Tham khảo mô hình tổ chức kênh tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp,nông thôn và chính sách tín dụng đối với hộ nghèo của một số nước đang phát triển,gắn với điều kiện của Việt Nam, C
Trang 1CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ
xã hội Hoạt động của loại hình Ngân hàng này thường ít quan tâm về mục tiêu lợinhuận mà mục đích hàng đầu là phát triển ngành, khu vực và vì mục tiêu xoá đóigiảm nghèo, tạo việc làm
Tham khảo mô hình tổ chức kênh tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp,nông thôn và chính sách tín dụng đối với hộ nghèo của một số nước đang phát triển,gắn với điều kiện của Việt Nam, Chính phủ đã quyết định thành lập NHCSXH đểthực hiện nhiệm vụ tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác
Mô hình tổ chức và quản lý trong hệ thống NHCSXH của Việt nam là môhình đặc thù, thể hiện sâu sắc chủ trương xã hội hoá, dân chủ hóa, thực hiện côngkhai, minh bạch kênh tín dụng chính sách của Chính phủ Tổ chức tín dụng chínhsách hoạt động phi lợi nhuận, thực chất là tổ chức tài chính của Chính phủ, thực hiệnvai trò điều tiết nguồn lực của Nhà nước, hỗ trợ một phần tài chính cho những người
Trang 2không có khả năng tiếp cận với dịch vụ tín dụng của các NHTM, thực hiện mục tiêuxoá đói giảm nghèo và phát triển nông nghiệp, nông thôn Mô hình này có nhiều đặcđiểm khác biệt so với các tổ chức tín dụng thương mại truyền thống
Với Mô hình tổ chức và quản lý mang tính đặc thù như trên đã thể hiện rõ bảnchất xã hội hoá, dân chủ hoá kênh tín dụng chính sách của Chính phủ, khác xa sovới các tổ chức tín dụng thương mại truyền thống
1.1.2 Về cơ chế hoạt động
1.1.2.1 Mục tiêu hoạt động
Việt Nam được xếp vào một trong những nước nghèo trên thế giới Đảng vàNhà nước cam kết bằng mọi nỗ lực phải xoá đói giảm nghèo thông qua nhữngchương trình quốc gia, trong đó có chương trình tín dụng cho hộ nghèo và các đốitượng chính sách khác Chương trình này đã được sự ủng hộ của nhiều Chính phủ vàcác tổ chức quốc tế
Những năm trước đây các NHTM quốc doanh là những tổ chức tín dụng Nhànước thực hiện chương trình tín dụng hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.Tuy nhiên với chức năng và mục tiêu hoạt động của các NHTM là thực hiện kinhdoanh trong lĩnh vực tiền tệ, lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu, muốn tồn tại và pháttriển các NHTM phải có mức chênh lệch dương về lãi suất cho vay và huy độngvốn, tối đa hoá lợi nhuận, tạo ra sức cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường Mặt khácthực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam nói chung cũng như ngànhNgân hàng nói riêng, trong cam kết của Việt Nam khi gia nhập tổ chức thương mại
thế giới WTO là phải “tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại”; đòi
hỏi phải có một kênh tín dụng chính sách để thực hiện nhiệm vụ tín dụng hộ nghèo
và các đối tượng chính sách khác
Ngày 04/10/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số TTg thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội, hoạt động như một định chế tài chính
Trang 3131/2002/QĐ-đặc thù của Nhà nước để thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo
và các đối tượng chính sách khác
Là tổ chức tín dụng Nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thựchiện cho vay với lãi suất và các điều kiện ưu đãi với mục tiêu chính là: Xoá đói,giảm nghèo tạo việc làm góp phần ổn định kinh tế, chính trị- xã hội Đây là điểmkhác biệt cơ bản của NHCSXH với các NHTM khác
