1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác thống kê tư pháp ở việt nam hiện nay

71 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 919,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các bài viết trên tạp chí liên quan đến công tác thống kê nói chung khá nhiều: “Tổng quan về phát triển thống kê khu vực châu Á - Thái Bình Dương” của NTH; “Công tác thống kê tổng hợp qu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

LỜI CẢM ƠN VÀ CAM ĐOAN

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Văn Mạnh đã giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành Luận văn này Do thời gian còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế không nhiều, kiến thức còn hạn chế nên khó tránh khỏi Luận văn còn có những sai sót Tôi rất mong được sự góp ý của thầy cô và bạn đọc để Luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn và cam đoan

Mục lục

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THỐNG KÊ TƯ PHÁP 5 1.1 Khái quát về thống kê 5

1.1.1 Sơ lược về sự ra đời và phát triển của thống kê 5

1.1.2 Một số khái niệm thường dùng trong thống kê 8

a) Tổng thể thống kê 8

b) Tiêu thức thống kê 9

c) Chỉ tiêu thống kê 9

d) Hệ thống chỉ tiêu thống kê 10

1.1.3 Quá trình thống kê 11

a) Giai đoạn 1: Thu thập thông tin thống kê 11

b) Giai đoạn 2: giai đoạn xử lý và tổng hợp thông tin thống kê 15

c) Giai đoạn 3: Phân tích và dự báo thống kê 18

d) Giai đoạn 4: Phổ biến thông tin thống kê 20

1.2 Khái quát về tư pháp 22

1.3 Khái niệm, đặc điểm và mục đích của công tác thống kê tư pháp 24

1.3.1 Khái niệm công tác thống kê tư pháp 24

1.3.2 Đặc điểm của công tác thống kê tư pháp 25

a) Đặc điểm chung 25

b) Đặc điểm riêng 25

1.3.3 Mục đích của công tác thống kê tư pháp 25

1.4 Nội dung công tác thống kê tư pháp 26

1.4.1 Đối tượng thống kê 26

1.4.2 Phạm vi thống kê 26

1.4.3 Nội dung thống kê 26

1.5 Phương pháp thống kê tư pháp 26

1.6 Các điều kiện bảo đảm công tác thống kê tư pháp 29

Trang 4

1.6.1 Về thể chế 29

1.6.2 Nguồn nhân lực 31

1.6.3 Cơ sở vật chất 31

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THỐNG KÊ TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (Qua đánh giá thực trạng về công tác thống kê trong công tác Thi hành án dân sự và Bổ trợ tư pháp) 32 2.1 Đối tượng thực hiện, phạm vi thống kê 33

2.1.1 Đối tượng thực hiện 33

a) Đối tượng thực hiện công tác thống kê trong lĩnh vực thi hành án dân sự 33

b) Đối tượng thực hiện công tác thống kê trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp 33

2.1.2 Phạm vi thống kê 34

a) Phạm vi thống kê trong lĩnh vực thi hành án dân sự 35

b) Phạm vi thống kê trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp 36

2.2 Nội dung thống kê 42

2.2.1 Các chỉ tiêu về Thi hành án dân sự và Bổ trợ tư pháp có trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia 42

2.2.2 Các chỉ tiêu về Thi hành án dân sự và Bổ trợ tư pháp trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê thuộc lĩnh vực tư pháp 42

a) Chỉ tiêu thống kê trong lĩnh vực Thi hành án dân sự 43

b) Chỉ tiêu thống kê trong lĩnh vực Bổ trợ tư pháp 44

2.3 Phương pháp thống kê tư pháp 47

2.4 Các điều kiện đảm bảo thực hiện thống kê tư pháp 49

2.4.1 Về thể chế 49

2.4.2 Nguồn nhân lực 50

2.4.3 Cơ sở vật chất 51

2.5 Đánh giá chung về thực trạng công tác thống kê trong lĩnh vực Thi hành án dân sự và Bổ trợ tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 52 2.5.1 Những ưu điểm, kết quả đạt được 52

2.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu 52

a) Hạn chế 52

b) Nguyên nhân chủ yếu 55

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN CÔNG TÁC THỐNG KÊ TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 57 3.1 Về thể chế 57

Trang 5

3.2 Về tổ chức, bộ máy và nguồn nhân lực 58

3.3 Về cơ sở vật chất 59

3.4 Các giải pháp khác 60

KẾT LUẬN 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong xu thế toàn cầu hóa ngày nay, nhất là trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì công tác thống kê tư pháp là một trong những hoạt động không những không thể thiếu được và ngày càng trở nên vô cùng quan trọng Thống kê tư pháp là một công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, phục vụ việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển công tác Tư pháp, góp phần phát triển kinh tế

xã hội và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội

Trong những năm qua, công tác thống kê tư pháp đã đạt được một số thành tựu, nhưng trong hoàn cảnh ngày nay, khi nhu cầu trao đổi thông tin thống

kê giữa nước ta với các quốc gia, các tổ chức quốc tế ngày càng tăng, công tác thống kê tư pháp cần phải được đổi mới và nâng cao thêm cho ngang tầm nhiệm

vụ mới

Để góp một phần công sức nhỏ bé nâng cao hiệu quả công tác thống kê tư pháp, tác giả mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác thống kê tư pháp ở Việt Nam hiện nay”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay ở nước ta, các giáo trình và sách vở nghiên cứu về thống kê có khá nhiều, thậm chí thống kê còn được coi là một môn khoa học Tuy nhiên, thống kê học chưa từng được giảng dạy như một môn học chính thức trong chương trình đào tạo dành cho các chuyên ngành xã hội, trong đó có chuyên ngành Luật học

Theo tìm hiểu của tác giả, trong 5 năm gần đây, các công trình nghiên cứu

về thống kê có liên quan đến thống kê tư pháp không nhiều Đề tài cấp nhà nước

về thống kê có 02 đề tài, trong đó 01 đề tài đã được Thủ tướng Chính phủ phê

Trang 7

duyệt năm 2010 (Đề án đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê; đề tài này có đề cập hạn chế đến một số chỉ tiêu thống kê trong lĩnh vực tư pháp) và 01

đề tài đang được Tổng cục Thống kê chủ trì xây dựng (Chiến lược phát triển thống kê Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2025; trong đó thống kê tư pháp là một bộ phận của thống kê Việt nam) Đề tài, dự án cấp Bộ

về thống kê có 02 đề tài trong đó 01 đề tài đã được Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt năm 2010 (Đề án đối mới công tác thống kê Ngành Tư pháp) và 01 dự án của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về Hệ thống biểu mẫu thống kê và các văn bản hướng dẫn Ở cấp độ Luận án tiến sỹ, thạc sỹ về thống kê tư pháp chưa có

đề tài nào

Các bài viết trên tạp chí liên quan đến công tác thống kê nói chung khá nhiều: “Tổng quan về phát triển thống kê khu vực châu Á - Thái Bình Dương” của NTH; “Công tác thống kê tổng hợp qua 60 năm xây dựng và phát triển” của tiến sỹ Trần Kim Đồng; “Phương pháp chế độ thống kê qua các giai đoạn phát triển” của Đào Ngọc Lâm; “Bác Hồ - Một trong những nhà Lãnh tụ sử dụng nhiều

số liệu thống kê trong sự nghiệp cách mạng của mình” của Tiến sỹ Nguyên Quán;

“Công tác thống kê nước ngoài: thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Văn Phẩm; “Những vấn đề chung về dự báo” của NTH; “Một số vấn đề về dự báo thống kê” của Tiến sỹ Nguyễn Trần Quế; “Phương pháp thu thập thông tin thống

kê kinh tế - xã hội hàng tháng” của Tiến sỹ Trần Kim Đồng; Số liệu thống kê: số liệu chính xác hơn sẽ cho kết quả tốt hơn; Mô hình tổ chức thống kê

Nhưng bài viết trên tạp chí liên quan đến công tác thống kê tư pháp rất hạn chế, tác giả tìm thấy 01 bài đề cập hạn chế đến một số khía cạnh về thống kê

tư pháp: “Vài nét về thống kê tư pháp ở Việt Nam” của Phạm Văn Lợi

Ngoài ra, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn của công tác thống kê tư pháp

Do vậy, việc tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Cơ sở lý luận và thực

tiễn về công tác thống kê tư pháp ở Việt Nam hiện nay” mang ý nghĩa lý

luận và thực tiễn sâu sắc Đề tài mang ý nghĩa lý luận cho việc xây

Trang 8

dựng và hoàn thiện những quy phạm pháp luật về thống kê tư pháp đầy

đủ, phù hợp với luật thống kê và các quy định có liên quan; đồng thời mang ý nghĩa thực tiễn khi những quy phạm pháp luật này lại là cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện công tác thống kê trong lĩnh vực tư pháp

Những kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc xây dựng và hoàn thiện các quy phạm pháp luật về thống kê tư pháp Tác giả hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ là một tài liệu tham khảo

có giá trị

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật hiện còn hiệu lực về thống kê nói chung, về thống kê tư pháp nói riêng Do thống

kê tư pháp có đối tượng rộng nên luận văn chỉ đánh giá thực trạng công tác thống kê trong lĩnh vực Thi hành án dân sự và Bổ trợ tư pháp thông qua việc tổng hợp, phân tích số liệu thống kê và báo cáo giai đoạn

2006- 2010 của các Sở Tư pháp và cơ quan Thi hành án dân sự địa phương gửi về Bộ Tư pháp

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam

là cơ sở phương pháp luận cho luận văn này

Phương pháp nghiên cứu đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp (Phân tích, so sánh các quy phạm pháp luật về thống kê nói chung, thống kê tư pháp nói riêng; thống kê, tổng hợp số liệu; phân tích thực trạng công tác thống kê )

5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sơ sở lý luận và thực tiễn của công tác thống kê tư pháp Đánh giá thực trạng công tác thống kê tư pháp, qua

đó nêu lên những kiến nghị có thể áp dụng nhằm bảo đảm thực hiện công tác thống kê tư pháp

6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn

- Phân tích cơ sở lý luận về công tác thống kê tư pháp

- Đề xuất khái niệm, đặc điểm, nội dung, phương pháp thống kê tư pháp

- Đề xuất các điều kiện bảo đảm công tác thống kê tư pháp

Trang 9

7 Cơ cấu của luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác thống kê tư pháp

1.1 Khái quát về thống kê

1.2 Khái quát về tư pháp

1.3 Khái niệm, đặc điểm và mục đích của công tác thống kê tư pháp

1.4 Nội dung công tác thống kê tư pháp

1.5 Phương pháp thống kê tư pháp

1.6 Các điều kiện bảo đảm công tác công tác thống kê tư pháp

Chương 2: Thực trạng công tác thống kê tư pháp ở Việt Nam hiện nay (Qua đánh giá thực trạng về công tác thống kê trong công tác Thi hành án

dân sự và Bổ trợ tư pháp)

2.1 Đối tượng thực hiện, phạm vi thống kê

2.2 Nội dung thống kê

2.3 Phương pháp thống kê tư pháp

2.4 Các điều kiện bảo đảm thực hiện thống kê tư pháp

2.5 Đánh giá chung về thực trạng công tác thống kê trong lĩnh vực Thi hành án dân sự và Bổ trợ tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Chương 3: Các giải pháp bảo đảm thực hiện công tác thống kê tư pháp ở Việt Nam hiện nay

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THỐNG KÊ TƯ PHÁP

1.1 Khái quát về thống kê

1.1.1 Sơ lược về sự ra đời và phát triển của thống kê

Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của khoa học thống kê cho phép rút ra kết luận: Thống kê ra đời theo yêu cầu thực tế xã hội và nó phát triển theo

sự phát triển của xã hội loài người

Điểm qua sự phát triển của xã hội loài người, ở thời kỳ cộng sản nguyên thủy xã hội loài người chưa có sản xuất và chưa có sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Mọi của cải trong xã hội do thiên nhiên cung cấp và là của chung Vì vậy, loài người chưa cần sự tính toán nào cả

Từ thời chiếm hữu nô lệ, tuy sản xuất nông nghiệp còn giản đơn nhưng đã tạo ra sản phẩm dư thừa và tầng lớp chủ nô đã có nhu cầu phải ghi chép, tính toán những tài sản thuộc quyền sở hữu của mình (ruộng đất, nô lệ, sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi ) Ngày nay, người ta đã tìm thấy một số di tích cổ ở Trung Quốc, Hy Lạp, La Mã, Ai Cập về sự ghi chép này Chiến tranh giữa các

bộ tộc cũng là một yêu cầu mà các chủ nô cần tính toán khả năng bắt lính, tính thêm các tài sản trong phạm vi chiếm hữu mới Song, mọi tính toán trong thời

kỳ này còn đơn giản, chỉ có tính chất cộng dồn trong phạm vi hẹp, manh nha thể hiện tính chất sơ khai của công tác thống kê

Đến thời kỳ phong kiến, phương thức sản xuất mới tạo điều kiện cho sản xuất phát triển Sản phẩm nông nghiệp phong phú hơn, phạm vi chiếm hữu tư liệu sản xuất của lãnh chúa phong kiến cũng mở rộng hơn so với thời kỳ chiếm hữu nô lệ Từ đó yêu cầu tính toán cũng phức tạp hơn Ở hầu hết các nước Châu

Âu, Châu Á, người ta đã tổ chức việc đăng ký, kê khai về ruộng đất, nhân khẩu, tài sản trong phạm vi rộng hơn và lúc này tính chất thống kê đã được thể hiện rõ ràng hơn Tuy nhiên, công tác thống kê chưa được đúc kết thành lý luận

Dưới thời kỳ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất phát triển, các ngành sản xuất mới ra đời: sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, thương nghiệp

Trang 11

Các hoạt động kinh tế xã hội ngày càng trở nên phức tạp, sự phân công lao động

xã hội cũng phát triển, sự phân chia giai cấp ngày càng gay gắt Yêu cầu của xã hội tư bản đòi hỏi phải theo dõi về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội để phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị Từ đó thống kê có điều kiện phát triển Người

ta bắt đầu nghiên cứu lý luận và phương pháp thu thập, tính toán các tài liệu sao cho phản ánh được diễn biến của các hiện tượng, giúp cho người làm công tác quản lý sản xuất, quản lý xã hội điều hành tốt các công việc của mình Cuối thế

kỷ 17, một số tài liệu, sách báo về thống kê được xuất bản, đặt nền móng cho khoa học thống kê hình thành và phát triển

Ngày nay thống kê được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội và cũng được nghiên cứu dưới góc độ khoa học Tuy nhiên để hiểu thống kê là gì không phải là đơn giản

Có thể thấy trong đời sống hàng ngày, thống kê thường dùng để chỉ việc ghi chép một cách có hệ thống các số liệu về một sự việc nào đó để tính toán tổng số, khái quát tình hình chung Và người ta cũng thường quan niệm thống kê

là một hoạt động thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và hoạt động thống kê đơn giản chỉ là lập nên những bảng số chứa các con số với các phép cộng trừ nhân chia, nhưng thực ra thống kê thuộc về lĩnh vực khoa học xã hội.1

Tuy thống kê

sử dụng rất nhiều các phép tính toán trong số học để có những số liệu nhất định nhưng không phải lúc nào thống kê cũng có sản phẩm là kết quả của những phép cộng, trừ, nhân, chia mang tính chất tuyệt đối, chính xác đến hàng đơn vị Thống

kê đôi khi còn phải tính toán, cân nhắc đến các yếu tố bên ngoài phép tính như: sai số trong điều tra chọn mẫu, độ chênh số liệu giữa các đơn vị báo cáo, độ chênh về thời gian báo cáo… để cân đối với tổng quan chung Các số liệu thống

kê được sử dụng để phân tích, nhận định tình hình, tìm ra bản chất, quy luật, xu hướng phát triển một hiện tượng kinh tế- xã hội trong điều kiện không gian và thời gian nhất định

1

Theo Luật Thống kê, hoạt động thống kê là điều tra, báo cáo, tổng hợp, phân tích và công bố các thông tin thống kê phản ánh bản chất và tính quy luật của các hiện tượng kinh tê- xã hội trong điều kiện không gian và

Trang 12

Trong hoạt động quản lý nhà nước, công tác thống kê luôn đóng vai trò quan trọng, các thông tin thống kê với nội dung trung thực, khách quan, chính xác, toàn diện, được xem là “tấm gương” phản ánh kịp thời, trung thực diễn biến tình hình và chất lượng, hiệu quả công việc của một cơ quan, tổ chức Trong phạm vi quản lý một Ngành, các kết quả của hoạt động thống kê được xem là phương tiện, công cụ hữu hiệu để đánh giá một cách xác đáng, khách quan tình hình, hiệu quả hoạt động của Ngành, phục vụ việc xây dựng, điều chỉnh chính sách, kế hoạch, chung của Ngành phù hợp với thực tế yêu cầu phát triển Ngành cũng như đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nói chung

Trong khoa học, “thống kê học chính là khoa học nghiên cứu hệ thống các

phương pháp thu thập, xử lý và phân tích các con số (mặt lượng) của những hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong những điều kiện, địa điểm và thời gian cụ thể” 2

Có quan điểm còn cho rằng thống kê là một môn khoa học xã hội vì nó

nghiên cứu các hiện tượng xã hội như quá trình tái sản xuất xã hội mà không nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng thống

kê cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa tự nhiên với các hiện tượng kinh tế - xã hội như ảnh hưởng của việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp, ảnh hưởng của thời tiết khí hậu tới kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế

Thống kê nghiên cứu mặt lượng trong sự liên hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng, trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể Mặt lượng mà thống kê nghiên cứu bao gồm các khía cạnh như quy mô, kết cấu, trình độ phổ biến, mối quan hệ tỷ lệ của các hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội Những khía cạnh

