-Tính chất âm nhạc: tác phẩm Mendelssohn kết hợp âm nhạc cổ điển, âm nhạc lãng mạn và âm nhạc dân gian Đức. Giai điệu đẹp, dễ nghe, liên quan chặt chẽ với phong cách ca xướng và vũ khúc[r]
Trang 2NGUỒN GỐC ÂM NHẠC I/ Cơ sở nghiên cứu nguồn gốc âm nhạc:
Căn cứ vào những di tích khảo cổ (những bức tranh trên đá, chữ viết trên những tấm bia…) và những lập luận hợp lý, người ta tìm hiểu nguồn gốc âm nhạc Từ những bức họa cổ, ta biết được hình dáng các nhạc cụ xưa và phỏng đoán khả năng diễn tấu của chúng Từ những án văn thơ xưa, ta biết được lời ca của các khúc nhạc Các bài dân ca còn lưu truyền đến nay cũng là cơ sở quan trọng để tìm hiểu nguồn gốc âm nhạc
Cách ký âm âm nhạc châu Âu chỉ mới xuất hiện cách đây khoảng gần 1000 năm và qua 1 quá trình cải tiến lâu dài mới cho biết được độ cao và độ ngân của các âm thanh
II/ Giả thiết về nguồn gốc âm nhạc:
Việc giải thích nguồn gốc âm nhạc có nhiều ý kiến khác nhau:
*Charles Darwin: Con người sáng tạo ra âm nhạc theo con đường sinh vật học
*Herbert Spencer: âm nhạc được sáng tạo trên cơ sở tâm, sinh lý học, trò chơi
*Karl Bucher: âm nhạc được sáng tạo từ lao động
*Combarieu: âm nhạc được sáng tạo từ ma thuật (các nghi lễ tôn giáo)
Âm nhạc thời kỳ nguyên thủy thường không phải là bộ môn nghệ thuật riêng biệt mà nằm trong tổng thể sinh hoạt văn hóa: ca hát, sử dụng nhạc cụ, nhảy múa, thờ cúng… Từ xưa, nghệ thuật
âm nhạc, thơ ca và múa gắn bó với nhau rất chặt chẽ
-Giả thiết về sự xuất hiện thanh nhạc: Từ xưa, con người đã phải luyện giọng để có những độ
cao khác nhau và độ vang để kể chuyện, gọi nhau truyền tin, kêu cứu…Từ đó giọng ca phát triển mang đặc điểm ngữ điệu địa phương Tiết tấu trong âm nhạc có thể bắt nguồn từ nhịp lao động (kéo lưới, giã gạo, chèo thuyền…) và nhịp sinh học của con người (nhịp hơi thở, nhịp tim, nhịp đi)…
-Giả thiết về sự xuất hiện các loại nhạc cu: Loại nhạc cụ xuất hiện đầu tiên có thể là nhạc cụ
gõ Các nhạc cụ gõ đầu tiên có thể bằng đá, xương, gỗ… Về sau, có những nhạc cụ gõ bịt mặt da, đúc đồng… Nhạc cụ gõ có thể chia làm 2 loại: định âm và không định âm
Sau nhạc cụ gõ, người ta sáng tạo các loại nhạc cụ dây và nhạc cụ hơi Những nhạc cụ dây đầu tiên có thể được mô phỏng từ hình cánh cung Người ta sử dụng những sợi dây căng, chùng, dài, ngắn khác nhau để tạo những cao độ âm thanh khác nhau Nhạc cụ dây có thể được phân thành 2 loại chính
là dây kéo và dây gảy
Gió thổi qua các thân cây rỗng và những hang đá gợi ý cho con người chế tạo nhạc cụ hơi Các nhạc cụ hơi có thể được làm bằng sừng, tre nứa, vỏ ốc…
-Các loại nhạc cụ ngày nay đều bắt nguồn từ 3 loại nhạc cụ: gõ, dây và hơi Có những loại nhạc cụ được sáng tạo theo hướng bắt chước giọng người như violon, đàn bầu… Cao độ của nhạc cụ cũng ảnh hưởng đến giọng ca về âm vực, tốc độ, quãng…
III/ Âm nhạc dân gian và chuyên nghiệp:
Âm nhạc nguyên thủy chưa được gọi là âm nhạc chuyên nghiệp Nó là loại nhạc tự phát phục
vụ trong các sinh hoạt của những cộng đồng người như sinh hoạt giải trí, tế lễ… Về sau, xuất hiện âm nhạc chuyên nghiệp dưới hình thức hát rong kể chuyện, nhạc kịch dân gian Một số nghệ sĩ dân gian được tuyển chọn vào phục vụ cung đình, hình thành nền âm nhạc chuyên nghiệp trong cung đình Một
số nghệ sĩ dân gian vào phục vụ trong các đền đài tôn giáo, tạo nghệ thuật âm nhạc chuyên nghiệp tôn giáo Vậy, âm nhạc dân gian là khởi nguồn cho các loại âm nhạc khác Từ những điệu hát ngắn phát triển thành nhạc kịch; Từ những nét nhạc và các điệu múa đơn giản phát triển thành vũ kịch; Từ những bản khí nhạc ngắn phát triển thành sonate, concerto, giao hưởng…
ÂM NHẠC HY LẠP CỔ ĐẠI
I/ Khái quát:
Nền văn hóa Hy lạp cổ đại tồn tại từ khoảng năm 3000tr CN đến TK V
Hy lạp là một trong những nước có nền văn minh lớn thời Cổ đại (Hy lạp, La mã, Trung Quốc, Ấn độ, Ai cập…)
Âm nhạc Hy lạp Cổ đại đã góp phần quan trọng đặt nền móng cho âm nhạc thế giới ngày nay Các trung tâm văn hóa chính của Hy lạp là Athen, Alexandri, Spart…Người ta tìm hiểu nghệ thuật âm nhạc Hy lạp cổ đại qua những kiến trúc đồ sộ, những pho tượng, những án thơ ca, các vở bi kịch, những khúc hát có cả lời và nhạc, những công trình nghiên cứu khoa
Trang 3Âm nhạc Hy lạp cổ đại chia làm 3 thời kỳ chính:
1-Crete-Miken: chia 2 giai đoạn:
+Anh hùng ca (epikos): TK X-VIII tr CN: Âm nhạc chuyên nghiệp Hy lạp Cổ đại có những người hát rong gọi là aedon, rhapsodos (thế kỷ XI-VII trCN) Họ hát các bài sử thi (epikos) ca ngợi quê hương và các vị anh hùng Các epikos ban đầu được hát theo lối ngâm vịnh tự do, người hát tự đệm đàn phomic (nhiều dây mắc vào mai rùa) hoặc kipha (giống đàn lyre nhưng to và nặng hơn) Sau
đó, các bài hát có giai điệu rõ hơn và trở thành những bài nomos (qui luật)
+Thơ ca trữ tình (lirikos): TK VII-V tr CN: đơn ca hoặc đồng ca thể hiện nội tâm con người
