1. Trang chủ
  2. » Lịch sử

Cấp phép sử dụng tài nguyên giáo dục mở - Tiếp cận từ pháp luật về quyền tác giả

19 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 303,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm khắc phục hạn chế này, vào năm 1996 WIPO đã ban hành Hiệp ước WIPO về quyền tác giả (WIPO Copyright Treaty - WCT), Hiệp ước WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (WIPO Performances[r]

Trang 1

CHO TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ

Trang 2

Trần Văn Hải 1 , Hoàng Lan Phương 1

1 MỞ ĐẦU

Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ (SHTT) Thế giới (World Intellectual Property Organization - WIPO), tài sản trí tuệ (Intellectual Property) là

khái niệm được dùng để chỉ những sáng tạo trí tuệ của con người như sáng chế, tác phẩm văn học và nghệ thuật, các biểu tượng, tên, hình ảnh

và kiểu dáng công nghiệp được sử dụng trong thương mại [1]

Điều 2 viii Công ước Stockholm thành lập WIPO (14.7.1967)

định nghĩa: “Quyền SHTT bao gồm các quyền đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; các quyền liên quan đến hoạt động của các nghệ sĩ biểu diễn, sản xuất bản ghi âm, chương trình phát sóng; quyền đối với sáng chế ở tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, phát minh khoa học; kiểu dáng công nghiệp; nhãn hiệu và nhãn hiệu dịch vụ; tên thương mại; quyền chống cạnh tranh không lành mạnh; các quyền khác liên quan đến hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật”[2]

Kể từ thời điểm Công ước Stockholm được ký kết cho đến nay, các đối tượng của quyền SHTT đã được mở rộng bao gồm: quyền đối với mạch tích hợp bán dẫn, thông tin bí mật, giống cây trồng

Điều 4.1 Luật SHTT Việt Nam quy định: “Quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”.

1 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Trang 3

Điều 2 Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ

thuật (Berne Convention for the Protection of Literary and Artistic Works), Điều 14 Luật SHTT không định nghĩa tác phẩm được bảo hộ

mà chỉ liệt kê các loại hình tác phẩm được bảo hộ, việc liệt kê có thể đủ tại thời điểm liệt kê Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học và công nghệ (KH&CN), một số loại hình tác phẩm ra đời mà không nằm trong danh mục các tác phẩm đã được liệt kê Ví dụ:

- Công ước Berne không bàn đến việc bảo hộ chương trình máy tính;

- Điều 22 Luật SHTT Việt Nam quy định chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy

Trong thực tế, chương trình máy tính còn có thể được bảo hộ như một sáng chế, Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế do Cục SHTT

Việt Nam ban hành quy định: “Mặc dù chương trình máy tính thuộc danh mục các đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế nhưng nếu đối tượng yêu cầu bảo hộ có đặc tính kỹ thuật và thực sự là một giải pháp kỹ thuật, nhằm giải quyết một vấn đề kỹ thuật bằng một phương tiện kỹ thuật để tạo ra một hiệu quả kỹ thuật thì nó có thể được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế”.[3]

Như vậy, có thể thấy rằng rất cần một văn bản do cơ quan quản lý nhà nước ban hành để khắc phục những bất cập do một văn bản quy phạm pháp luật ban hành – ít nhất là cần thiết tại thời điểm hiện hành

để quản lý một vấn đề trong khi chưa thể sửa đổi/bổ sung văn bản quy phạm pháp luật Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế do Cục SHTT Việt Nam ban hành nhằm khắc phục quy định tại Điều 22 Luật SHTT như đã nêu trên là một ví dụ

Internet ra đời có thể giúp tác giả đưa tác phẩm của mình tới công chúng một cách nhanh chóng và thuận tiện Nhưng internet cũng tạo điều kiện dễ dàng thực hiện các hành vi sao chép, phát tán trái phép tác phẩm, xâm phạm quyền công bố và quyền tài sản của chủ sở hữu tác phẩm, quyền của tác giả về bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm

Sự phát triển nhanh chóng của KH&CN thúc đẩy nhu cầu trao đổi, phổ biến, truyền bá, kế thừa kết quả nghiên cứu để tránh nghiên cứu lặp

