Nguyễn Thu Hà 2006, “Công ước MARPOL 73/78 với các nguyên tắc ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển từ tàu biển”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, 8, Tr.77-83; Đỗ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THÖY BÌNH
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ PHÕNG
CHỐNG Ô NHIỄM DẦU TRÊN BIỂN –
LIÊN HỆ TỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT QUỐC TẾ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS Nguyễn Bá Diến, người đã hướng dẫn tận tình giúp em hoàn thành Luận văn này Trong quá trình thực hiện Luận văn, em đã học hỏi được nhiều điều từ thầy, không chỉ ở vốn kiến thức sâu rộng, vững chắc mà còn ở tinh thần làm việc nghiêm túc
Em xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong Khoa Luật Quốc tế trường Đại học Luật Hà Nội, những người đã truyền đạt cho em những kiến thức trong suốt khóa học, tạo nền tảng để em có thể viết được đề tài này
Em cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các cô chú, anh chị làm việc tại Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện trong thời gian em làm Luận văn
Vì thời gian có hạn và vốn kiến thức còn hạn chế nên bài Luận văn không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn để bài Luận văn được hoàn thiện hơn, đồng thời giúp đỡ em có thể bổ sung vốn kiến thức, giúp ích cho quá trình nghiên cứu khoa học sau này
HỌC VIÊN
Trần Thúy Bình
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 BLDS: Bộ luật Dân sự
2 BLHH: Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005
3 BVMTB: Bảo vệ môi trường biển
4 CLC 1969 (International Convention on Civil Liability for Oil Pollution Dâmge): Công ước về Trách nhiệm Dân sự đối với Ô nhiễm Dầu năm 1969
5 COBSEA (Coordinating Body on the Seas of East Asia): Cơ quan điều phối các biển Đông Á
6 FUND 1971 (International Convention on the Establishment of an International Fund for Compensation for Oil Pollution Damage): Công ước quốc tế về Thiết lập Quỹ Quốc tế đền bù cho thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra năm 1971
7 GESAMP (the Joint Group of Expert on the Scientific Aspects of Marine Environmental Protection): Nhóm chuyên gia về các khía cạnh khoa học của ô nhiễm biển
8 GT (gross tonnage): Tổng trọng tải
9 IMO (International Maritime Organization): Tổ chức Hàng hải Quốc tế
10 ITOPE (International Tanker Owners Pollution Federation Limited): Tổ chức Quốc tế Chuyên giám sát các tai nạn gây ô nhiễm môi trường của các tàu chở dầu
11 MARPOL 73/78 (International Convention for the Prevention of Pollution From Ships, 1973 as modified by the Protocol of 1978): Công ước Quốc tế về phòng chống các ô nhiễm từ tàu biển
12 MEPC (Metropolitan Estates & Property Corporation): Ủy ban Bảo vệ môi trường biển
13 NRC (National Research Council): Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia của Hoa Kỳ
14 OILPOL 1954 (Oil Pollution): Công ước quốc tế về ngăn chặn ô nhiễm biển do dầu
15 OPRC 1990 (International Convention on Oil Pollution Preparedness, Response and Co-operation): Công ước quốc tế về sẵn sàng ứng phó và hợp tác đối với ô nhiễm dầu 1990
Trang 4Chương trình hợp tác khu vực trong quản lý môi trường các biển Đông Á
17 SDR (Special Drawing Rights)
18 SOLAS (International Convention for the Safety of Life at Sea): Công ước quốc tế
về an toàn sinh mạng người trên biển
19 TOKYO MOU (Memorandum of understanding): Thỏa thuận ghi nhớ khu vực Châu Á Thái Bình Dương
20 UNCLOS 1982 (United Nations Environment Programme): Chương trình môi trường liên hợp quốc – một tổ chức của Liên hợp quốc
22 VNICZM (Vietnam Netherlands Integrated Coastal Zone Management): Dự án Việt Nam - Hà Lan về quản lý tổng hợp dải ven bờ
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT PHÒNG
CHỐNG Ô NHIỄM DẦU TRÊN BIỂN
5
1.1 Khái niệm ô nhiễm dầu trên biển và hậu quả của ô nhiễm dầu trên biển 5
1.2 Phòng chống ô nhiễm dầu trên biển và pháp luật phòng chống ô nhiễm
dầu trên biển
14
CHƯƠNG 2 PHÒNG CHỐNG Ô NHIỄM DẦU TRÊN BIỂN THEO
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
2.3.1 Công ước quốc tế về sẵn sàng ứng phó và hợp tác đối với ô nhiễm
dầu 1990 (OPRC 1990)
37
2.3.2 Công ước về trách nhiệm dân sự đối với ô nhiễm biển do dầu năm
1969 (CLC 1969) và Nghị định thư năm 1992 sửa đổi CLC 1969
38
2.3.3 Thỏa thuận ghi nhớ khu vực Châu Á Thái Bình Dương
(Memorandum Understanding - TOKYO MOU, 1993)
40
2.3.4 Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại do
ô nhiễm dầu gây ra 2001 (BUNKER 2001)
42
2.3.5 Công ước quốc tế liên quan đến Can thiệp trên biển cả trong
trường hợp tai nạn gây ra ô nhiễm dầu 1969 (INTERVENTION 1969)
43
2.3.6 Công ước quốc tế về Thiết lập Quỹ quốc tế đền bù cho thiệt hại do
ô nhiễm dầu gây ra năm 1971 (FUND 1971) và Nghị định thư 1992 sửa đổi
Công ước FUND 1971 (FC 1992)
45
CHƯƠNG 3 PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG Ô NHIỄM DẦU
TRÊN BIỂN CỦA VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT
48
3.1 Pháp luật Việt Nam về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển 48
3.1.1 Vấn đề ô nhiễm dầu tại Việt Nam 48
Trang 63.1.3 Một vài đánh giá về hệ thống pháp luật và vấn đề thực thi các Điều
ước quốc tế về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển tại Việt Nam
59
3.2 Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao
năng lực thực thi các Điều ước quốc tế về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển
của Việt Nam
3.2.3 Tăng cường tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ
quan nhà nước trong việc phòng chống ô nhiễm dầu trên biển
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
- Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng 2/3 năng lượng thế giới đang sử dụng hiện nay từ dầu khí Việt Nam là quốc gia đang phát triển, nhu cầu năng lượng đáp ứng hoạt động sản xuất và sinh hoạt là vô cùng lớn Theo tính toán của các chuyên gia, chỉ tính riêng trữ lượng dầu khí ngoài khơi miền nam Việt Nam chiếm khoảng 25% trữ lựợng dầu dưới đáy biển Đông Có thể khai thác khoảng 20 triệu tấn/năm Đây là nguồn năng lượng chính đảm bảo cho sự phát triển của nước ta
- Tình hình ô nhiễm môi trường biển do dầu đang diễn ra rất phức tạp, Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ (NRC) đưa ra con số ước đoán, hàng năm có khoảng 3,2 triệu tấn dầu làm ô nhiễm biển từ các nguồn khác nhau Tràn dầu ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường và sinh thái dù ở bất cứ địa điểm nào Những ảnh hưởng và thiệt hại của nó tới môi trường khó mà đánh giá được Chi phí khắc phục cho những sự cố tràn dầu là rất lớn, có khi lên đến hàng tỷ đô la tùy theo mức độ nghiêm trọng Tuy nhiên, việc kiểm soát ô nhiễm dầu trên biển hiện nay vẫn đang là một vấn đề nhức nhối đối với nhiều quốc gia vì rất nhiều lý do;
- Các quốc gia cần có sự hợp tác chặt chẽ bởi hoạt động ứng cứu sự cố tràn dầu - với tính chất xuyên quốc gia và quốc tế - không thể không cần có sự hợp tác quốc tế chặt chẽ và sâu rộng Vì vậy, việc tìm hiểu nội dung của các Điều ước quốc tế liên quan đến việc phòng chống ô nhiễm dầu trên biển là rất cần thiết
- Pháp luật trong nước đóng vai trò quan trọng trong việc phòng chống ô nhiễm dầu trên biển Tuy nhiên hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam liên quan đến lĩnh vực này còn nhiều hạn chế, chưa thực sự phát huy được vai trò của mình; tình hình thực thi các Điều ước quốc tế vẫn chưa hiệu quả; ý thức của người dân còn kém…Vì vậy, hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển là một đòi hỏi cấp thiết
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Pháp luật Quốc tế về phòng
chống ô nhiễm dầu trên biển - liên hệ tới pháp luật Việt Nam” để làm Luận văn tốt
nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, ở Việt Nam đã có một số bài viết, công trình nghiên cứu công khai về các vấn đề Pháp luật Quốc tế trong đó có đề cập đến Pháp luật Quốc tế về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển Có thể kể đến các bài viết, công trình nghiên cứu của các
Trang 8nhà nghiên cứu Pháp luật Quốc tế như: ThS Nguyễn Thu Hà (2004), “Pháp luật về
phòng ngừa, khắc phục ô nhiễm môi trường biển từ tàu biển ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, (5), Tr 33-41; ThS Nguyễn Thu Hà
(2006), “Công ước MARPOL 73/78 với các nguyên tắc ngăn ngừa ô nhiễm môi trường
biển từ tàu biển”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, (8),
Tr.77-83; Đỗ Văn Sen (2008), “Ô nhiễm môi trường biển và vấn đề thực thi các Điều
ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển tại Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật,
Viện Nhà nước và Pháp luật, (9), Tr.74-80,83; Hội thảo về việc xử lý sự cố tràn dầu do
Bộ Tài nguyên và Môi trường (Thông tin tại báo điện tử www.vietnamnet.vn); Nguyễn
Hồng Thao (2004), Bảo vệ môi trường biển Việt Nam - Vấn đề và giải pháp, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội…cũng như trong một số giáo trình Luật Quốc tế của trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Nhà nước và pháp luật…
Tuy nhiên, các bài viết, công trình nghiên cứu trực tiếp liên quan đến pháp luật quốc tế về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển còn ít và mới chỉ đề cập đến vấn đề lý luận chung, chưa phân tích và đánh giá sâu sắc pháp luật Quốc tế về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển; Đồng thời, các bài viết trên cũng chưa phân tích và đánh giá một cách toàn diện
hệ thống pháp luật và vấn đề thực thi các Điều ước Quốc tế liên quan đến lĩnh vực trên của Việt Nam để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải thiện tình hình thực thi các Điều ước quốc tế
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích
Bài nghiên cứu tập trung phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về ô nhiễm dầu và pháp luật quốc tế về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển Trên cơ sở đó, phân tích, đánh giá hệ thống pháp luật và vấn đề thực thi các Điều ước quốc tế về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển của Việt Nam; Chỉ ra những hạn chế, tồn tại, từ đó đề xuất những kiến giải nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển và cải thiện tình hình thực thi các Điều ước quốc tế
3.2 Nhiệm vụ