2-Athen: (TK V tr CN) bi kịch cổ Hy lạp có nguồn gốc từ Mystery, một loại kịch tôn giáo:
Trong các buổi trình diễn bi kịch, người Hy lạp cổ đại có 1 sân khấu cho diễn viên kịch và 1 sân khấu cho nhạc công Nhạc công theo dõi diễn biến trên sân khấu kịch để hát những lời ngợi ca, phê phán hoặc chỉ bảo Nhạc công có thể hát đồng ca, đối đáp giữa đồng ca và đơn ca hoặc đàn đệm cho đơn ca Ngoài ra, người Hy lạp còn trình diễn hài kịch có sự tham gia của âm nhạc
3-Alexandri: (TK IV tr CN-TK I) kết hợp văn hóa Hy lạp và văn hóa phương Đông (chủ yếu là Ai cập) Nghệ thuật và âm nhạc chủ yếu phục vụ giải trí Bi kịch và nghệ thuật tổng hợp thơ, nhạc và múa rất phát triển
Nền văn hóa Hy-La hình thành từ khoảng TK VII tr CN Từ thời Alexandrote (cuối thế kỷ IV trCN), La mã xâm lược Hy lạp (từ năm 753 tr CN, Romulus lập thành Roma) Năm 146 trCN, Hy lạp trở thành một tỉnh của đế quốc La mã Âm nhạc Hy lạp lan tràn sang La mã Người La mã tách rời âm nhạc khỏi thơ ca, tổ chức những buổi trình diễn âm nhạc khổng lồ giới thiệu kỹ xảo đàn thuần túy
II/ Vai trò của âm nhạc trong đời sống xã hội Hy lạp cổ đại:
-Âm nhạc dân gian Hy lạp cổ đại được tìm hiểu qua các tranh tượng, qua các trường ca
"Iliade" và "Odyssée" của Home Người ta phỏng đoán có những loại nhạc tế lễ (tang ma, cưới hỏi…), nhạc hội hè, những khúc nhạc tình yêu, nhạc hát trong khi lao động như gặt hái, quay tơ, chèo thuyền…
-Âm nhạc đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Hy lạp cổ đại Ở các trung tâm lớn,
âm nhạc là môn học bắt buộc vì nó giáo dục đạo đức cao đẹp và tinh thần thượng võ Alexandri là trung tâm giáo dục âm nhạc lớn nhất đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu khoa học âm nhạc xuất sắc Người Hy lạp thường tổ chức các cuộc thi đàn hát, thi thể thao có sự tham gia cuả âm nhạc
Các nhà nghiên cứu Hy lạp cổ đại rất chú trọng khía cạnh triết học, thẩm mỹ và vai trò giáo dục của âm nhạc Ephexki (TK VI-V trCN) xem người nhạc sĩ có khả năng thống nhất những cái đa dạng; sự hài hòa và tương phản luôn đi với nhau Democrite (TK V trCN) phân tích tính tự nhiên của
âm thanh và mối quan hệ giữa âm nhạc với các bộ môn nghệ khác Aristoteles khảo sát một cách có hệ thống về điệu thức, tiết tấu, sự cảm thụ âm nhạc và những yếu tố khác Platon (TK V-IV trCN) nghiên cứu vai trò giáo dục đạo đức của âm nhạc Pythagore đưa ra hệ thống âm chuẩn (từ 1 âm chuẩn nâng lên 1 quãng 5 theo tỉ lệ 2/3 rồi hạ âm mới xuống 1 quãng 8 theo tỷ lệ 1/2, và cứ thế tiếp tục để tìm ra
12 âm trong quãng 8)
Bấy giờ có 2 trường phái lý thuyết âm nhạc là phái Harmonikoi của Aristoteles (cảm thụ âm nhạc bằng thính giác) và phái Kanonikoi của Platon (nghiên cứu âm nhạc theo công thức số học)
Các nhà nghiên cứu Hy lạp nghiên cứu phản ứng của con người với các âm thanh Họ cho các
âm thanh là biểu tượng cho những vật chất trong vũ trụ, quan hệ giữa các âm thanh tượng trưng quan
hệ giữa thần thánh và con người, giữa người với người
Ngày nay, những câu chuyện kể về Apollon, Orphée… trở thành đề tài cho nhiều tác phẩm âm nhạc Đàn lia của Hy lạp trở thành biểu tượng âm nhạc Nhiều thuật ngữ âm nhạc ngày nay bắt nguồn
từ thuật ngữ âm nhạc Hy lạp cổ đại
III/ Đặc diểm âm nhạc Hy lạp cổ đại:
-Âm nhạc Hy lạp Cổ đại cơ bản là đồng ca (thường là đồng ca nam) Giai điệu và lời thơ gắn
bó chặt chẽ với nhau Tiết tấu trong thơ cũng là tiết tấu trong nhạc Có các loại tiết tấu như sau:
Coray: -v
Iam: v-
Dacter: -vv
Anapet: vv-
-Hy lạp cổ đại ghi âm bằng hệ thống chữ cái
-Các nhà nghiên cứu âm nhạc Hy lạp Cổ đại sắp xếp hệ thống âm theo thứ tự từ trên xuống Họ thiết lập hệ thống âm dựa trên cơ sở các hệ thống 4 âm liên tiếp hoặc gối đầu nhau
Trang 4Kết hợp 2 hệ thống 4 âm, ta có 1 hoà âm (điệu thức) Hy lạp cổ đại có 3 loại hoà âm căn bản:
dorien (mi, điệu thức dân tộc Hy lạp), frigien (re, du nhập từ phương Đông), lidien (đô, du nhập từ
phương Đông) Ngoài ra, có các dạng biến hạ (thấp hơn hòa âm cơ bản 1 quãng 5) và biến thượng (cao hơn hòa âm căn bản 1 quãng 5) từ các hòa âm cơ bản Đó là những hòa âm nguyên (diatonos) Từ cuối thế kỷ V trCN, xuất hiện kiểu ly điệu từ hoà âm nguyên sang hòa âm hóa (chroma, sử dụng 1/2 cung) và hòa âm đẳng (enharmonia, sử dụng 1/4 cung)
Việc sử dụng kết hợp nguyên và hóa gọi là nguyên mềm, kết hợp hóa và đẳng gọi là hóa mềm
-Căn cứ vào kết quả đo lường âm học, người Hy lạp cổ đại định nghĩa sự thuận nghịch Quãng 4,5,8 là quãng thuận Quãng 3 và 6 là nghịch
-Nhạc cụ người Hy lạp cổ đại thường dùng là harpe (đàn cổ nhất xuất hiện khoảng thế kỷ 30
trCN, ở thành phố Ur, Babylon), lyre, kithara (guitare cổ đại Hy lạp, giống lyre nhưng to và nặng hơn,
có thể có đến 18 dây), kèn aviot (dăm kép, 4-15 lỗ), sáo nhiều ống (cyric)
ÂM NHẠC THỜI TRUNG CỔ