Trang 4

lại gây lãng phí tài nguyên trí tuệ và các tài nguyên khác, từ đó hình

thành nhu cầu “truy cập mở” (Open Access)

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, việc đưa tri thức KH&CN vào trường học với tiêu chí để người học tiếp cận nhanh chóng và thuận tiện

là việc làm cần thiết, từ đó hình thành nhu cầu về “tài nguyên giáo dục

mở” (Open Educational Resources - OER)

Trong Hội thảo “Xây dựng và khai thác tài nguyên giáo dục mở”, nhiều học giả đã bàn đến khái niệm OER, do đó bài viết xin phép không phân tích khái niệm OER, mà chỉ nêu một số quy định quốc tế về OER

có liên quan đến quyền tác giả

2 QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VỀ TRUY CẬP MỞ

2.1 Sáng kiến Budapest

Thuật ngữ “truy cập mở” (Open Access) lần đầu tiên được công

bố trong Sáng kiến truy cập mở Budapest (Budapest Open Access Initiative) vào tháng 2.2002 Sáng kiến này cho phép người sử dụng

quyền truy cập miễn phí trên internet công cộng, có thể đọc, tải xuống, sao chép, phân phối, in ấn tài liệu, chuyển chúng sang phần mềm hoặc

sử dụng chúng cho bất kỳ mục đích hợp pháp mà không có các rào cản

về tài chính, pháp lý hoặc kỹ thuật, với điều kiện người truy cập phải tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả, trong đó nhấn mạnh đến quyền đứng tên đối với tác phẩm, quyền đặt tên cho tác phẩm và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm

Luật SHTT Việt Nam quy định phù hợp Sáng kiến truy cập mở Budapest, ví dụ Điều 19.1 về quyền đứng tên đối với tác phẩm, Điều

19.2 về quyền đặt tên cho tác phẩm và Điều 19.4 về quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh

dự và uy tín của tác giả

Tuy nhiên, điểm hạn chế của Sáng kiến Budapest là chưa đề cập

đến việc bảo hộ quyền tài sản đối với tác phẩm, trong đó có các quyền công bố tác phẩm, quyền sao chép tác phẩm, kể cả quyền công bố và sao chép tác phẩm khi được số hóa và chia sẻ trên internet Xin lưu ý,

Trang 5

2 quyền vừa nêu chỉ thuộc về chủ sở hữu tác phẩm, nếu tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm thì các quyền này không thuộc tác giả

Nói cách khác, Sáng kiến truy cập mở Budapest đã “bất lực” đối với

trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm

Ví dụ: Công ty X dùng kinh phí của mình ký hợp đồng với giảng viên A nghiên cứu giải pháp kỹ thuật K Mặc dù giải pháp kỹ thuật K rất cần cho sinh viên nghiên cứu (không nhằm mục đích thương mại), nhưng giảng viên A không có quyền công bố trên OER, quyền này thuộc Công ty X

2.2 Tuyên bố Bethesda

Tuyên bố Bethesda về xuất bản truy cập mở (Bethesda Statement

on Open Access Publishing) Ngày 11.4.2003, Viện Y khoa Howard

Hughes đã tổ chức cuộc họp để thảo luận về quyền tiếp cận các tài liệu học thuật, cuộc họp đã đưa ra định nghĩa về “Tạp chí truy cập

mở” (Open Access Journal - OAJ), đề cập đến việc cấp quyền truy cập,

quyền sao chép, sử dụng, phân phối, truyền tải và hiển thị tác phẩm khoa học – là kết quả nghiên cứu một cách công khai, miễn phí trên phạm vi toàn cầu Cần phải thấy rằng, theo nguyên tắc bảo hộ tự động đối với tác phẩm nói chung, trong đó có tác phẩm khoa học theo quy định của Công ước Berne 1886, tại thời điểm một tác phẩm khoa học được công bố tại một quốc gia thành viên, thì ngay lập tức và vô điều kiện, nó phải được tất cả các quốc gia thành viên còn lại bảo hộ Một trong những nội dung bảo hộ là bảo hộ quyền sao chép tác phẩm khoa học, như vậy cụm từ “miễn phí trên phạm vi toàn cầu” nêu trên được

xem là một chi tiết rất mạnh của Tuyên bố Bethesda

Trong khi Sáng kiến Budapest chưa đề cập đến việc thực hiện và

phân phối các tác phẩm phái sinh, thì OAJ đã cho phép thực hiện tác phẩm phái sinh từ các tác phẩm gốc thông qua công cụ truy cập mở,

có nghĩa rằng người truy cập mở có quyền dịch tác phẩm gốc sang một ngôn ngữ khác, có quyền đưa tác phẩm gốc vào bộ sưu tập… phục vụ

mục đích nghiên cứu Tuyên bố Bethesda còn đảm bảo cho phép người truy cập mở có quyền tái sử dụng kết quả nghiên cứu (a license granting rights for reuse) Như vậy, với Tuyên bố Bethesda, người truy cập có

Trang 6

quyền tiếp cận các kết quả nghiên cứu đã công bố, sử dụng chúng vào mục đích nghiên cứu của mình

Tuy nhiên Tuyên bố Bethesda có các hạn chế sau đây:

- Không nêu nghĩa vụ tài sản của người nghiên cứu khi sử dụng kết quả nghiên cứu đã công bố thông qua truy cập mở, phải chia sẻ thu nhập (nếu có) từ kết quả nghiên cứu của mình cho tác giả của các kết quả nghiên cứu đã công bố, mà chỉ quy định nghĩa vụ phải đảm bảo quyền nhân thân đối với tác giả của các kết quả nghiên cứu đã công bố, bao gồm quyền đứng tên đối với tác phẩm, quyền đặt tên cho tác phẩm và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm

- Không phân biệt tác phẩm khoa học là kết quả nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu ứng dụng

2.3 Tuyên bố Berlin

Tuyên bố Berlin về truy cập mở đối với kiến thức khoa học và nhân

văn (Berlin Declaration on Open Access to Knowledge in the Sciences and Humanities)

Tuyên bố Berlin đã cho phép quyền truy cập mở kể cả đối với

những kiến thức trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Tuyên bố Berlin chỉ đề cập đến việc cho phép truy cập mở đối với các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, như đã biết kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn không phải

là đối tượng của sáng chế, do đó quyền tài sản đối với kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn thường chỉ tập trung chủ yếu vào quyền sao chép, quyền cho làm tác phẩm phái sinh

Điểm hạn chế của Tuyên bố Berlin là mặc dù cho phép người truy

cập mở có quyền tạo ra một số lượng nhỏ các bản sao in cho mục đích

sử dụng cá nhân của họ (the right to make small numbers of printed copies for their personal use) Tuy nhiên văn bản này cũng không định

nghĩa thuật ngữ “một số lượng nhỏ các bản sao in”

Pháp luật Việt Nam về quyền tác giả quy định cá nhân được quyền

tự sao chép một bản tác phẩm đã công bố nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy mà không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận

Trang 7

bút, thù lao Xin lưu ý: cụm từ tự sao chép (được gạch chân) có lẽ ẩn ý khi thực hiện quyền này không được sử dụng dịch vụ photocopy, vì cơ quan chức năng vẫn xử phạt dịch vụ photocopy khi sao chép tác phẩm Hoặc như đã biết có trường đại học đã xử lý khi sinh viên sử dụng bản photocopy giáo trình

Tuy nhiên, pháp luật về quyền tác giả quy định hành vi này lại không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm Quy định này có mâu thuẫn nội tại, vì nếu mỗi sinh viên có quyền tự sao chép một bản giáo trình đã công bố nhằm mục đích học tập thì nhà xuất bản không thể tiếp tục bán giáo trình đã xuất bản, như vậy đã ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm

2.4 Quy định của OECD về truy cập mở

Tháng 01.2004, Hội nghị Bộ trưởng KH&CN các nước OECD, Trung Quốc, Israel, Nga và Nam Phi đã họp tại Paris để thảo luận nhu cầu quốc tế về tiếp cận dữ liệu nghiên cứu Hội nghị đã thông qua Tuyên

bố về truy cập dữ liệu nghiên cứu từ tài trợ công (Declaration on Access

to Research Data from Public Funding), trong đó công nhận tầm quan

trọng của việc tiếp cận các dữ liệu nghiên cứu ở quy mô toàn cầu và đề nghị OECD xây dựng một bộ hướng dẫn nguyên tắc chung để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc truy cập dữ liệu nghiên cứu từ nguồn tài trợ công

Từ tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng KH&CN các nước OECD và các quốc gia trên, OECD (2004) đã ban hành nguyên tắc và hướng dẫn

về truy cập dữ liệu nghiên cứu từ tài trợ công (Principles and Guidelines for Access to Research Data from Public Funding).

Trong văn bản này, OECD (2004) đã định nghĩa dữ liệu nghiên cứu

(Research data) và dữ liệu nghiên cứu từ tài trợ công (Research data from public funding), đồng thời đưa ra các nguyên tắc truy cập dữ liệu nghiên cứu, trong đó nhấn mạnh đến nguyên tắc cởi mở (Openness), linh hoạt (Flexibility), minh bạch (Transparency), phù hợp về luật pháp (Legal conformity), bảo hộ sở hữu trí tuệ (Protection of intellectual property), trách nhiệm chính thức (Formal responsibility), chuyên

Trang 8

nghiệp (Professionalism), khả năng tương tác (Interoperability), chất lượng (Quality), an ninh (Security), hiệu quả (Efficiency), giải trình (Accountability), bền vững (Sustainability).

OECD cũng nhấn mạnh rằng việc truy cập mở đối với dữ liệu nghiên cứu từ nguồn tài trợ công sẽ thúc đẩy sự phát triển của KH&CN nói chung trên phạm vi toàn cầu, tiết kiệm chi phí trong nghiên cứu và tránh nghiên cứu lặp lại.[4]

3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ OER

Trên thế giới, việc hình thành và phát triển OER, theo Butcher N and Moore A (2015) có thể ghi nhận kinh nghiệm:

- Tháng 01.1999: Đại học Tubingen thuộc Cộng hòa Liên bang Đức đã xuất bản các video chuyển tải bài giảng của mình trên internet, đây được xem là trường hợp đầu tiên ghi nhận sự ra đời của OER;

- Tháng 09.2002: Viện Công nghệ Massachusetts Hoa Kỳ

(Massachusetts Institute of Technology - MIT) công bố chương trình Open

Courseware[5] trên internet, với 32 khóa học ban đầu, đây được xem là bộ sưu tập chuyên sâu về OER;

- Năm 2002, UNESCO triệu tập Diễn đàn về tác động của Open

Courseware cho giáo dục đại học ở các nước đang phát triển (Forum on the Impact of Open Courseware for Higher Education in Developing Countries) để thảo luận về tầm quan trọng và sự cần thiết phải xây dựng

OER đối với các trường đại học tại các quốc gia đang phát triển;

- Tháng 11.2003: Trung tâm Tài nguyên mở của Trung Quốc

(China Open Resources for Education) được thành lập với sự cộng tác của MIT Open Courseware, nhằm cung cấp nguồn OER cho các trường

đại học ở Trung Quốc;

- Tháng 01.2005: Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục và Đổi mới

OECD (OECD’s Centre for Educational Research and Innovation) ra báo cáo “Tạo tri thức miễn phí bằng OER” (Giving Knowledge for free: the Emergence of OER), báo cáo này ghi nhận sự nghiệp giáo dục và đổi

mới chỉ có thể phát triển thông qua việc tạo lập kho tri thức OER miễn phí và công khai, nhằm đưa tri thức đến người học một cách nhanh chóng và thuận tiện thông qua truy cập mở trên internet;

Trang 9

- Tháng 09.2007: Trường Đại học Y khoa Michigan đã xuất bản tất

cả các tài liệu giáo khoa tiền lâm sàng là OER, cho phép những người

có nhu cầu được tiếp cận thông qua công cụ internet miễn phí;

- Tháng 01.2008: Viện Open Society và Quỹ Shuttleworth đã công

bố Bản Tuyên bố giáo dục mở Cape Town (Cape Town Open Education Declaration), kêu gọi các chính phủ và nhà xuất bản thế giới cung cấp

các tài liệu giáo dục trên internet miễn phí;

- Tháng 03.2009: Youtube ra mắt Youtube EDU, một kênh miễn phí cung cấp các tài liệu giáo dục từ các trường đại học trên thế giới và các bài giảng của giáo sư và nhà lãnh đạo nổi tiếng;

- Tháng 04.2011: Bangladesh là quốc gia đầu tiên trên thế giới số hóa bộ sách giáo khoa phổ thông hoàn chỉnh trên OER;

- Tháng 06.2012, UNESCO ra Tuyên bố Paris về OER (The Paris Open Educational Resources Declaration) với nội dung khuyến khích

nâng cao nhận thức và sử dụng OER, thúc đẩy sự phát triển và áp dụng OER giữa các quốc gia với các ngôn ngữ và các nền văn hóa khác nhau, thúc đẩy việc cấp phép OER được tạo ra từ ngân sách nhà nước.[6] Có thể thấy rằng, hạn chế lớn nhất của Tuyên bố Paris về OER là chỉ dừng lại ở việc kêu gọi cấp phép OER đối với các tác phẩm khoa học được tạo ra từ ngân sách nhà nước, trong khi đó thực tế nhiều trường đại học không được vận hành bởi ngân sách nhà nước

4 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRUY CẬP MỞ VÀ OER

Pháp luật Việt Nam về quyền tác giả không quy định về truy cập

mở và OER Nhưng cần phân tích Luật SHTT và các văn bản quy phạm pháp luật dưới Luật về quyền tác giả để thấy rõ hơn những quy định cản trở đến truy cập mở và OER

Luật SHTT quy định: Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Định nghĩa này có 2

cụm từ đáng lưu ý: “sáng tạo” và “sở hữu”, trong đó “sáng tạo” gắn với tác giả, còn “sở hữu” gắn với chủ sở hữu tác phẩm

Trong nội dung quyền tác giả, tác giả có thể đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, trong trường hợp này tác giả có các quyền nhân thân

Trang 10

và quyền tài sản đối với tác phẩm Nhưng trong thực tế, tác giả có thể không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, ví dụ có tổ chức/cá nhân khác đầu tư tài chính, cơ sở vật chất cho tác giả sáng tạo nên tác phẩm, trường hợp này xuất hiện mối quan hệ giữa tác giả (người sáng tạo nên tác phẩm) và chủ sở hữu tác phẩm (tổ chức/cá nhân đầu tư tài chính, cơ

sở vật chất cho tác giả sáng tạo nên tác phẩm)

Truy cập mở và OER gắn với quyền công bố tác phẩm và quyền sao chép tác phẩm, cả 2 quyền này đều thuộc về chủ sở hữu tác phẩm,

mà không thuộc về tác giả (nếu tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm) Trong đó:

- Bản sao của tác phẩm là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn bộ tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào;

- Điều 23.2 Nghị định 85/2011/NĐ-CP quy định: Quyền sao chép tác phẩm là một trong các quyền tài sản độc quyền thuộc quyền tác giả,

do chủ sở hữu thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo

ra bản sao tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử.

- Rào cản lớn nhất trong truy cập mở và OER là quy định tại Nghị định 100/2006/NĐ-CP và gần đây nhất là tại Điều 22.2 Nghị định số

22/2018/NĐ-CP: sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu là việc sao chép không quá một bản Thư viện không được sao chép và phân phối bản sao tác phẩm tới công chúng, kể cả bản sao kỹ thuật số.

Quy định trên đây được hiểu là pháp luật không cho phép thư viện thực hiện hành vi, ngay cả trong trường hợp chỉ phân phối 01 bản sao tác phẩm cho 01 độc giả, mặc dù Điều 25.1.a Luật SHTT quy định mỗi

người có quyền “tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân” mà không bị coi là xâm phạm quyền sao

chép tác phẩm của chủ sở hữu tác phẩm

Truy cập mở và OER phải gắn với môi trường kỹ thuật số, được

hiểu là môi trường truyền thông tích hợp (integrated communications environment), trong đó các thiết bị điện tử hoặc kỹ thuật số là các công

cụ giao tiếp và quản lý nội dung Thành phần chính của môi trường

Ngày đăng: 26/01/2021, 02:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w