Với mục đích như trên, Công trình nghiên cứu có những nhiệm vụ cụ thể như sau:
Thứ nhất: Làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ bản về ô nhiễm dầu và pháp
luật phòng chống ô nhiễm dầu trên biển;
Trang 9Thứ hai: Phân tích khái quát các Điều ước quốc tế quan trọng về phòng chống ô
nhiễm dầu trên biển;
Thứ ba: Phân tích và đánh giá hệ thống pháp luật và vấn đề thực thi các Điều ước
quốc tế về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển của Việt Nam;
Thứ tư: Đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao
năng lực thực thi các Điều ước quốc tế về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển của Việt Nam
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Công trình nghiên cứu không có tham vọng nghiên cứu tất cả các vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật quốc tế về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển bởi đây là một đề tài rộng, đòi hỏi rất lớn về thời gian nghiên cứu cũng như sự am hiểu chuyên sâu về kiến thức Vì vậy, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số Điều ước quốc tế quan trọng liên quan đến việc phòng, chống ô nhiễm dầu trên biển; Đồng thời phân tích và đánh giá bước đầu về hệ thống pháp luật và vấn đề thực thi các Điều ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực này của Việt Nam; Trên cơ sở nội dung đã phân tích, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực thực thi các Điều ước quốc tế
về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển của Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu của Công trình nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ của Công trình nghiên cứu, tác giả đã vận dụng cơ
sở lý luận và phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hội nhập Quốc tế
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể cũng được tác giả sử dụng, bao gồm: Phương pháp mô tả, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử…
5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của Công trình nghiên cứu
Đây là Công trình nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống về Pháp luật Quốc
tế về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển Có thể coi những điểm sau đây là những đóng góp mới về mặt khoa học của Công trình nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ bản về vấn đề ô nhiễm dầu và pháp luật phòng chống ô nhiễm dầu trên biển;
Trang 10- Phân tích khái quát các Điều ước quốc tế quan trọng về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển, từ đó đưa ra được những điểm mới nên vận dụng và những hạn chế cần khắc phục của pháp luật Việt Nam
- Hệ thống hóa và phân tích hệ thống pháp luật và vấn đề thực thi các Điều ước quốc tế về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển của Việt Nam; Phát hiện những tồn tại; Đưa ra những kiến giải nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về phòng, chống ô nhiễm dầu trên biển và cải thiện tình hình thực thi các Điều ước quốc tế
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Công trình nghiên cứu
Công trình nghiên cứu góp phần vào việc nâng cao nhận thức khoa học về vấn đề
ô nhiễm dầu trên biển và pháp luật Quốc tế về phòng chống ô nhiễm dầu; Đặc biệt góp phần làm phong phú thêm lý luận khoa học pháp lý về vai trò của pháp luật trong việc phòng chống ô nhiễm dầu, bảo vệ môi trường biển
Các kết quả nghiên cứu của Công trình có thể góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao khả năng thực thi các Điều ước quốc tế trong việc phòng, chống ô nhiễm dầu trên biển của Việt Nam
Kết quả của Công trình nghiên cứu cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy về hôi nhập quốc tế và vấn đề bảo vệ môi trường biển tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo Luật nước ta
7 Kết cấu của Công trình nghiên cứu
Nhằm giải quyết vấn đề mà đề tài đặt ra, bài Luận văn được trình bày với kết cấu gồm ba chương ngoài Lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Cụ thể:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về ô nhiễm dầu và pháp luật phòng chống ô nhiễm dầu trên biển
Chương 2 Phòng chống ô nhiễm dầu trên biển theo quy định của pháp luật quốc tế Chương 3 Pháp luật về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển của Việt Nam và giải pháp đề xuất
Trang 11CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT PHÒNG CHỐNG Ô
NHIỄM DẦU TRÊN BIỂN 1.1 Khái niệm ô nhiễm dầu trên biển và hậu quả của ô nhiễm dầu trên biển
1.1.1 Khái niệm ô nhiễm dầu trên biển
Năm 1981, nhóm chuyên gia về các khía cạnh khoa học của ô nhiễm biển
(GESAMP) đưa ra định nghĩa đầu tiên về ô nhiễm môi trường biển là: “Việc con người
trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển (bao gồm cả các cửa sông), gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn sinh vật, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển”[50]
Theo định nghĩa này:
- Ô nhiễm môi trường biển là sự đưa vào môi trường biển các chất liệu và năng lượng có những tác hại xấu
- Ô nhiễm môi trường biển liên quan chặt chẽ đến các nguồn gây ô nhiễm do chính con người tạo ra và trong một số trường hợp, là kết quả của việc đưa ngày càng nhiều chất liệu vào các hệ chuyển hóa tự nhiên đang tồn tại
- Các chất gây ô nhiễm phát tán trong môi trường biển bằng nhiều chu trình khác nhau, qua đó chúng tác động với các sinh vật sống kể cả con người, được coi như người
Điều 1 khoản 4 Công ước quy định:
“Ô nhiễm môi trường biển là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ thống động vật và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp
Trang 12pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển và phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển”
Có thể nhận thấy rằng, tuy Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 đưa ra chung loại nguồn gây ô nhiễm là các chất liệu hoặc năng lượng giống như định nghĩa của GESAMP, tuy nhiên, Công ước đã điều chỉnh bao trùm cả những hậu quả trong tương lai
khi quy định “Việc đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại” Bên cạnh đó, Công ước
Luật biển 1982 cũng chỉ ra nhiều hơn những đối tượng có thể phải chịu những tác động tiêu cực khi môi trường biển bị ô nhiễm đó là: hệ động thực vật biển, sức khỏe con người, các tác động ở biển kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, ảnh hưởng đến cả chất lượng nước biển và mỹ cảm biển
Ngoài việc đưa ra khái niệm ô nhiễm môi trường biển, Công ước Luật biển còn đưa ra các loại nguồn chủ yếu dẫn đến ô nhiễm [1, Mục V phần XII]:
- Ô nhiễm bắt nguồn từ đất, kể cả các ô nhiễm xuất phát từ các dòng sông, ngòi, cửa sông, ống dẫn các thiết bị thải đổ;
- Ô nhiễm do các hoạt động liên quan đến đáy biển thuộc tài phán quốc gia gây ra;
- Ô nhiễm do các hoạt động tiến hành trong Vùng gây ra;
- Ô nhiễm do sự nhận chìm;
- Ô nhiễm do tàu thuyền gây ra;
- Ô nhiễm có nguồn gốc từ bầu khí quyển hay qua bầu khí quyển
Trên thực tế, theo báo cáo đánh giá về hiện trạng môi trường biển của nhóm GESAMP 1990, tỷ lệ các hoạt động của con người gây ô nhiễm cho môi trường biển như sau:
- Các hoạt động dầu khí ngoài khơi: 1%
- Giao thông biển: 12%
- Nhận chìm: 10%
- Phù sa và ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền: 44%
- Ô nhiễm từ bầu khí quyển: 33%[50]
Có thể thấy, môi trường biển bị ô nhiễm xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng dầu là một trong những nguồn gây ô nhiễm độc hại công khai nhất Lý do:
- Nguyên nhân chủ quan
+ Xuất phát từ ý thức chủ quan, vô trách nhiệm của con người: Các hoạt động liên quan đến dầu đem lại nguồn lợi lớn về mặt kinh tế Vì lợi ích trước mắt, con người quên
Trang 13đi tầm quan trọng của việc phòng và chống ô nhiễm dầu trên biển, coi thường việc phòng ngừa các sự cố xảy ra, đặc biệt là sự có tràn dầu, thải dầu bừa bãi khiến cho môi trường biển bị ô nhiễm ngày một nghiêm trọng;
+ Do năng lực quản lý còn hạn chế của các cơ quan quản lý nhà nước: Cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình thực hiện công tác phòng và chống ô nhiễm dầu trên biển chưa phát huy được hiệu quả do đội ngũ cán bộ còn kém về năng lực chuyên môn,
hệ thống khoa học kỹ thuật công nghệ phục vụ cho quá trình này còn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra
+ Sự hợp tác quốc tế chưa chặt chẽ và hiệu quả: Ô nhiễm môi trường biển do dầu không chỉ ảnh hưởng đến phạm vi vùng, miền, quốc gia mà còn có khả năng ảnh hưởng đến các khu vực, các quốc gia lân cận Nhưng trước tình trạng đó, sự phối hợp giữa các quốc gia còn thiếu chặt chẽ, chưa đủ mạnh để phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm biển do dầu đạt hiệu quả cao
- Nguyên nhân khách quan
Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan trên, các nhà khoa học đã chứng minh được rằng, ô nhiễm môi trường biển do dầu còn xuất phát từ các tác động của các yếu tố khách quan như: bão, gió, thủy chiều
Theo những phân tích trên thì thấy rằng, dầu là một trong những nguồn cơ bản gây
ô nhiễm môi trường biển và có tác động rất lớn đến môi trường biển
Theo điểm 1 khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Dầu khí năm 2008 định nghĩa:
“ Dầu khí bao gồm dầu thô, khí thiên nhiên và hydrocacbon ở thể khí, lỏng, rắn hoặc nửa rắn trong trạng thái tự nhiên, kể cả khí than, sulphur và các chất tương tự khác kèm theo hydrocacbon nhưng không bao gồm than, đá phiến sét, bitum hoặc các khoáng sản khác có thể chiết xuất được dầu”
Như vậy, pháp luật Việt Nam đã đưa ra khái niệm dầu khí bằng cách liệt kê những sản phẩm là dầu khí, trong đó:
- Dầu thô là hỗn hợp của hydro và cacbon, dạng lỏng, sánh đặc, màu nâu hoặc ngả đục, được bơm lên từ các giếng hay mỏ dầu nằm sâu trong lòng đất hoặc đáy biển
- Khí thiên nhiên là hỗn hợp của hydro và cacbon, một loại khí không màu, được khai thác từ giếng khoan gồm cả khí ẩm, khí khô, khí đầu giếng khoan và khí còn lại sau khi chiết xuất hydrocacbon lỏng từ khí ẩm
Trang 14Do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu tiêu thụ dầu trong nước cũng như xuất khẩu ngày càng tăng, các hoạt động liên quan đến dầu vì thế mà cũng phát triển mạnh mẽ Trong khi đó, các trang thiết bị để phục vụ cho các hoạt động đó lại chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn dẫn đến tai nạn tràn dầu xảy ra