Năm 476, Tây La mã bước vào chế độ phong kiến Thời kỳ này châu Âu tồn tại nhiều tôn giáo như Kitô giáo, Hồi giáo…Giữa các nước nổ ra nhiều cuộc chiến tranh xâm lăng và chiến tranh tôn giáo: Thập tự chinh TK XI, chiến tranh của
đế quốc Ả rập (TK VII-VIII), Thổ nhĩ kỳ (TK XI-XIII), Mông cổ (TK XIII-XV)… Nền văn hóa các dân tộc và quốc gia Slave hình thành và phát triển Thời Trung cổ nói chung chia làm 2 giai đoạn:
1) Từ thế kỷ I đến XI:
-Thời kỳ này đế quốc La mã đàn áp đạo công giáo Sau đó, đạo công giáo phục hồi Trung tâm văn hóa là các tu viện Giáo hội tuyên truyền xóa bỏ những ham muốn trần tục, hướng đến sự linh thiêng, thần bí Thế giới quan này ảnh hưởng sâu sắc đến nghệ thuật Trung cổ
2) Từ thế kỷ XI-XIII:
Đây là thời kỳ hưng thịnh của chế độ phong kiến Nhà thờ mất dần vị trí quan trọng trong xã hội Trung tâm văn hóa là các đô thị lớn Âm nhạc thế tục phát triển và chiếm vị trí quan trọng Xuất hiện nền nghệ thuật cổ (Ars Antiqua, TK XII-XIII) là nền tảng của văn hóa Phục hưng (Ars Nova, TK XIV-XVI)
II/ Âm nhạc: Thời kỳ Trung cổ có 3 dòng âm nhạc chính là: âm nhạc nhà thờ, âm nhạc dân
gian và âm nhạc hiệp sĩ
*Đồng ca nam, chỉ hát 1 bè, bình điệu, không đổi tốc độ, không có nhạc khí phụ họa
*Giai điệu di chuyển theo nốt tự nhiên, không dấu hóa (có sib)
*Giọng hát giới hạn trong những quãng ngắn
*Viết theo lễ thức, lời bằng tiếng La tinh
-Thánh ca (Messe) hình thành vào TK XI dựa trên đồng ca Grégoire, gồm 5 phần: Kyrie elleison, Gloria in excelcis Deo, Credo in unum Deum, Santus et Benedistus, Agnus Dei
-Có các thề loại âm nhạc nhà thờ ảnh hưởng thế tục như: Sequentia, Tropi, Dramma liturgia (Mysterie)
Trang 5Giáo hội bài xích âm nhạc dân gian Mặt khác, người dân thường đổi lời các bài hát đạo, có khi thay đổi cả tiết điệu và có múa phụ họa Bên cạnh đó, những bài hát thế tục cũng được sáng tác để trình diễn trong các dịp hội hè
2) Âm nhạc dân gian: có nội dung phong phú hơn nhạc giáo hội, tiết điệu rõ rệt, giai điệu linh
động, hồn nhiên, lên xuống rõ rệt, phản ánh tâm hồn con người Nhạc dân gian hát theo tiếng địa phương và có nhạc khí phụ họa chứ không hát tiếng La tinh, không nhạc đệm như nhạc giáo hội Hệ thống nhạc cụ rất đa dạng Đại diện cho loại nhạc này là những người hát rong (Jongleur, Spielmann…)
3) Âm nhạc hiệp sĩ: cuối thế kỷ XII, những hiệp sĩ dòng dõi quí tộc ở 2 miền Nam Bắc nước
Pháp (trouvères hay troubadours) đã sáng tác những âm điệu mới lạ, màu sắc dịu dàng, uyển chuyển
Đề tài thường là ca tụng phụ nữ, ca ngợi sắc đẹp và tình yêu, ca ngợi thiên nhiên và kể chuyện thần thoại Họ còn sáng tác anh hùng ca, sử ca Các thể loại chính là Chanson, Ballade, Anbi, Pastorale ở Pháp, Canzona ở Ý… Cấu trúc đặc trưng là Leich và Lied Tác giả là những hiệp sĩ hát rong tự biên,
tự diễn với khuynh hướng chống quan niệm diệt dục của nhà thờ
*Ở các thành phố lớn xuất hiện loại nhạc nhiều bè Loại nhạc này có thể xuất hiện do người sử dụng nhạc khí đàn nhiều âm cùng lúc, do sự chênh lệch giọng giữa phụ nữ, trẻ em và đàn ông Những thế kỷ đầu chỉ có nhạc đồng ca Đến thế kỷ thứ IX, người ta thấy xuất hiện thể loại Organum hát 2 bè
Có 2 loại Organum:
*Organum loại 1: đầu tiên hát đồng thanh, sau đó 2 bè tách dần đến quãng 4 rồi đi song hành
*Organum loại 2: 2 bè hát quãng 4 và 5 song hành ngay từ đầu
Sau Organum có những loại nhạc nhiều bè khác như:
*Déchant: TK XII ở Pháp Đây là thể loại ứng khẩu phụ họa nghịch hành (có thể có vài đọan
song hành, nhưng gặp quãng 5 và quãng 8 thì bắt buộc nghịch hành) Về sau, bè ứng khẩu phụ họa được ghi ra nốt rõ ràng
*Gymel: TK XI, ở Anh Đây là thể loại lễ ca có phụ họa quãng 3 song hành
*Faux bourdon: có 3 bè, bè trên và giữa cách nhau quãng 4; bè dưới và giữa cách nhau quãng
3
*Discantus: giai điệu chính ở dưới cùng Bên trên có 1 hoặc nhiều bè hát ngược chiều, có khi
luyến láy tinh tế
*Conductus: TK XII Đây là mẫu xen kẽ trong hát nhà thờ hoặc trong những vở hát theo kinh
thánh Đến thế kỷ XIV, nó phát triển hoàn chỉnh thành thể loại nhạc thế tục phổ biến rộng Bè chính hát theo giai điệu thế tục, những bè khác chỉ hát giống bè chính ở lời và tiết tấu (lời tiếng La tinh, tiết tấu hành khúc)
*Motet: là tên gọi bè giữa trong 1 bài hát phức điệu 3 bè Các bè có thể khác nhau về cả nhạc
lẫn lời Có thể có những bài motet gồm 3 bè: 1 bè nhạc nhà thờ, 1 bè là dân ca nói về tình yêu, 1 bè hài hước Motet là tiền thân của thể loại phức điệu tương phản
III/ Lý thuyết âm nhạc:
-Âm nhạc thời Trung cổ đã hệ thống hóa các điệu thức, sáng tạo cách ghi và đọc nhạc Cách ký
âm trải nhiều giai đọan mới có dạng hoàn chỉnh như ngày nay
-Khoảng năm 700 trCN, người Hy lạp cổ đại dùng chữ trong bản mẫu tự để ghi âm Thế kỷ thứ
9 xuất hiện mẫu tự La tinh Ta có
A B C D E F G H
La Sib Đô Rê Mi Fa Sol Si
