Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời năm 2000 với việc đi vào hoạt động của Trung tâm Giao dịch chứng khoán TP.HCM mà sau này là Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE). Năm 2005, Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội mà nay là Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) đi vào hoạt động đánh dấu thêm một bước phát triển của thị trường này tại Việt Nam.Tính đến nay, tại Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) có 163 cổ phiếu niêm yết và tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) có 203 cổ phiếu niêm yết. Các công ty niêm yết thuộc nhiều ngành nghề với nhiều qui mô khác nhau
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhậnđược nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình Tôixin được bày tỏ sự trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc đối với những
sự giúp đỡ này
Tôi xin cảm ơn tất cả các thầy cô giáo của Khoa Quản lý Côngnghiệp, trường Đại học Bách Khoa TP.HCM – những người đã nhiệttình giảng dạy và giúp đỡ cho tôi trong suốt khóa học Cao học Đặcbiệt, tôi xin trân trọng gởi lời cảm ơn đến TS Trần Du Lịch đã tậntình hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến các bạn của tôi đã giúp đỡ tôi trongquá trình nghiên cứu và thu thập dữ liệu cho luận văn
Nguyễn Tiến Thông
Trang 2TÓM TẮT
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời năm 2000 với việc đi vào hoạt động củaTrung tâm Giao dịch chứng khoán TP.HCM mà sau này là Sở Giao dịch chứngkhoán TP.HCM (HOSE) Năm 2005, Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội mànay là Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) đi vào hoạt động đánh dấu thêmmột bước phát triển của thị trường này tại Việt Nam
Tính đến nay, tại Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) có 163 cổ phiếuniêm yết và tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) có 203 cổ phiếu niêm yết.Các công ty niêm yết thuộc nhiều ngành nghề với nhiều qui mô khác nhau
Cuối năm 2006 đầu năm 2007 đánh dấu sự đi lên chưa từng có của Thị trườngchứng khoán Việt Nam nhưng sau đó là sự tuột dốc không phanh Một trong nhữngyếu tố kéo giá chứng khoán đi xuống có liên quan đến việc công bố thông tin khôngminh bạch của các doanh nghiệp niêm yết Tuy nhiên, cũng đã có nhiều doanhnghiệp tự nguyện cung cấp thông tin để thể hiện sự minh bạch hóa nhằm lôi kéonhà đầu tư đến với cổ phiếu của doanh nghiệp mình
Nghiên cứu này tiến hành xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tự nguyệncông bố thông tin của các doanh nghiệp Việt Nam trên các khía cạnh đặc trưng quảntrị doanh nghiệp, cấu trúc sở hữu và đặc trưng của doanh nghiệp Trong từng khíacạnh sẽ khảo sát dựa trên nhiều thuộc tính khác nhau
Việc tìm hiểu cơ sở lý thuyết cũng như các nghiên cứu trước đó được thực hiện.Qua đó xây dựng mô hình hình nghiên cứu và các giả thuyết thống kê Dữ liệu phântích được thu thập dựa trên các báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yếttại HOSE và HNX Kết quả nghiên cứu đã cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến mức
độ tự nguyện công bố thông tin của doanh nghiệp Việt Nam bao gồm: ban kiểmtoán nội bộ (Audit Committee), sở hữu nước ngoài (Foreign Ownership), sở hữu tổchức (Institutional Ownership), độ lớn doanh nghiệp (Firm Size) và loại hình tổchức kiểm toán (External Auditor)
Trang 3Vietnam stock market has been established since 2000 with the opening of Ho ChiMinh City Securities Trading Center as now Hochiminh Stock Exchange (HOSE).The Hanoi Securities Trading Center which now is Hanoi Stock Exchange (HNX),
in 2005, was put into operation marking the new development of Vietnam stockmarket
Until now, Hochiminh Stock Exchange has 163 listing stocks and Hanoi StockExchange has 203 stock listed The listing companies are under a wide range oftype and size
Late 2006 early 2007, the Vietnam stock market had developed dramatically andthen plunged deeply without brake One of factors which caused the stock pricedown was related to unclear information disclosure of listing companies However,there are many firms voluntarily disclose information in excess of the mandatoryrequirements in order to attract investors’ attention to their stocks
This study investigates factors influencing voluntary disclosure of Vietnamesecompanies based on corporate governance attributes, ownership structure andcompany characteristics Every aspect will be examined on many differentattributes
The exploration of relevant theory and previous studies had been conducted.Research model and hypothesis development had also been constructed Datacollection based on annual reports of Vietnamese companies listing on HOSE andHNX The study finds that factors which influence the extent of voluntarydisclosure of Vietnamese companies are internal audit committee, foreignownership, institutional ownership, firm size and external auditor type
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
ABSTRACT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH HÌNH VẼ vii
DANH SÁCH BẢNG BIỂU vii
CHƯƠNG 1 1
TỔNG QUAN 1
1.1 Giới thiệu thị trường chứng khoán Việt Nam và việc công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết 1
1.1.1 Thị trường chứng khoán Việt Nam 1
1.1.2 Thông tin bắt buộc công bố 4
1.1.3 Thông tin tự nguyện công bố 6
1.1.4 Báo cáo thường niên 7
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 8
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 8
1.2.2 Phạm vi nghiên cứu 8
1.3 Ý nghĩa thực tiễn 9
CƠ SƠ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIIÊN CƯU 11
2.1 Giới thiệu 11
2.2 Cơ sở lý thuyết 11
2.2.1 Nguồn gốc lý thuyết người đại diện 11
2.2.2 Lý thuyết người đại diện kiểu thực chứng 12
2.2.3 Lý thuyết người đại diện hướng nghiên cứu Người chủ - người đại diện 13
2.2.4 Đóng góp của lý thuyết người đại diện 14
2.2.5 Lý thuyết người đại diện ứng dụng trong nghiên cứu 15
2.3 Các nghiên cứu đã có trước đây 18
2.4 Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 20
2.4.1 Mô hình nghiên cứu 20
2.4.2 Các giả thuyết 21
Trang 52.5 Tóm tắt 29
CHƯƠNG 3 30
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯU 30
3.1 Giới thiệu 30
3.2 Thiết kế nghiên cứu 30
3.2.1 Xây dựng chỉ số của thông tin tự nguyện công bố (Voluntary Disclosure Index) 30 3.2.2 Thu thập dư liệu 36
3.2.3 Mô hình phân tích 36
3.3 Tóm tắt 37
CHƯƠNG 4 38
KẾT QUẢ NGHIÊN CƯU 38
4.1 Giới thiệu 38
4.2 Thống kê mô tả 38
4.2.1 Mô tả mẫu 38
4.2.2 Phân tích mô tả các biến nghiên cứu 40
4.3 Phân tích tương quan và phân tích hồi qui 43
4.3.1 Phân tích tương quan 43
4.3.2 Phân tích hồi qui và kiểm định giả thuyết 46
4.4 Thảo luận kết quả 49
4.5 Tóm tắt 55
CHƯƠNG 5 56
KẾT LUẬN 56
5.1 Giới thiệu 56
5.2 Kết quả chính và đóng góp về mặt lý thuyết 56
5.3 Ưng dụng của nghiên cứu 58
5.4 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 67
Phụ lục 01: Mẫu CBTT-02 67
Phụ lục 02: Danh sách các mục thông tin tự nguyện công bố được gửi đến cho các chuyên viên tín dụng doanh nghiệp ngân hàng 72
Trang 6Phụ lục 03: Thống kê mô tả biến chỉ số tự nguyện công bố thông tin (Voluntary
Disclosure Index) 73
Phục lục 04: Thống kê mô tả biến 74
chỉ số tự nguyện công bố thông tin (Voluntary Disclosure Index) theo từng thị trường niêm yết 74
Phụ lục 05: Kiểm định phương sai của sai số không đổi 79
Phụ lục 06: Phân tích hồi qui 83
Phụ lục 07: Phân tích hồi qui từng nhóm yếu tố 84
Phụ lục 08: Danh sách các doanh nghiệp phân tích 85
Trang 7Bảng 1.1: Qui mô niêm yết tại SGDCK TP.HCM
Bảng 1.2: Qui mô niêm yết tại SGDCK HN
Bảng 3.1: Danh sách các mục thông tin tự nguyện công bố
Bảng 3.2: Danh sách các biến phụ thuộc
Bảng 4.1: Thống kê mẫu
Bảng 4.2: Thống kê mô tả chỉ số mức độ tự nguyện công bố thông tin
(Voluntary Disclosure Index)
Bảng 4.3: Thống kê mô tả chỉ số mức độ tự nguyện công bố thông tin