đó có một đặc trưng là đều biểu hiện bằng con số Tuy nhiên, thống kê không nghiên cứu mặt lượng đơn thuần mà nghiên cứu mặt lượng trong mối quan hệ

chặt chẽ với mặt chất của hiện tượng Điều đó là do giữa chất và lượng là hai

mặt của một vấn đề không tách rời nhau (quy luật lượng đổi chất đổi) Mặt khác

do mục đích nghiên cứu của thống kê cũng không phải dừng ở mặt lượng mà

2

Xem Giáo trình lý thuyết thống kê, NXB giáo dục, 1998, trang 4

Trang 13

thông qua mặt lượng, thống kê đi sâu tìm hiểu bản chất và tính quy luật của hiện tượng Tuy nhiên, thống kê không nghiên cứu bản chất và quy luật vận động và phát triển của hiện tượng mà nội dung này do các khoa học khác nghiên cứu như triết học, kinh tế chính trị, kinh tế học Thống kê chỉ nghiên cứu biểu hiện của các quy luật nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa các hiện tượng, xu thế phát triển của hiện tượng cũng như quy luật phân phối của tổng thể chứa đựng hiện tượng

Ngoài ra, thống kê không nghiên cứu mặt lượng chung chung như trong toán học Thống kê luôn nghiên cứu các hiện tượng và quá trình kinh tế cụ thể

do đó luôn gắn với điều kiện, thời gian và địa điểm cụ thể Chính vì vậy mọi con

số thống kê đều gắn liền với một địa phương, một cơ sở cụ thể và phản ánh trong một thời gian cụ thể

1.1.2 Một số khái niệm thường dùng trong thống kê

a) Tổng thể thống kê

Tổng thể là một tập hợp các đơn vị hoặc các phần tử cá biệt tồn tại một cách khách quan có chung một tính chất Mỗi một đơn vị hay một phần tử là một đơn vị tổng thể Việc xác định tổng thể, thực chất là xác định các đơn vị tổng thể

Việc xác định các đơn vị tổng thể trong nhiều trường hợp dễ dàng vì đó là đơn vị bộc lộ Chẳng hạn tổng số sinh viên trong một lớp là một tổng thể trong

đó mỗi sinh viên là một đơn vị tổng thể Tuy nhiên đối với các đơn vị tiềm ẩn thì việc xác định đơn vị tổng thể cũng khó khăn Chẳng hạn xác định các đơn vị tổng thể trong tổng thể hộ nghèo đói ở Việt Nam hay tổng thể người ham thích bóng đá ở Hà Nội thì khó khăn hơn, thông thường phải tiến hành điều tra khảo sát, nêu ra những tiêu chí cụ thể (tiêu chí như thế nào được coi là nghèo? đói? thích bóng đá? không thích bóng đá? để có cơ sở xem xét, đánh giá Ví dụ hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống (theo quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015))

Trang 14

Tổng thể là một khái niệm quan trọng trong thống kê Tổng thể là cơ sở

để xác định phạm vi hiện tượng mà chúng ta quan tâm Tổng thể được chia ra tổng thể chung, tổng thể bộ phận và tổng thể mẫu Tổng thể chung bao gồm toàn bộ các đơn vị của tổng thể (Ví dụ: toàn bộ sinh viên của một lớp) Tổng thể bộ phận chỉ bao gồm một bộ phận nào đó trong tổng thể chung, trong đó chúng có một đặc điểm chung nào đó (Ví dụ: nhóm nam và nhóm nữ trong cùng một lớp học) Tổng thể mẫu là một bộ phận được chọn ra với tư cách là đại diện cho cả tổng thể chung để nghiên cứu (Ví dụ: để xem xét tình hình học tập của cả lớp, người ta chọn

ra 10 sinh viên theo một cách ngẫu nhiên nào đó để nghiên cứu)

b) Tiêu thức thống kê

Tiêu thức thống kê chính là đặc tính (đặc điểm) của đơn vị tổng thể Một đơn vị tổng thể có nhiều tiêu thức (Ví dụ: một sinh viên trong lớp có nhiều tiêu thức biểu hiện như tuổi, giới tính, học lực, quê quán, tôn giáo )

Tiêu thức thống kê có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau

Xét theo tính chất, tiêu thức thống kê được chia thành tiêu thức bất biến

và tiêu thức biến động Tiêu thức bất biến là tiêu thức thể hiện hoàn toàn giống nhau trên các đơn vị tổng thể; tiêu thức này có tác dụng liên kết các đơn vị lại với nhau để tạo thành tổng thể Tiêu thức biến động là tiêu thức thường thể hiện không hoàn toàn giống nhau trên các đơn vị tổng thể

Xét theo hình thức biểu hiện, tiêu thức thống kê được chia thành tiêu thức thuộc tính và tiêu thức số lượng Tiêu thức thuộc tính (còn gọi là tiêu thức phẩm chất, tiêu thức chất lượng) phản ánh tính chất của đơn vị tổng thể và thường không trực tiếp biểu hiện bằng con số, ví dụ: Giới tính, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, nơi cư trú của người dân; đôi khi tiêu thức thuộc tính biểu biện bằng con số nhưng không phải là số lượng, ví dụ: Hạng đất, trình độ văn hoá, độ chua của đất Tuy nhiên các con số này không cộng lại với nhau để tính toán được Tiêu thức số lượng là tiêu thức được biểu hiện trực tiếp bằng con số, phản ánh mặt lượng riêng biệt của đơn vị tổng thể

c) Chỉ tiêu thống kê

Trang 15

“Chỉ tiêu thống kê là tiêu chí mà biểu hiện bằng số của nó phản ánh quy

mô, tốc độ phát triển, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tượng kinh tế - xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể” 3

Chỉ tiêu thống kê có hai mặt: khái niệm và mức độ Khái niệm chỉ rõ giới hạn về thuộc tính, số lượng thời gian của hiện tượng Còn mức độ có thể thể hiện bằng các thang đo khác nhau, phản ánh quy mô, hoặc cường độ của hiện tượng Ví dụ: Tốc độ tăng GDP của Việt Nam năm 2002 so với năm 2001 là 7,0% (mặt khái niệm của chỉ tiêu là: tăng GDP, mặt mức độ của chỉ tiêu là: tăng 7,0%)

Căn cứ vào nội dung có thể chia chỉ tiêu thống kê ra làm hai loại: chỉ tiêu chất lượng và chỉ tiêu số lượng Chỉ tiêu chất lượng biểu hiện các tính chất, trình

độ phổ biến, mối quan hệ của tổng thể (ví dụ: Năng suất lúa bình quân vụ đông xuân năm 2003 của nước ta đạt 46,8 tạ/ha) Đôi khi chỉ tiêu chất lượng không thể biểu hiện bằng con số cụ thể một cách trực tiếp mà chỉ có thể biểu hiện gián tiếp, nhất là trong thống kê xã hội (ví dụ: Tình hình xã hội ổn định) Chỉ tiêu số lượng biểu hiện quy mô của tổng thể (Ví dụ: tổng sản lượng lúa vụ đông xuân của cả nước năm 2003 đạt được là 34,7 triệu tấn)

Mỗi chỉ tiêu thống kê phản ánh một mặt nào đó của hiện tượng kinh tế-xã hội

d) Hệ thống chỉ tiêu thống kê

Hệ thống chỉ tiêu thống kê là một tập hợp nhiều chỉ tiêu thống kê có liên

hệ mật thiết với nhau, phản ánh nhiều mặt của hiện tượng hay quá trình kinh tế -

xã hội trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể Khoản 4 Điều 3 Luật thống kê quy định: “Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập hợp những chỉ tiêu thống

kê do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành”

Hệ thống chỉ tiêu thống kê có nhiều loại như Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia4; Hệ thống chỉ tiêu thống kê của các Bộ, Ngành5; Hệ thống chỉ tiêu

Trang 16

thống kê tỉnh, huyện, xã; Hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế, Hệ thống chỉ tiêu thống kê xã hội, Hệ thống chỉ tiêu phản ánh chất lượng tăng trưởng…

Hệ thống chỉ tiêu thống kê bao gồm danh mục các chỉ tiêu thống kê (số thứ tự, mã số, tên gọi, phân tổ chủ yếu, kỳ công bố, đơn vị chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp) và bản giải thích từng chỉ tiêu (khái niệm, định nghĩa, phương pháp tính, đơn vị tính, nguồn số liệu…)

1.1.3 Quá trình thống kê

Thông thường, hoạt động thống kê trải qua các quá trình: Thu thập, Xử lý

- Tổng hợp; Phân tích - Dự báo; Phổ biến thông tin thống kê Thông tin thống kê bao gồm số liệu thống kê và bản phân tích các số liệu đó, là sản phẩm thu được của hoạt động thống kê do một tổ chức hoặc cá nhân nhất định tiến hành trong một không gian và thời gian cụ thể

a) Giai đoạn 1: Thu thập thông tin thống kê

Thông tin thống kê được thu thập chủ yếu từ hai nguồn cơ bản: báo cáo thống kê và điều tra thống kê

Báo cáo thống kê là một trong những hình thức thu thập thông tin thống

kê chủ yếu được tiến hành theo chế độ quy định với hệ thống biểu mẫu thống kê

do cấp có thẩm quyền ban hành và sử dụng thống nhất trong nhiều năm trên cơ

sở nguồn thông tin ban đầu được theo dõi, ghi chép và tổng hợp một cách có hệ thống

Báo cáo thống kê có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau Nếu căn cứ vào tính chất đầy đủ và độ tin cậy của thông tin thống kê, có thể chia báo cáo thống kê thành hai loại: Báo cáo thống kê chính thức và báo cáo thống kê ước tính Báo cáo thống kê chính thức là loại báo cáo thống kê được lập dựa trên các nguồn số liệu và thông tin đã được thu thập đầy đủ với độ tin cậy cao nhất Báo cáo thống kê ước tính là loại báo cáo thống kê được lập dựa trên các nguồn

số liệu và thông tin chưa được thu thập đày đủ hoặc mới chỉ là những số liệu, thông tin ước lượng và dự báo, đánh giá khái quát xu hướng phát triển của hiện

5

Hệ thống chỉ tiêu thống kê của Bộ, Ngành bao gồm các chỉ tiêu thống kê thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia được phân công thu thập, tổng hợp và những chỉ tiêu phục vụ yêu cầu quản lý, sử dụng thuộc ngành, lĩnh vực

Trang 17

tượng và các quá trình tự nhiên, kinh tế - xã hội nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của người sử dụng

Nếu căn cứ vào tính chất thường xuyên và không thường xuyên của báo cáo, có thể chia báo cáo thống kê thành hai loại: Báo cáo thống kê định kỳ và Báo cáo thống kê đột xuất Báo cáo thống kê định kỳ là loại báo cáo thống kê được tiến hành theo kỳ hạn nhất định và theo một chế độ báo cáo do cấp có thẩm quyền quy định Báo cáo thống kê đột xuất là loại báo cáo thống kê không theo

kỳ hạn nhất định, chỉ được lập khi có những hiện tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội xảy ra bất thường như thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn…

Nếu căn cứ vào đơn vị lập và gửi báo cáo, có thể chia báo cáo thống kê thành hai loại: Báo cáo thống kê cơ sở và Báo cáo thống kê tổng hợp Báo cáo thống kê cơ sở là loại báo cáo thống kê do các đơn vị cơ sở lập và báo cáo cho các đơn vị quản lý cấp trên Báo cáo thống kê tổng hợp là loại báo cáo thống kê

do các đơn vị cấp trên cơ sở lập và báo cáo dựa trên số liệu, thông tin của các báo cáo thống kê cơ sở và các nguồn thông tin khác

Điều tra thống kê là một trong những hình thức thu thập thông tin thống

kê chủ yếu Mỗi cuộc điều tra thống kê có phương án điều tra thống kê riêng quy định về mục đích, yêu cầu, phạm vi, đối tượng, đơn vị, nội dung, phương pháp điều tra, thời điểm, thời gian điều tra, cơ quan tiến hành điều tra và lực lượng thực hiện điều tra, tổng hợp, phân tích, công bố kết quả điều tra, kinh phí và các điều kiện vật chất khác bảo đảm thực hiện, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan Đối tượng chủ yếu của các cuộc điều tra thống kê là những hiện tượng không thể hoặc không cần phản ánh thường xuyên mà chỉ có thể hoặc chỉ cần thu thập thông tin vào từng thời điểm nhất định Điều tra thống kê được tiến hành trong các trường hợp sau:

- Tổng điều tra thống kê để thu thập những thông tin thống kê cơ bản, trên phạm vi cả nước theo chu kỳ dài, quy mô lớn, phạm vi rộng liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, sử dụng lực lượng và kinh phí lớn

- Điều tra thống kê để thu thập thông tin thống kê từ các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong các trường hợp sau:

Trang 18

+ Điều tra thống kê để thu thập thông tin thống kê từ các tổ chức không phải thực hiện chế độ báo cáo thống kê;

+ Điều tra thống kê để bổ sung thông tin từ các tổ chức có thực hiện chế

độ báo cáo thống kê;

+ Điều tra thống kê để thu thập những thông tin từ hộ hoặc cơ sở kinh doanh cá thể, hộ gia đình, cá nhân;

+ Điều tra thống kê để thu thập những thông tin thống kê khi có nhu cầu đột xuất

Điều tra thống kê có thể chia thành nhiều loại khác nhau Nếu căn cứ vào tính chất lặp đi lặp lại của cuộc điều tra, có thể chia điều tra thống kê thành hai loại: Điều tra định kỳ và điều tra không định kỳ Điều tra định kỳ là một loại điều tra thống kê được tổ chức thường xuyên theo những chu kỳ nhất định Điều tra không định kỳ là một loại điều tra thống kê được tổ chức vào những kỳ hạn không định trước, chỉ khi nào cần mới tiến hành

Nếu căn cứ vào mục tiêu điều tra liên quan đến nhận biết trạng thái vận động của tổng thể nghiên cứu, có thể chia điều tra thống kê thành hai loại: Điều tra thực trạng và điều tra xu hướng Điều tra thực trạng là một loại điều tra thống

kê thu thập những thông tin thống kê phản ánh thực trạng của tổng thể nghiên cứu Đây là loại điều tra phổ biến nhất trong công tác thống kê Điều tra xu hướng là một loại điều tra thống kê thu thập những thông tin thống kê phản ánh

xu hướng phát triển của tổng thể nghiên cứu Loại điều tra này đang được thống

kê các nước trên thế giới và trong khu vực áp dụng thường xuyên nhằm thu thập những thông tin phục vụ công tác phân tích và dự báo thống kê Ở nước ta, loại điều tra này cũng đang được áp dụng thí điểm trong công nghiệp và thương mại

Nếu căn cứ vào quy mô các đơn vị của tổng thể được chọn để thu thập thông tin thì có thể chia điều tra thống kê thành hai loại chủ yếu: Điều tra toàn

bộ và điều tra không toàn bộ Điều tra toàn bộ là một loại điều tra thống kê tiến hành thu thập thông tin ban đầu ở tất cả các đơn vị thuộc tổng thể điều tra Điều tra không toàn bộ là một loại điều tra thống kê chỉ tiến hành thu thập thông tin ban đầu ở một số đơn vị được lựa chọn trong tổng thể điều tra Điều tra không

Trang 19

toàn bộ được áp dụng trong những trường hợp không thể hoặc không cần thiết phải thu thập thông tin ở tất cả các đơn vị tổng thể mà vẫn đạt được mục đích nghiên cứu Điều tra không toàn bộ bao gồm nhiều loại Căn cứ vào phương pháp lựa chọn các đơn vị để điều tra có thể chia điều tra không toàn bộ thành ba loại: Điều tra chọn mẫu, điều tra trọng điểm và điều tra chuyên đề

Điều tra chọn mẫu là một loại điều tra không toàn bộ, trong đó chỉ tiến hành điều tra ở một số đơn vị được chọn ra từ tổng thể nghiên cứu Các đơn vị này phải mang tính chất đại biểu cho tổng thể để từ kết quả điều tra có thể suy ra kết quả chung cho cả tổng thể Trong điều kiện hiện nay đây là loại điều tra không toàn bộ khoa học nhất và được áp dụng nhiều nhất

VD: điều tra chất lượng thịt hộp chỉ kiểm tra một số lượng nhất định chứ không thể đục hết các hộp thịt ra để kiểm tra chất lượng

Điều tra trọng điểm là một loại điều tra không toàn bộ, trong đó chỉ tiến hành thu thập thông tin ban đầu ở bộ phận có đặc điểm nổi trội nhất xét theo tiêu thức điều tra trong tổng thể nghiên cứu nhằm rút ra tính chất điển hình của hiện tượng Kết quả nghiên cứu của bộ phận này không có ý nghĩa suy rộng mà chỉ dùng làm căn cứ để nhận định, đánh giá chung về các đặc điểm, nội dung chủ yếu của tổng thể

Ví dụ điều tra trồng cây ăn quả như nhãn lồng, vải thiều thì chủ yếu vùng Hưng Yên, Hải Dương

Điều tra chuyên đề là một loại điều tra không toàn bộ, trong đó chỉ tiến hành thu thập thông tin ban đầu ở 1 hoặc 1 vài đơn vị tổng thể điển hình (thường

là một đơn vị tiên tiến hay lạc hậu) về một đặc tính nào đó, nghiên cứu tỉ mỉ và nhiều khía cạnh Kết quả nghiên cứu để rút ra kinh nghiệm và phổ biến kinh nghiệm để có thể vận dụng chung cho các điều kiện tương tự Ví dụ điều tra báo cáo kết quả học tập, kinh nghiệm học tập, điều tra tội phạm

Nhìn chung, giai đoạn thu thập thông tin thống kê đã có được những tài liệu về từng đơn vị tổng thể, nhưng những tài liệu này mới chỉ phản ánh các đặc trưng cá biệt của từng đơn vị nên chưa sử dụng vào nghiên cứu và phân tích

Trang 20

thống kê, cần tiến hành giai đoạn tiếp sau của quá trình thống kê là giai đoạn xử

lý và tổng hợp thông tin thống kê

b) Giai đoạn 2: giai đoạn xử lý và tổng hợp thông tin thống kê

Xử lý và tổng hợp thông tin thống kê là tập trung tiến hành chỉnh lý và hệ thống hóa một cách khoa học các thông tin thống kê ban đầu đã thu thập được Nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn này là làm cho các đặc trưng riêng biệt của từng đơn vị tổng thể bước đầu chuyển thành các đặc trưng chung của toàn bộ tổng thể Xử lý và tổng hợp thông tin thống kê là một công tác phức tạp, bao gồm ba nhóm công việc cụ thể như: (1) Phân chia tổng thể thành các tổ có tính chất khác nhau, xác định các chỉ tiêu nói rõ đặc trưng của từng tổ cũng như toàn bộ tổng thể với phương pháp sử dụng chủ yếu là phân tổ thống kê; (2) Áp dụng một số biện pháp kỹ thuật để tính toán các con số phản ánh mức độ của hiện tượng nghiên cứu với các chỉ tiêu sử dụng chủ yếu là số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân; (3) Trình bày kết quả xử lý, tổng hợp thành các bảng thống kê hoặc

đồ thị thống kê

Phân tổ thống kê là phương pháp cơ bản để tiến hành xử lý và tổng hợp thông tin thống kê Phân tổ thống kê là căn cứ vào một (hay một số) tiêu thức nào đó để tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ (và các tiểu tổ) có tính chất khác nhau Ví dụ, theo tiêu thức giới tính, tổng thể dân số được chia thành hai tổ: nam và nữ

Tiếp theo việc phân tổ thống kê thì việc tính toán để xác định các mức độ của hiện tượng nghiên cứu là một trong những nội dung rất quan trọng vì đây không chỉ là yêu cầu của giai đoạn này mà còn là cơ sở để tiếp tục giai đoạn phân tích - dự báo thống kê cũng như giai đoạn phổ biến – công bố thông tin thống kê Việc xác định các mức độ của hiện tượng nghiên cứu thể hiện tập trung ở các chỉ tiêu chủ yếu là số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân

Số tuyệt đối trong thống kê là chỉ tiêu biểu hiện quy mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể Số tuyệt đối nói lên số đơn vị của tổng thể hay của bộ phận hoặc các trị số của một tiêu thức nào đó Ví dụ, trong năm 2010, số vụ việc thi hành án dân sự của tỉnh A phải thi

Trang 21

hành là 1.545 việc, trong đó đã thi hành xong hoàn toàn là 950 việc Trong ví dụ này, các số 1.545 và 950 chính là số tuyệt đối

Mỗi số tuyệt đối trong thống kê đều bao hàm một nội dung kinh tế - xã hội cụ thể trong điều kiện thời gian và địa điểm nhất định Nó khác với các đại lượng tuyệt đối trong toán học vì các đại lượng tuyệt đối trong toán học thường

có tính chất trừu tượng, không nhất thiết phải gắn liền với một hiện tượng cụ thể nào Số tuyệt đối trong thống kê không phải là con số lựa chọn tùy ý mà phải qua giai đoạn thu thập thông tin thống kê và được tổng hợp thông tin thống kê một cách khoa học Các số tuyệt đối trong thống kê đều có đơn vị tính cụ thể Số tuyệt đối có ý nghĩa rất quan trọng vì thông qua số tuyệt đối sẽ có nhận thức cụ thể về quy mô, khối lượng thực tế của hiện tượng nghiên cứu Số tuyệt đối chính xác là sự thật khách quan, có sức thuyết phục không ai có thể phủ nhận được Số tuyệt đối là cơ sở đầu tiên để tiến hành phân tích thống kê, đồng thời còn là cơ

sở để tính các mức độ khác

Số tương đối trong thống kê là chỉ tiêu biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ nào đó của hiện tượng nghiên cứu Đó có thể là kết quả của việc so sánh giữa hai mức độ cùng loại nhưng khác nhau về điều kiện thời gian hoặc không gian, hoặc giữa hai mức độ khác loại nhưng có liên quan đến nhau Trong hai mức độ này, một được chọn làm gốc để so sánh Số tương đối có thể giúp đi sâu vào đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu, đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch

và trong một số trường hợp đặc biệt sử dụng số tương đối vì muốn giữ bí mật, không muốn công bố số tuyệt đối Số tương đối không phải là con số thu thập được qua giai đoạn thu thập thông tin thống kê mà là kết quả so sánh giữa hai chỉ tiêu thống kê đã có Hình thức biểu hiện của số tương đối là số lần, số phần trăm (%), số phần nghìn (%o) hay đơn vị kép như: người/km2, sản phẩm/người… Ví dụ, trong năm 2010, tỉnh B có tỷ lệ Thi hành án dân sự xong

so với số việc phải thi hành đạt mức 85%, tăng 15 % so với năm 2009 Trong ví

dụ này, các số 85% và 15% là số tương đối

Số bình quân trong thống kê là mức độ biểu hiện trị số đại biểu theo một tiêu thức nào đó của một tổng thể bao gồm nhiều đơn vị cùng loại Số bình quân

Trang 22

có một vị trí và ý nghĩa rất quan trong trong lý luận và trong công tác nghiên cứu thực tế Việc sử dụng số bình quân sẽ tạo điều kiện để so sánh giữa các hiện tượng không có cùng một quy mô, như so sánh kết quả thi hành án dân sự xong bình quân của chấp hành viên của hai cơ quan Thi hành án dân sự cấp huyện; so sánh kết quả thi hành án xong bình quân của chấp hành viên tỉnh A với kết quả thi hành án xong bình quân của chấp hành viên trên địa bàn cả nước… Trong các trường hợp này, việc so sánh giữa hai số tuyệt đối không thực hiện được hoặc đôi khi không có ý nghĩa Số bình quân còn được sử dụng để nghiên cứu các quá trình biến động qua thời gian, nhất là các quá trình sản xuất Sự biến động của số bình quân qua thời gian có thể cho ta thấy được xu hướng phát triển

cơ bản của hiện tượng số lớn, tức là của đại bộ phận các đơn vị tổng thể, trong khi từng đơn vị cá biệt không thể cho thấy điều đó

Trong giai đoạn xử lý và tổng hợp thông tin thống kê, muốn phát huy tác dụng các kết quả đã xử lý và tổng hợp được thì cần phải trình bày các kết quả này bằng các hình thức phù hợp, trong đó có hai hình thức được sử dụng phổ biến là bảng thống kê và đồ thị thống kê

Bảng thống kê là hình thức trình bày thông tin thống kê một cách có hệ thống, hợp lý và rõ ràng, nhằm nêu lên đặc trưng về các mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu

Về hình thức, bảng thống kê bao gồm các hàng ngang, cột dọc, các tiêu

đề, tiêu mục và các số liệu Các hàng ngang và cột dọc cắt nhau tạo thành các ô dùng để điền số liệu thống kê Tiêu đề của bảng thống kê phản ánh nội dung, ý nghĩa của bảng và của từng chi tiết trong bảng Tiêu đề chung là tên gọi chung của bảng thống kê, thường được viết ngắn gọn, dễ hiểu và đặt ở phía trên đầu của bảng thống kê Còn các tiêu đề nhỏ (hay còn gọi là tiêu mục) là tên riêng của mỗi hàng ngang và cột dọc, phản ánh nội dung, ý nghĩa của từng hàng và cột

đó

Về nội dung, bảng thống kê gồm hai phần: phần chủ đề và phần giải thích Phần chủ đề (còn gọi là phần chủ từ) nói lên tổng thể hiện tượng được trình bày trong bảng thống kê được phân thành những bộ phận nào? đối tượng nghiên cứu

Trang 23

của bảng thống kê? thời gian nghiên cứu? … Phần chủ đề thường được ký hiệu bằng các chữ A, B, C…

Phần giải thích (còn gọi là phần tân từ) gồm các chỉ tiêu giải thích phần chủ đề của bảng, giải thích các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Thông thường các cột của phần giải thích được ký hiệu bằng các cột số 1, 2, 3…

Bảng thống kê nên được thiết kế ngắn, gọn để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích, đơn vị tính cần thống nhất, trường hợp đơn vị tính không thống nhất cho các số liệu thì quy định đơn vị tính riêng cho mỗi hàng và cột Ngoài

ra, trong một số trường hợp cần thiết, phía cuối bảng thống kê có thể ghi chú giải thích rõ nội dung của một số chỉ tiêu trong bảng, nêu rõ nguồn số liệu đã được sử dụng trong bảng hoặc những điều cần lưu ý khác

Hình thức trình bày các kết quả thông tin thống kê thứ hai là đồ thị thống

kê Đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc đường nét hình học dùng để miêu tả có tính chất quy ước các thông tin thống kê Khác với các bảng thống kê chỉ dùng con số, đồ thị thống kê sử dụng con số kết hợp với các hình vẽ, đường nét và màu sắc để trình bày, phân tích các đặc điểm số lượng của hiện tượng Vì vậy, không cần mất công đọc con số mà vẫn có nhận thức được vấn đề chủ yếu một cách dễ dàng, nhanh chóng Mặt khác, các đồ thị thống kê không trình bày chi tiết, tỉ mỉ các đặc trưng số lượng của hiện tượng, mà chỉ nêu lên một cách khái quát các đặc điểm chủ yếu về bản chất, xu hướng phát triển cơ bản của hiện tượng

Tiếp theo bước xử lý và tổng hợp thông tin thống kê, quá trình nghiên cứu thống kê chuyển sang giai đoạn thứ ba là giai đoạn phân tích và dự báo tình hình, thường gọi là phân tích và dự báo thống kê

c) Giai đoạn 3: Phân tích và dự báo thống kê

Phân tích và dự báo thống kê được hiểu là việc nêu lên một cách tổng hợp bản chất và tính quy luật của các hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội số lớn trong điều kiện lịch sử cụ thể qua các biểu hiện về lượng và tính toán các mức

độ trong tương lai

Trang 24

Phân tích và dự báo thống kê là biểu hiện tập trung kết quả của toàn bộ quá trình nghiên cứu thống kê Phân tích và dự báo thống kê cho thấy rõ bản chất, quy luật phát triển của hiện tượng trong tương lai Đồng thời, nó còn giúp chỉ rõ mối liên hệ, tác động qua lại giữa hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng có liên quan Trên cơ sở đó sẽ có những nhận thức đúng đắn về hiện tượng, tìm các biện pháp thích hợp thúc đẩy hiện tượng phát triển theo hướng tốt nhất, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội hiện tại

Trong phân tích thống kê, ngoài việc tiếp tục sử dụng các phương pháp phân tổ thống kê, đồ thị thống kê … còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp chỉ số, phương pháp phân tích dãy số thời gian, phân tích hồi quy

và tương quan…

Chỉ số thống kê được xác định bằng cách thiết lập quan hệ so sánh giữa hai mức độ của hiện tượng ở hai thời gian hoặc không gian khác nhau nhằm nêu lên sự biến động qua thời gian hoặc sự khác biệt về không gian đối với hiện tượng nghiên cứu Ví dụ, doanh số của công ty A năm 2010 so với năm 2009 bằng 110,7% (hay 1,107 lần) là chỉ số biểu hiện quan hệ so sánh giữa doanh số của công ty qua hai năm

Phương pháp phân tích dãy số thời gian sẽ cho thấy mức độ bình quân qua thời gian, lượng tăng (giảm) tuyệt đối, tốc độ phát triển, tốc độ tăng (giảm)…

Ngoài các phương pháp đã nêu trên, thống kê còn dùng một phương pháp khác để phân tích mối quan hệ đó là phương pháp phân tích hồi quy và tương quan Đây chính là một phương pháp toán học được vận dụng vào phân tích thống kê nên phải gắn nó vào điều kiện thời gian và không gian cụ thể Phương pháp phân tích hồi quy và tương quan là phương pháp thường được sử dụng trong thống kê để nghiên cứu mối liên hệ giữa các hiện tượng, như mối liên hệ giữa các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất với kết quả sản xuất, mối liên hệ giữa thu nhập và tiêu dùng, mối liên hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội

Trang 25

Việc phân tích các thông tin thống kê có vai trò rất quan trọng để đánh giá tình hình, đưa ra nguyên nhân, giải pháp, xu huớng và dự báo tình hình Trong công tác lãnh đạo, quản lý xã hội và các quá trình sản xuất, việc nắm vững được

xu hướng biến động của các hiện tượng kinh tế xã hội là cần thiết để có những chủ trương, chính sách và những biện pháp thích hợp nhằm thúc đẩy hiện tượng phát triển Dự báo thống kê nhằm xác định xu hướng, mức độ biến động hay nói cách khác là nhằm xác định các thông tin chưa biết có thể xảy ra trong tương lai của hiện tượng được nghiên cứu dựa trên cơ sở những số liệu thống kê về hiện tượng đó trong những giai đoạn đã qua

d) Giai đoạn 4: Phổ biến thông tin thống kê

Phổ biến thông tin thống kê là việc tổ chức một cách hợp lý hoạt động cung cấp thông tin thống kê đến các đối tượng sử dụng Hoạt động phổ biến thông tin thống kê có ý nghĩa rất lớn trong đời sống thực tiễn Các giai đoạn thu thập, xử lý, tổng hợp thông tin, phân tích và dự báo thống kê tuy rất quan trọng nhưng mục đích cuối cùng của toàn bộ hoạt động thống kê là sản xuất ra thông tin thống kê cung cấp cho các đối tượng sử dụng Cùng một lượng thông tin sản xuất ra nếu cung cấp cho càng nhiều đối tượng sử dụng thì hiệu quả của hoạt động thống kê càng cao Vì vậy, để đạt hiệu quả cao nhất, hoạt động phổ biến thông tin thống kê phải đáp ứng khá nhiều yêu cầu

Thứ nhất là, thông tin thống kê sản xuất ra phải được phổ biến một cách kịp thời, đầy đủ, rộng rãi và bình đẳng đến mọi đối tượng dùng tin

Thứ hai là thông tin thống kê sản xuất ra và được phổ biến phải bảo đảm tính khách quan và minh bạch nhằm ngăn ngừa những hành vi lạm dụng hoặc cố

ý sử dụng sai lệch số liệu thống kê

Thứ ba là thông tin thống kê được phổ biến phải bảo đảm tính pháp lý và tính thống nhất Để đáp ứng yêu cầu này, trước hết cần phân định rõ thẩm quyền phổ biến thông tin cũng như trình tự thẩm định, xét duyệt thông tin trước khi phổ biến Nếu thông tin sẽ phổ biến có sự khác biệt với những thông tin đã được phổ biến thì khi phổ biến phải giải thích rõ nguyên nhân của những khác biệt đó

để người dùng tin có căn cứ sử dụng Thực hiện tốt yêu cầu này, không những

Trang 26

ngăn ngừa và hạn chế khả năng có thể xảy ra sự khác biệt hay mâu thuẫn giữa các nguồn thông tin thống kê, mà còn góp phần nâng cao tính pháp lý và củng

cố thêm lòng tin của người sử dụng đối với thông tin thống kê

Thứ tư là thông tin thống kê được phổ biến phải bảo đảm yêu cầu và nguyên tắc bảo mật Thông tin thống kê mặc dù cần được phổ biến đầy đủ và rộng rãi cho mọi đối tượng dùng tin, nhưng đồng thời không được vi phạm nguyên tắc bảo mật, gồm bảo mật quốc gia theo quy định, bảo mật thông tin của

tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật hoặc theo cam kết trong quá trình thu thập thông tin

Thứ năm là, sản phẩm, hình thức phổ biến thông tin phải được đa dạng hóa, phù hợp với loại tin, chu kỳ phổ biến thông tin, đối tượng dùng tin và phải

có tính khả thi Hình thức phổ biến thông tin thống kê thông dụng thường là (1) Họp báo và sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng; Đây là hình thức phổ biến thông tin đơn giản, ít tốn kém, kịp thời nhất cho nhiều đối tượng cùng lúc nhưng hình thức này chỉ phù hợp với những thông tin thống kê có tính chất khái quát và khối lượng thông tin không quá lớn; (2) Phát hành ấn phẩm trên giấy; Đây là hình thức phổ biến thông tin truyền thống của thống kê và luôn chiếm tỷ

lệ chủ yếu; (3) Sử dụng thư viện điện tử và phương tiện thông tin liên lạc, là hình thức phổ biến thông tin bằng sản phẩm điện tử như: CD, VCD, DVD, tệp

dữ liệu điện tử gửi qua email, truyền đưa thông tin lên mạng internet… Đây là hình thức phổ biến thông tin mới và đang phát triển mạnh vì nó đáp ứng được yêu cầu kịp thời, minh bạch và bình đẳng của hoạt động phổ biến thông tin thống kê; (4) Tổ chức thư viện, phòng đọc và cửa hàng giới thiệu sản phẩm thống kê

Nói tóm lại, thống kê là khoa học về việc thu thập, phân tích và lí giải số liệu Thống kê là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, cung cấp các thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các

tổ chức, cá nhân

Trang 27

Vậy, trong lĩnh vực tư pháp có thống kê không? Nếu có thì cơ sở lý luận

và thực tiễn về công tác thống kê tư pháp ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Tác giả xin được trình bày ở các phần sau của luận văn

1.2 Khái quát về tư pháp

Cùng với các khái niệm khác như quyền tư pháp, nền tư pháp, bộ máy tư pháp, hệ thống tư pháp, cơ quan tư pháp , khái niệm tư pháp ở nước ta đã được nhiều nhà khoa học và hoạt động thực tiễn đề cập, tranh luận nhưng vẫn chưa có

ý kiến thống nhất Điều này trước hết là do có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ gốc "tư pháp"

Theo tiếng Latinh cổ “tư pháp” là Justitia, còn theo tiếng Anh – Justition,

có nghĩa là “công lý”, “pháp chế”, tức là thuật ngữ bao hàm toàn bộ các cơ quan tòa án và hoạt động thực hiện quyền xét xử của chúng Còn quyền tư pháp theo tiếng Anh – Judicial power và căn cứ vào lý luận phân chia quyền lực trong nhà nước pháp quyền, thì quyền tư pháp có thể được hiểu là một trong ba chức năng độc lập của quyền lực nhà nước (quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp) Ngoài ra, cũng có thể hiểu quyền tư pháp là thẩm quyền riêng biệt chỉ của một hệ thống cơ quan trong bộ máy quyền lực nhà nước (Tòa án) chuyên thực hiện chức năng tài phán để giải quyết những xung đột giữa các quan hệ xã hội

Nếu như hiểu theo nghĩa hẹp, thì quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền là quyền xét xử của Tòa án và được thực hiện bằng hoạt động tố tụng tư pháp (tài phán) về Hiến pháp, hành chính, hình sự, dân sự và kinh tế (trọng tài) với mục đích bảo vệ chế độ hiến định, nhân thân, các quyền và tự do của con người và của công dân, cũng như hòa bình và an ninh của nhân loại, góp phần đưa các nguyên tắc được thừa nhận chung của Nhà nước pháp quyền vào đời sống thực tế

Nếu hiểu theo nghĩa rộng, thì quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền

là quyền xét xử của hệ thống Tòa án nói riêng, cũng như các hoạt động áp dụng pháp luật của hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật (như các cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, v.v…) và của hệ thống các cơ quan bổ trợ tư pháp nói chung (như tổ chức Luật sư, các cơ quan Công chứng, Giám định, v.v…) để bảo đảm

Trang 28

cho việc thực hiện quyền xét xử đạt được hiệu quả cao, nhằm bảo vệ chế độ hiến định, nhân thân, các quyền và tự do của con người và của công dân, cũng như hòa bình và an ninh của nhân loại, góp phần đưa các nguyên tắc được thừa nhận chung của Nhà nước pháp quyền vào đời sống thực tế

Ở Việt Nam, từ Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) cùng với “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, quan điểm về sự tồn tại của ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và sự phân công, phối hợp giữa các quyền lực đó của nhà nước đã chính thức được khẳng định Đến Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa VII), quan điểm về sự tồn tại của ba quyền đã được

bổ sung: quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Đến năm 2001, thể chế hoá quan điểm của Đảng tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX, Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) của Nhà nước ta ghi nhận: " Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp"

Quy định này đặt ra cơ sở hiến định cho việc nghiên cứu quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp ở Việt Nam Từ góc độ tổ chức thực hiện quyền lực thống nhất, các nhánh quyền lực (lập pháp, hành pháp, tư pháp) được thực thi và vận hành chính là sự thể hiện những phương thức khác nhau để thực hiện quyền lực Trong đó, quyền tư pháp được hiểu là quyền lực nhà nước trao cho các cơ quan tư pháp để tiến hành các hoạt động: khởi tố, điều tra, truy tố, xét

xử, thi hành án nhằm duy trì và bảo vệ công lý, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội và công dân

Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định: Hệ thống các cơ quan tư pháp ở Việt Nam theo quan niệm hiện hành bao gồm các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, cơ quan thi hành án và các cơ

Trang 29

quan, tổ chức bổ trợ tư pháp như tổ chức giám định tư pháp, tổ chức luật sư, cơ quan công chứng, lý lịch tư pháp

1.3 Khái niệm, đặc điểm và mục đích của công tác thống kê tư pháp

1.3.1 Khái niệm công tác thống kê tư pháp

Trong lĩnh vực tư pháp có thống kê không?

Như mục 1.1 đã đề cập về thống kê có thể thấy thống kê tồn tại trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội Bất cứ vấn đề gì có thể lượng hóa được, đều có thể thống kê Trong lĩnh vực tư pháp cũng có rất nhiều nội dung có thể lượng hóa được như: số lượng tội phạm, số tuổi trung bình của người phạm tội,

số người được bào chữa, số luật sư, số người giám định tư pháp, số vụ việc giám định tư pháp Các số liệu về mỗi nội dung này ở mỗi địa phương khác nhau sẽ khác nhau, thậm chí ở cùng một địa phương nhưng trong các thời điểm khác nhau thì số liệu cũng có thể khác nhau

Việc nắm bắt các con số được lượng hóa hay nói cách khác là việc nắm bắt thông tin thống kê trong lĩnh vực tư pháp có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng, nhất là khi hoạch định chiến lược, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển Ngành, đặc biệt là trong bối cảnh triển khai thực hiện Nghị quyết số 49-TW/NQ ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

Ví dụ: khi thống kê số lượng tội phạm trong cùng một thời gian trên phạm

vi toàn quốc sẽ giúp so sánh, đánh giá mức độ tội phạm, cơ cấu tội phạm, nguyên nhân cơ bản dẫn đến phạm tội Từ đó đề xuất các giải pháp hạn chế và ngăn ngừa tình trạng phạm tội

Một ví dụ cụ thể hơn: năm 2009 Toà án nhân dân thành phố P đã giải quyết xong 215 vụ ly hôn, tăng 25 vụ so với năm 2008 thì đây là con số rất có ý nghĩa Con số này có thể cho người sử dụng tin thấy được ý nghĩa ở phía sau các con số, có thể là hiện tượng ly hôn ở thành phố này đang có chiều hướng gia tăng, mà cũng có thể không gia tăng nếu đặt trong mối tương quan với các yếu

tố khác như: số lượng cán bộ tăng nên số vụ việc tồn đọng năm trước được giải quyết… Tất cả những nhận định này sẽ giúp ích rất nhiều cho công tác quản lý,

Trang 30

điều hành ở Tòa án nhân dân cấp huyện và công tác hoạch định chính sách ở các cấp cao hơn

Từ góc độ tiếp cận tương đối cụ thể về công tác thống kê tư pháp, có thể

tạm xác định công tác thống kê tư pháp là việc thực hiện các hoạt động thống kê

nhằm phản ánh các hiện tượng, sự kiện của lĩnh vực tư pháp trong điều kiện không gian và thời gian nhất định

1.3.2 Đặc điểm của công tác thống kê tư pháp

a) Đặc điểm chung

Cũng giống như công tác thống kê nói chung, thống kê tư pháp cũng có những đặc điểm chung như sau:

- Thứ nhất: Thống kê tư pháp bao gồm việc thực hiện các hoạt động thống

kê với đầy đủ quá trình thống kê từ thu thập, xử lý - tổng hợp, phân tích - dự báo đến Phổ biến thông tin thống kê

- Thứ hai: Dữ liệu thống kê trong thống kê tư pháp là những con số gắn với điều kiện thời gian và không gian cụ thể

Ví dụ: con số 215 không phải là dữ liệu thống kê Nhưng nếu nói trong năm 2009 Toà án nhân dân thành phố P đã giải quyết xong 215 vụ ly hôn thì con

số 215 vụ ly hôn trong ngữ cảnh này mới là con số thống kê

b) Đặc điểm riêng

- Thứ nhất: Thống kê tư pháp phản ánh các sự kiện, hiện tượng trong lĩnh vực tư pháp

- Thứ hai: Thống kê tư pháp do các cơ quan tư pháp chủ trì thực hiện

1.3.3 Mục đích của công tác thống kê tư pháp

Thống kê tư pháp nhằm mục đích cung cấp thông tin thống kê để phục vụ cho công tác quản lý chỉ đạo, điều hành của các cơ quan tư pháp nói riêng và công tác ban hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp nói chung, qua đó góp phần phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường, cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền

và tăng cường hội nhập quốc tế; đồng thời từng bước đáp ứng nhu cầu thông tin

Trang 31

thống kê về các lĩnh vực công tác tư pháp của các tổ chức, cá nhân trong nước

và quốc tế

1.4 Nội dung công tác thống kê tư pháp

1.4.1 Đối tượng thống kê

Công tác thống kê tư pháp do các cơ quan tư pháp thực hiện

Các cơ quan tư pháp trong phạm vi luận văn này, theo như luận giải ở mục 1.2 nêu trên, được hiểu là các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp như tổ chức giám định

tư pháp, tổ chức luật sư, cơ quan công chứng, lý lịch tư pháp

Các cơ quan, tổ chức thực hiện chế độ báo cáo thống kê cơ sở tiến hành thu thập thông tin thống kê từ chứng từ và sổ ghi chép dữ liệu ban đầu

Cơ quan, tổ chức thực hiện chế độ báo cáo thống kê tổng hợp tiến hành thu thập, tổng hợp các thông tin thống kê từ các báo cáo thống kê cơ sở, kết quả của các cuộc điều tra thống kê và các nguồn thông tin khác

1.4.3 Nội dung thống kê

- Thống kê các chỉ tiêu thuộc lĩnh vực tư pháp có trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

- Thống kê các chỉ tiêu trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê thuộc lĩnh vực tư pháp

1.5 Phương pháp thống kê tư pháp

Bao gồm 05 phương pháp cơ bản sau:

Thứ nhất là phương pháp hệ thống hóa: sắp xếp, phân loại các dữ liệu

thống kê tư pháp theo những tiêu thức cần nghiên cứu

Trang 32

Thứ hai là phương pháp phân tổ thống kê: căn cứ vào một hay một số tiêu

thức nhất định để tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ và các tiểu tổ có tính chất khác nhau

Cũng giống như các lĩnh vực khác, lĩnh vực tư pháp bao gồm nhiều nội dung khác nhau, mỗi nội dung bao gồm nhiều bộ phận, nhiều nhóm khác nhau

về quy mô và tính chất nên trong thống kê tư pháp sử dụng khá nhiều phương pháp phân tổ thống kê

Phân tổ thống kê trong lĩnh vực tư pháp đặc biệt chú trọng đến các tiêu thức nguyên nhân và tiêu thức kết quả Đó là những tiêu thức phản ánh mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng Sự biến động của hiện tượng này sẽ dẫn đến sự biến động của hiện tượng khác và ngược lại Ngoài ra, việc phân tổ cũng cho phép xác định đặc trưng của từng tổ từ đó thấy được đặc trưng chung của tổng thể hiện tượng, từ đó nhận thức được bản chất và tính quy luật của hiện tượng

Căn cứ vào các số lượng tiêu thức phân tổ thì phân tổ thống kê tư pháp bao gồm hai loại: Phân tổ theo một tiêu thức và phân tổ theo nhiều tiêu thức Phân tổ theo một tiêu thức là tiến hành phân chia các đơn vị thuộc hiện tượng nghiên cứu thành các tổ có tính chất khác nhau trên cơ sở một tiêu thức thống kê hay còn gọi là phân tổ giản đơn

Ví dụ, theo tiêu thức giới tính, tổng thể tội phạm được chia thành hai tổ: nam và nữ

Phân tổ theo nhiều tiêu thức là tiến hành phân chia các đơn vị thuộc hiện tượng nghiên cứu thành các tổ và các tiểu tổ có tính chất khác nhau trên cơ sở nhiều tiêu thức thống kê Phân tổ theo nhiều tiêu thức tuy có nhiều ưu điểm, giúp phân tích hiện tượng được sâu hơn song cũng không nên kết hợp quá nhiều tiêu thức dễ làm cho việc phân tổ trở nên phức tạp dẫn đến có những sai sót làm giảm mức độ chính xác của tài liệu

Ví dụ:

Theo tiêu thức phân tổ độ tuổi, tổng thể tội phạm được chia thành các tổ:

vị thành niên, thanh niên, trung niên, người già;

Trang 33

Theo tiêu thức phân tổ trình độ, tổng thể tội phạm được chia thành các tổ: trình độ văn hóa (cấp 1, 2, 3), trình độ chuyên môn (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học);

Theo tiêu thức phân tổ nghề nghiệp, tổng thể tội phạm được chia thành các tổ: hành nghề tự do, làm ruộng, công nhân, thợ thủ công, công chức…

Nếu kết hợp phân tổ theo nhiều tiêu thức như nêu trên có thể dẫn đến những sai lệch

Việc xác định các tiêu thức phân tổ rất quan trọng Cùng một nguồn tài liệu nếu chọn tiêu thức phân tổ khác nhau có thể đưa đến kết luận khác nhau Hoặc chọn tiêu thức phân tổ không đúng theo mục đích nghiên cứu sẽ dẫn đến nhận xét đánh giá sai thực tế của hiện tượng

Thứ ba là phương pháp chỉ số: Chỉ số thống kê được xác định bằng cách

thiết lập quan hệ so sánh giữa hai mức độ của hiện tượng ở hai thời gian hoặc không gian khác nhau nhằm nêu lên sự biến động qua thời gian hoặc sự khác biệt về không gian đối với hiện tượng nghiên cứu

Chỉ số là phương pháp không những có khả năng nêu lên biến động tổng hợp của hiện tượng phức tạp mà còn có thể phân tích sự biến động này với những tác dụng cụ thể như: biểu hiện biến động của hiện tượng nghiên cứu qua thời gian Ví dụ năm 2010, toàn Ngành Thi hành án dân sự đã thi hành xong 351.373 việc/406.896 việc có điều kiện thi hành, đạt tỷ lệ 86,35 % (vượt chỉ tiêu

đề ra từ đầu năm 6,35% - tăng 5,3 % so với năm 20096

Thứ tư là phương pháp phân tích dãy số thời gian: Đây là phương pháp sẽ

cho thấy mức độ bình quân qua thời gian, lượng tăng (giảm) tuyệt đối, tốc độ phát triển, tốc độ tăng (giảm)… Để phân tích dãy số thời gian được chính xác thì yêu cầu cơ bản khi xây dựng dãy số thời gian là phải đảm bảo tính chất có thể so sánh được giữa các mức độ trong dãy số Cụ thể: (1) Nội dung và phương pháp tính chỉ tiêu qua thời gian phải thống nhất; (2) Phạm vi hiện tượng nghiên cứu

6

Báo cáo số 01/BC-TP ngày 10/01/2011 về tổng kết công tác Tư pháp năm 2010, giai đoạn

2007 - 2010, định hướng công tác giai đoạn 2011 - 2015, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu công tác Tư pháp năm 2011, trang 7

Trang 34

qua thời gian phải thống nhất; (3) Các khoảng cách thời gian trong dãy số nên bằng nhau

Thứ năm là phương pháp phân tích hồi quy và tương quan: Phân tích hồi

quy là phân tích sự thay đổi về trị số của một tiêu thức nào đó (tiêu thức kết quả)

do ảnh hưởng của một loạt các tiêu thức khác (tiêu thức nguyên nhân) trong đó

có một hay một số tiêu thức ảnh hưởng đáng kể, còn một số tiêu thức khác tuy

có ảnh hưởng nhưng ở mức độ thấp, không đáng kể Tương quan là mối liên hệ không chặt chẽ giữa các hiện tượng nghiên cứu Nghĩa là khi hiện tượng này thay đổi có thể làm cho hiện tượng có liên quan thay đổi theo nhưng không mang tính chất quyết định Mối liên hệ này không được thực hiện rõ trên tất cả các đơn vị tổng thể mà phải thông qua quan sát số lớn đơn vị

Ví dụ: Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc tăng biên chế của cơ quan Thi hành án dân sự với kết quả thi hành án xong có thể thấy, nhìn chung biên chế tăng thì kết quả công việc tăng nhưng không phải tất cả các đơn vị có biên chế tăng đều có kết quả tăng, thậm chí mức tăng cũng không giống nhau Mặt khác ngoài yếu tố biên chế kết quả thi hành án còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như điều kiện kinh tế, trình độ văn hóa của người phải thi hành án, thậm chí là các yếu tố ngẫu nhiên như việc được mùa, mất mùa trong năm

Chỉ trên cơ sở quan sát số lớn các đơn vị thì các yếu tố khác, yếu tố ngẫu nhiên này mới bù trừ cho nhau và mới thể hiện mối quan hệ tương quan giữa việc tăng biên chế với kết quả thi hành án

1.6 Các điều kiện bảo đảm công tác thống kê tư pháp

1.6.1 Về thể chế

Bên cạnh những quy định về công tác thống kê nói chung thì việc xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý cho công tác thống kê tư pháp là một trong những yếu tố rất quan trọng, tạo hành lang pháp lý cho công tác thống kê

tư pháp được triển khai và thực hiện trong thực tế

Những nhiệm vụ cụ thể về thể chế cần được bảo đảm đó là:

Thứ nhất: Hoàn thiện các chỉ tiêu thống kê thuộc lĩnh vực tư pháp có

trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Trang 35

Thứ hai: Xây dựng và và hoàn thiện các chỉ tiêu trong Hệ thống chỉ tiêu

thống kê thuộc lĩnh vực tư pháp

Việc xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê rất cần thiết Nếu không xác định được hệ thống chỉ tiêu thống kê cần thu nhập thì không có căn cứ để xác định lựa chọn phương thức thu nhập, cũng không thể biết thu thập cái gì? Nếu thừa chỉ tiêu thì vừa không cần thiết, vừa gây lãng phí công sức, tiền của Nếu thiếu chỉ tiêu thì kết quả nghiên cứu cũng như việc phân tích thống kê sẽ không đầy

đủ, sâu sắc

Hệ thống chỉ tiêu thống kê thuộc lĩnh vực tư pháp phải được xây dựng và hoàn thiện trên cơ sở phù hợp với Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và phù hợp với yêu cầu quản lý ngành, lĩnh vực, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi và hiệu quả của hệ thống chỉ tiêu này

Thứ ba: Xây dựng và chuẩn hóa các khái niệm, nội dung, phương pháp

tính và nguồn số liệu của các chỉ tiêu thống kê thuộc lĩnh vực tư pháp có trong

Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Thứ tư: Xây dựng và chuẩn hóa các khái niệm, nội dung, phương pháp

tính và nguồn số liệu của các chỉ tiêu thống kê trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê thuộc lĩnh vực tư pháp

Việc xây dựng, chuẩn hóa các khái niệm, nội dung, phương pháp tính và nguồn số liệu của các chỉ tiêu thống kê cũng rất quan trọng, nếu thiếu chuẩn hóa này sẽ dẫn đến tình trạng:

- Không hiểu hoặc hiểu không đúng, hiểu không đầy đủ về chỉ tiêu làm cho các thông tin thu thập được không phản ánh được hoặc phản ánh không đúng, không đầy đủ về tình hình mà chỉ tiêu phản ánh;

- Hiểu không thống nhất về nội dung, phương pháp tính, nguồn số liệu làm cho việc tổng hợp không còn ý nghĩa;

- Người cung cấp thông tin không hiểu hoặc hiểu không đúng sẽ không cung cấp được hoặc cung cấp không đúng các thông tin theo yêu cầu;

- Người sử dụng thông tin sẽ không tin cậy thông tin đã thu thập

Ngày đăng: 25/01/2021, 20:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w