-Ký âm bình điệu: Khoảng năm 680, người ta dùng dấu ghi trên lời ca chỉ sự biến hoá giọng Tên gọi Dấu Ghi Ý nghĩa
Punctum 1 âm thấp
Virga / 1 âm cao
Clivis / Âm từ cao xuống thấp
Podatus / Âm từ thấp lên cao
Scanditus 2 âm thấp 1 âm cao
Chimacus / 1 âm cao 2 âm thấp
Toculus Thấp lên cao rồi xuống thấp
Trang 6Porrectus Cao xuống thấp rồi lên cao
Lối ghi này dùng cho những bài có tiết tấu đều, không chính xác về cao độ âm thanh
-Tu Sĩ Guydo d'Arezzo (995-1050) người Ý dùng 7 vần đầu mỗi tiết trong bài thánh ca"Thánh Johann" đặt tên cho âm thanh (ut, re, mi, fa, sol, la, si) Năm 1673, Bononcini đổi chữ "ut" thành chữ
"do"
-Nguồn gốc khuôn nhạc: người ta dùng dòng kẻ để ghi lời ca cho thẳng Sau đó, tùy âm cao
hay thấp mà lời ca viết dưới hay trên dòng kẻ Từ TK XI, người ta dùng 1 dòng kẻ đỏ ghi nốt fa, dòng
kẻ vàng ghi nốt đô Sau đó số dòng kẻ thêm dần
Đen rìa trên: mi
Vàng: đô
Đen giữa: la
Đỏ: fa
Đen rìa dưới: rê
-Thế kỷ XIII, dấu bình điệu thay bằng những chấm vuông, chỉ phân biệt cao độ Giữa thế kỷ XIII, nhạc đa điệu phát triển, xuất hiện lối ghi âm tỷ lượng:
Sự thay đổi hình nốt theo thời gian:
Trước 1420 Sau 1420 Ngày nay
Trang 7Lidien Lidien biến
Misolidien Misolidien biến
ÂM NHẠC THỜI PHỤC HƯNG I/ Bối cảnh xã hội:
-Thế kỷ XIV, chế độ phong kiến bắt đầu tan rã Các phong trào chống nhà thờ, cải cách tôn giáo (Calvin ở Pháp, Luther ở Đức…), khởi nghĩa nông dân (Anh, pháp…) liên tục nổ ra Cách mạng tư sản lần thứ nhất nổ ra ở Hà lan (1572- 1579)
-Thời kỳ này hình thành các đô thị lớn, các quốc gia tư sản và nền âm nhạc dân tộc ở các nước
Ý, Pháp, Áo, Đức, Hà lan, Tây ban nha…
-Các ngành khoa học tự nhiên và văn hóa nghệ thuật phát triển mạnh với Columbus, Léonardo
da Vinci, Raphaen, Michelangelo… Ở Đức xuất hiện ngành in vào năm 1430
-Thời Phục hưng kéo dài từ thế kỷ XIV-XVI Âm nhạc Phục hưng bắt đầu muộn hơn những ngành nghệ thuật khác (từ thế kỷ XIV- đầu thế kỷ XVIII)
II/ Đặc điểm âm nhạc phục hưng:
-Âm nhạc Phục hưng phục hồi nội dung và nguyên lý thẩm mỹ Hy lạp cổ đại, tiếp thu phong cách lãng mạn của các ngành nghệ thuật khác, đề cao tư tưởng nhân đạo, chống phong kiến và nhà thờ
-Âm nhạc Phục hưng bắt đầu từ phong trào Nghệ thuật mới do F.Vitri (Pháp) đề xướng năm
1530, đả phá kiểu hát nhiều bè cũ và thay bằng lối đối vị tự do hơn Họ cấm chuyển động các bè theo quãng 5 và quãng 8 song song, đề cao chuyển động theo quãng 3 Kết câu dẫn tới bậc V và I
-Thời Phục hưng, âm nhạc thế tục phát triển mạnh bên cạnh âm nhạc nhà thờ Các nhạc sĩ sử dụng những hình thức qui mô lớn để thể hiện những tư tưởng lớn, tinh thần nhân đạo Các hình thức
âm nhạc nhà thờ phát triển như: messe, cantate, magnificate…
-Nghệ thuật thế tục phát triển theo khuynh hướng hiện thực, nhất là ca khúc Các nhạc sĩ lấy đề tài ca tụng con người yêu cuộc sống, tin tưởng vào lý trí và sức mạnh của mình
-Tác phẩm nhà thờ mang tính triết học sâu sắc, lời nhạc hát bằng tiếng địa phương ngày càng thay thế tiếng La tinh
-Âm nhạc thường là đơn âm, có đệm Âm nhạc chuyên nghiệp truyền bá rộng rãi, phát triển từ
âm nhạc dân gian Ca kịch xuất hiện
-Đến thế kỷ XVI, hệ thống ghi âm tương đối hoàn chỉnh
-Phức điệu nghiêm khắc phát triển mạnh Điệu thức có trưởng, thứ, nguyên, hoá, chuyển điệu Hoà âm có hệ thống công năng Tiết tấu có đơn và phức
-Ba nước châu Âu có nền âm nhạc phát triển nhất vào thời Phục hưng là Ý, Pháp và Đức
ÂM NHẠC TIỀN CỔ ĐIỂN I/ Bối cảnh xã hội: thời kỳ Tiền cổ điển trong âm nhạc là âm nhạc Tây Âu thế kỷ XVII và nửa
đầu thế kỷ XVIII Đây là thời kỳ đệm giữa thời âm nhạc Phục hưng và thời âm nhạc Cổ điển Vienne
-Thời kỳ này, các nước Tây Âu giấy lên phong trào cách mạng tư sản, chống phong kiến (cách mạng tư sản Anh 1648)
-Phong trào Khai sáng đề cao tri thức, dề cao tư tưởng nhân đạo, chống nhà thờ Phong trào xuất phát từ Anh với John Locke (1632-1704); sau đó lang khắp châu Âu với Voltaire, J.J Rousseau, Diderot…
II/ Đặc điểm âm nhạc:
Trang 8-Bấy giờ trong âm nhạc có 2 phong cách chính là Baroc và Rococo Cả hai phong cách đều xuất phát từ nghệ thuật kiến trúc Phong cách âm nhạc Baroc thiên về qui mô đồ sộ, mang tính ngợi
ca, nhạc sĩ đại diện là Monteverdi, Frescobaldi, Lully, Bach, Haendel… Thể loại sáng tác tiêu biểu là thanh xướng kịch, tác phẩm cho dàn nhạc, organ…
Phong cách Rococo thêu thùa hoa mỹ, hào nhoáng, nhạc sĩ đại diện là Couperin, Rameau, Scarlatti, F.E.Bach, Haydn, Mozart… Phong cách này xuất hiện muộn hơn Baroc và được thể hiện chủ yếu ở các tác phẩm cho clavecin
-Nói chung, âm nhạc thời kỳ này bắt đầu hướng vào hòa âm chủ điệu, sử dụng Basse ostinato (bè trầm trì tục), sử dụng điệu thức trưởng tự nhiên và thứ hòa âm, phát triển phức điệu tự do (điển hình là thể loại fugue)
-Âm nhạc cho nhạc cụ phát triển, hoàn thiện hệ thống nhạc cụ, hình thành và phát triển những thể loại sáng tác mới (variation, partita, canzone, sonate, concerto…), nâng cao kỹ thuật biểu diễn nhạc cụ