Tràn dầu là sự giải phóng hydrocarbon dầu mỏ lỏng vào môi trường do các hoạt động của con người Tràn dầu thường xảy ra trong các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, phân phối và tàng trữ dầu khí và các sản phẩm của chúng (sau đây gọi chung là “các hoạt động liên quan đến dầu”) Ví dụ, các hiện tượng rò rỉ, phụt dầu, vỡ đường ống, vỡ bể chứa, tai nạn đâm va gây thủng tàu, đắm tàu, sự cố tại các dàn khoan dầu khí, cơ sở lọc hoá dầu v.v làm cho dầu và sản phẩm dầu (mà dưới đây sẽ được gọi tắt là dầu) thoát ra ngoài gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến sinh thái
và thiệt hại đến các hoạt động kinh tế, đặc biệt là các hoạt động có liên quan đến khai thác và sử dụng các dạng tài nguyên thuỷ sản
Mặt khác, tràn dầu cũng được xem như sự giải phóng vào môi trường do rò rỉ tự nhiên từ các cấu trúc địa chất chứa dầu dưới đáy biển do các hoạt động của vỏ trái đất gây nên như động đất
Số lượng dầu tràn ra ngoài tự nhiên khoảng vài trăm lít trở lên có thể coi là sự cố tràn dầu
Dầu và các sản phẩm của dầu thâm nhập vào biển bằng nhiều con đường khác nhau, qua nghiên cứu và tổng hợp, có thể phân chia bằng các con đường như sau:
- Dầu mỏ rỉ từ các tàu thủy trong nước rửa, vệ sinh bồn, két chứa, nước thải trong khoang: chiếm tỷ lệ 23%;
- Dầu rơi vãi trong quá trình xuất, nhập khẩu dầu từ tàu: chiếm 17%;
- Dầu theo chất thải và nước từ bờ: chiếm 11%;
- Dầu từ thành phố, sông ngòi đổ ra biển: chiếm 33%;
- Dầu thâm nhập do khoan thăm dò thềm lục địa: 1%;
- Dầu theo khí quyển vào biển: 10%;
- Dầu đổ ra biển do các tai nạn tàu thuyền: 5% [73]
1.1.2 Hậu quả của ô nhiễm dầu trên biển
Xin điểm qua các sự cố tràn dầu lớn nhất trong lịch sử nhân loại để thấy được hậu quả vô cùng nghiêm trọng của ô nhiễm dầu đối với môi trường, và con người
1.1.2.1 Các sự cố tràn dầu lớn nhất trong lịch sử
Trang 15- Năm 1978, tàu chở dầu Amoco Cadiz bị mắc cạn trên vùng nước nông ngoài
khơi gần bờ biển Brittany (Pháp) Vì thời tiết xấu, các hoạt động cứu hộ không thể thực hiện được, và đây là một thảm họa môi trường lớn trong lịch sử của châu Âu lúc bấy giờ Có khoảng đã có 20.000 cá thể chim đã chết Với gần 223.000 tấn dầu tràn ra biển, tạo thành một vết dầu loang với diện tích 2.000 km vuông Dầu cũng lan rộng đến 360
km bờ biển của Pháp Tham gia công tác cứu hộ có hơn 7.000 người Theo một số học giả, đến nay sự cân bằng sinh thái trong khu vực này vẫn chưa phục hồi được
- Năm 1979, đã xảy ra sự cố giàn khoan Ixtoc-1 lớn nhất trong lịch sử ở Mexico Kết quả là, có khoảng 460.000 tấn dầu thô đã tràn ra trên vịnh Mexico Phải mất một năm mới khắc phục hậu quả sự cố tràn dầu Đáng chú ý, lần đầu tiên trong lịch
sử đã tổ chức các chuyến bay đặc biệt để sơ tán các loài rùa biển ra khỏi khu vực dầu tràn Tổng thiệt hại ước tính khoảng 1,5 tỉ đôla
- Cũng năm 1979, đã xảy ra sự cố tràn dầu lớn nhất trong lịch sử trong vùng biển Caribbe do hai tàu chở dầu đâm nhau: tàu Đại Tây Dương và Hoàng hậu Aegean Captain Kết quả là khoảng 290.000 tấn dầu đổ ra biển Một trong hai tàu chở dầu bị chìm Cũng may là tai nạn xảy ra trên đại dương cách xa bờ (đảo gần nhất
là Trinidad) nên không gây ảnh hưởng
- Trong tháng 3 năm 1989 tàu chở dầu Exxon Valdez của công ty Mỹ Exxon bị mắc cạn tại vịnh Prince Williams bên bờ biển Alaska Một lỗ thủng trên thành tàu đã làm tràn xuống biển 48.000 tấn dầu Hậu quả là, làm nhiễm bẩn hơn 2.500 km2
mặt biển, 28 loài sinh vật bị đe dọa tuyệt chủng Khu vực xảy ra tai nạn rất khó tiếp cận (chỉ có thể đến bằng đường biển hoặc bằng trực thăng) gây khó khăn cho các dịch vụ cứu hộ Kết quả thảm họa là khoảng 40,9 triệu lít dầu (trong số 54 triệu lít trên tàu) tràn xuống biển, tạo thành một thảm dầu trên 28.000 km2 và gây ô nhiễm khoảng hai nghìn km dọc bờ biển
- Năm 1990, quân đội Iraq xâm chiếm Kuwait Liên quân của 32 nước phương Tây đã can thiệp và giải phóng Kuwait Tuy nhiên, để chuẩn bị phòng thủ, quân đội Iraq
đã mở hết các van tại các trạm chứa dầu và hút hết dầu chứa trong một số tàu chở dầu Đây là biện pháp nhằm ngăn không cho các toán lính dù của liên quân đổ
bộ Khoảng 1.5 triệu tấn dầu (có các nguồn số liệu khác nhau) đổ vào vịnh Ba Tư Cuộc chiến của hai bên vẫn tiếp diễn, hậu quả thảm họa môi trường trong một thời gian dài không ai quan tâm đến Dầu chảy tràn ra trên vịnh trên diện tích 1.000 km2 và gây ô
Trang 16nhiễm khoảng 600 km vùng ven bờ Để ngăn không cho dầu tiếp tục tràn, không quân Mỹ đã thả bom xuống một số tuyến đường ống dẫn dầu tại Kuwait
- Trong tháng 1 năm 2000, một sự cố tràn dầu lớn đã xảy ra tại Brazil Trong vùng biển vịnh Guanabara, đối diện với thành phố Rio de Janeiro, đường ống dẫn dầu thuộc công ty Petrobras đã đổ ra hơn 1,3 triệu lít dầu, gây ra thảm họa môi trường lớn nhất cho một vùng gần siêu đô thị Theo các nhà sinh vật học, phải mất gần một phần tư thế kỷ mới có thể khôi phục hoàn toàn môi trường do tổn thất sinh thái gây ra Các nhà sinh vật học Brazil so sánh mức độ thảm họa sinh thái giống như với những hậu quả của chiến tranh ở Vịnh Ba Tư May mắn là dầu đã được ngăn lại sau khi dòng dầu đã chảy qua được bốn hàng rào phao chặn và đến phao thứ năm thì chặn lại đươc
- Tháng 11 năm 2002, ngoài khơi bờ biển Tây Ban Nha, tàu chở dầu Prestige đã bị
vỡ và chìm, trên 64 nghìn tấn dầu mazut tràn ra biển Để khắc phục hậu quả tai nạn tàu bị chìm và tràn dầu phải chi tốn 2,5 triệu €, sau đó EU cấm các tàu một thân chở dầu tiếp cận với các vùng nước của các nước này Tàu này được đóng ở Nhật Bản và đăng ký tại Liberia
- Trong tháng 8 năm 2006, xảy ra sự cố tàu chở dầu mang tên "Solar 1” thuộc Công ty Sunshine ở Philippines Sự cố tàu làm ô nhiễm 300 km bờ biển thuộc hai tỉnh, gây ô nhiễm 500 ha rừng ngập mặn và 60 ha trồng rong biển Trong vùng bị ô nhiễm là nơi sinh sống của 29 loài san hô và 144 loài cá Sự cố tràn dầu mazut tràn làm ảnh hưởng tới khoảng 3 nghìn gia đình người dân Philippones
- Ngày 11 tháng 11 năm 2007, cơn bão tại eo biển Kerch gây ra thảm họa chưa
từng có tại biển Đen và biển Azov, trong một ngày bão đã đánh chìm bốn tàu, làm sáu tàu mắc cạn, hư hỏng hai tàu chở dầu Trong số đó, có tàu chở dầu Volgoneft-139 đã đổ vào biển hơn 2.000 tấn dầu mazut, và trong khoang tàu có chứa khoảng 7.000 tấn lưu huỳnh Theo cơ quan Rosprirodnadzor thiệt hại môi trường gây ra
do sự cố của một số tàu tại eo biển Kerch là 6,5 tỷ rúp và tổn hại đến các loại chim và cá tại eo biển Kerch khoảng 4 tỷ rúp
- Ngày 20 tháng 4 năm 2010, lúc 22h00 giờ địa phương, trên giàn khoan
Depwater Horizon, một vụ nổ xảy ra đã gây ra cháy lớn trong 36 giờ, làm cho 11 công nhân khoan thiệt mạng, giàn khoan bị chìm, dầu khí từ giếng tràn ra biển Ước tính trong Vịnh Mexico trong nước được đổ lên đến 5.000 thùng (700 tấn) dầu mỗi ngày Tuy nhiên, các chuyên gia không loại trừ rằng trong tương lai gần con số này có thể đạt
Trang 1750.000 thùng/ngày, một thảm dầu dài 16 km có chiều dày 90 mét Vào đầu tháng 5 năm
2010 Tổng thống Mỹ Barack Obama đã gọi sự số vịnh Mexico là "một thảm họa sinh thái
tồi tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ” Công ty BP đã phải ra điều trần trước Quốc hội Mỹ
và phải lập Quỹ dự phòng hơn 32 tỷ đền bù về thiệt hại do vụ tràn dầu gây ra, chưa
kể phải ra trước tòa án liên quan đến vụ tràn dầu này [73]
1.1.2.1 Hậu quả của ô nhiễm dầu trên biển
Từ việc tìm hiểu một số sự cố tràn dầu trên để thấy rằng ô nhiễm môi trường biển
do dầu đã để lại hậu quả vô cùng nặng nề không chỉ đối với môi trường mà còn đối với
con người
- Hậu quả đối với môi trường:
Việc gây ô nhiễm biển từ dầu, đặc biệt là sự cố tràn dầu tác động rất xấu đến môi trường, thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, ô nhiễm nước biển
Khi các chất thải gây ô nhiễm hoặc dầu tràn ra biển sẽ bị hòa tan trong nước biển, làm nước biển đổi màu và có mùi khó chịu Các chất không tan sẽ lẵng đọng dưới đáy biển làm tăng độ đục của nước, biến đổi thành phần nước biển Bên cạnh đó, do môi trường sống bị ô nhiễm nên các sinh vật sống trong biển chết, xác của chúng bị phân hủy
là cho nước biển bị ô nhiễm trầm trọng
Thứ hai, ô nhiễm không khí
Môi trường biển không chỉ gồm hệ sinh vật biển, nước biển và các tài nguyên có trong biển mà còn bao gồm cả không khí trên bặt biển Các thành phần hidrocacbon nhẹ trong dầu, lưu huỳnh, ni-tơ gặp ánh sáng, nhiệt độ, bốc hơi lên sẽ gây ô nhiễm nguồn không khí
Thứ ba, ô nhiễm đất
Dầu tràn vào bờ biển sẽ thấm vào đất gây ô nhiễm đất ven biển Ngoài ra, do ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường biển do dầu làm cho sinh vật biển chết, xác sinh vật sẽ bị phân hủy, nước biển ô nhiễm, từ đó vùng đất ven biển bị ô nhiễm là điều không thể tránh khỏi
Thứ tư, ảnh hưởng đến sinh vật
Ô nhiễm dầu đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên các hệ sinh thái biển và ven biển ở các khía cạnh sau:
Trang 18+ Làm biến đổi cân bằng oxy của hệ sinh thái: Dầu có tỷ trọng nhỏ hơn nước, khi chảy loang trên mặt nước, dầu tạo thành váng và bị biến đổi về thành phần và tính chất Khi dầu loang, hàm lượng dầu trong nước tăng cao, các màng dầu làm giảm khả năng trao đổi oxy giữa không khí với nước, làm giảm hàm lượng oxy của hệ sinh thái, như vậy cán cân điều hòa oxy trong hệ sinh thái bị đảo lộn;
+ Làm nhiễu loạn các hoạt động sống trong hệ sinh thái: Đầu tiên phải kể đến các nhiễu loạn áp suất thẩm thấu giữa các màng tế bào sinh vật với môi trường, cụ thể là các loài sinh vật bậc thấp như sinh vật phù du, nguyên sinh động vật luôn luôn phải điều tiết
áp suất thẩm thấu giữa môi trường và cơ thể thông qua màng tế bào Dầu bao phủ màng
tế bào, sẽ làm mất khả năng điều tiết áp suất trong cơ thể sinh vật, đồng thời cũng là nguyên nhân làm chết hàng loạt sinh vật bậc thấp, các con non, ấu trùng Dầu bám vào cơ thể sinh vật sẽ ngăn cản quá trình hô hấp, trao đổi chất và sự di chuyển của sinh vật trong môi trường nước Theo đánh giá của các chuyên gia, nồng độ dầu trong nước chỉ 0,1 mg/l
