1. Trang chủ
  2. » Kinh tế – đầu tư

Chính sách văn hóa và một số vấn đề trong bảo đảm các quyền về văn hóa ở Việt Nam

11 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 415,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tư tưởng, đạo đức, lối sống, đời sống văn hóa: hướng mọi hoạt động văn hóa vào việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ[r]

Trang 1

CHÍNH SÁCH VĂN HOÁ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG BẢO ĐẢM CÁC QUYỀN VỀ VĂN HOÁ Ở VIỆT NAM

Nguyễn Anh Đức - Vũ Công Giao

Người Việt nhìn chung đều tự hào với nền văn hóa hơn bốn ngàn năm và luôn sẵn sàng hi sinh nhiều thứ để gìn giữ và phát triển nền văn hóa đó Thế nhưng, đứng trước câu hỏi “văn hóa là gì” hay “thế nào là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, thì không có nhiều người có thể đưa ra được câu trả lời thỏa đáng Bởi lẽ, “văn hóa” là khái niệm vừa trừu tượng nhưng vẫn cụ thể, vừa giản dị nhưng cũng phức tạp, vừa có tính lí luận sâu sắc nhưng vẫn mang đậm nét thực tiễn bình dân Do đó, khi bàn về văn hóa nói chung hay từng khía cạnh cụ thể của văn hóa, cần tính đến tính đa dạng, đa chiều của vấn đề

Trong phạm vi bài viết này, các tác giả khái quát hoá và xem xét, đánh giá những chủ trương, chính cách bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa của nhà nước Việt Nam qua một số thời kỳ Chúng tôi cho rằng, việc xây dựng và thực hiện chính sách về văn hóa của một quốc gia chịu tác động từ nhiều yếu tố khác nhau, vì thế một số giá trị văn hóa được khuyến khích trong từng thời điểm nhất định không có nghĩa rằng giá trị đó nên được khuyến khích ở các thời điểm khác Ngược lại, một

số giá trị văn hoá đã từng bị rời bỏ trong chính sách của nhà nước ở một thời kỳ nào

đó thì cũng không có nghĩa chúng sẽ luôn cần lãng quên

1 Khái niệm chính sách văn hoá và các quyền về văn hoá

Trong khi định nghĩa và nội hàm của phạm trù “văn hóa” hiện vẫn còn đang được tranh luận, thì khái niệm “chính sách văn hóa” (hay chính xác hơn là “(các) chính sách về văn hóa”) tỏ ra dễ hiểu và dễ được đồng thuận hơn, bởi nội hàm chính của khái niệm này là “chính sách” Theo cuốn Việt Nam tự điển, “chính sách” được hiểu tương đối hẹp theo nghĩa ám chỉ những “phương sách về chính trị”430 – tức là những phương sách về “việc thi hành chủ quyền trong một nước”431 Cách hiểu này hẹp ở chỗ chỉ gắn với các chủ thể công quyền mà không coi chính sách là việc thực thi những chủ trương, đường lối, quan điểm của các chủ thể tư nhân (như trong các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, thậm chí là của từng gia đình hay mỗi cá nhân) Dựa trên nền tảng đó, các luận bàn và giải nghĩa chính thức sau này về khái niệm “chính sách” cũng đều coi đó là công việc thuộc đặc quyền của các chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước432.Chính vì quan niệm coi “chính sách” là đặc quyền của chủ thể đang nắm giữ quyền lực công, khiến cho những giải thích về khái niệm này trong một số ngành khoa học cũng không thoát khỏi được tính chính trị Ngay cả một công trình

430 Hội Khai trí Tiến đức khởi thảo (1954), Việt Nam tự điển, NXB Văn Mới, tr.129

431 Hội Khai trí Tiến đức khởi thảo (1954), Việt Nam tự điển, NXB Văn Mới, tr.129

432 Xem thêm: Lê Văn Đức (1970), Tự điển Việt Nam, nhà in Văn Hữu, Sài Gòn, tr.296; Đào Duy Anh, Hán

Việt từ điển giản yếu, NXB Văn hóa thông tin in năm 2009, tr 120;Nguyễn Bá Hưng (2013), Từ điển từ ngữ gốc Hán trong tiếng Việt hiện đại, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tr.113