-Thanh nhạc cũng có một số thể loại phát triển mạnh như: oratorio, cantate, passion…
Johann Sebastian Bach
(1685-1750)
Thế kỷ XVI, XVII, trong nước Đức xảy ra chiến tranh liên miên giữa các tiểu vương Nền âm nhạc Phục hưng Đức bắt đầu muộn và yếu, không phát triển liên tục và đồng bộ Âm nhạc dân gian Đức phát triển mạnh Thế kỷ XVII ở Đức có trường phái orgue phát triển, diễn đạt không khí trang nghiêm của tôn giáo
Johann Sebastian Bach là nhạc sĩ Đức đã thể hiện những suy tư của con người trước thời cuộc qua các tác phẩm của mình Ông là người góp phần đặt nền móng cho âm nhạc bác học thế giới Ông hoàn chỉnh phức điệu và nâng cao chủ điệu Ông đóng góp chủ yếu vào các thể loại phức điệu tự do, tác phẩm đàn orgue, hợp xướng và dàn nhạc
I/ Thân thế và sự nghiệp: Ông là nhạc sĩ Đức tiền cổ điển Cuộc đời ông gắn liền với nước
Đức
Có thể đánh giá Bach như sau:
-Ông là người đàn orgue giỏi
-Ông là nhà sư phạm lỗi lạc với hơn 20 năm dạy học và nhiều học trò danh tiếng
-Ông là nhà lý luận phê bình thực tiễn, sáng tác 48 cặp Prélude và Fugue chứng minh sự ứng dụng nguyên tắc bình quân luật trên đàn phím (bình quân luật do Andreas Werckmeister (1685-1706), nhạc sĩ người Đức, sáng tạo) Trong số người phản đối bình quân luật có G.F.Haendel (theo Lý Huế, Dương Bích Hà (viết theo Vũ Nhật Thăng), trang 80, viện Âm nhạc, NXB Âm nhạc Hà Nội 1997)
-Ông là nhà sáng tác tái năng, sáng tác ở tất cả các thể loại âm nhạc đương thời
-Ông sinh ngày 21/3/1685 Eisenach trong một gia đình có truyền thống âm nhạc (trên 200 năm với trên 50 nhạc sĩ danh tiếng) Ông mồ côi từ nhỏ, sống với người anh (nhạc công orgue) và được anh truyền thụ âm nhạc
-15 tuổi, ông hát trong 1 dàn hợp xướng ở Lunebourg Ông nhiều lần đi bộ từ Lunebourg đến Hambourg (khoảng 60 km) để nghe các nhạc sĩ đàn orgue nổi tiếng
-18 tuổi, ông đàn violon trong 1 dàn nhạc của 1 công tước ở Weimar Vài tháng sau ông đi Arnstadt làm nghệ sĩ đàn orgue
-22 tuổi, ông đến đàn orgue ở Muhlhausen và cưới cô em họ Maria Barbara tại đây
-23 tuổi, Bach trở lại Weimar đàn orgue và các nhạc cụ thính phòng khác cho cung đình Tại đây hội tụ nhiều nhạc sĩ lỗi lạc của Ý, Pháp Năm 1717, sau khi thi biểu diễn orgue với Marchand, Bach trở nên nổi tiếng Thời gian này, bên cạnh các tác phẩm nhà thờ, ông bắt đầu sáng tác nhạc thế tục, nhiều nhất là tác phẩm cho đàn orgue và clavecin Đây là thời kỳ hình thành tư duy âm nhạc phức điệu trong sáng tác của Bach Ông nghiên cứu các tác phẩm orgue và violon của các nhạc sĩ như Corelli, Vivaldi để hoàn thiện thủ pháp sáng tác Sau đó ông tỏ thái độ chống lại sự bất công của giới cầm quyền tại Weimar và kết quả là ông thất nghiệp năm 32 tuổi
-Gia đình Bach dời về Cothen Tại đây ông chỉ huy 1 dàn nhạc nhỏ và dạy học Thể loại sáng tác chủ yếu là cho đàn phím, thính phòng và tác phẩm dàn nhạc Ông sáng tác 2 tập Bình quân luật
Trang 9cho đàn phím (tập 1 năm 1722 và tập 2 năm 1744), các Invention (1722), các sonate, partite cho violon, cello, flute, các concerto Brandenbourg…
-Từ 1723-1750, ông sống ở Leipzig, một trung tâm văn hóa và âm nhạc lớn của Đức Tại đây ông đạt đến đỉnh cao trong sáng tác Các tác phẩm đa dạng về hình thức và thể loại Tuy vậy, cuộc sống của ông rất nghèo khó
Thời gian cuối đời ông để tâm vào việc dạy con Ông mất ngày 28/6/1750
-Hoà âm trong tác phẩm Bach là giai đoạn đầu của phong cách hòa âm chủ điệu Ông tạo cơ sở cho hệ thống trưởng-thứ, hòa âm công năng (TSDT) Ở tác phẩm lớn, nhiều chương hình thành các trung tâm điệu tính, những thủ pháp hòa âm quan trọng
-Bach sáng tác rất nhiều hợp xướng phức điệu với các bè đóng vai trò quan trọng như nhau, mang tính chất của các choral Tin lành Ông viết trên 200 cantate nhà thờ, 24 cantate thế tục Ông viết
6 motet cho hợp xướng lớn 8 bè, 4 passion (nổi tiếng có Passion selon Saint Jean-1723, Passion selon Saint Mathieu), 3 oratorio (nổi bật có oratorio de Noel, 1733-1734), 10 messa (nổi bật nhất là Messa h moll, 1733-1738), 1 magnificate
-Tác phẩm khí nhạc: 48 cặp Prelude và Fugue, Toccata, fantaisie, nhiều tiều phẩm clavecin, các tổ khúc Pháp, Anh, Đức, 6 concerto Brandenbourg…
I/ Thân thế và sự nghiệp: -Haendel sinh cùng thời với Bach Tuy nhiên, Bach không rời khỏi
nước Đức , còn Haendel đi khắp các nước châu Âu từ rất trẻ Ông được tiếp xúc với những trào lưu tiến bộ ngoài nước Đức Nước Anh là tổ quốc thứ hai của ông Trong lĩnh vực âm nhạc, ông có công cải cách thể loại oratorio
-Ông biểu diễn clavecin và orgue giỏi