(Voluntary Disclosure Index - VDI) theo nơi niêm yết
Bảng 4.4: Thống kê biến giả
Bảng 4.5: Thống kê các biến tỷ lệ
Bảng 4.6: Ma trận tương quan
Bảng 4.7: Kết quả phân tích hồi qui
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định các giả thuyết
Trang1313495255
55
565859626465
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Giới thiệu thị trường chứng khoán Việt Nam và việc công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết
1.1.1 Thị trường chứng khoán Việt Nam
Thực hiện đường lối công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH) Việt Nam, duytrì nhịp độ tăng trưởng kinh tế bền vững và chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tếtheo hướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn chođầu tư phát triển Việc xây dựng TTCK ở VN nhằm huy động các nguồn vốn trung,dài hạn ở trong và ngoài Việt Nam vào đầu tư phát triển kinh tế thông qua chứngkhoán nợ và chứng khoán vốn
Ngày 10/07/1998 Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ký ban hành Nghị định48/1998/NĐ-CP về Chứng khoán và Thị trường chứng khoán cùng với Quyết địnhthành lập hai (02) Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) tại Hà Nội và TP
Hồ Chí Minh
Ngày 20/07/2000, TTGDCK TP.HCM đã chính thức khai trương đi vào vận hành,
và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 với 02 loại cổ phiếuniêm yết
Qua 7 năm với sự tăng trưởng của thị trường và hội nhập với TTCK thế giới, Trungtâm giao dịch chứng khoán TP.HCM đã chính thức được Chính phủ Việt Nam kýQuyết định số:599/QĐ-TTg ngày 11/05/2007 chuyển đổi thành Sở giao dịch Chứngkhoán TP.HCM Ngày 08/08/2007, Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) TP.HCM(HOSE) đã chính thức được khai trương
Tính đến ngày 31/12/2007, tại HOSE đã có 507 loại chứng khoán được niêm yết,trong đó có 138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 ngàn tỷ đồng, đặc biệt có
Trang 96 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia niêm yết; 03 chứng chỉ quỹ đầu
tư với khối lượng 171,4 triệu đơn vị và 366 trái phiếu các loại
Tính đến hết ngày 31/12/2007, toàn thị trường đã có 62 công ty chứng khoán đăngký làm thành viên của Sở với tổng số vốn đăng ký là 9.960 tỷ đồng Các thành viênhầu hết được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh với các nghiệp vụ gồm: môi giới,tự doanh, bảo lãnh phát hành và tư vấn đầu tư
Sự gia tăng nhanh chóng lượng cổ phiếu niêm yết trên thị trường đã thu hút đượcthêm nhiều nhà đầu tư, trong cũng như ngoài nước, cá nhân cũng như có tổ chức.Đến cuối năm 2006, số lượng tài khoản của nhà đầu tư mở tại các công ty chứngkhoán thành viên lên tới trên 106 ngàn tài khoản, thì cho đến hết năm 2007 số lượngtài khoản của nhà đầu tư mở tại các CTCK đã lên tới gần 298 ngàn tài khoản trongđó có trên 7 ngàn tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài
Đối với hoạt động giao dịch, TP.HCM đã thực hiện giao dịch khớp lệnh liên tục từngày 30/07/2007 và từng bước triển khai giao dịch nhập lệnh từ xa để đáp ứng vớitình hình thị trường đang phát triển Tính đến ngày 31/12/2007, TP.HCM đã thựchiện được 1699 phiên giao dịch với khối lượng khoảng 4.225 triệu chứng khoán vàgía trị khoảng 384.452 tỷ đồng Riêng trong năm 2007, khối lượng giao dịch đạtkhoảng gần 2.390 triệu chứng khoán với tổng giá trị giao dịch là 245.651 tỷ đồng.Biến động giá cổ phiếu được phản ánh rõ nét qua biến động chỉ số VN-Index Từmức 307,5 điểm vào cuối năm 2005, VN-Index tăng và đạt mức kỷ lục 1.170,67điểm trong phiên 12/03/2007
Tính đến cuối tháng 6 năm 2009, SGDCK TP.HCM có 163 cổ phiếu được niêm yếtvới tổng giá trị vốn hóa là 65.807.680 triệu đồng
Bảng 1.1: Qui mô niêm yết tại TP.HCM
Trang 10(Nguồn: Sở Giao dịch chứng khoán Tp.HCM)
Bảng 1.2: Qui mô niêm yết tại SGDCK HN
Số chứng khoán
Tổng khối lượng
niêm yết 4,501,795,888 2,735,667,706 1,642,990,000 123,138,182Tổng giá trị niêm
yết 192,887,058,880,000 27,356,677,060,000 164,299,000,000,000 1,231,381,820,000
(Nguồn: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội)
Ngày 05/8/2003 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển TTCKViệt Nam đến 2010 Theo đó, xây dựng thị trường giao dịch cổ phiếu của các doanhnghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội, chuẩn bị điều kiện để sau 2010 chuyển thành Thịtrường giao dịch chứng khoán phi tập trung (OTC).Tháng 6/2004, Bộ tài chính raThông báo số 136/TB/BTC nêu kết luận của Lãnh đạo Bộ về mô hình tổ chức vàxây dựng thị trường giao dịch chứng khoán Việt Nam Trong đó, định hướng xâydựng Trung tâm GDCK Hà Nội thành một thị trường giao dịch phi tập trung (OTC)đơn giản, gọn nhẹ, theo đó, TTGDCK Hà Nội sẽ phát triển theo hai giai đoạn:
Giai đoạn đầu, từ 2005 đến 2007 - thực hiện đấu giá cổ phiếu doanh nghiệp nhànước cổ phần hoá và đấu thầu trái phiếu chính phủ đồng thời tổ chức giao dịchchứng khoán chưa niêm yết theo cơ chế đăng ký giao dịch
Giai đoạn sau 2007 - Phát triển TTGDCKHN thành thị trường phi tập trung phù hợpvới quy mô phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam Mô hình hoạt độngcủa SGDCK Hà Nội đã từng bước được cụ thể hoá
Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (SGDCK Hà Nội) được thành lập theo Quyếtđịnh số 01/2009/QĐ-TTG ngày 2/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sởchuyển đổi, tổ chức lại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
Tính đến ngày 30/06/2009, tại SGDCK Hà Nội có 203 chứng khoán được niêm yếtvới tổng giá trị niêm yết là 27,356,677,060,000đ
Trang 111.1.2 Thông tin bắt buộc công bố
Các thông tin công bố của các doanh nghiệp là cần thiết cho một thị trường hoạtđộng hiệu quả
Theo Khoản 1, Mục II Thông tư 38/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn vềviệc công bố thông tin định kỳ của công ty đại chúng trên TTCK ban hành ngày18/04/2007:
Trong thời hạn mười (10) ngày, kể từ ngày có báo cáo tài chính năm được kiểm toán, công ty đại chúng phải công bố thông tin định kỳ về báo cáo tài chính năm theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 16 Luật chứng khoán 1 , cụ thể như sau:
1.1 Ngày hoàn thành báo cáo tài chính năm được tính từ ngày tổ chức kiểm toán được chấp thuận ký báo cáo kiểm toán Thời hạn hoàn thành báo cáo tài chính năm chậm nhất là chín mươi (90) ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính
1.2 Nội dung công bố thông tin về báo cáo tài chính năm bao gồm: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Bản thuyết minh báo cáo tài chính theo qui định của pháp luật về kế toán Trường hợp công ty đại chúng thuộc các ngành đặc thù thì việc công bố báo cáo tài chính năm sẽ theo Mẫu báo cáo tài chính do Bộ Tài chính ban hành hoặc chấp thuận.
1.3 Trường hợp công ty đại chúng là công ty mẹ của một tổ chức khác thì nội dung công bố thông tin về báo cáo tài chính năm bao gồm Báo cáo tài
1 Điều 16 Báo cáo tài chính
1.) Báo cáo tài chính bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính.
2.) Trường hợp tổ chức phát hành là công ty mẹ thì tổ chức phát hành phải nộp báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của pháp luật về kế toán.
Trang 12chính của công ty đại chúng (công ty mẹ) và Báo cáo tài chính hợp nhất theo qui định của pháp luật về kế toán.
1.4 Công ty đại chúng phải lập và công bố Báo cáo Thường niên theo Mẫu CBTT-02 kèm theo Thông tư này đồng thời với công bố báo cáo tài chính năm
1.5 Công ty đại chúng phải công bố Báo cáo tài chính năm tóm tắt theo Mẫu CBTT-03 kèm theo Thông tư này trên ba (03) số báo liên tiếp của một (01) tờ báo Trung ương và một (01) tờ báo địa phương nơi công ty đại chúng đóng trụ sở chính hoặc thông qua phương tiện công bố thông tin của UBCKNN
1.6 Báo cáo tài chính năm, Báo cáo Thường niên của công ty đại chúng phải công bố trên các ấn phẩm, trang thông tin điện tử của công ty đại chúng và lưu trư ít nhất mười (10) năm tại trụ sở chính của tổ chức để nhà đầu tư tham khảo.