Trang 2

khoa học điển hình nhất về lĩnh vực này, cuốn giáo trình Khoa học chính sách của Đại học KHXH&NV Hà Nội với sự tham gia biên soạn của những “cây đại thụ” về khoa học luận ở Việt Nam, dù đã cố gắng cung cấp nhiều cách tiếp cận khác nhau

về khái niệm chính sách, nhưng hầu hết các cách tiếp cận đó vẫn được diễn giải thông qua những việc làm của chính quyền – nghĩa là cũng không thoát ra khỏi tính quyền lực-chính trị433

Tuy nhiên, ngoài cách hiểu chính như vậy, trong thực tế còn có cách hiểu rộng hơn về chính sách Ví dụ, trong cuốn từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ

biên, chính sách được xem là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích

nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”434 Điều này có nghĩa là các chủ thể không nắm quyền chính trị vẫn có thể dựa trên đường lối chính trị chung mà đề ra chính sách Không những thế, một số chủ thể đặc biệt trong xã hội lại càng cần khuếch trương chính sách riêng, bao gồm cả những chủ trương và đường lối có mục đích kiềm chế sự lạm quyền của nhà nước (như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) Cách hiểu này tiệm cận hơn với quan điểm phổ biến trên thế giới Ví dụ, trong tiếng Anh, khái niệm “policy” được định nghĩa không chỉ gồm các nguyên tắc, đường lối chung của chính quyền) như những viện dẫn trong giáo trình Khoa học chính sách435

Với sự phức tạp và đa dạng của khái niệm “văn hóa”, chúng tôi cho rằng cần hiểu khái niệm chính sách theo định nghĩa rộng ở trên Điều đó giúp tránh được tâm thế coi nhà nước là chủ thể “độc quyền” trong việc xây dựng và thi hành các chính sách nói chung436, chính sách về văn hóa nói riêng Thậm chí, nhà nước đôi khi cũng cần học tập/nghiên cứu để áp dụng những chính sách về văn hóa đã được thực nghiệm bởi các chủ thể tư nhân mà có lợi cho quốc kế dân sinh Tóm lại, có thể hiểu

khái niệm “chính sách văn hóa” là: những quan điểm, chủ trương và kế hoạch hành

động có tính chất định hướng nhằm duy trì, thúc đẩy hoặc kiềm chế các hành vi và hoạt động văn hóa

Cũng bởi sự trừu tượng của “văn hóa”, cho nên việc nêu ra và phân định “các quyền về văn hóa” cũng chỉ mang tính chất tương đối Bởi lẽ việc thực hiện và bảo đảm bất cứ quyền nào của con người cũng đều nhằm mục tiêu lớn nhất và sau cùng là phát triển con người mà bao gồm tổng thể các giá trị văn hóa ở mọi khía cạnh của đời sống cá nhân Nhưng để đảm bảo cho việc bình luận không quá sa đà vào những vấn

đề ít liên quan, các tác giả sử dụng cách tiếp cận của giáo trình Lý luận và pháp luật

về quyền con người do Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội biên soạn437 Theo đó, quyền văn hoá tập trung vào hai quyền cơ bản là: quyền giáo dục; quyền tham gia vào đời sống văn hóa và được hưởng các thành tựu của khoa học Dựa trên tinh thần chung của

433Xem:Vũ Cao Đàm chủ biên (2011), Giáo trình Khoa học chính sách, NXB ĐHQG Hà Nội, tr.18-29

434 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng,tr.163

435 Xem: Vũ Cao Đàm chủ biên (2011), Giáo trình Khoa học chính sách, NXB ĐHQG Hà Nội, tr.18-19

436Xem: Đinh Dũng Sỹ (2008), Chính sách và mối quan hệ giữa chính sách với pháp luật trong hoạt động

lập pháp, https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/09/16/1673/ (truy cập 23/6/2019)

437 Ấn phẩm được tái bản năm 2015 bởi NXB Chính trị quốc gia, tr.198

Trang 3

pháp luật nhân quyền quốc tế coi nhà nước là chủ thể đầu tiên và quan trọng nhất trong việc bảo đảm các quyền con người, chúng tôi cho rằng việc bảo đảm các quyền

văn hóa là: chức trách của nhà nước phải làm các công việc nhằm hiện thực hóa và

ngày càng nâng cao khả năng thụ hưởng các quyền về văn hóa của công dân Theo

đó, những công việc nhà nước phải làm cơ bản bao gồm: định hướng và thể chế hóa trong pháp luật về những chuẩn mực, yêu cầu thực thi các quyền về văn hóa; xây dựng các thiết chế, thể chế để triển khai và thực hiện những nhiệm vụ cụ thể; xây dựng cơ chế bảo vệ quyền khỏi những xâm phạm trên thực tế

Nói cách khác, xây dựng chính sách về văn hóa là một phần công việc không tách rời của chức năng bảo đảm các quyền về văn hóa Việc xây dựng chính sách có

ý nghĩa căn bản, làm cơ sở/nền tảng/tiền đề cho việc triển khai các biện pháp cụ thể trong quá trình bảo đảm các quyền về văn hóa Đồng thời, thực tiễn thi hành lại giúp kiểm chứng, rà soát và điều chỉnh các chính sách Trong quá trình đó, nhà nước là chủ thể chính yếu gánh vác sứ mệnh xây dựng chính sách và hiện thực hóa các chính sách thông qua các cơ chế lập pháp, hành pháp và tư pháp Vì thế, trong những phần tiếp theo của bài viết này các tác giả chỉ giới hạn vào xem xét việc xây dựng chính sách và bảo đảm các quyền về văn hóa bởi nhà nước

2 Khái quát chính sách văn hoá ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

Kể từ khi lập quốc, các nhà nước quân chủ ở Việt Nam đã chú trọng tới việc duy trì những giá trị riêng có của dân tộc, trong đó thể hiện rõ nhất qua hai dấu hiệu

là chính sách xây dựng luật pháp và chính sách giáo dục Về xây dựng luật pháp, cả hai đạo luật điển hình của thời kỳ quân chủ ở Việt Nam là Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt Luật lệ đều chỉ thiết lập các quy tắc nhằm ngăn chặn hành vi xâm hại đến trật tự công trong khi “nhường” lại việc đặt định các quy tắc hành xử “dân sự” cho cộng đồng Chính sách căn bản này thể hiện trực tiếp khi ban bố luật (như trong phần mở đầu của Lê triều giáo hóa điều luật - Bộ bốn mươi bảy điều dạy dân dưới triều Lê, hay như trong lời tựa của vua Gia Long khi ban bố Hoàng Việt Luật lệ) và

đã tạo được không gian cho năng lực tự chủ của cộng đồng trong việc xác định và gìn giữ các lề thói truyền thống Không chỉ vậy, thực tiễn sinh động về sự tồn tại và phát triển của hệ thống các hương ước – lệ làng của nhiều cộng đồng, làng xã khác nhau đã cho thấy chính sách xây dựng pháp luật dưới thời kỳ quân chủ phần nào coi trọng tính đa dạng của các phép tắc chứ không cố áp đặt quan điểm, nhận thức, quy tắc của nhà cầm quyền đối với xã hội Có lẽ chính nhờ thế mà sự thiếu hụt trầm trọng của hệ thống giáo dục cũng không ảnh hưởng nhiều lắm đến khả năng duy trì, gìn giữ và phát triển các giá trị văn hóa cộng đồng ở các địa phương

Bên cạnh chính sách gián tiếp tác động đến văn hóa như vậy, các chính quyền quân chủ cũng chú trọng đến việc giáo dục, mà một phần cũng nhằm mục đích cải biến những lề thói hủ lậu, không phù hợp Tuy nhiên, việc giáo dục ở thời

kỳ này chủ yếu tìm kiếm và đào tạo người tài nhằm phục vụ cho nhu cầu cai trị, chứ

Trang 4

chưa chủ tâm nâng cao dân trí Chính vì thế mà Lê Quý Đôn đã nhận xét rằng:

“Nước ta là một nước văn hiến, trên vua, dưới bầy tôi và thứ dân đều có trước

thuật, vậy mà tổng số các sách vở còn để lại không quá trăm bộ, so với số sách của Trung Hoa, mười phần không được một”438 Trong số ba nguyên nhândẫn đến thực

trạng đó thìnguyên nhân quan trọng nhất đó là “tâm lí các nhà nho chỉ chuyên về lối

học từ chương, ít chú trọng đến các sách không liên quan đến khoa cử”439 nên khi

xã hội biến loạn thì chẳng mấy ai quan tâm đến việc lưu giữ sách vở Nhìn chung, chính sách giáo dục và khoa cử lúc này có phần ngược với chính sách lập pháp, ở chỗ chỉ chú trọng duy trì các lợi ích và chế độ quân chủ mà rất hạn chế cho phép tính tự chủ

Đến thời kỳ thuộc địa, theo cách phân thành hai thời kỳ của Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đình Thi thì mỗi thời kỳ đều có những nét đặc trưng Thời kỳ đầu (từ khi thực dân Pháp đặt được ách đô hộ lên nước ta đến khi nổ ra Thế chiến 2), thực dân Pháp thi hành các chính sách văn hóa kỳm hãm về giáo dục, báo chí cũng như học thuật và tư tưởng, nhưng đồng thời cũng cho du nhập một phần những “giá trị khai sáng” để chứng tỏ rằng nền bảo hộ là cần thiết440 Tuy nhiên, những giá trị văn hóa thực sự của nhân loại mà có ảnh hưởng đến khả năng cai trị hay mâu thuẫn với chính sách thực dân thì sẽ bị thực dân Pháp lược bỏ một cách tinh vi Thời kỳ thứ hai (từ khi Thế chiến 2 nổ ra cho đến khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công), Pháp và Nhật cùng hiện diện trên đất nước Việt Nam Chính sách thực dân

và phát xít cùng lúc thể hiện rõ hơn, đặc biệt kể từ sau khi Pháp thất bại trước phát xít Đức, trong đó chú trọng tuyên truyền và nhồi nhét tư tưởng nô dịch phục tùng cho “mẫu quốc” Song song với chính sách nhồi sọ, thực dân Pháp cũng khéo léo lợi dụng chính sách giáo dục “mở” để thúc đẩy việc tìm hiểu, nghiên cứu về các anh hùng trong lịch sử của người Việt Việc này không phải để khơi gợi tinh thần tự chủ của người Việt mà để chủ tâm kích động mâu thuẫn Hoa – Việt nhằm ngăn cản mối

đe dọa đối với đế chế thực dân – phát xít Đó có thể cũng là lí do khiến sử học Việt Nam cho tới nay có nhiều tư liệu về chống xâm lược phương Bắc hơn tư liệu về những cuộc chiến khác Do đó, cùng với đấu tranh giành độc lập về chính trị và kinh tế, Đảng Cộng sản Đông Dương đưa ra Đề cương về cách mạng văn hóa coi đây như một mặt trận, một động lực và mục tiêu của cuộc kháng chiến Đề cương

khẳng định tính dân tộc của văn hóa nhằm chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc

địa, chấn hưng tinh thần dân tộc, chống tư tưởng tự ti dân tộc và miệt thị văn hóa

dân tộc; xác định rõ tính đại chúng nhằm chống mọi chủ trương, hành động làm cho

văn hóa phản lại đông đảo quần chúng, hoặc xa rời đông đảo quần chúng nhân dân;

và tính khoa học để hướng dẫn các hoạt động văn hóa mới Việt Nam biết kế thừa,

438 Xem: Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử, quyển 1 - tập 1, Sài Gòn – 1973, tr.103

439 Tlđd, tr.103

440Xem: Nguyễn Hữu Đang (1945), Một nền văn hóa mới, Hà Nội, tr.8

Trang 5

tiếp thu có chọn lọc những giá trị tốt đẹp trong các dòng văn hóa kim, cổ, đông, tây,

có giá trị thúc đẩy tính tích cực441

Sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà được thành lập (1945), chính quyền đã sớm chú trọng tới việc thực thi các chính sách về văn hóa Trong đó điển hình nhất phải kể đến chính sách giáo dục thông qua chương trình bình dân học vụ nhằm nâng cao dân trí Ở giai đoạn này, mặc dù cả Pháp và Việt Nam Dân chủ cộng hòa đều cố gắng sử dụng Nho giáo làm nền tảng trong các chính sách về văn hóa, nhưng trong khi người Pháp cố ý cổ xúy cho vai trò của vua quan phong kiến nhằm duy trì trật tự của nền quân chủ vốn đã rệu rã, thì Việt Nam Dân chủ cộng hòa lại chủ yếu cổ động ý thức tự giác và năng lực cá nhân của từng người Việt trong việc giành độc lập dân tộc cũng như kiến thiết quốc gia Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 2 năm 1951 đã thông qua Chính cương với 15 chính sách về các lĩnh vực, trong đó, chính sách về văn hóa, giáo dục đã chủ trương bài trừ những di sản vǎn hoá giáo dục thời thực dân và phong kiến; tiếp tục khẳng định chủ trương phát triển nền vǎn hoá giáo dục có tính dân tộc – khoa học – đại chúng kế thừa Đề cương văn hóa 1943 nhằm đào tạo con người mới và cán bộ mới để đẩy mạnh kháng chiến kiến quốc Các chính sách cụ thể bao gồm: (1) Thủ tiêu nạn mù chữ, cải cách chế độ giáo dục, mở mang các trường chuyên nghiệp; (2) Phát triển khoa học, kỹ thuật và vǎn nghệ nhân dân; (3) Phát triển tinh hoa của vǎn hoá dân tộc, đồng thời học tập vǎn hoá Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân khác; (4) Phát triển vǎn hoá dân tộc thiểu số Ngoài ra còn một số chính sách khác có liên quan như: chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, bài trừ mọi hành động gây hằn thù, chia rẽ giữa các dân tộc; Không xúc phạm đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số, làm cho các dân tộc ấy tự giác cải cách tuỳ theo điều kiện của họ; Giúp đỡ các dân tộc thiểu số tiến bộ về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, vǎn hoá, Liên tiếp sau đó tới Đại hội Đảng lần thứ 7, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước vẫn là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa, nhằm tạo ra “con người mới xã hội chủ nghĩa” với nền tảng là thế giới quan

Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh Đường lối và mục tiêu của chính sách văn hoá được Đảng xác định cụ thể như sau:“Kế thừa và phát huy những

truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính

và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao Chống tư tưởng, văn hoá phản tiến bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội Xây dựng nền văn hoá mới, tạo ra một đời sống tinh

441 Phạm Văn Nhuận (2013), Đề cương văn hóa Việt Nam 1943: Xây dựng bản sắc văn hóa quân sự Việt

Nam hiện nay, tạp chí Cộng sản điện tử,

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/truyenthong-hientai/2013/21885/De-cuong-van-hoa-Viet-Nam-nam-1943-Xay-dung-ban-sac.aspx

Trang 6

thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ Phát

huy vai trò văn học, nghệ thuật trong việc nuôi dưỡng, nâng cao tâm hồn Việt Nam Khẳng định và biểu dương những giá trị chân chính, bồi dưỡng cái chân, cái thiện, cái mỹ theo quan điểm tiến bộ, phê phán những cái lỗi thời, thấp kém Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin đa dạng, nhiều chiều, kịp thời, chân thực và bổ ích” 442

Một bước tiến quan trọng trong chính sách về văn hóa là Nghị quyết 03 được thông qua tại Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa 8 (1998) về xây dựng

và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đây có thể coi

là chính sách vĩ mô có mức độ toàn diện nhất về văn hóa kể từ khi lập quốc Trong Nghị quyết nêu ra 5 quan điểm cơ bản trong chính sách văn hóa, 10 nhiệm vụ cụ thể

và bốn giải pháp lớn Đây là những định hướng có ảnh hưởng quyết định đến các chính sách về văn hóa ở nước ta hiện nay bởi đã thể hiện quan niệm rộng hơn, toàn diện hơn, bao quát hơn về văn hóa, về văn hóa và phát triển, về di sản văn hóa, về bản sắc, đặc trưng văn hóa Việt Nam, về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam

Các quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp lớn về phát triển nền văn hoá Việt Nam được thể hiện trong Nghị quyết nêu trên có thể tóm lược như sau:

- Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực

thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Như vậy, từ chỗ coi kinh tế là nền tảng của

văn hóa (theo Đề cương văn hóa 1943443), chính sách thời kỳ này đã xác định văn hóa là điều kiện, động lực thúc đẩy sự phát triển của hạ tầng cơ sở Điều đó cho thấy sự nhìn nhận khách quan hơn về bản chất và vai trò của văn hóa đối với xã hội

- Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản

sắc dân tộc Yếu tố tiên tiến ở đây được giải thích không chỉ về nội dung tư tưởng

mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung mà cốt lõi là lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên cơ sở những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm Đồng thời phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ

- Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng

đồng các dân tộc Việt Nam Bởi Việt Nam có sự hiện diện của hơn 50 dân tộc

khác nhau mà mỗi dân tộc đều có những giá trị và sắc thái văn hoá riêng Những giá trị của mỗi dân tộc bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hoá thống nhất của Việt Nam

- Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh

442 Cương lĩnh của Đảng tại Đại hội 7 năm 1991

443 Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, tr.316

Trang 7

đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng Ở đó, vai trò lãnh đạo của

Đảng thể hiện thông qua đường lối, chính sách bảo tồn và khuyến khích sáng tạo văn hóa ở mọi cá nhân, tổ chức nhằm tạo cho được thành phong trào đại chúng Nhưng về cơ bản vẫn cần có vai trò đóng góp tiên phong của đội ngũ trí thức trong việc nghiên cứu, phát hiện và phát triển các giá trị văn hóa

- Văn hoá là một mặt trận; xây dựng, phát triển văn hoá là một sự nghiệp

cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng

Trong công cuộc đó, xây dựng cái mới phải đi liền với chống các biểu hiện tha hóa/chống lại những lề thói không phù hợp và từng bước vun đắp nên những giá trị mới hướng đến chân - thiện - mỹ

3 Chính sách văn hoá của Nhà nước Việt Nam hiện nay và tác động đến việc bảo đảm các quyền văn hóa

Mặc dù Đảng Cộng sản Việt Nam có chủ trương gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển kinh tế vì mục tiêu văn hóa, vì sự phát triển con người Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy thành quả trong lĩnh vực văn hóa còn chưa tương xứng với những thành quả trên các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Thậm chí có những nơi, những lĩnh vực nhất định còn chứng kiến sự suy thoái nghiêm trọng của các giá trị văn hoá Điều đó đặt ra nhu cầu hoàn thiện cả về lí luận và thực tiễn thi hành các chính sách văn hóa

Về thực tiễn, trên nền tảng những chính sách đã nêu mà điển hình là Nghị quyết 03 tại hội nghị TƯ 5 khóa 8, Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 nhằm

cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển văn hóa, xác lập những mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu; là cơ sở hoạch định quy hoạch, kế hoạch để từng bước thực hiện việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Phạm vi của Chiến lược phát triển văn hóa bao gồm những lĩnh vực chủ yếu sau đây:

- Tư tưởng, đạo đức, lối sống, đời sống văn hóa: hướng mọi hoạt động văn hóa vào việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo; tuân thủ pháp luật; có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình, lối sống văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội, làm cho văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; gắn kết mối quan hệ giữa văn hóa

và xây dựng môi trường văn hóa với vấn đề hình thành nhân cách

- Di sản văn hóa: tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các

Trang 8

giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc, vừa phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, bản sắc độc đáo của văn hóa các dân tộc anh em, vừa kiên trì củng cố và nâng cao tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam, tập trung xây dựng những giá trị văn hóa mới, đi đôi với việc mở rộng và chủ động trong giao lưu quốc tế, tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc, bắt kịp sự phát triển của thời đại

- Văn học, nghệ thuật: giải phóng mạnh mẽ năng lực và tiềm năng sáng tạo của mọi người, phát huy cao độ tính sáng tạo của trí thức, văn nghệ sĩ; đào tạo tài năng văn hóa, nghệ thuật; tạo cơ chế, chính sách và cơ sở vật chất để có nhiều sản phẩm văn hóa, nghệ thuật chất lượng cao xứng tầm với dân tộc và thời đại; nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về lý luận và thực tiễn việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

- Giao lưu văn hóa với thế giới: Tăng cường và nâng cao chất lượng hoạt động thông tin đối ngoại Tiếp tục tăng thời lượng phát thanh, truyền hình, báo điện

tử ra nước ngoài, đưa nhiều thông tin và sản phẩm văn hóa có nội dung tốt đến đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế việc giao lưu, hợp tác văn hóa không chỉ thuần túy vì mục đích phát triển văn hóa, mà thông qua đó, mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác Cần chủ động đón nhận các cơ hội phát triển cũng như bản lĩnh vượt qua các thử thách để giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc, góp phần làm đa dạng, phong phú thêm nền văn hóa thế giới, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu thêm nền văn hóa Việt Nam, tiến kịp với thời đại Chú trọng ngăn chặn, loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực, mặt trái của toàn cầu hóa đối với văn hóa nước ta

- Thể chế và thiết chế văn hóa: Đặt mục tiêu hoàn chỉnh hệ thống các văn bản pháp luật và cơ chế, chính sách về văn hóa, nghệ thuật một cách toàn diện, đồng

bộ trên mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa bảo đảm phù hợp với những cam kết quốc tế; tạo được bước chuyển biến rõ rệt trong công tác cải cách hành chính, chấn chỉnh lề lối và đổi mới phương thức làm việc mà chú trọng đến phân cấp cụ thể trách nhiệm quản lý về văn hóa cho các địa phương; xây dựng đồng bộ và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa cộng đồng (phấn đấu đến năm 2015, 100% số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có đủ các thiết chế văn hóa; đến năm 2015 và 2020, 90 – 100% số quận, huyện, thị xã có nhà văn hóa và thư viện; 80 – 90% số xã, thị trấn có nhà văn hóa; 60 -70% số làng, bản, ấp có nhà văn hóa Xây dựng một số công trình văn hóa xứng tầm với thời đại tại Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn của cả nước)

Chiến lược này đã góp phần quan trọng trong việc hiện thực hóa những chủ trương, định hướng về văn hóa nêu tại Nghị quyết hội nghị TƯ 5 khóa 8, làm cơ sở

Trang 9

để nhìn nhận và đánh giá về những thuận lợi, thời cơ cũng như thách thức đang đặt

ra Trên cơ sở đó tiếp tục củng cố về mặt lí luận, nhận thức liên quan đến văn hóa

và chính sách văn hóa

Về mặt lí luận, Cương lĩnh năm 2011 trên cơ sở đã bổ sung, phát triển nhất

định về phương hướng phát triển văn hóa bảo đảm tính “toàn diện, thống nhất trong

đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ” và làm cho văn

hóa “trở thànhnền tảng tinh thần vững chắc,sức mạnh nội sinh quan trọng của phát

triển” Trên cơ sở đó, Nghị quyết 33 của Hội nghị TƯ 9 khóa 11 tiếp tục điều chỉnh

mục tiêu “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học” Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm là xác định và hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam Đây là một nhiệm vụ mới về lí luận nhưng cũng là yêu cầu thực tiễn cấp bách trong bối cảnh đời sống văn hóa có nhiều biến động tiêu cực như hiện nay đang không chỉ cản trở tiến trình xây dựng những giá trị văn hóa mới mà còn làm biến tướng và xói mòn những giá trị văn hóa, hoạt động văn hóa truyền thống444 Bên cạnh nhiệm vụ trọng tâm này, một chủ trương rất mới được quán triệt là phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam Chủ trương này tiếp tục được khẳng định ở Đại hội 12 của Đảng Ngay sau đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 102/NQ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 33 của Hội nghị TƯ 9 Theo đó đề ra mục tiêu đến 2030 sẽ hoàn thiện và phổ biến các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam; phát triển đồng bộ thị trường văn hóa và các ngành công nghiệp văn hóa; Hoàn thiện cải cách thể chế bảo đảm xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới Đây là những định hướng và mục tiêu tương đối “táo bạo”, thể hiện rõ quyết tâm cũng như năng lực hiện tại của nền văn hóa Việt Nam

Trên cơ sở những chính sách cơ bản về văn hóa như vậy, việc bảo đảm các quyền về văn hóa được thể hiện rõ ở các khía cạnh hoàn thiện hệ thống thể chế pháp

lí, củng cố các thiết chế thực thi quyền cũng như các cơ chế bảo vệ quyền khỏi những xâm phạm

Về khía cạnh thể chế, những nhận thức mới về văn hóa cũng như chính sách văn hóa đã tạo tiền đề quan trọng cho những cập nhật thể chế Trong đó, tiêu biểu phải kể đến sự tiệm cận của các quy tắc mới so với những chuẩn mực và tiêu chuẩn pháp lí quốc tế, đặc biệt là các công ước về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia Hiến pháp 2013 đã có những điều chỉnh điển hình ở các điều 40, 41, 60, 61, 62 trực tiếp ghi nhận các quyền về văn hóa cũng như chính sách bảo đảm các quyền này Đồng thời, quy định cơ chế phân cấp quản lí theo hướng trao quyền tự chủ

444

Xem thêm: Hồ Sỹ Quý (2017), Vấn đề lớn nhất của văn hóa Việt Nam hiện nay: Giả dối được coi là bình

thường, Văn hóa Nghệ An,

http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/van-de-lon-nhat-cua-van-hoa-viet-nam-hien-nay-gia-doi-duoc-coi-la-binh-thuong

Trang 10

nhiều hơn cho chính quyền địa phương trong thực thi các chính sách văn hóa, tạo điều kiện khuyến khích và thúc đẩy văn hóa từ cơ sở Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hoàn thiện thể chế, còn một số bất cập như việc xây dựng và phát triển văn hóa mới tiến hành chủ yếu trong lĩnh vực hoạt động văn hóa và còn mang nặng tính hình thức, chưa tác động sâu rộng và gắn bó chặt chẽ với các yếu tố kinh tế và chính trị, chưa mang lại hiệu quả rõ rệt đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội (nhất là về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong nhiệm vụ xây dựng con người thời kỳ mới), môi trường văn hóa còn có sự đan xen phức tạp nhưng thiếu những chuẩn mực được thừa nhận chung, thiếu những sản phẩm có giá trị cao và xuất hiện tư tưởng chạy theo xu hướng “thương mại hóa” các hoạt động văn hóa do thiếu cơ chế quản lí và iams sát phù hợp (đặc biệt là trong một bộ phận báo chí, xuất bản) Bên cạnh đó, tình trạng phân hóa trong hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền, các tầng lớp xã hội, vùng đồng bào dân tộc thiểu số xuất phát từ các quy định khá cứng nhắc

về vùng miền Để khắc phục tình trạng này, việc hoàn thiện thể chế pháp lí trong thời gian tới cần chú trọng tới xác định đúng vai trò quản lí vĩ mô của trung ương trao quyền và gắn trách nhiệm rõ ràng hơn nữa cho các địa phương Trong khi đó, cũng cần hoàn thiện các quy định pháp lí liên quan đến giám sát nhằm phòng ngừa tốt hơn những biểu hiện lợi dụng khung pháp lí cởi mở về “xã hội hóa” để làm bình phong cho trục lợi tư nhân và cấu kết lợi ích nhóm Đây là những thách thức truyền thống nhưng vẫn sẽ đặt gánh nặng với công tác hoàn thiện thể chế, đặc biệt trong bối cảnh triển khai chủ trương mới về phát triển công nghiệp văn hóa và sự xuất hiện của môi trường văn hóa mới trên không gian mạng

Về các thiết chế thực thi quyền, những năm qua hệ thống các thiết chế văn hóa đã không ngừng được đầu tư xây dựng Theo thống kê của Cục Văn hóa cơ sở đến năm 2016, hệ thống các thiết chế văn hóa đã được củng cố, tăng cường xây dựng và từng bước hiện đại, tương đối đồng bộ ở các địa phương và đáp ứng được

cơ bản nhu cầu sinh hoạt văn hóa và hưởng thụ các giá trị tinh thần ngày càng cao của đông đảo nhân dân445 Trong đó phải kể đến những thành công của chương trình xây dựng nông thôn mới – nhằm phần nào thu hẹp khoảng cách về phát triển giữa các khu vực thành thị với nông thôn Mặc dù vậy, việc triển khai các hoạt động thực tiễn cũng như xây dựng các cơ sở, thiết chế văn hóa cũng còn mang tính hình thức ở nhiều nơi, chưa mang lại hiệu quả thực sự như định hướng và mong muốn Thực tế này không chỉ xuất phát từ lí do hạn chế về nguồn lực vật chất mà chủ yếu do năng lực của đội ngũ nhân lực cơ sở còn hạn chế, chưa đáp ứng được những yêu cầu từ thực tế đa dạng của từng địa phương Điều đó khiến các thiết chế văn hóa hoạt động kém hiệu quả, gây lãng phí lớn Nhiều trung tâm văn hóa, nhà văn hóa, bưu điện

445

Nguyễn Huy Phòng (2018), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa ở Việt Nam hiện nay, tạp

chí Lý luận chính trị, http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/thuc-tien/item/2482-xay-dung-va-hoan-thien-he-thong-thiet-che-van-hoa-o-viet-nam-hien-nay.html

Ngày đăng: 26/01/2021, 06:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w