Trang 10-Ông sinh ngày 23/2/1685 tại Halle, miền Nam nước Đức Cha Haendel là thợ tóc giả Ông có khiếu âm nhạc từ nhỏ nên được 1 người cùng quê bảo trợ cho đi học đàn orgue và sáng tác 10 tuổi, ông bắt đầu sáng tác tiểu phẩm cho oboe 12 tuổi ông biểu diễn ở Berlin Vua Phổ có ý muốn gửi Haendel sang Ý học nhạc nhưng cha Haendel cản trở Theo ý muốn của cha (đã từ trần), Haendel vào học đại học luật Ông sáng tác các cantate và oratorio khá thành công Năm 1703, ông quyết định bỏ ngành luật, đến Hambourg nghiên cứu opéra Đức Tại đây ông sáng tác 2 opéra Almira và Néron mang phong cách đặc trưng của âm nhạc Đức (hợp xướng nhà thờ Tin lành, thủ pháp phức điệu), được khán giả yêu thích
-Năm 1707, Haendel sang Ý và ở lại 4 năm Ông đi thăm nhiều thành phố, nghiên cứu và sáng tác opéra theo kiểu Y (các vở Rodrigo, Aggripina) Ngoài ra ông viết nhiều oratorio, cantate và những tác phẩm khác Thời kỳ này, ông vượt khỏi khuôn khổ âm nhạc Đức, tiếp thu tinh hoa âm nhạc Pháp, Tây ban nha và các nước châu Âu khác
-1710-1716, ông về Đức làm việc ở Hanovre Ông sáng tác một số tác phẩm tiêu biểu như
"Rinando", Amadigi, tổ khúc Bản nhạc trên nước Ông được công chúng Anh hoan nghênh nhiệt liệt
-1717, ông rời bỏ nước Đức lạc hậu, sang sống ở Anh Năm 1720, Haendel lãnh đạo nhà hát hoàng gia Anh, dựng 16 opéra của mình và nhiều opéra của các tác giả khác Năm 1728, ông rời nhà hát hoàng gia đi biểu diễn orgue và clavecin ở Ý, Hà lan, Ireland Từ 1728-1741, ông viết được 20 vở opéra mới Ông đổ công sức nhiều cho opéra nhưng không đạt được những thành tựu đáng kể
-60 tuổi, ông bắt đầu nổi tiếng về thể loại oratorio với tác phẩm "Đấng cứu thế"
-1746, khi nước Anh bị Scotland đe dọa xâm lăng, Haendel viết oratorio "Thời cơ" và "Judas
Macchabée" khích lệ lòng yêu nước của nhân dân Anh Ông mất 1759 và được nhân dân Anh cử hành
tang lễ long trọng
II/ Tác phẩm:
-Âm nhạc ông mang tính hành động, hùng mạnh, trang trọng Ông viết ở nhiều loại đề tài từ
âm nhạc nhà thờ đến âm nhạc thế tục Ông sử dụng mọi chất liệu âm nhạc: dân gian, chuyên nghiệp, nhạc Đức, Ý, Pháp, Tây ban nha
Hoà âm ít chú trọng chọn màu sắc tinh tế mà chú trọng tô đậm đường nét giai điệu
Phức điệu ít khi quán triệt từ đầu đến cuối Ông thường bắt đầu bản nhạc bằng phức điệu và sau đó chỉ dùng phức điệu như động lực thúc đẩy cho sự phát triển sang chủ điệu Chủ đề phức điệu không mang tính khái quát như Bach mà mang tính cụ thể, miêu tả
- Thể loại sáng tác tiêu biểu nhất của Haendel là oratorio Haendel sáng tác 32 oratorio Trong
đó có La Fête d'Alexandre (1736), Israel ở Ai cập (1737), Joseph và các anh em ở Ai cập (1742),
Samson (1743), Judas Macchabée (1746), Salomon (1748), Susanna (1748), Alceste (1749) Trước
thời Haendel, oratorio chia làm 2 màn Đến thời Haendel, oratorio gồm 3 màn, trình diễn trên sân khấu lớn, cấu trúc lớn hơn cantate Haendel nhạc kịch hóa oratorio Đề tài đa dạng (đồng nội, thần thoại, tình yêu…) Kịch bản oratorio của Haendel thường trích từ kinh thánh nhưng nói lên tiếng nói thời đại, diễn tả nội tâm, ước vọng của quần chúng, khích lệ tinh thần yêu nước của họ Mỗi nhân vật có 1 chủ đề riêng Các nhân vật phối hợp với nhau chặt chẽ nhưng đồng thời mỗi nhân vật đều mang tính độc lập Giai điệu giản dị, mang tính hành động, kêu gọi Dàn nhạc luôn hỗ trợ đắc lực cho vở diễn, tỏ
ra độc lập ở đoạn mở màn, chuyển đoạn…Haendel sử dụng các nhạc cụ sáo, oboe, cor, trompette, harpe… và một số nhạc cụ cổ rất linh hoạt Haendel đã đưa oboe vào dàn nhạc oratorio
Ông viết 2 passion 2 motet, 4 psaume, 5 Te Deum
-Ông viết nhiều concerto Concerto của ông có từ 2 đến 6 chương, kết hợp theo lối liên khúc sonate cổ (sonate da camera, sonate da chiesa) hoặc tổ khúc Tác phẩm tiêu biểu có 18 concerto
grosso, 12 concerto cho orgue, piano với dàn nhạc, 6 concerto cho oboe, tổ khúc Bản nhạc trên nước
Ngoài ra, ông còn viết các sonate, duo và trio cho nhiều nhạc khí khác nhau
-Opéra: ông viết gần 40 opéra Nổi bật có: Radasmito (1720), Giulio Cesare (1724),
Alessandro (1726), Arianna (1734), Ariodante (1734)
Tổ khúc Bản nhạc trên nước:
Ouverture
Trang 11Khúc 2
Trường phái Cổ điển Vienne I/ Hoàn cảnh xã hội: Trường phái Cổ điển Vienne ra đời ở Áo thế kỷ XVIII Bấy giờ, Áo là
nước quân chủ chuyên chế, tập trung nhiều dân tộc ở châu Âu đến sinh sống Văn hóa nghệ thuật châu
Âu phát triển mạnh tại đây Trường phái âm nhạc Cổ điển Vienne có liên quan chặt chẽ với cuộc cách mạng Tư sản Pháp 1789, với tư tưởng nhân đạo, niềm tin vào chân lý, tinh thần lạc quan Đại diện chính của trường phái âm nhạc Cổ điển Vienne là Gluck, Haydn, Mozart và Beethoven
II/ Thành tựu âm nhạc:
-Hình thức: hoàn thiện hình thức sonate, một hình thức sử dụng sự tương phản để tạo kịch tính cho tác phẩm Hình thức sonate gồm 3 phần:
*Phần trình bày: Chính-Nối-Phụ-Kết
*Phần phát triển: Các hình tượng ở phần trình bày được phát triển ngày càng xung đột tạo trung tâm kịch tính cho tác phẩm
*Phần tái hiện: nhắc lại chủ đề ở phần trình bày ở nguyên dạng