Theo Khoản 1, Điều 101 Chương VIII Luật chứng khoán có hiệu lực thi hành từngày 01/01/2007 về công bố thông tin định kỳ của công ty đại chúng qui định nhưsau:
Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày có báo cáo tài chính năm được kiểm toán, công ty đại chúng phải công bố thông tin định kỳ về báo cáo tài chính năm theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 16 của Luật này 2
1.1.3 Thông tin tự nguyện công bố
Trong những năm gần đây, môi trường kinh doanh có nhiều biến động, hoạt độngkinh doanh ngày càng khó khăn Nhất là trong năm 2007 và 2008 vừa qua, lạm phátở Việt Nam đã lên đến hai con số, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thắt chặt tiền tệ,người dân Việt hạn chế chi tiêu đã làm cho hoạt động kinh doanh của các doanh
2 Luật chứng khoán 2007
Trang 13nghiệp Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn TTCK Việt Nam liên tục mất điểm, tínhthanh khoản trên thị trường sụt giảm mạnh Trong phiên giao dịch ngày 24/02/2009,VN-Index rơi xuống mức 236,57 điểm sau khi liên tục đi xuống từ cuối năm 2007kéo dài qua năm 2008 Từ đỉnh cao 1.170,67 điểm, VN-Index đã hạ thấp kỷ lục.Tương tự, HASTC-Index cũng rơi từ đỉnh cao 459,63 điểm thiết lập vào ngày19/03/2007 xuống mức 78 điểm trong ngày 24/02/2009 Sau thời điểm đỉnh caonăm 2007, các chỉ số bắt đầu có sự đi xuống rõ rệt Tính đến ngày 31/12/2007, VN-Index là 927 điểm và HASTC-Index giảm chỉ còn 323,55 điểm Tính đến31/03/2008 (thời điểm hoàn tất báo cáo thường niên 2007), VN-Index giảm chỉ còn516,85 điểm và HASTC-Index là 181,43 điểm Trong năm 2008, hàng chục nghìn
tỷ đồng vốn hóa thị trường đã bốc hơi (Thời báo kinh tế Việt Nam Online, 2009).Hơn ai hết, các doanh nghiệp hiểu rằng các thông tin công bố thêm bên cạnh cácthông tin bắt buộc phải công bố là một yếu tố để thu hút sự chú ý của nhà đầu tưtrong nước lẫn nước ngoài
Là một người chủ sở hữu doanh nghiệp, cổ đông của công ty phải được biết rõ tìnhtrạng Doanh nghiệp của mình và khi Doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán,người chủ sở hữu là nhà đầu tư lại càng cần phải được minh bạch thông tin để cóquyết định đầu tư đúng đắn
Trong bối cảnh TTCK suy giảm, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanhnghiệp niêm yết gặp nhiều khó khăn, thực tế thời gian qua cho thấy cách hành xửcủa các công ty niêm yết về việc minh bạch thông tin lại rất khác nhau Có một vàiDoanh nghiệp đã công khai các khoản thua lỗ này để thể hiện sự minh bạch trongbáo cáo tài chính của mình, điển hình là Công ty cổ phần (CTCP) Cơ điện lạnh REE
và CTCP Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) Nhưng cũng có không ít Doanh nghiệpkhông làm như vậy mà cố gắng duy trì "tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại" càng lâucàng tốt Lòng tin của Nhà đầu tư đã bị sứt mẻ nghiêm trọng khi sự việc vỡ lở, và từđó làn sóng tháo chạy khỏi những cổ phiếu này bắt đầu xuất hiện Trường hợp "rơitự do" của cổ phiếu CTCP Nhiệt điện Phả Lại (mã chứng khoán: PPC) thời gian qua
là một dẫn chứng tiêu biểu (Hà Nội mới Online, 2008)
Trang 14Ngày càng có nhiều doanh nghiệp bên cạnh các thông tin bắt buộc phải công bốđồng thời cũng công bố các thông tin tự nguyện
1.1.4 Báo cáo thường niên
Báo cáo thường niên (annual report) của các doanh nghiệp được sử dụng để thôngtin đến cho các cổ đông, các cổ đông tiềm năng (nhà đầu tư), các cơ quan quản lý vànhững người khác Theo Khoản 1, Mục II Thông tư 38/2007/TT-BTC của Bộ Tàichính hướng dẫn về việc công bố thông tin trên TTCK ban hành ngày 18/04/2007thì báo cáo thường niên công bố sẽ gồm các mục theo mẫu CBTT-02 (xem phục lục01)
Mẫu CBTT-02 yêu cầu cung cấp thông tin về lịch sử hoạt động của doanh nghiệp,báo cáo của hội đồng quản trị, báo cáo của ban giám đốc, báo cáo tài chính, tổ chức
và nhân sự, thông tin cổ đông và quản trị
Riêng mẫu CBTT-03 là mẫu báo cáo tình hình tài chính tóm tắt trong đó yêu cầudoanh nghiệp cung cấp thông tin về bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh, các chỉ tiêu tài chính cơ bản
Mặc dù báo cáo hàng năm là bắt buộc phải công bố nhưng doanh nghiệp bên cạnhcác thông tin bắt buộc thì cũng công bố thêm các thông tin mở rộng (thông tin côngbố tự nguyện) Các nhà quản lý nhận thức rằng việc quản lý công bố thông tin mộtcác hiệu quả sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp Vì thế, các thông tin côngbố bản thân chúng là một công cụ chiến lược nhằm nâng cao khả năng thu hút vốncủa doanh nghiệp với chi phí thấp nhất Ngày 27/06/2008, SGDCK TP.HCM phốihợp với Báo Đầu tư Chứng khoán và Công ty Dragon Capital đã tổ chức Lễ traogiải Cuộc Bình chọn Báo cáo thường niên 2007 Tham dự Lễ trao giải có đại diệncủa UBCKNN, Ban tuyên giáo trung ương, SGDCK TP.HCM, báo Đầu tư chứngkhoán, các công ty niêm yết, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, ngân hàngthương mại và các cơ quan thông tấn báo chí Cuộc bình chọn Báo cáo thường niên
2007 thu hút sự tham gia của 33 công ty niêm yết trong số 150 công ty niêm yết tại
Trang 15Cuộc bình chọn và buổi Lễ trao giải nhằm mục đích tôn vinh những công ty niêmyết đã nỗ lực trong việc công khai, minh bạch thông tin, và có đầu tư thích đáng đểxây dựng Báo cáo thường niên - một công cụ phổ biến và hiệu quả nhằm tạo dựnghình ảnh doanh nghiệp và thông tin hiệu quả đến nhà đầu tư
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Hiện chưa có những bằng chứng thực nghiệm cho thấy các doanh nghiệp Việt Namcung cấp thông tin nhiều hơn các thông tin được yêu cầu bởi Luật chứng khoáncũng như sự khác nhau của các thông tin tự nguyện này Vì vậy, mục tiêu củanghiên cứu này nhằm xác định:
1 Mức độ của các thông tin công bố tự nguyện trong các báo cáo hàng nămcủa các doanh nghiệp Việt Nam so với các thông tin bắt buộc phải công bố
2 Các yếu tố đặc trưng quản trị (corporate governance attributes), cấu trúcsở hữu (ownership structure) và đặc trưng doanh nghiệp (companycharacteristics) ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của cácdoanh nghiệp Việt Nam
1.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Các doanh nghiệp Việt Nam niêm yết tại SGDCK TP.HCM và SGDCK Hà Nội đãniêm yết trước ngày 31/12/2006 Theo báo cáo thì trước ngày 31/12/2006, tạiTP.HCM có 106 công ty niêm yết và tại SGDCK Hà Nội có 81 công ty được niêmyết
Đối tượng cụ thể: Bản báo cáo thường niên năm 2007 của các doanh nghiệp đãniêm yết
Trang 16Theo báo cáo của SGDCK TPHCM thì trong năm 2007, Sở đã chấp thuận niêm yếtcho 32 công ty cổ phần và 1 chứng chỉ quỹ đầu tư, đưa tổng số công ty niêm yếttrên sàn lên đến 138 công ty và 3 chứng chỉ quỹ Tổng số lượng chứng khoán pháthành năm 2007 thông qua SGDCK là 728,9 triệu chứng khoán (trong đó có 603,1triệu cổ phiếu, 50 triệu chứng chỉ quỹ, 75,8 triệu trái phiếu) với tổng giá trị pháthành khoảng 18,4 ngàn tỷ đồng
SGDCK Hà Nội cũng báo cáo trong năm 2007, quy mô thị trường tại SGDCK HàNội tăng mạnh, có111 công ty niêm yết tại Trung tâm với tổng giá trị niêm yết đạthơn 13.145 tỷ đồng, giá trị vốn hoá thị trường lên tới 128.871 tỷ đồng, gấp 1,76 lầngiá trị vốn hoá vào thời điểm cuối năm 2006, tương đương khoảng 13% GDP
1.3 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu này trước tiên tìm hiểu mức độ các doanh nghiệp Việt Nam công bốthông tin tự nguyện đến các cổ đông, nhà đầu tư, các cơ quan quản lý và nhữngngười sử dụng báo cao thường niên của doanh nghiệp Nghiên cứu cũng xác địnhcác yếu tố ảnh hưởng đến việc tự nguyện công bố thông tin của các doanh nghiệpViệt Nam niêm yết trên sàn chứng khoán
Kết quả nghiên cứu này trước tiên được dùng như một tài liệu tham khảo cho cácdoanh nghiệp để các doanh nghiệp xác định mức độ tự nguyện công bố thông tincủa mình đến đâu so với các công ty còn lại trên sàn chứng khoán
Ngoài ra, dựa trên kết quả nghiên cứu, các cổ đông, nhà đầu tư hiện tại và tiềm năngcó thể nhận biết mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp niêm yết Thông quađó nhà đầu tư có thể đa dạng danh mục đầu tư của mình Đồng thời có thể xem xét
và tác động đến doanh nghiệp dựa trên các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tự nguyệncông bố thông tin, buộc doanh nghiệp tự nguyện công bố thông tin nhiều hơn.Cuối cùng, các nhà làm chính sách có thể tham khảo để đề xuất xây dựng các chínhsách buộc các doanh nghiệp phải công bố các thông tin nhiều hơn, tiến tới minhbạch hóa thị trường, tạo sự phát triển bền vững
Trang 17mô hình nghiên cứu và các giả thuyết, trong đó mô hình nghiên cứu và các giảthuyết thống kê được xây dựng dựa trên các nhóm yếu tố đặc trưng quản trị doanhnghiệp, cấu trúc sở hữu và đặc trưng doanh nghiệp
2.2 Cơ sở lý thuyết
Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu là lý thuyết người đại diện (Agency Theory)
2.2.1 Nguồn gốc lý thuyết người đại diện
Suốt thập kỷ 1960 và đầu 1970, các nhà kinh tế học tìm hiểu về việc chia sẻ rủi rogiữa các các nhân hay nhóm (Arrow, 1971, trích Eisenhardt, 1989; Wilson, 1968,trích Eisenhardt, 1989) Tài liệu này mô tả các vấn đề chia sẻ rủi ro xuất hiện khikhi các bên hợp tác có quan điểm khác nhau về rủi ro Lý thuyết người đại diện mởrộng các nghiên cứu chia sẻ rủi ro qua việc thêm vào vấn đề có tính chất đại diệnxuất hiện khi các bên hợp tác có mục tiêu khác nhau và có sự phân công lao động(Jensen và Meckling, 1976; Ross, 1973, trích Eisenhardt, 1989) Lý thuyết ngườiđại diện đặc biệt hướng đến các mối quan hệ đại diện phổ biến trong đó một bên
Trang 18(người chủ - principal) ủy quyền thực thi công việc cho bên còn lại (người đại diện– agent)
2.2.2 Lý thuyết người đại diện kiểu thực chứng
Các nhà nghiên cứu thực chứng tập trung xác định các tình huống trong đó ngườichủ và người đại diện mâu thuẫn về mục tiêu và sau đó mô tả kỹ thuật quản lý nhằmhạn chế các hành vi cá nhân của người đại diện Các nghiên cứu thực chứng ít sửdụng toán học hơn các nghiên cứu người chủ - người đại diện Ngoài ra, các nhànghiên cứu thực chứng cũng tập trung hầu như chủ yếu trong các tình huống màmối liên hệ giữa người chủ - người đại diện là của người sở hữu (owners) và cácnhà quản trị (managers) của những công ty đại chúng lớn (Berle và Means, 1932,trích Eisenhardt, 1989)
Về kía cạnh lý thuyết, hướng đi thực chứng tập trung mô tả các kỹ thuật quản lýnhằm giải quyết vấn đề đại diện Hai vấn đề mà hướng thực chứng xác định gồmvấn đề những hợp đồng hướng đến kết quả kinh doanh có hiệu quả trong việc hạnchế chủ nghĩa cơ hội của những người đại diện Lý lẽ ở đây là các hợp đồng cùngđiều chỉnh sự ưa thích của cà người đại diện lẫn người chủ bởi vì phần thưởng dànhcho cả hai phụ thuộc vào những hành động như nhau và do đó mâu thuẫn do sỡthích cá nhân giữa người chủ và người đại diện sẽ giảm bớt Ví dụ, Jensen vàMeckling (1976) đã mô tả bằng cách gia tăng tỷ lệ sở hữu của các nhà quản trị sẽlàm giảm bớt tính chủ nghĩa cơ hội của họ
Giả thuyết thứ hai cho rằng hệ thống thông tin cũng hạn chế chủ nghĩa cơ hội củangười đại diện Lý lẽ ở đây là hệ thống thông tin thông báo cho người chủ biếtnhững hành động thực sự của người đại diện, điều đó sẽ hạn chế chủ nghĩa cơ hộicủa người đại diện bởi vì anh ta ta/cô ta biết rằng không thể lừa dối người chủ Ví
dụ, Fama (1980, trích Eisenhardt, 1989) mô tả tính tác động thông tin của thị trườngvốn và lao động hiệu quả lên chủ nghĩa cơ hội của các nhà quản lý Fama và Jensen
Trang 19(1983, trích Eisenhardt, 1989) mô tả vai trò thông tin mà HĐQT kiểm tra hành vicủa các nhà quản trị.
2.2.3 Lý thuyết người đại diện hướng nghiên cứu Người chủ - người đại diện
Các nhà nghiên cứu người chủ - người đại diện quan tâm lý thuyết chung về mốiquan hệ người chủ - người đại diện, lý thuyết mà có thể ứng dụng trong mối quanhệ người thuê – người làm thuê, luật sư – khách hàng, người mua hàng – nhà cungcấp và các mối quan hệ có tính chất đại diện khác (Harris và Raviv, 1978, tríchEisenhardt, 1989)
So sánh với hướng thực chứng, lý thuyết người chủ - người đại diện trừu tượng,toán học và do đó khó nghiên cứu hơn cho các nhà nghiên cứu về tổ chức
Các nghiên cứu người chủ - người đại diện tập trung xác định các hợp đồng, hành vitối ưu so với kết quả giữa người chủ và người đại diện Mô hình đơn giản giả sửmâu thuẫn mục tiêu giữa người chủ và người đại diện, một kết quả đo đạc dễ dàng
và người đại diện ít mạo hiểm hơn người chủ (Luận cứ đằng sau tính ít mạo hiểmcủa người đại diện cho rằng người đại diện không thể đa dạng hóa được tình trạnglàm thuê của họ, sẽ ít mạo hiểm và người chủ, dựa trên khả năng đa dạng hóa đầu tưsẽ trung lập với việc mạo hiểm) Mô hình đơn giản được mô tả trong một số tìnhhuống (Demski và Feltham, 1978, trích Eisenhardt, 1989) Trường hợp đơn giản thứnhất là trường hợp thông tin hoàn hảo, khi mà người chủ biết người đại diện làm gì.Cho là người chủ mua các hành vi của người đại diện và do đó hợp đồng dựa trênhành vi sẽ có hiệu quả Một hợp đồng dựa trên kết quả sẽ là thừa thải khi chuyển rủi
ro sang cho người đại diện khi mà giả thuyết cho rằng họ ít mạo hiểm hơn so vớingười chủ
Tình huống thứ hai là khi người chủ không biết chính xác người đại diện đã làm gì.Dựa trên sở thích cá nhân của người đại diện, người đại diện có thể hoặc khônghành động như được phép Vấn đề đại diện phát sinh là (a) người chủ và người đạidiện khác nhau về mục tiêu và (b) người chủ không thể xác minh người đại diện có
Trang 20hành động đúng đắn không Trong các nghiên cứu chính qui, hai khía cạnh của vấnđề đại diện được tiến hành Vấn đề đạo đức thường là do người đại diện không nỗlực Căn cứ là người đại diện thường đơn giản không nỗ lực cho các điều đã camkết Vấn đề là do người đại diện lười nhác Ví dụ, vấn đề đạo đức phát sinh khi cácnhà nghiên cứu tiến hành một nghiên cứu cá nhân trong thời gian làm việc, tuynhiên nghiên cứ quá phức tạp đến mức các nhà quản lý doanh nghiệp không thể xácđịnh được là các nhà khoa học đang làm gì Sự chọn lựa sai lầm (adverse selection)có liên quan đến khiếm khuyết năng lực của người đại diện Căn cứ là người đạidiện thường tuyên bố về khả năng hay kỹ năng của mình khi được tuyển dụng.Chọn lựa sai lầm xuất hiện khi người chủ không thể xác minh một cách chính xáckhả năng hay kỹ năng khi tuyển dụng hay trong khi những người đại diện đang làmviệc Ví dụ, chọn lựa sai lầm phát sinh khi một nhà nghiên cứu tuyên bố ông ta cókinh nghiệm trong một lĩnh vực khoa học đặc biệt mà nhà tuyển dụng không thểđánh giá trong tình huống này
2.2.4 Đóng góp của lý thuyết người đại diện
Trong lý thuyết người đại diện, thông tin được xem là một loại hàng hóa: nó có giá
và có thể mua bán Điều này cho thấy vai trò quan trọng của một hệ thống thông tinchính qui như ngân sách, MBO, Hội đồng quản trị và vai trò của hệ thống khôngchính qui như sự giám sát có tính quản lý vốn rất đặc trưng trong nghiên cứu tổchức Ưng dụng ở đây là các tổ chức có thể đầu tư vào một hệ thống thông tin để cóthể kiểm soát chủ nghĩa cơ hội của những người đại diện
Một hệ thống thông tin có liên quan đặc biệt đến việc giám sát hành vi quản trị làHội đồng quản trị Ơ khía cạnh đại diện, Hội đồng quản trị có thể được dùng như làphương tiện nhằm giám sát theo yêu cầu của cổ đông (Fama và Jensen, 1983, tríchEisenhardt, 1989) Khi Hội đồng quản trị cung cấp nhiều thông tin hơn, các bù đắpdường như ít dựa vào năng lực của doanh nghiệp Hơn thế, bởi vì hành vi của cácquản trị viên cấp cao dễ biết hơn, thù lao dựa trên kiến thức của các hành vi nhà
Trang 21quản trị là nhiều hơn Các nhà quản trị có thể được tưởng thưởng cho việc thực thicác hành động hoạch định tốt (well-conceived) (ví dụ rủi ro cao/R&D tiềm năngcao) mà kết quả có khi không thành công Ngoài ra, khi Hội đồng quản trị cung cấpnhiều thông tin hơn, các nhà quản trị cấp cao có xu hướng gắn kết hành vi của họvới quyền lợi của cổ đông Ví dụ, từ quan điểm của nhà đại diện, các hành vi như sửdụng thư sạch và dù vàng thường có xu hướng có lợi hơn cho các nhà quản lý sovới cổ đông, thường ít xảy ra khi Hội đồng quản trị giám sát tốt dựa trên quyền lợicủa cổ đông Về phương diện thi hành, sự tối ưu của thông tin Hội đồng quản trị cóthể đo lường dựa trên các đặc trưng như tần suất họp của Hội đồng quản trị, sốlượng các tiểu ủy ban, số lượng thành viên Hội đồng quản trị tại nhiệm lâu, số thànhviên Hội đồng quản trị có kiến thức về quản trị và kỹ nghệ, và số lượng thành viênHội đồng quản trị đại diện cho những nhóm sở hữu đặc biệt
2.2.5 Lý thuyết người đại diện ứng dụng trong nghiên cứu
Mô hình lý thuyết người đại diện mô hình hóa mối quan hệ giữa người chủ vàngười đại diện Jensen và Meckling (1976) định nghĩa mối quan hệ người đại diện
là “một hợp đồng trong đó một hay nhiều người (chủ) thuê một người khác (ngườiđại diện) nhân danh họ tiến hành một số dịch vụ dựa trên việc ủy quyền ra một sốquyết định mà qua đó xác lập quyền lực cho người đại diện” Trong trường hợp cáccông ty, người đại diện (người quản lý) hành động nhân danh người chủ (cổ đông)(Jensen và Mecking, 1976) Nếu hai bên đều tối đa hóa lợi ích của mình thì có lý dođể tin rằng người đại diện sẽ không hành động theo ý muốn của người chủ Ngườichủ có thể hạn chế sự việc không tuân thủ này thông qua việc trả thù lao một cáchtương xứng cho người đại diện và bằng cách gánh chịu những chi phí giám sát(monitoring costs) nhằm hạn chế những hành động sai trái của người đại diện.Trong một số tình huống, người đại diện cũng chi trả khi sử dụng các nguồn lực(bonding costs – chi phí ràng buộc) nhằm đảm bảo rằng người đại diện sẽ khôngtiến hành các hoạt động mà có thể gây bất lợi cho người chủ hay đảm bảo rằng
Trang 22người chủ sẽ được lợi khi người đại diện tiến hành các hoạt động đó Tuy nhiên,không có chuyện chi phí của người chủ hay người đại diện là không để nhằm đảmbảo người đại diện sẽ ra các quyết định tối ưu đứng trên quan điểm của người chủ.Trong hầu hết mối quan hệ giữa người chủ và người đại diện thì người chủ và ngườiđại diện sẽ chịu các chi phí giám sát và chi phí ràng buộc (cả về tiền bạc lẫn khôngtiền bạc) và ngoài ra sẽ có một vài điều khác biệt giữa các quyết định của người đạidiện và những quyết định nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho người chủ Giá trị bằngtiền mà người chủ phải gánh chịu do sự khác biệt này cũng là một chi phí trong mốiquan hệ giữa người chủ và người đại diện, hay còn gọi là mất mát phụ trội (residualloss)
Jensen và Meckling (1976) cho rằng kể từ khi mối quan hệ giữa cổ đông và nhàquản lý trong một doanh nghiệp phù hợp với lý thuyết mối quan hệ đại diện (agencyrelationship) thuần túy thì không có gì đáng ngạc nhiên khi khám phá ra các vấn đềcó liên quan đến “sự tách biệt giựa sở hữu và kiểm soát” tồn tại trong các doanhnghiệp hiện đại và có có liên hệ mật thiết với các vấn đề chung chung của việc đạidiện
Jensen và Meckling (1876) cũng cho rằng, vấn đề mà 1 “người đại diện” hành độngnhư thể người đó đang tối đa hóa lợi ích của “người chủ” là phổ biến Nó tồn tạitrong mọi tổ chức và trong tất cả các nỗ lực hợp tác – tại mỗi mức quản lý trong cáccông ty, các trường đại học, các hiệp hội, và trong các mối quan hệ được phân loại
là các mối quan hệ đại diện Việc phát triển các lý thuyết để giải thích các hình tháitrong đó chi phí đại diện (agency costs) phát sinh (các mối quan hệ có tính chất hợpđồng khác biệt đáng kể), bằng cách nào và tại sao chúng phát sinh để hướng đếnmột lý thuyết đầy đủ về các tổ chức mà hiện đang thiết sót trong nền kinh tế vàkhoa học xã hội nói chung
Người chủ phải dùng người đại diện bởi vì người chủ sở hữu một số tài sản nhưngkhông có đủ khả năng để cực đại giá trị của tài sản này Người chủ cũng phải dùngngười đại diện khi tài nguyên của người chủ hạn chế Người chủ doanh nghiệp dùcó tài giỏi cũng không thể biết hết mọi điều trong kinh doanh
Trang 23Trong trường hợp các công ty, vấn đề chính yếu là thông tin bất cân xứng giữangười quản lý và cổ đông (người chủ) Trong mối quan hệ đại diện này, nhữngngười bên trong (các nhà quản lý) có ưu thế về thông tin Những người sở hữu vìthế phải đối mặt với tình thế khó xử về đạo đức bởi vì họ không thể đánh giá và xácđịnh chính xác giá trị của các quyết định đã ban hành Người đại diện vì thế lợidụng những hành động của họ không thể quan sát của họ để tiến hành các hoạt độngnhằm đạt được mục đích cá nhân của họ Những hợp đồng chính qui vì thế đượcthương lượng và soạn thảo theo cách định rõ các mâu thuẫn giữa người đại diện –cổ đổng Nói chung, hợp đồng này ít nhất phải thoả hai điều kiện: thứ nhất, ngườiđại diện phải sẵn sàng chấp nhận hợp đồng, có nghĩa là hợp đồng cho phép ngườiđại diện nhận được phần thưởng lớn hơn hoặc bằng chi phí cơ hội của mình, nếukhông người đại diện sẽ không chấp nhận Thứ hai, người đại diện sẵn sàng tuânthủ hợp đồng Nói chung, người chủ muốn người đại diện thực hiện công việc hiệuquả Tức là công việc mang lại lợi ích lớn hơn chi phí cơ hội cho người chủ Nếungười đại diện không hành động hiệu quả, người ta gọi trốn tránh Vì vậy, nếu nhưhợp đồng không thể chỉ rõ những hành động hiệu quả, người đại diện sẽ trốn tránh.Cũng có thể người đại diện sẽ tự nguyện công bố các thông tin nhằm làm giảm chiphí ràng buộc (bonding) và khuyến khích các nhà đầu tư bên ngoài đầu tư vào cổphiếu của công ty ông ta/bà ta
Vì thế, trong nghiên cứu này, việc công bố thông tin tự nguyện là một cơ hội để ứngdụng lý thuyết người đại diện, trong đó các nhà quản lý có thuận lợi về tiếp cận cácthông tin riêng của doanh nghiệp hơn so với những người sở hữu bên ngoài và cácnhà đầu tư có thể tạo ra các thông tin truyền đạt đáng tin cậy đến thị trường nhằmnâng cao giá trị của doanh nghiệp bằng cách giảm bớt chi phí mối quan hệ ngườiđại diện Bao gồm chi phí giám sát mà các nhà quản lý sẽ thừa nhận và đưa vào bảncông bố các cơ hội đầu tư, các chính sách tài chính và các thông tin cơ bản về doanhnghiệp Và do đó, các giả thuyết trong nghiên cứu này đạt được qua việc ứng dụnglý thuyết người đại diện
Trang 242.3 Các nghiên cứu đã có trước đây
Đề tài nghiên cứu về việc tự nguyện công bố thông tin đã có nhiều nước trên thếgiới thực hiện, nhất là ở các nước phát triển Đối với các nước đang phát triển thìđây vẫn còn là một đề tài mới mẻ và chưa có nhiều công trình về vấn đề này, nhất làtại Việt Nam
Một số công trình có liên quan bao gồm nghiên cứu về văn hóa và việc quản tridoanh nghiệp có ảnh hưởng như thế nào đến việc tự nguyện công bố thông tin củacác doanh nghiệp Malaysia (R.M Haniffa và T.E Cooke, 2002) Trong nghiên cứucủa mình Haniffa và Cooke xác định mối liên hệ giữa các đặc trưng quản trị doanhnghiệp, văn hóa và mức độ tự nguyện công bố thông tin trong báo cáo thường niêncủa các doanh nghiệp Malaysia
“Các yếu tố ảnh hưởng đến các thông tin công bố tự nguyện của các doanh nghiệpKenya” (Dulacha G Barako, Phil Hancock và H.Y Izan, 2006) Barako , Hancock
và Izan thì tìm hiểu mức độ của các thông tin tự nguyện công bố bị tác động bởi cáctính chất quản trị, cấu trúc sở hữu và các đặc trưng doanh nghiệp Trong nghiên cứucủa mình, Barako, Hancock và Izan tìm thấy các yếu tố như ban kiểm toán nội bộ,các thành viên HĐQT không điều hành, việc sở hữu của các cổ đông là tổ chức haynước ngoài cũng như các công ty lớn hay có tỷ lệ nợ cao sẽ có tác động đến mức độthông tin được tự nguyện của các doanh nghiệp Kenya thông qua các báo cáothường niên
“Tự nguyện công bố thông tin trong các báo cáo thường niên của các doanh nghiệpKuwait (Bader Al-Shammari, 2008)”, Al-Shammari khảo sát mức độ tự nguyệncông bố thông tin của các doanh nghiệp Kuwait dựa trên 3 nhóm yếu tố (định danh;môi trường doanh nghiệp; trách nhiệm xã hội và thông tin tài chính) và trong mốiliên quan với 10 đặc trưng doanh nghiệp (độ lớn, đòn cân nợ, khả năng lợi nhuận,cấu trúc sở hữu, tài sản cố định, tuổi, độ phức tạp, tính quốc tế, kiểm toán và ngànhcông nghiệp) Al-Shammari xác định các yếu tố tác động lên mức độ tự nguyện
Trang 25công bố thông tin là độ lớn doanh nghiệp, đòn cân nợ, kiểm toán và ngành côngnghiệp
“Tự nguyện công bố thông tin ở Thổ Nhỹ Kỳ: nghiên cứu qua các doanh nghiệpniêm yết tại Sở giao dịch Istanbul (ISE)” (Ahmet Agca, Cerife Onder, 2007).Nghiên cứu xác định mức độ tự nguyện công bố thông tin và các yếu tố ảnh hưởngđến việc tự nguyện công bố thông tin của các doanh nghiệp Thổ Nhỹ Kỳ niêm yếttại Sở giao dịch Istanbul như độ lớn, đòn cân nợ, kiểm toán, cấu trúc sở hữu, lợinhuận và tính đa quốc gia Kết quả cho thấy lợi nhuận, độ lớn, đòn cân nợ, kiểmtoán có tác động đến mức độ tự nguyện công bố thông tin của các doanh nghiệp
“Tập hợp cơ hội đầu tư, sở hữu kiểm soát và thông tin tự nguyện công bố ởMalaysia” (M Akhtaruddin và M.Hossain, 2008) Trong nghiên cứu của mìnhAkhataraddin và Hossain tìm thấy mối liên hệ giữa thông tin tự nguyện công bố vàviệc kiểm soát sở hữu của HĐQT mà theo đó HĐQT càng kiểm soát sở hữu càngnhiều thì mức độ tự nguyện công bố thông tin càng thấp
Trong nghiên cứu “Tự nguyện công bố thông tin và quản trị doanh nghiệp trong cácdoanh nghiệp bị khủng hoảng tài chính tại Malaysia” (Norita Mohd Nasir vàShamul-Nahar Abdullah), Nasir và Abdullah tìm thấy mối liên hệ giữa sự độc lậpcủa HĐQT và mức độ mức độ thông tin tự nguyện công bố và không tìm thấy sựliên hệ giữa ban kiểm toán nội bộ với việc tự nguyện công bố thông tin.Việc sở hữubởi các cổ đông bên ngoài cũng có ảnh hưởng tích cực đến mức độ thông tin tựnguyện công bố Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy mức độ sở hữu của cổđông là chính phủ có thể ảnh hưởng đến mức độ tự nguyện công bố thông tin
Ngoài ra cón có các nghiên cứu như phân tích các vấn đề về phương pháp luận vàthực nghiệm trong đo lường các thông tin tự nguyện công bố (C Abad, F Bravo và
M Trombetta, 2005); Cấu trúc sở hữu và việc phân khúc thông tin tự nguyện côngbố: trường hợp Hong Kong (S Lueng và B Horwitz, 2004); Công bố thông tin tựnguyện có làm tăng giá cổ phiếu? (K Stephen Haggard, Xiumin Martin vàRaynolde Pereira, 2008); Cấu trúc hội đồng quản trị, sở hữu và việc tự nguyện côngbố thông tin tại Ireland (Ray Donnelly và Mark Mulcahy, 2008);
Trang 262.4 Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết
2.4.1 Mô hình nghiên cứu
Dựa trên các giả thuyết được xây dựng trong nghiên cứu của Dulacha G.Barako,Phil Hancock và H.Y Izan (2006), mô hình nghiên cứu được đề nghị như sau:
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu
HĐQT không điều hành
Cấu trúc lãnh đạo
Ban kiểm toán nội bộ
Tập trung sở hữu
Sở hữu nước ngoài
Sở hữu tổ chức
Độ lớn doanh nghiệp
Đòn bẩy tài chính
Kiểm toán bởi Big4
Lợi nhuận
Tính thanh khoản
Thông tin tự nguyện công bố
H1H2H3H4H5H6H7H8H9H10H11
Trang 272.4.2 Các giả thuyết
Nghiên cứu này đánh giá sự ảnh hưởng của các đặc trưng quản trị doanh nghiệp(corporate governance characteristics), cấu trúc sở hữu (ownership structure) và cácthuộc tính doanh nghiệp (company attributes) lên việc tự nguyện công bố thông tincủa các doanh nghiệp Ba nhóm yếu tố này được xây dựng dựa trên nghiên cứu cảuDulacha G.Barako, Phil Hancock và H.Y Izan (2006) và của R.M Haniffa và T.E.Cooke (2002)
2.4.2.1 Các đặc trưng quản trị doanh nghiệp
Các đặc trưng quản trị doanh nghiệp (corporate governance characteristics) đượcnghiên cứu bao gồm: hội đồng quản trị không điều hành (board composition), cấutrúc ban lãnh đạo (board leadership structure) và ban kiểm soát (audit committeeformation)
Hội đồng quản trị không điều hành (board composition) chỉ số thành viên hội đồngquản trị không giữ vị trí điều hành trong doanh nghiệp so với tổng số thành viên hộiđồng quản trị Theo như Fama và Jensen (1983, trích Barako và đồng sự, 2006) thìcác thành viên này đóng vai trò là cơ chế đáng tin cậy nhằm giảm bớt những mâuthuẫn người đại diện giữa các nhà quản lý (managers) và người sở hữu (owners)
Họ được xem như là một cơ chế kiểm tra và cân bằng cần thiết để thúc đẩy tính hiệuquả của Hội đồng quản trị (Franks và đồng sự, 2001, trích Barako và đồng sự,2006)
Các kết quả thực nghiệm của các nghiên cứu trước đây chứng minh rằng các thànhviên hội đồng quản trị không giữ vị trí điều hành là một cơ chế quản trị thúc đẩynăng lực của Hội đồng quản trị nhằm cải thiện mâu thuẫn người đại diện giữa ngườisở hữu và các nhà quản lý, mà trong đó có thể là các quyết định công bố các thôngtin tự nguyện trong các báo cáo thường niên Nghiên cứu của S.Leung và B.Horwitz(2004) cho thấy các thành viên hội đồng quản trị không trực tiếp tham gia điều hành
Trang 28có ảnh hưởng tích cực đến việc công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệpnhất là các doanh nghiệp có mức độ tập trung sở hữu của các thành viên hội độngquản trị thấp Tương tự, nghiên cứu của R.Donnelly và M.Mulcahy (2008) cũng chothấy điều tương tự Tuy nhiên, nghiên cứu của D.Barako, P.Hancock và H.Izan(2006) lại cho thấy kết quả ngược lại, nghĩa là tỷ lệ thành viên hội đồng quản trịkhông tham gia điều hành có ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ tự nguyện công bốthông tin của các doanh nghiệp Các nghiên cứu của Hongxia Li và Ainian Qi(2008), N.Nasir và S.Abduallah (200x), R.Haniffa và T.Cooke (2002) không tìmthấy mối liên hệ giữa thành phần hội đồng quản trị và mức độ tự nguyện công bốthông tin của các doanh nghiệp Giả thuyết thứ nhất như sau:
H1: Tỷ lệ các thành viên hội đồng quản trị không giư vai trò điều hành có ảnh hưởng đến mức độ tự nguyện công bố thông tin.
Tiếp theo, một vấn đề về quản trị doanh nghiệp được nêu ra là Chủ tịch Hội đồngquản trị và Tổng giám đốc có nên là những người khác nhau (cấu trúc lãnh đạo kép– dual leadership structure) hay chỉ là một người (cấu trúc lãnh đạo đơn nhất –unitary leadership structure) Theo lý thuyết người đại diện, kết hợp hai chức năng(unitary leadsership structure) làm suy yếu đáng kể chức năng quan trọng nhất củaHội đồng quản trị là giám sát, kỷ luật và tưởng thưởng cho các nhà quản lý cấp cao.Nó cũng cho phép Tổng giám đốc hành động mang tính chất cơ hội chủ nghĩa, bởivì ưu thế của ông ta/bà ta trong Hội đồng quản trị Trong nghiên cứu của Barako vàđồng sự (2006), N.Nasir và S.Abdullah (2004), Hongxia Li và Ainian Qui (2008)mối liên hệ giữa mức độ tự nguyện công bố thông tin với cấu trúc lãnh đạo kép làkhông rõ ràng R.Donnelly và M.Mucahy (2008) tìm thấy có mối liên hệ yếu giữasự tách bạch hai chức năng Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc và mức độtự nguyện công bố thông tin của các doanh nghiệp Ngược lại, nghiên cứu củaR.Haniffa và T.Cooke (2002) cho thấy cấu trúc lãnh đạo kép có ảnh hưởng tiêu cực
Trang 29đến mức độ tự nguyện công bố thông tin của các doanh nghiệp Giả thuyết thứ haiđược vẫn xây dựng như sau:
H2: Cấu trúc lãnh đạo kép (dual leadership structure) có ảnh hưởng đến mức độ thông tin tự nguyện công bố
Các nghiên cứu đã có trước đây cho thấy mối liên kết đồng biến giữa sự có mặt củaban kiểm toán nội bộ (internal audit committee) và thực tiễn bản công bố thông tincủa doanh nghiệp (Barako và đồng sự 2006) Việc có ban kiểm toán nội bộ có liênquan đến tính đáng tin cậy của các báo cáo tài chính, ví dụ như, giảm tỷ lệ lỗi mắcphải, giảm tính không chính qui và các dấu hiệu khác của một báo cáo tài chínhkhông đáng tin cậy (McMullen, 1996, trích Barako và đồng sự, 2006) Vì vậy, bankiểm toán nội bộ có thể xem như là một cơ chế tăng cường chất lượng của dòngthông tin giữa những người sở hữu doanh nghiệp (cổ đông và các cổ đông tiềmnăng) và các nhà quản lý doanh nghiệp (managers), đặc biệt là trong môi trường cácbáo cáo tài chính thường có hai mức thông tin khác nhau (Bradbury, 1990, tríchBarako và đồng sự, 2006) Tuy nhiên, nghiên cứu của N.Nasir và S.Abdullah (2004)không tìm thấy mối liên hệ giữa việc có ban kiểm toán nội bộ và mức độ tự nguyệncông bố thông tin của các doanh nghiệp Giả thuyết thứ ba như sau:
H3: Mức độ của thông tin tự nguyện công bị tác động bởi nhưng doanh nghiệp có ban kiểm toán nội bộ
2.4.2.2 Cấu trúc sở hưu (Ownership structure)
Có nhiều khía cạnh khác nhau về cấu trúc sở hữu đã được nghiên cứu (Ví dụ nhưtính chất tập trung sở hữu (ownership concentration), sở hữu gia đình (familyownership), sở hữu nhà nước (government ownership), sở hữu nước ngoài (foreignownership), sở hữu tổ chức (institutional ownership) hay sở hữu quản trị
Trang 30(managerial ownership)) Nghiên cứu này sẽ nghiên cứu trên ba khía cạnh cấu trúcsở hữu doanh nghiệp đó là tính chất tập trung sở hữu, sở hữu nước ngoài và sở hữutổ chức.
Lý thuyết người đại diện cho rằng trong cách doanh nghiệp hiện đại, do sự phânchia giữa sở hữu và điều khiển, dường như có sự mâu thuẫn có tính chất đại diện(agency conflicts) (Jensen và Meckling, 1976), và mâu thuẫn tiềm tàng thường lớnhơn trong những doanh nghiệp có cổ phần tập trung trong tay một số ít người so vớidoanh nghiệp có cổ phần nằm trong tay một số ít (Fama và Jensen, 1983, tríchBarako và đồng sự, 2006) Có thể do sự phân tán các cổ đông khó có thể gây áp lựclên việc công bố thông tin của doanh nghiệp (Zeckhauser và Pound, 1990, tríchBarako và đồng sự, 2006)
Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng, mối quan hệ giữa độ tập trung sở hữu
và việc tự nguyện công bố thông tin là phức tạp Dùng mô hình các doanh nghiệpniêm yết ở Kenya, Barako và các đồng sự (2006) đã tìm thấy mối liên hệ tiêu cựcgiữa độ tập trung sở hữu và việc tự nguyện công bố thông tin Các nghiên cứu củaS.Leung và B.Horwitz (2004), N.Nasir và S.Abduallah (2004), Hongxia Li, AinianQui (2008), Haniffa và Cooke (2002) chứng minh điều ngược lại Trong khi đó, cácnghiên cứu của Al-Shammari (2008), A.Agca và C.Onder (2007) không tìm thấymối liên hệ giữa độ tập trung sở hữu và mức độ tự nguyện công bố thông tin củacác doanh nghiệp Giả thuyết thứ tư được xây dựng như sau:
H4: Tỷ lệ sở hưu cổ phần các cổ đông là thành viên HĐQT có ảnh hưởng đến mức
độ tự nguyện công bố thông tin.
Barako và đồng sự (2006) tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa tỷ lệ sở hữu nướcngoài và mức độ thông tin tự nguyện công bố trong các doanh nghiệp ở Maylaysia
Họ cho rằng các nhà sở hữu nước ngoài xem thông tin công bố là một phương tiệnđể giám sát các hành động của các nhà quản lý Tương tự, có nhiều nghiên cứu kháccũng chỉ ra mối liên hệ giữa sở hữu nước ngoài và việc tự nguyện công bố thông tin
Trang 31như của Haniffa và Cooke (2002) Có thể cho rằng, nhóm các nhà đầu tư nướcngoài cũng có ảnh hưởng đến việc công bố thông tin tự nguyện ở các doanh nghiệpniêm yết ở Việt Nam Giả thuyết thứ năm như sau:
H5: Tỷ lệ phần trăm cổ phiếu sở hưu bởi nhà đầu tư nước ngoài có ảnh hưởng đến mức độ tự nguyện công bố thông tin.
Do sở hữu trong tay nhiều cổ phần, các nhà đầu tư tổ chức có động cơ mạnh đểgiám sát việc công bố thông tin của các doanh nghiệp Các nhà quản lý vì thế có thểcung cấp thông tin tự nguyện để đáp ứng yêu cầu của các cổ đông lớn Barako(2006), Haniffa và Cooke (2002), Hongxia Li và Ainian Qui (2008) tìm thấy mốiliên hệ tích cực giữa tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư tổ chức với mức độ tự nguyệncông bố thông tin của doanh nghiệp Ngược lại, R.Donnelly và M.Mucahy (2008)không tìm thấy mối liên hệ giữa tỷ lệ sở hữu của các cổ đông tổ chức và mức độ tựnguyện công bố thông tun của các doanh nghiệp Căn cứ vào đó, giả thuyết thứ sáuđược xây dựng như sau:
H6: Tỷ lệ sở hưu cổ phần của các nhà đầu tư tổ chức có ảnh hưởng đến mức độ tự nguyện công bố thông tin.
2.4.2.3 Đặc trưng doanh nghiệp
Đặc trưng doanh nghiệp được xác định qua: độ lớn doanh nghiệp (size), đòn bẩy tàichính (leverage), loại hình doanh nghiệp kiểm toán (type of audit firm), lợi nhuận(profitability) , tính thanh khoản (liquidity)
Trong hầu hết các nghiên cứu về thông tin công bố, độ lớn doanh nghiệp (size)được xem là đặc trưng quan trọng nhất (Barako và đồng sự, 2006; Haniffa vàCooke, 2002) Một vài lý do có thể giải thích cho mức độ ảnh hưởng đáng kể củayếu tố độ lớn doanh nghiệp lên các báo cáo tài chính Các thông tin được tạo ra và
Trang 32phổ biến là đáng giá, vì lẽ đó, các công ty lớn hơn với nhiều tài nguyên và nhiềuchuyên gia hơn sẽ có điều kiện tốt hơn trong việc tạo ra các báo cáo tài chính toàndiện và chi tiết (Buzby, 1975, trích Barako và đồng sự, 2006) Chi phí người đạidiện tăng lên cùng với độ lớn (size) của doanh nghiệp (Chow và Wong-Boren, tríchBarako và đồng sự, 2006) Vì thế các doanh nghiệp lớn công bố nhiều thông tin tựnguyện hơn trong các báo cáo tài chính nhằm làm giảm bớt các mâu thuẫn ngườiđại diện Cũng có thể cho rằng các doanh nghiệp lớn kinh doanh đa lĩnh vực do đócần nhiều các báo cáo quản lý nội bộ để đạt được mục đích chung của doanhnghiệp Các báo cáo nội bộ này, vì thế, có thể trở thành một phần trong các thôngtin công bố tự nguyện mà doanh nghiệp cung cấp cho cổ đông, nhà đầu tư, và côngchúng (Owusu-Ansah, 1998) Các nghiên cứu của Barako (2006), Al-Shammari(2008), Al-Shammari (2008), A.Agca và C.Onder (2007), S.Leung và B.Horwitz(2004), Hongxia Li và Ainian Qui (2008), N.Nasir và S.Abdullah (2004),R.Donnelly và M.Mucahy (2008) đều tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa độ lớndoanh nghiệp và mức độ tự nguyện công bố thông tin Tuy nhiên R.Haniffa vàT.Cooke (2002) không tìm thấy mối liên lệ giữa độ lớn doanh nghiệp và mức độ tựnguyện công bố thông tin Giả thuyết thứ bảy như sau:
H7: Độ lớn của doanh nghiệp (size) có ảnh hưởng đến mức độ thông tin tự nguyện công bố.
Jensen và Meckling (1976) cho rằng các mâu thuẫn người đại diện là lớn hơn khi cómặt chủ nợ trong cấu trúc tài chính của doanh nghiệp Trong những nước mà các tổchức tài chính cung cấp nguồn vốn chính cho các doanh nghiệp thì họ thường đòihỏi các doanh nghiệp có nhiều nợ trong bản cân đối kế toán phải cung cấp nhiềuthông tin hơn trong báo cáo thường niên Hơn nữa, những doanh nghiệp này thườngcó xu hướng chuẩn bị các thông tin chi tiết nhằm vay nợ dễ dàng hơn từ các tổ chứctài chính Trường hợp Việt Nam, các tổ chức tài chính (ngân hàng, công ty tàichính) cũng đóng vai trò là nguồn tài trợ chính cho các doanh nghiệp Barako và
Trang 33đồng sự (2006) và Al-Shammari (2008) đều tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa đònbẩy tài chính (leverage) và mức độ tự nguyện công bố thông tin Tuy vậy, cácnghiên cứu của A.Agca và C.Onder (2007), S.Leung và B.Horwitz (2004), Hongxia
Li và Ainian Qui (2008), R.Haniffa và T.Cooke (2002), N.Nasir và S.Abdullah(2004) không tìm thấy mối liên hệ giữa đòn bẩy tài chính và mức độ tự nguyệncông bố thông tin của các doanh nghiệp Giả thuyết thứ tám được xây dựng nhưsau:
H8: Tỷ lệ đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến mức độ thông tin
tự nguyện công bố
Mặc dù các doanh nghiệp chịu trách nhiệm về các tài khoản kế toán trong các báocáo thường niên, các công ty kiểm toán có ảnh hưởng rất lớn đến các thông tin đượccông bố Các công ty kiểm toán lớn đầu tư để duy trì danh tiếng của họ như là cácnhà kiểm toán chất lượng nhiều hơn so với các công ty kiểm toán nhỏ (DeAngelo,
1981, trích Barako và đồng sự, 2006) Khi danh tiếng bị hủy hoại, các công ty kiểmtoán lớn thường mất nhiều hơn so với các công ty nhỏ Cũng có thể cho rằng, cáccông ty kiểm toán lớn có nhiều khách hàng hơn so với các công ty nhỏ và do đó họkhông lệ thuộc vào khách hàng, và do đó kết quả của họ là khách quan và chấtlượng hơn các công ty nhỏ Tính độc lập của các công ty kiểm toán lớn làm cho họcó ảnh hưởng nhiều hơn đến các báo cáo tài chính công bố của các doanh nghiệp đểthỏa mãn người ở bên ngoài (external users) sử dụng thông tin này (Owusu-Ansah,1998) Hiện Việt Nam có bốn công ty kiểm toán lớn là (thường gọi là Big4):KPMG, Earnst and Young, PriceWaterHouseCoopers và Deloitte Kết quả nghiêncứu là phức tạp, Barako và đồng sự (2006) không tìm thấy mối liên hệ giữa việckiểm toán bởi Big4 và mức độ tự nguyện công bố thông tin Ngược lại, các nghiêncứu của Al-Shammari (2008), M.Akhtaruddin và M.Hossain (2008), A.Agca vàC.Onder (2007), S.Leung và B.Horwitz (2004) chứng minh điều ngược lại Giảthuyết thứ chín như sau:
Trang 34H9: Mức độ thông tin tự nguyện công bố bị tác động trong trường hợp các doanh nghiệp được kiểm toán bởi Big4.
Theo lý thuyết người đại diện, các nhà quản lý trong các doanh nghiệp có lợi nhuậncó thể sử dụng thông tin để đạt được các mục đích cá nhân Họ có thể công bố cácthông tin chi tiết như là một phương tiện để đạt được vị trí và mức tưởng thưởngmong muốn Có thể cho rằng các doanh nghiệp kinh doanh tồi sẽ cung cấp ít thôngtin hơn nhằm che giấu hoạt động yếu kém của mình còn nhà quản lý các doanhnghiệp có lợi nhuận lớn sẽ cung cấp thông tin tự nguyện nhiều hơn để nâng cao giátrị doanh nghiệp trên thị trường và qua đó họ được tưởng thưởng cũng như nâng caogiá trị bản thân họ trong thị trường lao động (Inchausti, 1997, trích Barako và đồngsự, 2006) Các nghiên cứu của A.Agca và C.Onder (2007), R.Haniffa và T.Cooke(2002) cho thấy lợi nhuận và mức độ tự nguyện công bố thông tin của doanh nghiệpcó quan hệ tích cực Kết quả các nghiên cứu của Barako và đồng sự (2006), Al-Shammari (2008), Hongxia Li và Ainian Qui (2008), N.Nasir và S.Abdullah (2004)thì không tìm thấy mối liên hệ giữa lợi nhuận và mức độ tự nguyện công bố thôngtin của các doanh nghiệp Giả thuyết thứ mười được xây dựng nhưs sau:
H10: Lợi nhuận doanh nghiệp có ảnh hưởng đến mức độ thông tin tự nguyện công bố.