1.1.2.2 Đối tượng phục vụ
Khách hàng vay vốn của NHCSXH là những đối tượng có sức cạnh tranh yếutrong nền sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường và không đủ các điều kiện để tiếpcận với tín dụng của các NHTM Hầu hết đối tượng phục vụ của NHCSXH là hộnghèo và các đối tượng chính sách khác thiếu vốn sản xuất, kinh doanh thường tậptrung ở những vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện thời tiết, khí hậu, địa hình núicao hiểm trở bị chia cắt… Vì vậy việc đầu tư tín dụng của các NHTM tại những địabàn này có chi phí lớn, rủi ro tín dụng cao, hiệu quả kinh doanh không thoả mãnđược mục tiêu lợi nhuận
Đối với kinh tế hộ gia đình: NHCSXH hỗ trợ các hộ gia đình nghèo, gia đìnhchính sách thiếu vốn sản xuất kinh doanh từng bước phát triển sản xuất kinh doanh,cải thiện chất lượng cuộc sống
Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các hợptác xã, NHCSXH cho vay để tạo việc làm, thu hút thêm lao động, giảm tình trạngthất nghiệp tại các địa phương
Đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, NHCSXH cho vay đểtrang trải các chi phí học tập
Đối với các tổ chức cá nhân hộ sản xuất kinh doanh thuộc những khu vựckinh tế kém phát triển, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, chovay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh, dịch vụ, khuyến khích các đơn
Trang 4vị, cá nhân đầu từ sản xuất vào những vùng khó khăn nhằm nâng cao đời sống củamột bộ phận các hộ gia đình tại những vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khănkém phát triển.
1.1.2.3 Cơ chế về nguồn vốn
Do đặc điểm tín dụng của NHCSXH là theo sự chỉ định của Chính phủ, vì vậyphần lớn nguồn vốn của NHCSXH phụ thuộc vào NSNN, việc tăng trưởng nguồnvốn được xác định theo mục tiêu và kế hoạch của Chính phủ Về cơ cấu nguồn vốn
và nguồn hình thành cũng có sự khác biệt với các NHTM, sự khác biệt thể hiện ởchỗ:
Thứ nhất : Nguồn vốn chủ sở hữu của các NHTM chiếm tỷ trọng nhỏ thôngthường chiếm khoảng 8% tổng nguồn vốn, phần còn lại là huy động và đi vay trênthị trường, trong khi đó Nguồn vốn chủ sở hữu của NHCSXH chiếm khoảng 30%tổng nguồn vốn
Thứ hai : Nguồn vốn của các NHTM chủ yếu do huy động trên thị trường(đặc trưng của NHTM là đi vay để cho vay) còn đối với NHCSXH nguồn vốn nàyđược tạo lập chủ yếu từ NSNN theo các hình thức: Cấp vốn điều lệ ban đầu và hàngnăm được NSNN bổ sung thêm Nguồn vốn do kết dư Ngân sách địa phương (tăngthu, tiết kiệm chi) của Ngân sách địa phương chuyển sang để thực hiện chương trìnhtín dụng đối với các đối tượng chính sách theo vùng Nguồn vốn của Chính phủ vaydân dưới hình thức phát hành trái phiếu, công trái… để thực hiện chương trình tíndụng ưu đãi Nguồn vốn do các NHTM Nhà nước gửi theo cơ chế (phải gửi 2% sốvốn huy động trên thị trường bằng nội tệ vào NHCSXH và được trả theo lãi suất huyđộng bình quân đầu vào của các NHTM cộng thêm chi phí quản lý tiền gửi củaNHTM, chi phí quản lý do NHCSXH và NHTM thoả thuận) Nguồn vốn huy độngtrên thị trường được NSNN cấp bù chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho
Trang 5vay của NHCSXH Nguồn vốn tài trợ uỷ thác đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong
và ngoài nước
1.1.2.4 Cơ chế sử dụng vốn
Cơ chế sử dụng vốn của NHCSXH mang một số nét đặc thù như sau:
Thứ nhất: Vốn đầu tư tín dụng có rủi ro cao vì tín dụng của NHCSXH chủyếu tập trung ở những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi có môi trường điềukiện tự nhiên khắc nghiệt, trong khi đó sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vàođiều kiện tự nhiên, mặt khác người vay vốn thường thiếu kiến thức trong sản xuấtkinh doanh nên dễ bị thua lỗ
Thứ hai: Cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác chủ yếu dựatrên cơ sở tín chấp, tiền vay không được đảm bảo bằng tài sản thế chấp (khác vớiNHTM là tiền vay phải được đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố và bảo lãnh)
Thứ ba: Lãi suất cho vay, thời hạn cho vay và các điều kiện vay vốn có sự ưuđãi đối với khách hàng Lãi suất thường thấp hơn các NHTM, thậm chí còn thấp hơn
cả lãi suất đầu vào của các NHTM Thời hạn của các khoản cho vay của NHCSXHphụ thuộc vào tình trạng kinh tế của hộ gia đình (thoát nghèo hay chưa thoát nghèo)
vì vậy phần lớn các món cho vay của NHCSXH thường dài hơn thời hạn cho vaycủa các NHTM và chủ yếu là trung và dài hạn
Thứ tư: Mức cho vay nhỏ, địa bàn rộng lớn, phức tạp nên chi phí cao, cơ chếcho vay đối với mỗi loại đối tượng được chỉ định có sự khác nhau, qui định về hồ sơvay vốn cũng khác nhau
Thứ năm: Phương thức cho vay được áp dụng thông qua các tổ chức chính
trị-xã hội Để đạt được hiệu quả tín dụng cao nhất thì ngoài NHCSXH còn có sự phốikết hợp của nhiều chương trình với sự tham gia quản lý của các cấp, các ngành, các
tổ chức chính trị – xã hội
Trang 6Thứ sáu: Phần lớn nguồn vốn của NHCSXH được tập trung để thực hiệnchương trình tín dụng, trong khi đó các NHTM là những đơn vị kinh doanh tổnghợp, đa năng không chỉ sử dụng vốn vào đầu tư tín dụng mà còn sử dụng để đầu tưvào thị trường tiền tệ, thị trường vốn với mục tiêu lợi nhuận.
Thứ bẩy: Là một Ngân hàng mới được thành lập, tài sản cố định và các công
cụ lao động hầu như chưa được đầu tư đúng mức nên việc sử dụng vốn đầu tư vào
cơ sở vật chất (nhà cửa, kho tàng và các phương tiện làm việc) cần một lượng vốnlớn
1.1.3 Tín dụng và đặc điểm của tín dụng trong NHCSXH.
1.1.3.1 Khái niệm tín dụng
Tín dụng Ngân hàng không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để bổ sungvốn lưu động cho các doanh nghiệp và cá nhân mà còn đầu tư để đổi mới kỹ thuật,giải quyết công ăn việc làm… Ngoài ra Tín dụng Ngân hàng còn đáp ứng một phầncho nhu cầu tiêu dùng của cá nhân Vậy Tín dụng Ngân hàng là một hình thức tíndụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường
Tuỳ theo các góc độ ngiên cứu khác nhau mà chúng ta có thể xác định nộidung của thuật ngữ này Danh từ xuất phát từ tiếng latinh là Creditum, có nghĩa làmột sự tin tưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay có thể nói đấy là lòng tin
Trong thực tế cuộc sống, thuật ngữ này được hiểu theo các cách sau: Xéttrên góc độ dịch chuyển quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thểthiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ ngườicho vay sang người đi vay
Xét trong mối quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sảntrên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể
Tín dụng có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấpcho khách hàng
Trang 7Thứ hai: Người sử dụng tài sản phải cam kết hoàn trả vô điều kiện số tài sản
đó đúng thời hạn và với một giá trị lớn hơn, phần chênh lệch lớn hơn đó được gọi
là lợi tức hay tiền lãi
Như vậy tín dụng là mối quan hệ giữa người đi vay và người cho vay thôngqua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệhoặc hàng hoá
Có thể mô hình hoá quá trình vận động đó qua sơ đồ:
Tín dụng ngân hàng là quan hệ bằng tiền giữa ngân hàng với các chủ thểkinh tế khác trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa làngười cho vay
1.1.3.2 Đặc điểm về tín dụng của NHCSXH
Là một bộ phận của hệ thống tài chính trong nền kinh tế, tài chính củaNHCSXH trong quá trình hình thành, phát triển và kết thúc chu kỳ có những đặcđiểm, nội dung và mối quan hệ đặc thù so với tài chính của các NHTM
Thứ nhất: Mục tiêu hoạt động
Hoạt động của NHCSXH không vì mục tiêu lợi nhuận “Phi lợi nhuận”, được
miễn các loại thuế và các khoản nộp NSNN, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi,không phải thực hiện dự trữ bắt buộc, hàng năm được Nhà nước bổ sung thêm vốn.Như vậy về nguồn lực tài chính của NHCSXH phụ thuộc phần lớn vào nguồn lực
Người sở hữu (Người cho vay)
Người sử dụng (Người đi vay)
Hoàn trả
Trang 8của NSNN, việc tăng hay giảm nguồn lực tài chính của NHCSXH phụ thuộc vàomục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, mục tiêu chương trình quốc gia về xoá đói giảmnghèo tạo việc làm và đào tạo… của Chính phủ Đối với các NHTM mục tiêu hoạtđộng chủ yếu vì lợi nhuận, nguồn lực tài chính phụ thuộc vào qui mô của NHTM,kết quả kinh doanh, biến động của thị trường trong từng thời kỳ nhất định
Thứ hai: Các nguyên tắc về tín dụng
Nguồn lực tài chính là điều kiện cơ bản quyết định năng lực và hiệu quả hoạtđộng của NHCSXH Ở các nước đang phát triển tuỳ theo điều kiện kinh tế cụ thể,mỗi nước có những cơ chế chính sách cụ thể, trong đó có những nội dung quy địnhkhác nhau về tạo lập nguồn vốn và cho vay các đối tượng Vận dụng thông lệ quốc
tế và kinh nghiệm các nước, ở Việt nam cơ chế chính sách về tài chính củaNHCSXH được xác định như sau:
a) Nguyên tắc về huy động các nguồn vốn
Việc huy động các nguồn vốn của NHCSXH được căn cứ vào kế hoạch tíndụng chương trình quốc gia xoá đói, giảm nghèo và tạo việc làm của Chính phủ: (i)
Kế hoạch huy động vốn phải trình các bộ, ngành xem xét phê duyệt, (ii) Lãi suất huyđộng các nguồn vốn trong nước với lãi suất thị trường phải đảm bảo nguyên tắckhông vượt quá mức lãi suất huy động của các NHTM nhà nước, (iii) Đối với việchuy động theo hình thức phát hành trái phiếu, vay vốn của Tiết kiệm Bưu điện, vayvốn của các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính ở nước ngoài lãi suất huy động do Bộtài chính quy định và phê duyệt Đây cũng là điểm khác biệt với các NHTM, nguồnvốn huy động, lãi suất huy động đều dựa trên cơ chế thị trường
b) Nguyên tắc sử dụng vốn
Nếu như các NHTM hầu hết thực hiện cho vay trực tiếp đến khách hàng theocác hình thức cho vay như cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay theo dựán…và các NHTM có quyền được lựa chọn khách hàng, lựa chọn địa bàn để cho vay
Trang 9thì việc cho vay của NHCSXH lại chủ yếu cho vay theo phương thức uỷ thác từngphần qua các tổ chức chính trị – xã hội: (i) Đối tượng khách hàng vay vốn theo sự chỉđịnh của Chính phủ, phê duyệt quyết định cho vay không hoàn toàn do NHCSXH màphải được Chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý chương trình xác nhậnngười vay đủ điều kiện để được vay vốn ưu đãi, (ii) Địa bàn cho vay phần lớn tậptrung ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội kém pháttriển, (iii) Mối quan hệ giữa NHCSXH với đối tượng vay vốn không phải là trực tiếp
mà là gián tiếp thông qua Chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị – xã hội,các cơ quan quản lý chương trình
c) Nguyên tắc cấp bù của NSNN
Là Ngân hàng của Chính phủ, hoạt động vì mục tiêu xoá đói giảm nghèo, tạoviệc làm góp phần ổn định kinh tế chính trị – xã hội nên lãi suất cho vay nhỏ hơn lãisuất huy động Để bảo vệ sự tồn tại và phát triển thì NSNN phải cấp bù chênh lệchlãi suất và chi phí quản lý Nguyên tắc cấp bù được xác định như sau: NHCSXHđược NSNN hỗ trợ tài chính bằng cách cấp bù chênh lệch lãi suất và chi phí quản lýtrong phạm vi kế hoạch tín dụng đã được Chính phủ và các cơ quan quản lý phêduyệt Việc NHCSXH cho vay vượt chỉ tiêu kế hoạch đã được Chính phủ phê duyệt
sẽ không được Nhà nước cấp bù phần vượt
d) Về cơ chế trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng
Hoạt động Ngân hàng rất nhạy cảm với những thay đổi về kinh tế – chính
trị-xã hội và các điều kiện tự nhiên Mức độ rủi ro trong hoạt động Ngân hàng thườngrất cao, đặc biệt là trong đầu tư tín dụng Để bảo toàn vốn, bù đắp kịp thời những rủi
ro sảy ra thì việc thiết lập quỹ dự phòng rủi ro là tất yếu nhằm bảo vệ sự phát triểnbền vững
Theo thông lệ quốc tế, định kỳ tài sản của ngân hàng phải được đánh giá,phân loại: Tài sản chất lượng bình thường; kém chất lượng; chất lượng xấu còn khả
Trang 10năng thu hồi, khó thu hồi và không thể thu hồi để tiến hành trích lập quỹ dự phòng.
Ở Việt Nam hiện nay, việc dự phòng cũng đang từng bước tiếp cận với thông lệ vàchuẩn mực quốc tế, bao gồm dự phòng chung và dự phòng cụ thể Trong đó, dựphòng chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác địnhđược trong quá trình hoạt động; dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ
sở phân loại các khoản nợ cụ thể để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra.Ngân hàng phân chia các khoản nợ tín dụng làm 5 nhóm (nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cầnchú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn)
Đối với loại hình NHCSXH của Việt nam, cơ chế trích lập dự phòng rủi ro tíndụng không thực hiện theo quy định về trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụngnhư các NHTM Việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của NHCSXH được thựchiện đối với cả loại nợ đủ tiêu chuẩn, mức trích lập 0,02% trên số dư nợ bình quânnăm Việc sử dụng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng chỉ để xử lý những khoản vay bịtổn thất do nguyên nhân khách quan Đối với các khoản rủi ro do nguyên nhân chủquan (do chủ quan của NHCSXH, của người vay, của các đối tượng liên quan khác),đến nay chưa có cơ chế xử lý đối với phần rủi ro còn lại sau khi đã quy trách nhiệm
và thu hồi nhưng không thu đủ Đây là một tồn tại cần được khắc phục bằng bổ sung
cơ chế quản lý
Thứ ba: Nội dung và đặc điểm về Thu nhập
Thu nhập của NHCSXH có vai trò và vị trí quan trọng trong hoạt động Nó lànguồn trang trải các chi phí bỏ ra để thực hiện mục tiêu hoạt động, nó quyết địnhđến sức mạnh và quy mô của NHCSXH nhất là thực hiện xu hướng phát triển bềnvững trong tương lai Đó là một nhiệm vụ khá khó khăn phức tạp vì thu nhập về lãicho vay của NHCSXH bị tác động và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên vàmôi trường kinh tế - xã hội NHCSXH chủ yếu đầu tư cho vay sản xuất nông nghiệp
Trang 11và cho vay ở vùng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, vùng có trình độ dân trí thấp,kinh tế kém phát triển
Thu nhập của NHCSXH được thực hiện theo nguyên tắc thực thu, không thựchiện theo phương pháp dự thu như các NHTM Nguồn thu nhập của NHCSXH chủyếu là thu lãi cho vay và thu cấp bù từ NSNN, các khoản thu khác còn lại chiếm tỷtrọng quá nhỏ trong thu nhập
Thứ tư: Nội dung và đặc điểm về Chi phí
Chi phí của NHCSXH phát sinh trong kỳ cho các hoạt động so với các nướctrên thế giới có triển khai loại hình tín dụng chính sách, tại Việt nam chi phí cho hoạtđộng của NHCSXH thường có mức chi phí cao do địa bàn hoạt động rộng, món chovay nhỏ lẻ và chủ yếu tập trung cho vay ở những vùng khó khăn
Từ đặc điểm vận dụng phương thức cho vay uỷ thác từng phần công việc chocác tổ chức chính trị- xã hội và các cơ quan quản lý chương trình, nên ngoài chi phíquản lý cho bản thân NHCSXH thì còn phải dành một phần kinh phí để chi cho cácđối tượng nhận làm dịch vụ uỷ thác Khoản chi này chiếm tỷ trọng lớn trong tổngchi phí quản lý của NHCSXH (khoảng từ 16% đến 30%)
Do giới hạn nghiệp vụ hoạt động của NHCSXH hẹp hơn nghiệp vụ của cácNHTM (đặc biệt là trong lĩnh vực hoạt động dịch vụ và các nghiệp vụ đầu tư trên thịtrường tài chính, thị trường tiền tệ ) nên các khoản mục chi phí của NHCSXH íthơn và đơn giản hơn các NHTM
1.2 Chất lượng tín dụng và các tiêu thức đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng
Chất lượng Tín dụng là khả năng cung ứng tín dụng phù hợp với yêu cầuphát triển của các mục tiêu kinh tế - xã hội, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả nợ vayđúng hạn, mang lại lợi nhuận cho các Ngân hàng thương mại từ nguồn tích luỹ do
Trang 12đầu tư tín dụng và do đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế Riêng đối với hoạtđộng tín dụng mang tính chất xã hội như cho vay xoá đói giảm nghèo thì ngoài yêucầu hoàn trả vay đúng hạn, hiệu quả tín dụng còn phải hướng đến tạo thu nhập chongười đi vay để họ nhanh chóng “thoát” nghèo, thực hiện được các mục tiêu củachính sách xã hội đề ra.
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh khả năngthích nghi của tín dụng ngân hàng với sự thay đổi của các nhân tố chủ quan (khảnăng quản lý, trình độ cán bộ tín dụng ngân hàng…), khách quan (mức độ an toànvốn tín dụng, lợi nhuận của khách hàng, sự phát triển kinh tế - xã hội…) Do đóchất lượng tín dụng kết quả mối quan hệ biện chứng giữa ngân hàng - khách hàng -nền kinh tế - xã hội, cho nên khi đánh giá chất lượng tín dụng cần phải xem xét cả
ba phía ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế
- Đối với Ngân hàng phạm vi mức độ giới hạn Tín dụng phải phù hợp vớithực lực của bản thân Ngân hàng vừa đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trườngvới nguyên tắc hoàn trả đúng hạn thu được tiền vay; vừa đảm bảo an toàn tronghoạt động của Ngân hàng và thực hiện các mục tiêu về kinh tế xã hội góp phần hỗtrợ, thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển trên cơ sở sử dụng vốn Tín dụng củaNgân hàng
- Đối với khách hàng: Tín dụng phát ra phải được sử dụng đúng mục đích,đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh, đầu tư vào đời sống của khách hàngvới lãi suất kì hạn hợp lí, hồ sơ thủ tục đơn giản theo đúng quy định của pháp luậtmặt khác khách hàng sử dụng vốn vay thực hiện thanh toán đầy đủ cả gốc và lãiđúng kì hạn thoả thuận Việc sử dụng vốn vay đó không những có hiệu quả manglại lợi nhuận cho khách hàng mà mang lại kinh tế - xã hội đối với đất nước
- Đối với phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng phục vụ mọi cá nhân, góp phầngiải quyết khó khăn và khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế thúc đẩy quá