Hình thức sonate có thể có thêm hai phần phụ là phần mở đầu và phần Coda
Haydn đã hoàn thiện thể loại giao hưởng cổ điển 4 chương bằng cách ứng dụng liên khúc sonate vào giao hưởng
Chương 1 allegro sonate, trình bày cuộc đấu tranh giữa các hình tượng chủ đề tương phản Chương 2 chậm, tự do, trữ tình hay bi thương
Chương 3 nhịp ¾, menuet hoặc scherzo, mang tính vũ khúc vui tươi hay châm biếm
Chương 4 nhanh (thường nhanh nhất trong 4 chương), hình thức sonate hoặc rondo-sonate, mang tính tổng hợp các chương trên
Sự hoàn thiện của hình thức sonate và liên khúc sonate là động cơ phát triển các thể loại âm nhạc như song tấu, tam tấu, tứ tấu, concerto…
Các nhạc sĩ Cổ điển Vienne rất chú trọng sự cân đối giữa các câu nhạc, đoạn nhạc, chương nhạc
-Hoà âm: giai đoạn này là đỉnh cao của sự tổng kết công năng hoà âm TSDT, công năng kép, chuyển điệu Trường phái Cổ điển Vienne chú trọng sự kết hợp hài hòa giữa các hợp âm thuận và nghịch, hướng theo hướng hòa âm chủ điệu
-Điệu thức: sử dụng chủ yếu là trưởng tự nhiên và thứ hòa âm, tạo thuận tiện cho sự phát triển hòa âm công năng
-Chủ đề: lấy chất liệu từ dân ca châu Âu, giai điệu trong sáng, giản dị Thời này thịnh hành thủ pháp phát triển motif
-Trường phái Cổ điển Vienne phát triển trên lĩnh vực khí nhạc rất mạnh, nhất là dàn nhạc giao hưởng Haydn, Mozart, Beethoven đều có tác phẩm cho đàn phím Kèn được ở vị trí solo trong dàn nhạc thường xuyên hơn (clarinette, cor) Trombone xuất hiện lần đầu tiên trong các giao hưởng Luân đôn của Haydn và tác phẩm Khúc tưởng niệm (Requiem) của Mozart Beethoven dùng kèn mô tả những hình tượng anh hùng, mang kịch tính cao
Christophe Willibald Gluck
(1714-1787)
I/ Sơ lược nhạc kịch châu Âu thế kỷ XVIII: từ thế kỷ XVII, opéra seria Ý được sử dụng
nhiều ở châu Âu với phong cách bóng bẩy, nội dung lịch sử hay thần thọai Đầu thế kỷ XVIII, loại opéra này suy thoái, bế tắt về nội dung, kỹ thuật mang tính hình thức Lúc này xuất hiện opéra buffa
Trang 12lấy đề tài đương đại, mang tính dân tộc, nhân vật là những người bình thường, giai điệu trong sáng,
gần với dân ca, tình tiết nhanh gọn Các vở điển hình có: "Con sen thành bà chủ" của Pergolèse người Pháp, "Thầy mo làng que" của Rousseau (Pháp)…
Nhạc sĩ Gluck xuất hiện, góp phần cải cách opéra Đức và opéra châu Âu một cách có hệ thống
II/ Thân thế và sự nghiệp của Gluck: -Ông sinh ngày 2/6/1714 tại Weidenwang, Đức, trong
một gia đình nông dân 12 tuổi, Gluck theo cha sang Tiệp khắc sinh sống Ông học 6 năm ở một trường đạo, tiếp thu kiến thức về đạo giáo, văn học và âm nhạc (lý thuyết, clavecin, orgue, cello, hợp xướng) Sau đó, có một thời gian ông theo các nhóm nhạc về nông thôn trình diễn, đàn orgue cho nhà thờ ở Prague và dạy nhạc
-1736, một bá tước bảo trợ cho Gluck đến Vienne học nhạc Ông chú trọng nhạc kịch Ý và sáng tác những vở đầu tiên Sau đó, bá tước Melzi bảo trợ cho Gluck sang Ý học tập và sáng tác Ông
trở nên nổi tiếng 1746 ông sang Anh và sáng tác 2 opéra "Artaserse", "Sự thất bại của những người
khổng lồ" Ông liên tục hoạt động chỉ huy, dựng opéra, soạn hơn 50 opéra
-Ông về Vienne nghiên cứu opéra buffa của Pháp, sáng tác một số ballet như Don Joan,
Hoàng tử Trung hoa Lúc này xuất hiện trường phái âm nhạc cổ điển Vienne, khí nhạc phát triển
mạnh tác động đến phong cách sáng tác của Gluck
-1762, Gluck dựng opéra cải cách đầu tiên Orphée Tiếp đó là các vở Alceste (1767), Paride et
Elena (1770) Ông đề ra những nguyên tắc mới cho opéra 1774, vở Iphigenie ở Aulide của Gluck
trình diễn thành công ở Pháp Sau đó, ông sửa lại các vở cũ cho phù hợp với sân khấu Pháp (mở rộng màn múa, chuyển giọng castrat thành giọng ténor)
Cuối đời ông có những tác phẩm nổi tiếng như Armide (1777), Iphigenie ở Tauride (1779)
Ông mất ngày 15/10/1787
III/ Tác phẩm: -Ông viết trên 100 opéra, vở tiêu biểu nhất là “Orphée”
Opéra của Gluck có những cải cách như sau;
*Đơn giản, gần hiện thực, tránh lạm dụng kỹ thuật
*Phần nhạc kết hợp chặt chẽ với lời ca, theo sát ngôn ngữ văn học
*Aria phù hợp tình cảm nhân vật
*Ông tăng cường phần đệm cho bài hát nói
*Màn múa phải có liên quan đến tình tiết nhạc kịch
*Ouverture liên quan đến nội dung và hình tượng trong vở opéra
JOSEPH HAYDN (1732-1809)
I/ Thân thế và sự nghiệp: -Ông là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của trường phái cổ điển
Vienne Ông có công hoàn thiện thể loại giao hưởng cổ điển 4 chương
-Ông sinh ngày 31/3/1732 tại Rohrau, miền Nam nước Áo, trong một gia đình thợ thủ công Quê hương ông là một vùng pjong phú về âm nhạc dân gian Từ nhỏ, ông được học nhạc ở nhà thờ (violon, đàn phím, hợp xướng) Ông là diễn viên hợp xướng nhà thờ ở Vienne trong 10 năm Thời gian này ông tự nghiên cứu và thực hành các môn lý thuyết âm nhạc, phức điệu, đối vị…