Các tổ chức cũng như nhà đầu tư và các chủ nợ thường quan tâm đến trạng thái củadoanh nghiệp Khả năng của doanh nghiệp thanh toán các nghĩa vụ đến hạn màkhông cần phải bán các tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tư (tài sản dài hạn) Tínhthanh khoản của doanh nghiệp có liên quan đến khả năng thanh toán hiện hành Cóthể cho rằng, các doanh nghiệp có tính thanh khoản cao thường có xu hướng cungcấp nhiều thông tin tự nguyện hơn các doanh nghiệp có tính thanh khoản thấp Cácdoanh nghiệp có tính thanh khoản thấp sẽ che giấu bớt tình trạng kém thanh khoản
Trang 35của mình Tuy kết quả của Barako và đồng sự (2006) không cho thấy có mối liên hệgiữa tính thanh khoản của doanh nghiệp và mức độ tự nguyện công bố thông tin, giảthuyết thứ mười một vẫn được xây dựng như sau:
H11: Tính thanh khoản của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến mức độ thông tin tự nguyện công bố.
2.5 Tóm tắt
Chương 2 trình bày về lý thuyết người đại diện bao gồm nguồn gốc của lý thuyết;các dạng lý thuyết người đại diện: thực chứng, người chủ - người đại diện; đónggóp của lý thuyết người đại diện và việc ứng dụng lý thuyết người đại diện trongnghiên cứu này Tiếp theo, chương 2 trình bày những nghiên cứu đã có trước đây vềvấn đề tự nguyện công bố thông tin đã từng được thực hiện ở các nước như Kenya,Malaysia, Hong Kong, Kuwait, Thổ Nhĩ Kỳ… Từ lý thuyết, mô hình nghiên đượcxây dựng bao gồm 11 giả thuyết liên quan đến 3 nhóm yếu tố các đặc trưng quản trịdoanh nghiệp (corporate governance characteristics), cấu trúc sở hữu (ownershipstructure) và các thuộc tính doanh nghiệp (company attributes)
Trang 36CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Giới thiệu
Chương 3 nhằm giới thiệu phương pháp nghiên cứu trong đó tập trung vào việcthiết kế nghiên cứu Trong đó phần thiết kế nghiên cứu gồm có 3 phần: (1) Xâydựng chỉ số của thông tin tự nguyện công bố, trong đó đề cập đến việc xây dựngbiến phụ thuộc (mức độ tự nguyện công bố thông tin của các doanh nghiệp), cácbiến độc lập (cách thức đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tự nguyện côngbố thông tin) (2) Thu thập dữ liệu, nêu lên cách thức thu thập dữ liệu để phân tích.(3) Mô hình nghiên cứu, trong đó xây dựng mô hình hồi qui dựa trên các biến độclập và biến phụ thuộc đã đề xuất
3.2 Thiết kế nghiên cứu
3.2.1 Xây dựng chỉ số của thông tin tự nguyện công bố (Voluntary Disclosure
Index)
Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu để đo lường chỉ số tự nguyện công bố thông tin.Trong nghiên cứu của C Abad, F Bravo và M Trombetta (2005) có thống kê mộtsố phương pháp xây dựng chỉ số thông tin tự nguyện công bố và cách thức tiếnhành Tuy nhiên, nghiên cứu này sẽ xây dựng chỉ số thông tin tự nguyện công bốdựa trên nghiên cứu của R.M Haniffa và T.E Cooke (2002), N.Nasir và S.Abdullah(2004)
3.2.1.1 Báo cáo thường niên (annual report)
Trang 37Nghiên cứu sẽ tập hợp các báo cáo thường niên năm 2007 của các doanh nghiệpViệt Nam niêm yết tại SGDCK TP.HCM (HOSE) và SGDCK Hà Nội (HNX).Trong đó, các doanh nghiệp cần thu thập báo cáo thường niên là những doanhnghiệp đã niêm yết tại HOSE và HNX từ bgày 31/12/2006 trở về trước
3.2.1.2 Biến phụ thuộc (Dependent Variable)
Biến phục thuộc là chỉ số thông tin tự nguyện công bố (Voluntary DisclosureIndex) Trước khi xác định chỉ số thông tin tự nguyện công bố cho mỗi doanhnghiệp niêm yết, một bảng ghi nhận được xây dựng dựa trên các mục thông tin tựnguyện công bố được xem xét chọn lựa và so sánh từ các nghiên cứu trước(Haniffa, 2002; Barako, 2006; Nasir 2004; Donnelly, 2008) và phù hợp với môitrường kinh doanh của Việt Nam Danh sách này sau nó sẽ được lọc lại nhằm loại
bỏ hoàn toàn các thông tin bắt buộc phải công bố theo qui định của Luật chứngkhoán và Luật doanh nghiệp Cũng như điều chỉnh loại bỏ các thông tin như R&D,mua, bán sát nhập, những thông tin mà không thể áp dụng cho tất cả các doanhnghiệp Để đảm bảo tính khách quan, việc loại bỏ các mục thông tin được tiến hànhqua việc thảo luận nhóm – bao gồm các cá nhân được đọc mẫu thông tin bắt buộccông bố và các mục thông tin là các thông tin tự nguyện công bố Danh sách cuốicùng sẽ được gửi đến các chuyên viên tín dụng doanh nghiệp của các ngân hàngthương mại (những người làm công tác thẩm định cho vay đối với các doanhnghiệp) để đánh giá và hiểu chỉnh lại (xem phụ lục 02) Danh sách cuối cùng sẽđược chọn ra (Final list) Danh sách cuối cùng gồm 46 mục thông tin tự nguyệncông bố được chia ra thành 4 nhóm: (1) thông tin chung và thông tin chiếc lược, (2)dữ liệu tài chính, (3) thông tin dự báo và (4) thông tin có tính chất xã hội và thôngtin về HĐQT
Bảng 3.1: Danh sách các mục thông tin tự nguyện công bố
Thông tin chung và thông tin chiến lược
Trang 381 Thông tin chung về nền kinh tế
2 Tầm nhìn/Sứ mệnh/Giá trị cốt lõi
3 Lịch sử doanh nghiệp (ngoài những thông tin bắt buộc)
4 Sơ đồ cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp
5 Tiếp thị/Phân phối sản phẩm
6 Chiến lược kinh doanh
7 Tác động của chiến lược kinh doanh đến hiệu suất của doanh nghiệp
8 Phân tích thị phần
9 Thông tin về ngành kinh doanh
10 Hình ảnh minh họa
Dữ liệu tài chính
11 Tóm tắt tình hình tài chính hơn 2 năm trước đó
12 Các giá trị được tạo ra thêm
13 Thông tin cần được hiệu chỉnh sau khi hoàn thành BCTC năm
14 Tỷ số khác
15 Tỷ số đòn bẩy
16 Biểu đồ
17 Giá cổ phiếu (năm vừa qua)
18 Lượng cổ phiếu giao dịch (năm vừa qua)
Thông tin dự báo
19 Kế hoạch kinh doanh tương lai
20 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất trong tương lai của doanh nghiệp
21
Ảnh hưởng của chiến lược kinh doanh đến hiệu suất trong tương lai của doanhnghiệp
22 Phát triển sản phẩm - dịch vụ mới
23 Kế hoạch sử dụng vốn
24 Kế hoạch quảng bá/phân phối sản phẩm và quan hệ cộng đồng (PR)
25 Dự báo EPS
26 Dự báo doanh thu
27 Dự báo lợi nhuận
28 Dự báo khác
Thông tin có tính chất xã hội và thông tin về HĐQT
29 Thông tin về số lao động của hơn 2 năm về trước
30 Nhân sự theo giới tính
31 Nhân sự theo chức năng
32 Nhân sự theo trình độ
33 Lý do thay đổi số lao động
34 Thông tin về an toàn lao động
35 Chính sách tuyển dụng
36 Chính sách đào tạo
37 Lương bình quân
38 Thông tin về sự tham gia của doanh nghiệp vào các hoạt động cộng đồng
39 Thông tin về sự tham gia của doanh nghiệp vào các hoạt động môi trường
Trang 3940 Ảnh của các thành viên HĐQT
41 Tuổi của các thành viên HĐQT
42 Bằng cấp học vị của các thành viên HĐQT
43 Kinh nghiệm kinh doanh của các thành viên HĐQT
44 Vị trí được đảm nhiệm bởi các thành viên HĐQT
45 Vị trí được đảm nhiệm khác của các thành viên HĐQT không điều hành
46 Thông tin cổ đông sở hữu dưới 5% cổ phần
3.2.1.3 Xác định chỉ số thông tin tự nguyện công bố
Dựa trên nghiên cứu của R.M Haniffa và T.E Cooke (2002), N.Nasir vàS.Abdullah (2004) và được hiệu chỉnh theo thực tế nghiên cứu tại Việt Nam Từ báocáo thường niên của các doanh nghiệp, với mỗi mục thông tin trùng lắp với danhsách cuối cùng (Final list) thì sẽ được ghi nhận là 1 điểm Tất cả các báo cáo thườngniên phải được xem xét kỹ trước khi quyết định nào được ghi nhận Tổng điểm ghinhận được dùng để tính chỉ số tự nguyện công bố thông tin của mỗi doanh nghiệp(Ij) Cách tính như sau:
N
Xij Ij
N t
Xij = 1 khi doanh nghiệp có một mục thông tin trùng với danh sách cuối cùng
và bằng 0 nếu không có
Vì vậy: 0Ij1
3.2.1.4 Biến độc lập
Trang 40Các biến độc lập được chia thành ba nhóm: đặc trưng quản trị doanh nghiệp(corporate governance characteristics), cấu trúc sở hữu (Ownership structure) vàđặc trưng doanh nghiệp (company characteristics) Dựa trên nghiên cứu củaDulacha G Barako, Phi Hancock và H.Y Izan (2006) các biến độc lập được xácđịnh bao gồm:
Bảng 3.2: Danh sách các biến phụ thuộc
Đặc trưng quàn trị doanh
nghiệp
Hội đồng quản trị không
điều hành
(Board Composition)
Tỷ lệ các thành viên hội đồng quản trị
không tham gia điều hành trên tổng số
thành viên hội đồng quản trị
Cấu trúc sở hữu
Độ tập trung sở hữu
Tỷ lệ % cổ phần do các tổ chức nắm giữ X6
Đặc trưng doanh nghiệp
Độ lớn
(Firm size)
Đòn bẩy tài chính
(Leverage)
Tỷ lệ nợ có được bằng cách chia tổng nợ
cho tổng tài sản
X8