có thể gây chết các loài sinh vật phù du, mắt xích đầu tiên trong lưới thức ăn ở biển Đối với các sinh vật đáy, ô nhiễm dầu có thể ảnh hưởng rất lớn đến con non và ấu trùng Đối với các cá thể trưởng thành, dầu có thể bám vào cơ thể hoặc được các sinh vật hấp thụ qua quá trình lọc nước, dẫn đến làm giảm giá trị sử dụng do có mùi dầu Ảnh hưởng của dầu đối với loài chim biển chủ yếu là thấm ướt lông chim, làm giảm khả năng cách nhiệt của bộ lông, làm mất tác dụng bảo vệ thân nhiệt của chim và chức năng phao bơi, giúp chim nổi trên mặt nước Khi bị nhiễm dầu, chim thường di chuyển khó khăn, ở mức độ nhẹ chúng tỏ ra khó chịu, có khi phải di chuyển nơi cư trú; ở mức độ nặng có thể bị chết Dầu còn ảnh hưởng đến khả năng nở của trứng chim Bên cạnh đó, cá là nguồn lợi lớn nhất của biển và cũng là đối tượng chịu tác động tiêu cực mạnh mẽ của sự cố ô nhiễm dầu, ảnh hưởng này phụ thuộc vào mức độ tan của các hợp chất độc hại có trong dầu vào trong nước Dầu bám vào cá làm giảm giá trị sử dụng do có mùi khó chịu Đối với trứng
cá, dầu có thể làm trứng mất khả năng phát triển, trứng có thể bị ung, thối Dầu gây ô nhiễm môi trường làm cá chết hàng loạt do thiếu oxy hòa tan trong nước
+ Gây ra độc tính tiềm tàng trong hệ sinh thái: Ảnh hưởng gián tiếp của dầu loang đối với sinh vật thông qua quá trình ngăn cản trao đổi oxy giữa nước với khí quyển tạo điều kiện tích tụ các khí độc hại như H2O, và CH4 làm tăng pH trong môi trường sinh thái Dưới ảnh hưởng của các hoạt động sinh - địa hóa, dầu dần dần bị phân hủy, lắng
Trang 19đọng và tích lũy trong các lớp trầm tích của hệ sinh thái làm tăng cao hàm lượng dầu trong trầm tích gây độc hại cho các loài sinh vật sống trong nền đáy và sát đáy biển
Ô nhiễm dầu ngăn cản các hoạt động dân sinh Làm giảm khả năng định cư, di cư của các nguồn giống sinh vật từ biển vào Giảm nơi sinh cư của các loài sinh vật sống trong hệ sinh thái Mất dần các giá trị bảo tồn của các hệ sinh thái có được từ ý thức lưu tồn tài nguyên dựa trên đức tin và các giá trị phi vật thể liên quan đến đời sống văn hóa, tâm linh…[68]
- Ảnh hưởng đến con người
Ô nhiễm môi trường biển do dầu gây ra cũng để lại cho con người những hậu quả nghiêm trọng, thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, thiệt hại về sức khỏe
Theo các nghiên cứu về hậu quả tràn dầu cho thấy có thổn thương thàn kinh, ngoài
da, mắt miệng khi tiếp cận với các hợp chất hữu cơ bay hơi trong dầu Nạn nhân có thể bị rối loạn nhận thức, mất định hướng, suy yếu thứ chi Dầu cũng gây ảnh hưởng ngắn hạn tới các chức năng của thận, phổi và gan
Thứ hai, thiệt hại về kinh tế
+ Đối với ngành du lịch
Môi trường biển bị ô nhiễm do dầu khiến cho cảnh quan thiên nhiên bị xuống cấp nhanh chóng, gây ra mùi khó chịu đối với du khách tham quan, tắm mát tại các bãi tắm Đồng thời, khi ô nhiễm biển do dầu xảy ra, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch phải bỏ nhiều chi phí để làm sạch các vùng biển bị ô nhiễm từ đó làm giảm thu nhập của ngành du lịch Theo thống kê chưa đầy đủ, tính đến tháng 6 năm 2007, ngành du lịch
đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng do ô nhiễm dầu với tổng thiệt hại lên tới 44.958.387 triệu đồng [73]
+ Đối với ngành thủy sản
Ô nhiễm môi trường biển do dầu làm cho các loài sinh vật biển bị chết hoặc di cư sang vùng biển khác làm giảm năng suất nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản, gây thiệt hại đến ngành thủy sản
+ Đối với ngành Nông nghiệp
Dầu tràn vào bờ biển sẽ thấm vào đất gây ô nhiễm đất, đồng thời nước bị ô nhiễm
do dầu sẽ xâm nhập vào vùng nước ngọt Từ đó, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng trồng trọt của người dân quanh vùng
Trang 201.2 Phòng chống ô nhiễm dầu trên biển và pháp luật phòng chống ô nhiễm dầu trên biển
1.2.1 Phòng chống ô nhiễm dầu trên biển
1.2.1.1 Sự cần thiết của việc phòng chống ô nhiễm dầu trên biển
Mặc dù ô nhiễm dầu gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng, nhưng việc phòng chống ô nhiễm dầu trên biển hiện nay vẫn đang là một vấn đề nhức nhối đối với nhiều quốc gia vì rất nhiều lý do:
- Dầu bị đổ ra biển có thể lan đi rất xa, làm ô nhiễm cả một vùng rộng lớn, hủy hoại nghiêm trọng chất lượng nước biển và làm chết các nguồn sinh vật biển, ảnh hưởng đến đời sống của con người (như phân tích tại mục 1.1.2.2) Trong khi đó, việc xử lý và thu gom dầu đổ lại rất tốn kém và đòi hỏi trình độ khoa học công nghệ cao mà hiện nay rất nhiều nước không có khả năng đáp ứng được Trong tổng số lượng hàng hóa thông qua cảng có khoảng 28% là sản phẩm dầu nhập và xuất khẩu của nước ta ngày càng gia tăng Lượng dầu thô xuất khẩu hàng năm khoảng 9 triệu tấn, nhập khẩu hơn 6 triệu tấn (1996) [65, Tr 33-41]
- Không một ai có thể đảm bảo được rằng các vụ tai nạn hàng hải, đắm tàu chở dầu, tràn dầu…lại không thể xảy ra; các hoạt động khai thác dầu khí lại vẫn cần thiết phải được tiến hành để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia ven biển; không ai
có thể nói trước rằng có xảy ra sự cố hay không trong quá trình khai thác Trong những năm gần đây, nhu cầu xăng dầu của Việt Nam ngày càng tăng, công cuộc thăm dò khai thác dầu khí ở nước ta cũng trở nên nhộn nhịp, quan hệ quốc tế với Việt Nam được mở rộng với nguy cơ sự cố tràn dầu do đâm va, mắc cạn trên các vùng biển của Việt Nam trở nên nghiêm trọng Việc vận chuyển dầu khai thác được tại các mỏ vào các nhà máy lọc dầu của Việt Nam trong tương lai cũng chủ yếu bằng các các đội tàu dầu, vì chúng ta chưa thể xây dựng lắp đặt hệ thống ống dẫn dầu trên vùng biển Việt Nam Đây cũng là nguy cơ xảy ra các vụ tai nạn, gây sự cố tràn dầu trên biển Việt Nam
Nhận thức rõ tầm quan trọng của biển đối với loài người và tính nghiêm trọng, hậu quả của những vụ ô nhiễm biển do dầu hiện nay, các quốc gia đã có những nỗ lực to lớn trong việc hợp tác xây dựng những quy phạm, tiêu chuẩn pháp lý quốc tế có giá trị bắt buộc chung về kỹ thuật và con người trong lĩnh vực ô nhiễm môi trường biển để cấm tàu thải chất thải và hạn chế đến mức thấp nhất tổn thất do tai nạn, sự cố tràn dầu trong các vùng biển của mình và để cải thiện tình trạng ô nhiễm dầu trên biển Có thể nói đây là
Trang 21biện pháp tối ưu bởi vì trong mọi trường hợp, việc phòng ngừa luôn có hiệu quả cao hơn
là chống và xử lý ô nhiễm Thêm nữa, hoạt động phát triển kinh tế biển hiện đang là hướng phát triển của các quốc gia ven biển Hoạt động kinh tế là việc sử dụng không gian biển vào mục đích kinh tế, điều đó tất yếu sẽ làm ảnh hưởng tới môi trường biển, hệ sinh thái biển
Để có thể thực hiện được cả hai mục đích phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường biển theo hướng phát triển bền vững, các quốc gia đều sử dụng công cụ pháp lý để điều chỉnh các hoạt động kinh tế, quản lý hoạt động của các phương tiện tham gia hoạt động trên biển Mặt khác, do tính chất nghiêm trọng của vấn đề ô nhiễm môi trường biển do dầu, việc xây dựng các quy định pháp lý để kiểm soát các hoạt động của con người có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc bảo vệ môi trường biển
Nhận thức rõ điều đó, mỗi quốc gia đều phải tiến hành bảo vệ môi trường biển bằng nhiều công cụ khác nhau như chính sách, pháp luật, kinh tế…trong đó pháp luật là một trong những công cụ không thể thiếu để điều chỉnh lĩnh vực phòng ngừa, khắc phục
ô nhiễm môi trường biển do dầu
1.2.1.2 Phòng chống ô nhiễm dầu trên biển
Phòng chống ô nhiễm môi trường biển do dầu có thể được hiểu là tổng hợp các hoạt động của Nhà nước, các tổ chức và cá nhân nhằm loại trừ, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường biển từ dầu; phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển do dầu; khắc phục, xử lý hậu quả do ô nhiễm môi trường biển do dầu gây nên [58]
Từ định nghĩa trên, phòng chống ô nhiễm dầu trên biển gồm những nội dung chủ yếu sau:
- Mục đích của việc phòng chống ô nhiễm môi trường biển do dầu
Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển nhằm khống chế ô nhiễm, ngăn ngừa để môi trường biển không bị ô nhiễm và nếu ô nhiễm xảy ra thì phải có các biện pháp khắc phục kịp thời và phục hồi phần thiệt hại của môi trường biển Đây chính là quá trình con người chủ động ngăn chặn tác động xấu, là hoạt động phòng ngừa, khống chế không để việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, phân phối và tàng trữ dầu khí và các sản phẩm của chúng làm ô nhiễm môi trường biển Trong trường hợp ô nhiễm biển xảy ra do lỗi cá nhân, tổ chức thực hiện các hoạt động trên thì cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm phối hợp với các bên liên quan làm rõ trách nhiệm của các bên, từ đó có các hình thức xử lý hiệu quả Trường hợp môi trường biển bị ô nhiễm do thiên tai gây ra hoặc
Trang 22chưa xác định được nguyên nhân thì các cơ quan, tổ chức trong phạm vi quyền hạn của mình có trách nhiệm huy động các nguồn lực để tổ chức xử lý, khắc phục ô nhiễm môi trường biển
- Chủ thể tiến hành các hoạt động nhằm phòng, chống ô nhiễm dầu trên biển Việc phòng chống ô nhiễm dầu được xác định là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả các ngành, các cấp, các tổ chức và cá nhân Trong đó, trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được quy định trong các văn bản pháp luật như xây dựng kế hoạch quốc gia về ứng phó sự cố tràn dầu, định kỳ định giá hiện trạng môi trường biển, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về phòng chống ô nhiễm môi trường biển do dầu…Tổ chức cá nhân tiến hành các hoạt động liên quan đến dầu gây ra ô nhiễm môi trường biển
có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tiến hành ngay các biện pháp để ngăn chặn nguồn gây ô nhiễm, hạn chế sự lan rộng và sự ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của con người Toàn thể cộng đồng sẽ là lực lượng quan trọng trong quá trình khắc phục và xử lý ô nhiễm biển do dầu, nhất là từ sự cố tràn dầu
- Biện pháp thực hiện việc phòng, chống ô nhiễm dầu trên biển
Việc phòng chống ô nhiễm dầu trên biển sử dụng tổng hợp nhiều công cụ, biện pháp như biện pháp mệnh lệnh kiểm soát, công cụ hành chính, công cụ kinh tế kỹ thuật, các giải pháp công nghệ, các yếu tố xã hội…Đặc biệt, trong các công cụ đó không thể không kể đến công cụ pháp luật, cụ thể là các văn bản pháp luật, các quy chuẩn kỹ thuật môi trường do cơ quan có thẩm quyền ban hành
- Nội dung chính của các hoạt động phòng, chống ô nhiễm biển do dầu
Việc phòng, chống ô nhiễm dầu trên biển được thực hiện thông qua hoạt động thu thập, quản lý và công bố các thông tin về môi trường biển, xây dựng và tổ chức thực hiện
hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường, xử lý, khắc phục tình trạng môi trường biển bị ô nhiễm từ các hoạt động liên quan đến dầu
Phòng, chống ô nhiễm môi trường biển do dầu sẽ đạt hiệu quả cao khi xác định được nguyên nhân gây ô nhiễm biển, từ đó có biện pháp xử lý hợp lý Việc thực hiện các hoạt động trên có tác dụng lớn trong việc đánh giá tổng quan tình hình ô nhiễm biển do dầu gây ra, tổng hợp, phân tích các số liệu, phạm vi, ảnh hưởng đến môi trường biển và đánh giá mức độ tổn thương của hệ sinh thái biển từ những tác động tiêu cực của các hoạt động liên quan đến dầu, từ đó có được cái nhìn toàn diện và biện pháp phù hợp để xử lý, khắc phục ô nhiễm biển do dầu có hiệu quả
Trang 23Tóm lại, phòng chống ô nhiễm môi trường biển do dầu gây ra đang là vấn đề quan tâm của các quốc gia ven biển Việt Nam muốn thực hiện thành công mục tiêu phát triển kinh tế biển thì phải tìm được cho mình những phương thức phòng, chống tối ưu nhằm đem lại hiệu quả cao trong công tác phòng chống ô nhiễm môi trường biển
1.2.2 Pháp luật phòng chống ô nhiễm dầu trên biển
1.2.2.1 Khái niệm pháp luật phòng chống ô nhiễm dầu trên biển
Pháp luật là công cụ vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong việc phòng và chống ô nhiễm dầu trên biển
Pháp luật phòng chống ô nhiễm dầu trên biển được hiểu là hệ thống các nguyên tắc và các quy phạm pháp luật được quy định trong các Điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển
a Pháp luật quốc tế
Pháp luật quốc tế về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển là hệ thống các nguyên tắc và các quy phạm pháp luật, được các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận tạo dựng nên, trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa các quốc gia và các chủ thể đó trong việc phòng chống ô nhiễm dầu trên biển
Ô nhiễm môi trường biển do đặc thù của nó không chỉ mang tính ảnh hưởng trong phạm vi một vùng, một quốc gia mà nó còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến các khu vực, các quốc gia xung quanh Do vậy, vì lợi ích của mình, việc thiết lập các quan hệ quốc tế, mà quan trọng là hình thành hệ thống pháp luật quốc tế về phòng phòng chống ô nhiễm dầu trên biển là một nhu cầu cấp thiết của tất cả các quốc gia
Các quy định của các Công ước quốc tế có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thiết lập quan hệ quốc tế về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển vì:
- Các công ước quốc tế này tạo cơ sở pháp lý giúp các quốc gia phòng chống ô nhiễm dầu trên biển hiệu quả hơn đồng thời đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc gìn giữ môi trường biển
- Các công ước quốc tế xác định rõ ràng quyền hạn và nghĩa vụ của các quốc gia ven biển trong việc phòng chống ô nhiễm dầu trên biển Qua đó, các quốc gia phải thực
hiện việc “nội luật hóa” pháp luật, xây dựng hệ thống cơ quan quản lý để đảm bảo hiệu
quả công tác phòng chống ô nhiễm dầu trên biển
Trang 24- Các công ước quốc tế về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển là kết quả của việc thiết lập mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau, thể hiện chính sách mở cửa trong hợp tác quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường biển do dầu gây ra, giúp cho các quốc gia có thêm năng lực cho công tác phòng chống ô nhiễm môi trường biển
Các Công ước quốc tế quan trọng quy định các vấn đề về chống ô nhiễm dầu trên biển:
- Công ước Quốc tế về phòng chống các ô nhiễm từ tàu biển (Công ước MARPOL 73/78)
- Công ước quốc tế về sẵn sàng ứng phó và hợp tác đối với ô nhiễm dầu 1990 (OPRC 1990)
- Công ước về trách nhiệm dân sự đối với ô nhiễm biển do dầu năm 1969 (CLC 1969) và Nghị định thư năm 1992 sửa đổi CLC 1969
- Thỏa thuận ghi nhớ khu vực Châu Á Thái Bình Dương (Memorandum Understanding - TOKYO MOU, 1993)
- Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra 2001 (BUNKER 2001)
- Công ước quốc tế liên quan đến Can thiệp trên biển cả trong trường hợp tai nạn gây ra ô nhiễm dầu 1969 (INTERVENTION 1969)
- Công ước quốc tế về Thiết lập Quỹ quốc tế đền bù cho thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra năm 1971 (FUND 1971) và Nghị định thư 1992 sửa đổi Công ước FUND 1971 (FC 1992)
b Pháp luật quốc gia
Pháp luật quốc gia về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển là hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật được quy định trong các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình phòng và chống ô nhiễm dầu trên biển
Ở Việt Nam, từ khi thực hiện chính sách hội nhập kinh tế quốc tế và chiến lược biển, pháp luật về bảo vệ môi trường biển bắt đầu được trú trọng Việc phòng chống ô nhiễm môi trường biển và ứng phó với các sự cố tràn dầu đã được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật chung và văn bản pháp luật chuyên ngành Có thể kể đến một vài văn bản pháp luật quan trọng liên quan đến việc phòng chống ô nhiễm dầu trên biển như:
- Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 sửa đổi bổ sung năm 2004;
Trang 25- Luật Dầu khí 1993 sửa đổi năm 2008;
- Nghị định số 03/NĐ-CP của Chính phủ quy định về bảo vệ an ninh, an toàn dầu khí;
- Quyết định số 395/1998/QĐ-BKHCNMT của Bộ Khoa học Công nghệ Môi trường
về việc ban hành Quy chế Bảo vệ Môi trường trong việc tìm kiếm, thăm dò, phát triển
mỏ, khai thác, tàng trữ vận chuyển, chế biến dầu khí và các dịch vụ có liên quan;
1.2.2.2 Vai trò của pháp luật đối với việc phòng chống ô nhiễm dầu trên biển
Pháp luật phòng chống ô nhiễm môi trường biển do dầu gây ra đóng vai trò vô cùng quan trọng, thể hiện ở những nội dung sau:
- Pháp luật quy định những quy tắc xử sự bắt buộc đối với cá nhân, tổ chức trong việc phòng chống ô nhiễm dầu trên biển
Môi trường biển bị hủy hoại chủ yếu xuất phát từ ý thức chủ quan của con người Con người trong quá trình tiến hành các hoạt động liên quan đến dầu đã đánh mất đi sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm biển Vì vậy, muốn phòng chống ô nhiễm dầu trên biển hiệu quả, trước hết phải tác động đến con người mà trực tiếp là những cá nhân, tổ chức thực hiện các hoạt động liên quan đến dầu
Pháp luật phòng, chống ô nhiễm dầu trên biển là hệ thống các quy tắc xử sự điều tiết hành vi của các chủ thể Hệ thống quy tắc xử sự đó giúp các chủ thể biết họ được phép làm gì, phải làm gì và không được làm gì trong quá trình tiến hành các hoạt động liên quan đến dầu để không ảnh hưởng xấu đến môi trường biển [51]
Tính bắt buộc là một trong những đặc trưng của pháp luật nói chung và pháp luật phòng chống ô nhiễm môi trường biển do dầu gây ra nói riêng Pháp luật không loại trừ
Trang 26một ai, không phân biệt đối xử với bất kỳ người nào Tất cả các chủ thể có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, đều phải thực hiện đầy đủ những quy định của pháp luật Chính vì vậy, bất kỳ cá nhân tổ chức nào có hành vi vi phạm pháp luật về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển đều phải chịu các biện pháp xử lý thích đáng theo mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra
Vai trò này của pháp luật phòng chống ô nhiễm dầu trên biển có tác dụng rất lớn trong việc hình thành ý thức của các chủ thể Bằng các quy định cụ thể, pháp luật đã xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể hoạt động liên quan đến dầu, các cá nhân, tổ chức liên quan và các cơ quan quản lý nhà nước, từ đó tạo ra sự thống nhất trong việc thực thi pháp luật, góp phần chống ô nhiễm môi trường biển do dầu gây ra
- Pháp luật quy định trách nhiệm pháp lý ràng buộc các chủ thể thực hiện những hành vi kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong các hoạt động liên quan đến dầu
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung mang tính chất bắt buộc đối với các
cá nhận, tổ chức Nhưng không phải lúc nào, trong mọi tình huống, các quy tắc này cũng được các chủ thể tự giác tuân thủ và chấp hành đầy đủ Đặc biệt các hoạt động liên quan đến dầu mang lại lợi ích kinh tế rất lớn Nếu vì lợi ích trước mắt đó mà các chủ thể sẵn sàng bỏ qua lợi ích của toàn xã hội và thực hiện hành vi vi phạm làm ảnh hưởng đến môi trường biển Để tránh tình trạng đó xảy ra, việc quy định trách nhiệm pháp lý ràng buộc, pháp luật buộc các chủ thể thực hiện các hoạt động liên quan đến dầu, các cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện nghiêm túc các hành vi phòng, chống ô nhiễm môi trường biển Cá nhân, tổ chức nào không tuân thủ, chấp hành sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi
vi phạm của mình
Cũng như các quy phạm pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực khác, pháp luật phòng chống ô nhiễm môi trường biển do dầu gây ra cũng quy định các chế tài hình sự, hành chính, dân sự buộc các cá nhân, tổ chức vi phạm phải thực hiện Tùy vào tính chất, mức
độ ô nhiễm biển do hành vi vi phạm quy định pháp luật phòng chống ô nhiễm môi trường biển do dầu gây ra mà chủ thể phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng
Hiện nay, việc quy định các chế tài hình sự, dân sự, hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật phòng chống ô nhiễm biển do dầu gây ra được quy định trong nhiều văn bản pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế có liên quan Việc quy định các trách nhiệm pháp lý có ý nghĩa rất lớn trong việc răn đe, phòng ngừa đồng thời xử lý và trừng trị nghiêm khắc hành vi của các chủ thể vi phạm bởi chúng tác động trực tiếp đến lợi ích
Trang 27của chính các chủ thể Đặc điểm này cho thấy rõ được vai trò quan trọng của pháp luật phòng chống ô nhiễm môi trường biển do dầu gây ra
- Pháp luật quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước trong việc phòng chống ô nhiễm dầu trên biển
Tình hình ô nhiễm môi trường biển do dầu gây ra đang là một vấn đề rất được quan tâm Việc phòng chống ô nhiễm dầu trên biển muốn đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải
có một hệ thống các cơ quan, tổ chức có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn để đảm bảo tính thực thi được thống nhất Pháp luật phòng chống ô nhiễm dầu trên biển có tác dụng lớn trong việc tạo ra cơ chế hoạt động hiệu quả cho các cơ quan nhà nước Thông qua những quy định của pháp luật, nhà nước quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan có thẩm quyền
Pháp luật quy định cụ thể các cơ quan quản lý nhà nước có vai trò quan trọng trong việc phòng chống ô nhiễm dầu trên biển, gồm các chức năng quyền hạn chủ yếu như: Xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường trong các hoạt động liên quan đến dầu, xây dựng kế hoạch quốc gia về ứng phó sự cố tràn dầu, định
kỳ đánh giá hiện trạng môi trường biển trong các hoạt động liên quan đến dầu, thanh tra
và xử lý vi phạm pháp luật về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển, giải quyết tranh chấp…Đây vừa là quyền hạn vừa là nghĩa vụ của các cơ quan có thẩm quyền Trên cơ sở
đó, các cơ quan quản lý nhà nước được phép thực hiện những hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng chống ô nhiễm dầu trên biển, đồng thời cũng phải đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh nhiệm vụ được giao Trường hợp các cơ quan quản lý không làm tròn trách nhiệm hoặc thực thi vượt quá phạm vi quyền hạn của mình cũng phải chịu trách nhiệm về hậu quả xảy ra Như vậy, việc phòng ngừa ô nhiễm dầu trên biển sẽ đảm bảo tính công bằng và hiệu quả
- Pháp luật thiết lập quan hệ quốc tế giữa các bên chủ thể trong việc phòng chống
ô nhiễm dầu trên biển
Ô nhiễm môi trường biển do đặc thù của nó không chỉ mang tính ảnh hưởng trong phạm vi một vùng, một quốc gia mà nó còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến các khu vực, các quốc gia xung quanh Do vậy, vì lợi ích của mình, việc thiết lập các quan hệ quốc tế, mà quan trọng là hình thành hệ thống pháp luật quốc tế về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển là một nhu cầu cấp thiết của tất cả các quốc gia, không kể là quốc gia đó đang trong hoàn cảnh kinh tế như thế nào, duy trì chế độ chính trị ra sao…
Trang 28Qua những phân tích trên, chúng ta thấy được những ảnh hưởng nghiêm trọng của vấn đề ô nhiễm dầu trên biển và tầm quan trọng của việc phòng chống ô nhiễm dầu trên biển Việc phòng chống ô nhiễm môi trường biển do dầu gây ra được thực hiện bằng nhiều công cụ, nhiều biện pháp khác nhau, trong đó, pháp luật đóng vai trò vô cùng quan trọng, tạo cơ sở cho hoạt động phòng chống ô nhiễm biển hiệu quả
Trang 29CHƯƠNG 2 PHÒNG CHỐNG Ô NHIỄM DẦU TRÊN BIỂN THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
Hiện nay ở Việt Nam, nguồn pháp luật điều chỉnh việc bảo vệ môi trường biển nói chung và phòng chống ô nhiễm dầu trên biển nói riêng, ngoài các văn bản pháp luật Việt Nam ban hành, còn có thể kể đến các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển, phòng chống ô nhiễm dầu trên biển mà Việt Nam đã ký kết
Trong Luận văn, ngoài việc nêu nội dung cơ bản của một số Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và gia nhập còn đề cập đến các Công ước quốc tế mà Việt Nam chưa gia nhập về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển với mục đích tìm hiểu thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành và xác định chính sách ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế
về lĩnh vực trên trong thời gian tới
2.1 Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS 1982)
Công ước UNCLOS 1982 được các quốc gia ký kết từ ngày 7 đến 11 tháng 12 năm 1982 tại Montego Bay - Giamaica và có hiệu lực vào ngày 16 tháng 11 năm 1994 Ngày 23 tháng 06 năm 1994, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước này (Việt Nam đăng ký lưu chuyển thư phê chuẩn Công ước ngày 14 tháng 7 năm 1994 tại Liên hợp quốc) Công ước gồm 17 phần, 320 điều và 9 phụ lục, 4 nghị quyết Vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường được dành một phần lớn trong Công ước - Phần XII
Công ước là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng trong việc hoạch định các chế độ pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Quốc gia ven biển cũng như quyền và nghĩa vụ của các quốc gia trong việc sử dụng biển Bên cạnh đó, Công ước cũng đưa ra các quy định về bảo vệ môi trường biển tại Phần XII Với những quy định mang tính định hướng, có ý nghĩa khung cho các điều ước quốc tế đa phương khác về bảo vệ môi trường, Công ước đã thể hiện được vai trò của mình là một văn bản pháp lý có tính chất điều chỉnh thuộc hàng lớn nhất về các vấn đề liên quan đến biển cũng như vẫn đề bảo vệ và giữ gìn môi trường biển
Có thể thấy rằng, UNCLOS 1982 dù đã quy định chế độ pháp lý của từng vùng biển là khác nhau nhưng vẫn chú trọng đến các quyền hạn và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên đối với vấn đề bảo vệ và giữ gìn môi trường biển Những nội dung chính trong phần XII của Công ước bao gồm:
Trang 30- Xác định các loại nguồn gây ô nhiễm, Mục 5 phần XII Công ước đã chỉ rõ các
+ Ô nhiễm do tàu thuyền gây ra;
+ Ô nhiễm có nguồn gốc từ bầu khí quyển hay qua bầu khí quyển
- Nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo vệ và giữ gìn môi trường biển, đây là
nghĩa vụ chung cho tất cả các quốc gia không chỉ những quốc gia là thành viên của Công ước Đây là nghĩa vụ chung bởi, môi trường là một tổng thể không thể phân chia, những thành phần của môi trường có mối quan hệ mật thiết, qua lại lẫn nhau, một hành động hủy hoại môi trường dù trong phạm vi nhỏ cũng có thể gây nên những tác động xấu đến
các phạm vi môi trường lân cận rộng lớn Điều 193 Công ước nêu rõ “các quốc gia có
quyền thuộc chủ quyền khai thác các tài nguyên thiên nhiên của mình theo chính sách về môi trường của mình và theo đúng nghĩa vụ bảo vệ và gìn giữ môi trường biển” Theo
đó, dù cho một quốc gia có các quyền thuộc chủ quyền khai thác tài nguyên của mình nhưng những quyền mà các quốc gia thực hành luôn phải phù hợp với những quy tắc về bảo vệ môi trường theo chính những chính sách của mình cũng như của quốc tế
- Nghĩa vụ thực hiện mọi biện pháp ngăn ngừa và hạn chế ô nhiễm môi trường biển
Công ước liên quan đến bảo vệ môi trường biển bằng các biện pháp phòng ngừa
chống ô nhiễm biển ở hai khía cạnh: Thứ nhất, nó tạo cơ sở cho các quốc gia ven biển mở
rộng quyền tài phán về bảo vệ và quản lý môi trường biển và ven biển của mình trên tất
cả các vùng biển; Thứ hai, Công ước quy định các nghĩa vụ trực tiếp của các quốc gia
liên quan đến bảo vệ và giữ gìn môi trường biển và tài nguyên biển của mình (Điều 192) Công ước yêu cầu các quốc gia tiến hành tất cả các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa, giảm bớt và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ bất kỳ nguồn nào Liên quan đến nguồn ô nhiễm từ dầu, Công ước quy định các quốc gia áp dụng các bộ luật thi hành mọi biện pháp có thể để ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm môi trường biển Các luật và quy định
Trang 31này phải phù hợp và đem lại hiệu lực cho các quy tắc và quy định quốc tế đã được thỏa thuận Một trong những biện pháp cần thiết là gia nhập Công ước MARPOL 73/78 về phòng chống các ô nhiễm từ tàu biển
Để thực hiện Công ước, các quốc gia phải thi hành những biện pháp cần thiết để
hạn chế tối đa ô nhiễm biển do dầu gây ra, “đặc biệt là những biện pháp nhằm đề phòng
các sự cố và đối phó với các trường hợp khẩn cấp, nhằm bảo đảm an toàn cho hoạt động trên biển, ngăn ngừa những hành động thải bỏ, dù cố ý hay không, và quy định về cách thiết kế, cấu trúc trang bị, hoạt động và định biên của tàu” (Điều 194) qua việc: Thông
qua các quy tắc, quy phạm quốc tế; Ban hành luật, quy định của quốc gia - những luật và quy định này không được kém hiệu quả hơn các tiêu chuẩn của quy tắc, quy phạm quốc tế; Công bố những điều kiện đối với tàu thuyền khi đi vào cảng, vùng nội thủy hay công trình cảng xa bờ, thông báo những thông tin này cho Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO); Đối với lãnh hải: Quốc gia ven biển có thể ban hành các luật và quy định nhằm ngăn ngừa, hạn chế, chế ngự ô nhiễm môi trường biển do tầu thuyền nước ngoài gây ra nhưng không gây cản trở cho việc đi qua không gây hại của những tầu thuyền đó; Đối với vùng đặc quyền kinh tế: Luật, quy định của quốc gia ven biển phải phù hợp nhằm áp dụng có hiệu quả các quy tắc, quy định quốc tế đã được chấp nhận chung; Đối với “khu vực đặc biệt” trong vùng đặc quyền kinh tế đã được các tổ chức quốc tế có thẩm quyền chấp nhận thì quốc gia ven biển có thể ban hành các quy định pháp luật áp dụng cho vùng đặc biệt này phù hợp với các quy tắc, quy phạm, tiêu chuẩn về thiết kế, cấu trúc, định biên và tập quán hàng hải quốc tế
Để thực thi quyền tài phán của quốc gia ven biển đối với bảo vệ môi trường, các quốc gia ven biển có thẩm quyền xây dựng hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường biển
và thẩm quyền thi hành cảnh sát và quyền truy tố xét xử đối với vi phạm gây ô nhiễm môi trường biển
Việc xây dựng hệ thống pháp luật về bảo vệ và giữ gìn môi trường biển của các
quốc gia ven biển thể hiện trên hai phương diện: Một là, góp phần xây dựng các điều ước
quốc tế hoặc khu vực điều chỉnh các lĩnh vực ô nhiễm môi trường biển hoặc gia nhập các
điều ước quốc tế có sẵn; Hai là, trên cơ sở khung pháp lý chung của các điều ước quốc tế,
các quốc gia ban hành các quy phạm pháp luật quốc gia về bảo vệ môi trường biển và đề
ra các biện pháp cụ thể xử lý các vi phạm gây ô nhiễm môi trường biển Việc ban hành các quy phạm pháp luật quốc gia về bảo vệ môi trường biển đối với các nguồn gây ô
Trang 32nhiễm từ đất, do nhận chìm, do hoạt động của tàu thuyền và do phát sinh từ hoạt động khai thác dưới đáy biển và trong Vùng
Điều 211 khoản 4 của Công ước quy định trong lãnh hải, quốc gia ven biển có toàn quyền quyết định các hình thức ngăn ngừa ô nhiễm do tàu thuyền nước ngoài gây ra,
kể cả tàu đang thực hiện quyền đi qua vô hại Điều 211 khoản 5 của Công ước đã quy định rằng các quốc gia ven biển có thể đưa ra các luật và các quy định cho các tàu thuyền hoạt động trong vùng Đặc quyền kinh tế của mình, nhưng phải phù hợp và đem lại hiệu lực cho các quy tắc, quy phạm quốc tế đã được chấp nhận chung Trong một số “khu vực đặc biệt” có thể xác định những quy định và luật lệ nghiêm khắc hơn mà các tàu thuyền quá cảnh phải tuân thủ trong khi thực hiện quyền tự do đi lại của mình, tuy nhiên phải tham khảo ý kiến của các tổ chức quốc tế có thẩm quyền (IMO) Trong những “khu vực đặc biệt” này, các tàu thuyền nước ngoài phải bị đòi hỏi khi vào cảng mà các quốc gia ven biển có cảng đệ trình về tiêu chuẩn khác về thiết kế cấu trúc tàu và trang bị ngoài các quy tắc đã được chấp nhận chung Các quốc gia ven biển không thể đơn phương quy định các biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm do tàu thuyền gây ra ngay cả trong những “tình huống đặc biệt” đối với một “khu vực đặc biệt” trong vùng đặc quyền kinh tế
Tóm lại, với các quốc gia ven biển, Công ước quy định một số thẩm quyền chính trong lĩnh vực xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia về bảo vệ môi trường đối với các vùng biển của mình Việc xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia trên cơ sở những nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường biển là rất quan trọng, bởi lẽ luật pháp quốc gia chính là nền tảng cơ bản cho việc thi hành quyền cảnh sát về bảo vệ môi trường và quyền truy tố xét xử đối với các vi phạm gây ô nhiễm biển
Thẩm quyền thi hành quyền cảnh sát và truy tố xét xử đối với vi phạm gây ô nhiễm môi trường biển của các quốc gia ven biển thể hiện rõ nét nhất trong việc bảo vệ môi trường biển chống lại ô nhiễm dầu do tàu thuyền gây ra, bởi vì đây là loại ô nhiễm dễ xác định nhất Quyền cảnh sát ở đây được hiểu là giám sát biển bằng mọi biện pháp cần thiết để hạn chế đến mức tối đa việc xảy ra các ô nhiễm Quyền cảnh sát luôn luôn tồn tại trong khi quyền truy tố xét xử chỉ được xác lập khi có hành vi vi phạm gây ô nhiễm xảy
ra Công ước quy định khá chi tiết việc thực thi quyền cảnh sát của quốc gia ven biển đối với loại ô nhiễm có nguồn gốc từ tàu thuyền Các quốc gia phải có những biện pháp đảm bảo ngăn chặn các tai nạn và các biện pháp cấp cứu đảm bảo an toàn cho các hoạt động của tàu thuyền trên biển Đảm bảo là biện pháp nhằm ngăn chặn các hành vi dù vô ý hoặc
Trang 33cố ý thải bỏ và các quy định về cách thiết kế xây dựng các trang thiết bị, các nhân viên trên tàu và việc khai thác của tàu thuyền (Điều 194 3b) Chẳng hạn yêu cầu con tàu cung cấp các thông tin liên quan đến lý lịch và cảng đăng ký của tàu, cảng cuối cùng và cảng ghé vào của tàu; trong trường hợp vi phạm pháp luật do thải đổ các chất độc hại nghiêm trọng, gây ô nhiễm hoặc đe dọa gây ô nhiễm trông thấy đối với môi trường biển và nếu tàu không trả lời hoặc trả lời không đúng thì có thể tiến hành thanh tra; trong trường hợp nghiêm trọng khi tàu đổ chất thải độc hại gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho quốc gia ven biển thì có quyền truy tố về hình sự và bắt giữ tàu
- Các quốc gia cũng được yêu cầu đảm bảo cho các tàu mang cờ nước họ, hoạt
động trong nước cũng như ngoài nước, đáp ứng đầy đủ các luật lệ và tiêu chuẩn quốc tế thích hợp Quốc gia mà tàu mang cờ được yêu cầu tiến hành điều tra mọi vi phạm luật lệ
về ô nhiễm biển mà con tàu đó thực hiện Tất cả tàu thuyền được yêu cầu phải có chứng
từ chứng minh điều kiện an toàn của tàu phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về thiết kế, đóng, trang bị và thuyền viên, tính hiệu quả của chúng trong ngăn ngừa, giảm bớt và kiểm soát ô nhiễm Các quốc gia cần tiến hành kiểm tra định kỳ tàu thuyền mang cờ nước mình để đảm bảo rằng chúng đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế Các quốc gia khi đặt các điều kiện đặc biệt cho tàu thuyền nước ngoài đi vào cảng hay nội thủy của mình hoặc công trình cảng cuối cùng ở ngoài khơi cần phải công bố đúng thủ tục về các điều kiện này và phải thông báo cho các tổ chức quốc tế có thẩm quyền
- Nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia được Công ước nhấn mạnh Các quốc gia có
mức độ phát triển kinh tế khác nhau có thể tùy vào tình hình, thi hành riêng rẽ hay phối hợp với nhau tất cả các biện pháp phù hợp với Công ước Tuy nhiên, vấn đề môi trường mang tính toàn cầu và cần có sự hợp tác của các quốc gia để thực hiện nghĩa vụ chung Điều 197 quy định:
“Các quốc gia hợp tác trên phạm vi thế giới và nếu có thể trên phạm vi khu vực, trực tiếp hay qua trung gian của các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, trong việc hình thành và soạn thảo cá quy tắc và các quy phạm, cũng như các tập quán và thủ tục được kiến nghị mang tính chất quốc tế phù hợp với các Công ước, để bảo vệ và giữ gìn môi trường biển, có tính đến các đặc điểm có tính chất khu vực”
Nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia được thể hiện ở những trường hợp cụ thể: + Thông báo về một nguy cơ gây thiệt hại sắp xảy ra hay thông báo về một thiệt hại thực sự;
Trang 34+ Kế hoạch khẩn cấp chống ô nhiễm: Các quốc gia ở khu vực bị ảnh hưởng, theo khả năng của mình và các tổ chức quốc tế có thẩm quyền hợp tác với nhau đến mức cao nhất nhằm loại trừ ảnh hưởng của ô nhiễm và nhằm ngăn ngừa và giảm đến mức tối thiểu những thiệt hại
+ Công tác nghiên cứu, các công trình nghiên cứu, trao đổi thông tin và dữ liệu: Trực tiếp và qua trung gian của các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, các quốc gia hợp tác với nhau nhằm đẩy mạnh công tác nghiên cứu, thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học và khuyến khích việc trao đổi các thông tin và dữ liệu về ô nhiễm môi trường biển
+ Tiêu chuẩn khoa học để soạn thảo các quy định: Trực tiếp và qua trung gian của các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, các quốc gia hợp tác với nhau nhằm lập ra các tiêu chuẩn khoa học thích hợp để xây dựng và soạn thảo các quy tắc và quy phạm, cũng như các tập quán và thủ tục được kiến nghị nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển
- Các quốc gia không được đùn đẩy giải quyết những thiệt hại của các nguy cơ gây ô nhiễm Điều 195 Công ước quy định: “không được đùn đẩy, trực tiếp hay gián tiếp, thiệt hại hay các mối nguy hiểm từ vùng này sang vùng khác và không được chuyển từ kiểu ô nhiễm này sang kiểu ô nhiễm khác” mà phải báo ngay cho quốc gia khác khi thấy
quốc gia đó có nguy cơ phải chịu những thiệt hại về môi trường
2.2 Công ƣớc Quốc tế về phòng chống các ô nhiễm từ tàu biển (Công ƣớc MARPOL 73/78)
Công ước MARPOL 73/78 là một trong những Công ước quan trọng nhất về ngăn ngừa ô nhiễm biển do dầu Công ước với 20 Điều nêu các nguyên tắc chung, nghĩa vụ, quyền hạn của các bên tham gia Công ước và 6 Phụ lục, ngoài ra Công ước còn kèm theo
2 Nghị định thư Nghị định thư I quy định thủ tục liên quan đến việc thải các chất độc hại xuống biển Nghị định thư II quy định thủ tục giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia
về việc giải thích và thực hiện Công ước Qua các năm, Công ước đều có sự sửa đổi bổ sung, đến nay đã có 24 lần sửa đổi Công ước kể từ lần sửa đổi đầu tiên vào năm 1984
2.2.1 Lịch sử hình thành công ước MARPOL 73/78
Nửa đầu thế kỷ 20 người ta nhận ra ô nhiễm dầu trên biển là một vấn đề đáng lưu
ý, rất nhiều nước đã đưa ra những quy định quốc gia để kiểm soát sự tràn dầu trong vùng nước lãnh thổ của mình Năm 1921 tại Anh, đại diện các chủ tàu, các ngành công nghiệp
Trang 35dầu mỏ và các cảng vụ đã tổ chức hội nghị đầu tiên về ô nhiễm do dầu gây ra Năm 1926, tại Oashingon đã tổ chức hội nghị đưa ra Công ước Quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm biển
do dầu Trong hội nghị này đã đưa ra yêu cầu về việc trang bị các thiết bị phân ly dầu - nước trong buồng máy trên tàu và quy định các vùng cấm xả dầu Song, Công ước không
có hiệu lực
Sau chiến tranh Thế giới II, nhiều tàu bị đắm cùng với sự tiêu thụ dầu tăng đã làm cho thế giới quan tâm Năm 1954, Vương quốc Anh đã tổ chức một hội nghị về ô nhiễm
dầu, hội nghị này đã thông qua được Công ước quốc tế mang tên Công ước quốc tế về
ngăn chặn ô nhiễm biển do dầu (OILPOL 1954) Công ước 1954 được sửa đổi vào các
năm 1962, 1969, 1971 Lúc đầu, công ước này trú trọng vào sự ô nhiễm liên quan đến các công ty kinh doanh tàu biển thông thường và sự chảy dầu từ các động cơ tàu - đây được coi là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm dầu Công ước năm 1954 có hiệu lực vào ngày 26 tháng 7 năm 1958, và đã cố gắng giải quyết vấn đề ô nhiễm biển do dầu bằng hai cách chính:
- Công ước quy định “các vùng bị cấm” chỉ ra trong phạm vi ít nhất 50 dặm kể từ
lục địa gần nhất, việc trút bỏ dầu hay các hợp chất trong đó có chứa 1% dầu là bị cấm
- Công ước yêu cầu các bên tham gia Công ước phải thực hiện tất cả các bước thích hợp để xúc tiến việc cung cấp các tiện nghi cho sự tiếp nhận nước và các chất cặn
bã có chứa dầu
Năm 1962, Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) chấp nhận những sửa đổi của Công ước Mặc dù Công ước 1954 đã đưa ra được một vài cách để giải quyết vấn đề ô nhiễm dầu nhưng sự phát triển của ngành thương mại dầu và sự lớn mạnh của đời sống công nghiệp đã cho thấy rõ ràng rằng cần thiết phải có những hành động xa hơn Đặc biệt, sau
vụ tàu chở dầu thô mang tên TOREY CANYON bị mắc cạn và gây ô nhiễm bờ biển Anh
- Pháp đã làm tăng sự xúc tiến đi đến Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm biển do dầu
Cuối cùng, một hội nghị quốc tế được tổ chức vào năm 1973 đã thông qua Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu thuyền Công ước năm 1973 có mối liên hệ chặt chẽ với Công ước năm 1954 và những sửa đổi của Công ước 1954 được đưa vào Phụ lục
I của Công ước 1973 Nhưng Công ước 1973 cũng được mong đợi chỉ ra được những dạng khác của ô nhiễm từ tàu thuyền và chính vì thế những Phụ lục khác còn đề cập đến các nguồn gây ô nhiễm khác từ tàu thuyền Công ước 1973 có 2 nghị định thư cùng với
Trang 36các báo cáo về những va chạm liên quan đến các chất có hại và việc giải quyết Công ước
1973 yêu cầu sự phê chuẩn của 15 quốc gia, có hạm đội thương mại chiếm trên 50% trọng tải tàu trên thế giới thì Công ước mới có hiệu lực
Để cố gắng khiến Công ước có hiệu lực, Nghị định thư MARPOL 1978 cho phép các quốc gia muốn trở thành thành viên của Công ước trước hết phải thực hiện Phụ lục I
và quyết định rằng Phụ lục II sẽ ràng buộc sau khi Nghị định thư này có hiệu lực được 3 năm Điều này giúp các quốc gia có thời gian để chuẩn bị các vấn đề kỹ thuật trong phụ lục II, điều là cản trở chủ yếu trong việc phê chuẩn Công ước Vì Công ước 1973 chưa có hiệu lực, Nghị định thư MARPOL 1978 đã kế thừa Công ước 1973 Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm biển từ tàu năm 1973 đã được sửa đổi bởi Nghị định thư 1978, vì thế, cuối cùng Công ước đã có hiệu lực vào ngày 02 tháng 10 năm 1983 đối với 2 Phụ lục I và
II
Cho đến nay Công ước được gọi là MARPOL 73/78 Công ước đề cập tất cả các nguồn gây ô nhiễm từ tàu (dầu, hóa chất chở xô, hóa chất độc hại chở trong các bao gói, nước thải và rác thải) được cụ thể hóa theo thứ tự tương ướng của các Phụ lục từ I đến
VI Cụ thể:
Phụ lục I Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm biển do dầu 02/10/1983 Phụ lục II Các quy định về kiểm soát ô nhiễm do chất lỏng độc
chở xô
06/04/1987
Phụ lục III Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do các chất độc hại
chuyên chở trên biển dưới dạng bao gói
2.2.2 Nội dung khái quát của Công ước MARPOL 73/78
Công ước bao gồm nội dung công ước, hai Nghị định thư bổ sung và 6 Phụ lục kèm theo Mục đích của Công ước là thông qua các biện pháp toàn diện nhằm ngăn chặn việc làm ô nhiễm biển bừa bãi do việc thải từ tàu tất cả các chất có hại đã biết trừ các chất
Trang 37phóng xạ Công ước đặt ra mục đích cuối cùng của mình là chấm dứt toàn bộ việc chủ tâm làm ô nhiễm biển nhưng trước mắt là kiểm soát, chế ngự và hạn chế tới mức thấp nhất việc thải các chất có hại xuống biển
Khi gia nhập Công ước, các quốc gia thành viên phải áp dụng những điều khoản của Phụ lục I và II cho tất cả các tàu mang cờ của họ và cho tất cả các tàu đi vào vùng nước của họ Các quốc gia thành viên có thể chọn lựa phê chuẩn các phụ lục khác và các phụ lục này sẽ trở thành bắt buộc khi các quốc gia tham gia chiếm ít nhất 50% tổng dung tích đội tàu buôn của thế giới Theo yêu cầu của Công ước, quốc gia thành viên phải thực hiện có hiệu quả các điều khoản của Công ước và những phụ lục mà quốc gia đó tham gia (Điều 1) cũng như phải áp dụng những yêu cầu của Công ước đối với những tàu mang cờ của những quốc gia không phải là thành viên của Công ước để đảm bảo rằng không có sự phân biệt đối xử nào giữa các tàu đó (Điều 5)
Quốc gia thành viên có quyền xử lý tàu mang cờ của mình nếu được quốc gia thành viên khác cung cấp thông tin và bằng chứng về việc vi phạm của tàu đó cũng như truy tố tàu đã vi phạm (trong khuôn khổ quyền tài phán của mình) hoặc thông báo, cung cấp thông tin và bằng chứng về sự vi phạm cho quốc gia mà tàu mang cờ Các quốc gia thành viên phải đề ra những quy định xử phạt tương ứng để ngăn chặn việc vi phạm
Các quốc gia có cảng (thành viên của Công ước) có quyền không cho tàu rời bến nếu kiểm tra thấy tàu không có giấy chứng nhận có giá trị, nghi ngờ về điều kiện hoặc thiết bị của tàu cho đến khi thấy rằng tàu không gây hại cho môi trường biển (Điều 5); Kiểm tra để xác định xem tàu đã có quy định về cấm thải hay chưa và xác định xem tàu
có vi phạm ở vùng nước khác hay không (Điều 6) Luật pháp và chính quyền hàng hải (Maritime Authority) phải đáp ứng được yêu cầu này Nhưng quốc gia mà tàu mang cờ, Quốc gia ven biển và Quốc gia có cảng nên tránh có những cản trở không cần thiết cho tàu để không gây chậm trễ quá mức cho tàu, vì thuyền trưởng hoặc chủ tàu có quyền đòi bồi thường đối với bất cứ thiệt hại hoặc hư hỏng đã phải chịu Đây cũng là một trong những nghĩa vụ của Chính quyền hàng hải Khi đã trở thành thành viên của Công ước, các quốc gia thành viên phải cung cấp cho IMO những tài liệu sau để phổ biến thông tin cho các thành viên khác:
- Những văn bản luật, chỉ thị, quy định, quy tắc và những văn bản khác đã ban hành liên quan đến việc thực hiện Công ước;
Trang 38- Danh sách những người kiểm tra hoặc tổ chức được công nhận được đề cử hành động thay mặt quốc gia thành viên trong việc quản lý những vấn đề liên quan đến thiết
kế, cấu trúc, thiết bị và hoạt động của tàu vận chuyển vật liệu gây hại phù hợp với các điều khoản của các quy tắc Do đó, cơ quan quản lý biển phải thông báo cho IMO về trách nhiệm và điều kiện của tổ chức hay người kiểm tra được ủy quyền;
- Các mẫu giấy chứng nhận được cấp các điều khoản của các quy tắc;
- Danh mục các phương tiện tiếp nhận bao gồm cả vị trí, dung lượng những phương tiện tiếp nhận đã có và những đặc điểm khác nữa Bốn trong sáu phụ lục của Công ước yêu cầu rằng với những chất thải không được phép thải xuống biển thì tàu phải giữ lại và chỉ được phép xả vào phương tiện tiếp nhận trên cảng Công ước đưa ra quy định về khu vực có thể thải ứng với những khoảng cách nhất định tính từ bờ biển Những khoảng cách hoặc khu vực ứng với những chất thải khác nhau thì hoàn toàn khác nhau và đối với mỗi loại chất thải có khoảng cách hoặc khu vực thải khác nhau
- Những báo cáo chính thức hoặc tóm tắt những báo cáo chính thức về kết quả áp dụng Công ước;
- Báo cáo thống kê, báo cáo về việc thực hiện điều tra tai nạn xảy ra đối với tàu hoặc xảy ra trong những vùng nước của mình gây ảnh hưởng độc hại cho môi trường biển
Quốc gia thành viên phải cung cấp cho IMO kết quả điều tra nếu những thông tin này có thể giúp cho việc xác định những thay đổi cần thiết cho Công ước Vì vậy, cơ quan quản lý biển phải thực hiện điều tra tai nạn và cung cấp những báo cáo thích hợp cho IMO Theo báo cáo hàng năm của IMO về những quốc gia đã báo cáo các vụ tai nạn gây ảnh hưởng lớn đến môi trường thì đến nay mới chỉ có một số ít nước thực hiện được nghĩa vụ này Trong thời gian tới, IMO sẽ đưa ra biện pháp bắt buộc thực hiện đối với quốc gia thành viên [2]
Công ước MARPOL 73/78 có sáu phụ lục tương ứng các nguồn gây ô nhiễm từ tàu Trong khuôn khổ bài Luân văn, chỉ giới thiệu nội dung Phụ lục I Công ước MARPOL
2.2.3 Phụ lục I - Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm biển do dầu
Phụ lục I của Công ước MARPOL 73/78 hiện đã có 130 quốc gia tham gia[53] Phụ lục được chia làm 3 phần:
Trang 39(i) Những quy định chung Bao gồm 8 điều nêu các định nghĩa và thuật ngữ chung, phạm vi áp dụng, cách thức kiểm tra và cấp giấy chứng nhận cho tàu;
(ii) Các yêu cầu về kiểm tra ô nhiễm trong khai thác tàu;
(iii) Những yêu cầu dự phòng nhằm hạn chế dầu tràn khi tàu hỏng máy hoặc thủng
Phụ lục này đã đưa ra những tiêu chuẩn mới và nghiêm ngặt hơn đối với hoạt động
xả dầu xuống biển của tàu dầu mới và hiện có Phụ lục I của Công ước yêu cầu một số tàu dầu lớn hơn phải được bố trí két ballast phân ly và hệ thống rửa dầu thô và tất cả phải
có thiết bị phát hiện hỗn hợp dầu/nước và thiết bị kiểm soát việc thải ra ngoài Yêu cầu tàu dầu có trọng tải từ 3000 DWT trở lên phải có hai lớp vỏ cũng như cải tiến cấu trúc bên trong các két chứa hàng của những tàu này làm cho việc rửa và dỡ hàng được dễ dàng hơn Có lẽ nhiều tàu dầu nhỏ hơn cũng sẽ sử dụng két ballast phân ly nên lượng cặn hàng trên tàu sau khi kết thúc dỡ hàng và lượng nước rửa két lẫn dầu được xả xuống biển
sẽ giảm đi
Một quy tắc nữa để hạn chế việc xả dầu từ tàu là khu vực cảng của các quốc gia phải đáp ứng nghĩa vụ theo yêu cầu của Công ước MARPOL 73/78 là thiết lập phương tiện tiếp nhận tương xứng cho cặn dầu và các chất thải khác Thực tế cho thấy ở nhiều quốc gia cảng trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển chưa đáp ứng được phương tiện tiếp nhận tương xứng ở các cảng và bến đỗ cho nước nhiễm dầu và cặn từ tàu dầu, và nếu có thì phí sử dụng những phương tiện còn cao
Hoạt động xả dầu được kiểm tra chặt chẽ qua những quy định thông thường ở trên tàu, đặc biệt liên quan đến việc di chuyển hàng và rửa két, nước biển được sử dụng để làm sạch két hoặc nước ballast chứa trong các két chứa hàng chính là nguồn chính gây ô nhiễm từ tàu dầu Để tránh gây ô nhiễm ở cảng xếp hàng, một số két trên tàu phải được làm sạch trong khi tàu hành trình và được bơm đầy nước biển Nước ballast bẩn được bơm vào két lắng, tạo thành hỗn hợp có hai lớp, lớp trên là dầu và lớp dưới là nước biển; nước biển sẽ được bơm ra ngoài biển và còn lại trong két là cặn dầu nặng Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng thiết bị kiểm soát việc thải thì không được chính xác và mức xả thường trên mức độ giới hạn cho phép Khi thay đổi hàng, kiểm tra, sửa chữa và chuẩn bị lên đường thì các két của tàu cũng phải được làm sạch Việc rửa két cũng là phương pháp chính để ngăn không cho cặn của dầu thô đọng lại trong két Hiện nay, việc rửa két được thực hiện bằng hệ thống rửa dầu thô, có hiệu quả hơn hẳn so với rửa bằng nước Tuy
Trang 40nhiên, việc rửa bằng nước cũng cần thiết nếu két được dùng để chứa nước ballast sạch hoặc chứa loại hàng khác
Quy trình hoạt động liên quan đến việc làm hàng cũng có thể gây ra việc tràn dầu
Ví dụ, khi két bị tràn do thuyền viên dự tính sai tỷ lệ bơm do thay đổi bơm từ két ít sang két nhiều hơn hoặc từ két ở xa đến két ở gần hơn, hoặc do việc đóng các két khi đầy hoặc chuyển xếp hàng từ két lớn sang két nhỏ hơn Đặc biệt trong trường hợp bơm dầu nặng, nếu các đoạn ống trên bờ không được làm nóng một cách tương xứng hoặc đầu vòi nguội thì tỷ lệ bơm ban đầu rất thấp tới khi dầu nguội thoát ra khỏi đường ống thì ngay sau đó
tỷ lệ bơm lại tăng lên đột ngột Một nguyên nhân khác nữa thường gây ra tràn dầu là do két quá đầy, dầu chảy ngược trở lại qua các van đang mở Việc chảy dầu từ những đầu nối cũng là một nguyên nhân thường gây ô nhiễm do các mặt bích không được bắt chặt khít với nhau bằng các bu lông
Trong khoảng thời gian từ 1983 đến 1993, số lượng dầu và sản phẩm dầu vận chuyển bằng đường biển đã giảm đi một lượng đáng kể (trong đó có nguyên nhân là thay đổi về chính trị và kinh tế - GESAMP 1993): giảm 25% lượng dầu vận chuyển bằng đường biển so với khoảng thời gian 1976 đến 1986 [61, Tr.77-83] Ngoài ra ngày càng có hướng vận chuyển những sản phẩm đã được chế biến mà phần lớn đều là những loại dầu khó tan, chúng hoàn toàn ngược lại với dầu thô Việc giảm số lượng dầu vận chuyển bằng đường biển chắc chắn sẽ làm giảm hoạt động xả dầu vào môi trường biển và hạn chế số
vụ tai nạn xảy ra
Theo đánh giá của Học viện Khoa học quốc gia của Mỹ thì trong khoảng thời gian
từ 1980 đến 1989 đã có khoảng 540.000 tấn dầu đã được xả xuống biển [61, Tr.77-83] Việc giảm dầu xả xuống biển có phần đóng góp đáng kể của Công ước MARPOL 73/78
từ khi Công ước có hiệu lực
Công ước MARPOL 73/78 đã duy trì tiêu chuẩn về trút bỏ dầu được thể hiện trong bản sửa đổi năm 1969 đối với Công ước ô nhiễm dầu 1954, mặc dù đã có những thay đổi đáng kể, việc xả dầu từ các tàu biển lớn được cho phép chỉ khi đáp ứng được tất cả các điều kiện:
- Tiêu chuẩn tuyệt đối của dầu mà một tàu biển có thể xả ra trong bất kỳ một chuyến đi không có chở hàng nào không được vượt quá 1/15.000 khả năng vận chuyển hàng hóa của tàu
- Mức độ xả dầu không được vượt quá mức 601/1 dặm