độ tác động của các yếu tố căng thẳng kinh tế, tính vị chủng, đánh giá sản phẩm lên không sẵn lòng mua của người tiêu dùng Việt Nam đối với hàng hóa Trung Quốc
Trang 37Sau các giả thuyết nêu trên mô hình nghiên cứu sau đây được hình thành với tổng hợp các giả thuyết như sau:
Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu chính thức với các giả thuyết
H1: Tình trạng căng thẳng kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam càng cao thì sẽ làm tăng tính vị chủng của người tiêu dùng Việt Nam
H2: Người tiêu dùng Việt Nam có tính vị chủng càng cao thì họ sẽ đánh giá hàng hóa Trung Quốc càng thấp
H3: Tình trạng căng thẳng kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam càng cao thì người tiêu dùng Việt Nam sẽ đánh giá hàng hóa Trung Quốc càng thấp
H4: Người tiêu dùng Việt Nam đánh giá hàng hóa Trung Quốc càng cao thì sự không sẵn lòng mua của họ càng thấp
H5: Tình trạng căng thẳng kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam càng cao thì sự không sẵn lòng mua hàng hóa Trung Quốc của người tiêu dùng Việt Nam càng cao H6: Tính vị chủng của người tiêu dùng Việt Nam càng cao thì sự không sẵn lòng mua hàng hóa Trung Quốc của người tiêu dùng Việt Nam càng cao
H7: Có sự khác biệt giữa các nhóm trình độ học vấn về mức độ tác động của các yếu tố căng thẳng kinh tế, tính vị chủng, đánh giá sản phẩm lên không sẵn lòng mua của người tiêu dùng Việt Nam đối với hàng hóa Trung Quốc
Đánh giá sản phẩm
Tính vị
chủng
Căng thẳng
kinh tế
Trang 382.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương 2 đã giới thiệu và trình bày lý thuyết nền, cơ sở lý thuyết các khái niệm như: Tính vị chủng, căng thẳng kinh tế, đánh giá sản phẩm và sự không sẵn lòng mua Tóm tắt các nghiên cứu trước đó về căng thẳng quốc gia ảnh hưởng đến sự sẵn lòng mua hàng hóa ngoại nhập của người tiêu dùng Từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết
Trang 39Chương 2 đã trình bày cơ sở lý thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu Trong chương 3 này sẽ trình bày: (1) Quy trình nghiên cứu, (2) Thiết kế nghiên cứu, (3) Thiết kế thang đo, (4) Thiết kế mẫu, (5) Kỹ thuật phân tích số liệu và (6) Trình bày kết quả nghiên cứu định tính sơ bộ
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Quy trình nghiên cứu được kế thừa và hiệu chỉnh từ quy trình nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và cộng sự (2003) được trình bày trong Hình 3.1:
Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng mô hình lý thuyết thể hiện
mối quan hệ giữa các yếu tố: Tính vị
chủng, đánh giá sản phẩm và sự căng
thẳng quốc gia đối với sự sẵn lòng mua
hàng hoá ngoại nhập.
- Kiểm định mối quan hệ giữa các yếu
tố tính vị chủng, căng thẳng quốc gia
- Giả thuyết về các mối quan hệ tính vị chủng, căng thẳng quốc gia, đánh giá sản phẩm và không sẵn lòng mua.
Đề xuất mô hình nghiên cứu
Thang đo sơ bộ Khảo sát định tính sơ bộ
Hiệu chỉnh Thang đo chính thức
Thống kê mô tả Kiểm tra độ tin cậy của
thang đo
Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Phân tích nhân tố khẳng định (CFA)
Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)
Nghiên cứu định lượng
Kết luận - Kiến nghị
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
Trang 403.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai bước chính, đó là: nghiên cứu sơ bộ (định tính) và nghiên cứu chính thức (định lượng)
3.2.1 Nghiên cứu sơ bộ
Nghiên cứu sơ bộ trong nghiên cứu này được thực hiện thông qua phương pháp nghiên cứu định tính Những thông tin thu thập được từ nghiên cứu sơ bộ định tính được sử dụng nhằm mục đích khám phá, hiệu chỉnh và bổ sung các khái niệm/yếu
tố
Nghiên cứu định tính trong nghiên cứu này đã được thực hiện với với hai nhóm đối tượng người tiêu dùng, mỗi nhóm gồm 5 người tiêu dùng đã có tìm hiểu hoặc đã sử dụng sử dụng sản phẩm Trung Quốc Tất cả các ý kiến trong quá trình thảo luận nhóm đều đã được ghi lại làm cơ sở để xem xét khám phá, bổ sung và hiệu chỉnh các thang đo
Sau hai lần phỏng vấn nhóm ta xây dựng bảng câu hỏi nháp Từ bảng câu hỏi nháp, nghiên cứu tiến hành khảo sát thử khoảng 20 đối tượng người tiêu dùng ngẫu nhiên
để khám phá, bổ sung và hiệu chỉnh lần nữa, để ra thang đo và bảng câu hỏi chính thức Sau đó sẽ tiến hành triển khai thu thập dữ liệu nghiên cứu chính thức
3.2.2 Nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định lượng trong nghiên cứu này được thực hiện với kỹ thuật thu thập
dữ liệu từ người tiêu Việt Nam dùng thông qua bảng câu hỏi Dữ liệu thu thập được
từ nghiên cứu chính thức định lượng được sử dụng để đánh giá độ tin cậy của các thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) cùng các giả thuyết đã đề ra và phân tích cấu trúc đa nhóm