-Sau khi vỡ giọng, không hát được, Haydn kiếm sống bằng nghề dạy nhạc Ông đặc biệt nghiên cứu các tác phẩm của Bach Năm 1751, ông sáng tác opéra đầu tiên “Con quỷ thọt” nhưng không thành công 23 tuổi ông làm việc trong một nhóm nhạc của một ông hoàng bảo trợ nghệ thuật
và soạn gần 20 tứ tấu dây đầu tiên 27 tuổi ông phụ trách một nhóm nhạc hơn 10 người cho 1 ông hoàng khác và bắt đầu viết những giao hưởng đầu tiên 29 tuổi ông làm việc cho 1 bá tước Hungary với dàn nhạc 14 người, đàn orgue và hợp xướng Sau đó, gia đình bá tước xây 1 biệt thự lớn có 2 sân khấu và dàn nhạc 25 người Haydn soạn nhiều giao hưởng giải trí, hợp xướng, lễ ca, tứ tấu, opéra… Cuộc đời nhạc sĩ hầu cận kéo dài khoảng 30 năm làm ông rất đau khổ
-48 tuổi ông thành công với 6 giao hưởng Paris và giao hưởng “Trẻ em” 59 tuổi ông được mời sang Luân đôn biểu diễn và sáng tác Ông được công chúng Luân đôn hoan nghênh nhiệt liệt Từ đây ông đọan tuyệt với cuộc đời làm thuê
-1792, ông trở về Vienne và có gặp Beethoven trên đường về 1794, ông lại sang Anh và được học viện Oxford tặng học vị tiến sĩ âm nhạc Ông viết thêm 6 giao hưởng, 2 thanh xướng kịch “Đấng
Trang 13sáng tạo muôn lòai” và “Bốn mùa” Trở về Vienne ông viết thêm một số tứ tấu, sonate, lễ ca Ông mất ngày 31/5/1809 tại ngoại ô Vienne
II/ Tác phẩm: Haydn có công hoàn thiện thể loại giao hưởng 4 chương bằng cách ứng dụng
liên khúc sonate Ông viết trên 100 giao hưởng, nổi bật nhất là 12 giao hưởng Luân đôn cuối đời Giao hưởng của ông chia làm 4 giai đoạn:
*Trước 1772: tác phẩm mang tính giải trí, phong cách thính phòng
*Những tác phẩm trong thời kỳ ông làm nhạc sĩ hầu cận: có một số tác phẩm đau thương, đầy kịch tính (44,45,49 với các tiêu đề “Tang lễ”, “Vĩnh biệt”)
*Tác phẩm thập niên 80: ông tạm thời ra khỏi khủng hoảng tinh thần Ông có những tác phẩm
tiêu biểu thời kỳ này như 6 giao hưởng Paris và Giao hưởng trẻ em
*12 giao hưởng Luân đôn cuối đời là những tác phẩm tiêu biểu nhất của Haydn Trong đó có những tác phẩm được người đời sau đặt tên như: Kỳ ảo (96), Đồng hồ (101), Chiến trận (100), Trống rung (104)…
Ông qui định thành phần dàn nhạc giao hưởng gồm 4 bộ:
.Bộ dây: violon1, violon 2, viola, cello, contre basse
.Bộ gỗ: sáo, oboe, clarinette, fagotte
.Bộ đồng: cor, trompette, trombone
.Bộ gõ: timpani
-Tác phẩm thính phòng, piano và thanh nhạc: thể loại thính phòng nổi bật nhất của Haydn là tứ
tấu dây, mang tính trong sáng, vui vẻ, lấy chất liệu dân ca Tiêu biểu có tác phẩm "Prusse", "Chim sơn
ca" (63), các tứ tấu Nga (37-42)
Ông viết 52 sonate cho piano, nhiều biến tấu, rondo…Nổi tiếng nhất là sonate D dur
Ông viết 24 opéra, 2 oratorio "Đấng sáng tạo muôn loài" và "Bốn mùa", 14 messa, nhiều hợp
I/ Thân thế và sự nghiệp: Ông là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của trường phái cổ điển Vienne
Ông nổi tiếng là nhạc sĩ thần đồng, biểu diễn thành công từ lúc 6 tuổi Ông sáng tác hầu hết các thể loại âm nhạc và trong thể loại nào cũng có tác phẩm nổi tiếng Ông tiếp nối truyền thống opéra của Gluck và truyền thống giao hưởng của Haydn
-Ông sinh ngày 27/1/1756 tại Salzbourg, Tây Bắc nước Áo, trong 1 gia đình có truyền thống âm nhạc (cha là nghệ sĩ violon, chị rất giỏi piano) Quê hương ông có nhiều sinh hoạt âm nhạc dân gian và âm nhạc tôn giáo 4 tuổi, ông bắt đầu học violon, clavecin, orgue và sáng tác 6 tuổi, Mozart cùng chị biểu diễn ở cung đình Vienne rất thành công (tác phẩm thuộc lòng, thị tấu nhanh, ứng tác) 1763, gia đình Mozart đến Paris biển diễn Mozart được tiếp xúc với sân khấu lớn và các nhạc sĩ danh tiếng Ông sáng tác 4 sonate cho violon và piano Sau đó ông đến Luân đôn, nghiên cứu opéra Ý, viết giao hưởng số 1 và một số tác phẩm thính phòng Sang Hà lan ông viết thêm 1 số giao hưởng, 6 sonate cho violon + piano và nhiều tác phẩm khác
-Cuối năm 1766, ông về Salzbourg bắt đầu cuộc đời nhạc sĩ hầu cận Cuối năm 1769, ông được lãnh chúa cho phép sang Ý biểu diễn và tại đây ông thành công rực rỡ 14 tuổi, ông được tặng danh hiệu viện sĩ hàn lâm Bologne Cuối 1770, lần đầu tiên nhạc kịch Mozart được trình diễn tại Milano; Mozart tự đệm clavecin, chỉ huy và dàn dựng Sau đó lãng chúa Salzbourg gọi Mozart trở về Tháng 9/1777 Mozart lại cùng mẹ đến Paris Đến nơi, mẹ ông qua đời làm ông rơi vào hoàn cảnh khó khăn Tuy nhiên ông vẫn sáng tác rất nhiều và có những tác phẩm nổi tiếng như giao hưởng Paris D dur, sonate violon e moll, 2 sonate piano a moll và A dur
-Đầu năm 1779, ông trở về Salzbourg Lãnh chúa đối xử tệ bạc nên ông xin thôi việc 10 năm cuối đời
là đỉnh cao sáng tác của Mozart Thời gian này ông sống ở Vienne Ông có những tác phẩm nổi bậc như giao hưởng 39,40,41, các opéra Don Joan, Đám cưới Figaro, Cuộc đột nhập vào hoàng cung nước Phổ, Cây sáo thần, bản Requiem Ông mất ngày 5/12/1791
II/ Tác phẩm: