Căn cứ vào Quyết định của Hội đồng Quản trị Tổng Công ty Điện lực ViệtNam số 136/QĐ-EVN-HĐQT, ban hành cùng Quy chế về việc tính toán giá bánđiện nội bộ giữa EVN và các Công ty Điện lực
Trang 1PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TẾ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHI PHÍ MUA ĐIỆN ĐẦU NGUỒN ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC I.
2.1 NỘI DUNG, BẢN CHẤT CỦA CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ CHI PHÍ MUA ĐIỆN ĐẦU NGUỒN
2.1.1 Khái niệm về chi phí và chi phí sản xuất kinh doanh.
Có rất nhiều quan điểm bàn về chi phí và chi phí sản xuất kinh doanh.Chung nhất, mọi sự tiêu phí bằng tiền cho bất kỳ hoạt động nào được gọi là chiphí Trong hoạt động kinh doanh có thể hiểu: " Mọi sự tiêu phí tính bằng tiền củamột doanh nghiệp là chi phí" Với khái niệm này chi phí là một phạm trù rất rộng,thể hiện mọi hành động tiêu phí tiền bạc của doanh nghiệp Quan niệm như thế,phạm trù chi phí là phạm trù bao trùm, khái quát nhất của khoa học quản trị kinhdoanh Vì chi phí mới chỉ là một phạm trù chung, khái quát nên khi hoạt động chitiêu còn đơn giản việc sử dụng phạm trù này không gây rắc rối song khi kinhdoanh đã ở quy mô lớn, chu kỳ kinh doanh kéo dài… thì việc sử dụng chỉ riêngphạm trù chi phí sẽ trở thành bất tiện Chính vì thế, cùng với sự phát triển của khoahọc quản trị kinh doanh phạm trù chi phí đã được phát triển thành ba phạm trù cụthể hơn là chi tiêu, chi phí tài chính và chi phí sản xuất kinh doanh
Trong phạm vi của chuyên đề này, em chỉ đề cập tới chi phí sản xuất kinhdoanh Khi bàn về chi phí sản xuất kinh doanh, Mellerowics cho rằng:" Chi phíkinh doanh là sự hao phí vật phẩm gắn với kết quả" Hummel định nghĩa: chi phíkinh doanh là sự hao phí vật phẩm hoặc dịch vụ liên quan đến việc tạo ra kết quả
và đánh giá được Woehe định nghĩa đầy đủ hơn: chi phí kinh doanh là sự hao phíxét trên phương diện giá trị các vật phẩm và dịch vụ để sản xuất và tiêu thụ sản
Trang 2phẩm cũng như để duy trì năng lực sản xuất cần thiết cho việc sản xuất và tiêu thụsản phẩm đó.
Vậy có thể hiểu chi phí kinh doanh là phạm trù chi phí phản ánh hao phí vậtphẩm và dịch vụ gắn với kết quả từng thời kỳ, được tính toán theo nguyên tắc bảotoàn tài sản về mặt hiện vật và được sử dụng ở quản trị chi phí kinh doanh
2.1.2 Bản chất của chi phí kinh doanh.
Để hiểu rỏ bản chất của tính chi phí kinh doanh chúng ta hãy dựa trên cơ sởphân biệt thật rõ ràng hai phạm trù quản trị chi phí kinh danh và kế toán tài chính.Mặc dù cùng có chức năng tổ chức hệ thống thông tin kinh tế bên trong song kếtoán tài chính tạo lập hệ thống hoạt động để kiểm tra, kiểm soát quá trình kinhdoanh của doanh nghiệp (tình hình tài chính doanh nghiệp) thì quản trị chi phí kinhdoanh lại tạo lập hệ thống thông tin chỉ cung cấp cho bộ máy quản trị doanhnghiệp, các thông tin này làm cơ sở cho các quyết định kinh doanh của daonhnghiệp
Do thông tin để kiểm tra, kiểm soát tình hình tài chính không giống vớithông tin để ra các quyết định kinh doanh nên hai hệ thống thông tin này mang bảnchất hoàn toàn khác nhau Trước hết đó là sự khác nhau về nguyên tắc bảo toàn tàisản của doanh nghiệp Trong khi kế toán tài chính có mục tiêu tính toán các chi phítài chính theo nguyên tắc bảo toàn tài sản của doanh nghiệp về mặt giá trị thìngược lại, quản trị chi phí kinh doanh lại tính toán chi phí kinh doanh trên cơ sởtuân thủ nguyên tắc bảo toàn tài sản của doanh nghiệp về mặt hiện vật
Việc tổ chức hai hệ thống kế toán với nguyên tắc bảo toàn tài sản khác nhau
là đòi hỏi khách quan để vừa kiểm tra, kiểm soát hoạt động tài chính, lại vừa bảotoàn được các tài của mình sau các quá trình kinh doanh với các biến động giá cả
ở các mức độ khác nhau
Do vậy yêu cầu kiểm soát, đảm bảo đưa về cùng một mặt bằng để so sánh,đánh giá hoạt động kinh doanh của cá daonh nghiệp khác nhau nên kế toán tài
Trang 3Chi phí mua điện đầu nguồn từ lưới của EVN Chi phí dịch vụ mua ngoài khác
Chi phí mua điện đầu nguồn của Công ty Điện lực I
Chi phí mua điện ngoài
chính buộc phải mang tính chất thống nhất, bắt buộc, định kì và công khai Trongkhi đó, do yêu cầu cung cấp thông tin chính xác làm cơ sở cho cá quyết định quảntrị nên quản trị chi phí kinh doanh phải cung cấp thông tin mang tính tự chủ, hoàntoàn phù hợp với thực tế kinh doanh và sử dụng các nguồn lực, tự lựa chọn phươngpháp tính toán, cung cấp liên tục và dặc biệt phải đảm bảo nguyên tắc bí mật Chỉ
có bộ máy quản trị doanh nghiệp được tiếp cận với thông tin về chi phí kinh doanhtrong khi các thông tin về chi phí tài chính laị mang tính công khai, cung cấp chonhiều đối tượng khác nhau
Ngoài ra bản chất của quản trị chi phí kinh doanh còn được thể hiện thôngqua các nhiệm vụ của nó
2.1.3 Bản chất của chi phí mua điện đầu nguồn của Công ty Điện lực I.
Sơ đồ 3:Mối quan hệ các yếu tố trong chi phí mua điện đầu nguồn
Theo sơ đồ trên ta nhận thấy rằng chi phí mua điện đầu nguồn của Công tyĐiện lực I hàng năm được xác định từ ba loại chi phí chính Đó là chi phí mua điệnđầu nguồn từ lưới của Tổng Công ty, chi phí mua điện ngoài lưới điện của Tổng
Trang 4Công ty mà chủ yếu là từ các nhà máy điện khác và chi phí dịch vụ mua ngoàikhác.
Trên thực tế thì chủ yếu chi phí mua điện đầu nguồn hàng năm của Công tyĐiện lực I chủ yếu là chi phí mua điện từ lưới điện của Tổng Công ty Điện lực ViệtNam, tuy nhiên chi phí mua điện ngoài lưới cũng như chi phí dịch vụ khác cũngchiếm một tỷ trọng trong khoản mục chi phí mua điện đầu nguồn của Công ty
Bảng 11 : Tổng hợp chi phí mua điện đầu nguồn của Công ty Điện lực I
4.431.310.059.3414.932.665.76036.426.707.881
(Nguồn: Phòng Tài chính kế toán)
Xét về mặt nội dung, thì chi phí mua điện đầu nguồn chính là một trong cácchi phí phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty, nó là sự hao phíđược tính bằng tiền
2.2 CÔNG THỨC XÁC ĐỊNH CHI PHÍ MUA ĐIỆN ĐẦU NGUỒN GIỮA EVN VÀ CÔNG TY ĐIỆN LỰC I.
Căn cứ vào Quyết định của Hội đồng Quản trị Tổng Công ty Điện lực ViệtNam số 136/QĐ-EVN-HĐQT, ban hành cùng Quy chế về việc tính toán giá bánđiện nội bộ giữa EVN và các Công ty Điện lực thành viên, theo đó Công ty Điệnlực I, cũng như các Công ty Điện lực thành viên có thể xác định được chi phí muađiện đầu nguồn kế hoạch cho từng năm
Theo đó nguyên tắc giá bán điện nội bộ được tính toán theo hình thức giágiờ cao điểm, giờ thấp điểm và giờ bình thường trên nguyên tắc phân phối lợinhuận sản xuất kinh doanh điện của toàn Tổng Công ty giữa các đơn vị hạch toánphụ thuộc và các Công ty Điện lực hạch toán độc lập nhằm đảm bảo cho các đơn vị
có lợi nhuận để trích vào quỹ khen thưởng- phúc lợi với mức bình quân đầu người
Trang 5theo kế hoạch như nhau Kế hoạch lợi nhuận định mức và phân phối các quỹ củatoàn Tổng Công ty cũng như từng Công ty Điện lực được xác định dựa trên cơ sởcác quy định hiện hành của Bộ Tài chính về thuế và quy chế phân phối các quỹ.
2.2.1 Cơ sở số liệu tính toán giá bán điện nội bộ.
Theo quy định chung, EVN bán điện cho các Công ty Điện lực tại ranh giớiquản lý giữa các Công ty truyền tải, các nhà máy và các nguồn điện mua ngoàingành điện theo chỉ đạo của EVN
Căn cứ kế hoạch sản xuất kinh doanh, khả năng cân đối tài chính của EVN
và các Công ty Điện lực, giá bán điện được quy định mỗi năm một lần vó thể đượcxem xét điều chỉnh khi Nhà nước điều chỉnh giá bán điện hoặc có những biến độnglớn ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của toàn Tổng Công ty cũng nhưcủa từng Công ty Điện lực Theo đó giá bán điện nội bộ giữa EVN và các Công tyĐiện lực thành viên được tính toán dực trên cơ sở các số liệu sau:
* Kế hoạch sản xuất hàng năm của Tổng Công ty
* Kế hoạch suất tiêu hao nhiên liệu, tỷ lệ điện dùng để sản xuất điện củatừng nhà máy điện và các Công ty Điện lực thành viên
* Kế hoạch tổn thất truyền tải và phân phối điện của các Công ty truyền tải
và các Công ty Điện lực
* Biểu đồ phụ tải điển hình ngày theo kế hoạch từng tháng ( Pmax, Pmin)
* Kế hoạch lắp đặt công tơ 3 giá, dự báo giảm Pmax cũng như các ảnh hưởngtới giá bán bình quân của các Công ty Điện lực
* Kế hoạch điện thương phẩm ( Theo giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bìnhthường)
* Kế hoạch giá bán điện bình quân của các Công ty Điện lực
* Kế hoạch điện mua nội bộ của các Công ty Điện lực ( Theo giờ cao điểm,thấp điểm và giờ bình thường)
Trang 6* Kế hoạch quỹ lương giao cho các đơn vị nằm trong dây chuyền sản xuấtkinh doanh điện trong toàn Tổng Công ty ( NM Điện, Công ty Truyền tải điện,Công ty Điện lực, TT Điều độ Hệ thống điện Quốc gia, TT Công nghệ thông tin,
Cơ quan Tổng Công ty)
* Kế hoạch sữa chữa lớn tài sản cố định của từng đơn vị trong dây chuyềnsản xuất kinh doanh điện
* Kế hoạch giá thành sản xuất điện của từng nhà máy điện, giá thành truyềntải của từng Công ty truyền tải và giá thành sản xuất, phân phối của từng Công tyĐiện lực
2.2.2 Công thức tính chi phí mua điện đầu nguồn.
Theo điều 11, chương III của Quy chế về việc tính toán giá bán điện nội bộgiữa EVN và các Công ty Điện lực trực thuộc do EVN ban hành kèm theo quyếtđịnh số 136/QĐ-EVN-HĐQT ngày 27/05/2002 của Hội đồng quản trị có xác địnhphương pháp tính toán chi phí mua điện nội bộ ( chi phí mua điện đầu nguồn) bằngtổng giá trị sản lượng nội bộ theo giờ nhân với giá mua điện nội bộ theo giờ
Công thức chi phí mua điện đầu nguồn kế hoạch của Công ty Điện lực Iđược xác định như sau:
Cmd(kh) = Atp x Ttp - LNdm - Cpp
Trong đó :
* Cmd(kh) : Chi phí mua điện đầu nguồn kế hoạch của Công ty Điện lực I
* Atp : Sản lượng điện thương phẩm kế hoạch của Công ty Điện lực I
* Ttp : Giá bán điện thương phẩm kế hoạch của Công ty Điện lực I( Không baogồm thuế VAT)
* LNdm : Lợi nhuận định mức kế hoạch của Công ty Điện lực I
Trang 7* Cpp : Kế hoạch chi phí sản xuất và phân phối điện của Công ty Điện lực I.
Nhận xét: Công thức xác định chi mua điện đầu nguồn tại Công ty Điện lực
I cũng như các Công ty Điện lực thành viên trực thuộc EVN được xác định dựavào kế hoạch trong kỳ tiếp theo trên cơ sở kế hoạch đã thực hiện ở kỳ trước Vìvậy sự biến động chi phí kỳ này so với kỳ trước và kỳ trước là không lớn và có thểxác định được trước khoản mục chi phí mua điện đầu vào tai Công ty Điện lực I.Khác với các khoản mục chi phí sản xuất kinh doanh thông thường được xác địnhbằng sự tiêu hao cho các hoạt động sản xuất kinh doanh để từ đó có thể xác địnhđược giá thành và giá bán sản phẩm
Một điểm khác của các Công ty Điện lực thành viên so với các ngành sảnxuất công nghiệp khác là có thể đưa ra mức lợi nhuận định mức kế hoạch để xácđịnh chi phí mua điện đầu nguồn, điều này hoàn toàn ngược lại trong việc tính toándoanh thu, và lợi nhuận thông thường
Theo phương pháp tính toán chi phí mua điện nội bộ ta có thể xác định côngthức tính chi phí mua điện đầu nguồn thực hiện cho Công ty Điện lực I như sau:
Cmd(th) = Ath x Tth
Trong đó:
* Cmd(th) : Chi phí mua điện mua điện nội bộ thực hiện
* Ath : Sản lượng điện mua nội bộ thực hiện
*Tth : Giá bán điện nội bộ theo giờ của EVN
Cũng theo quy chế đã ban hành thì giá bán điện nội bộ bao gồm giá bán điệntrong giờ bình thường, giờ cao điểm và giờ thấp điểm
Trang 8Giá bán điện giờ bình thường: là giá bán áp dụng trong giai đoạn từ 4h00
đến 18h00 hàng ngày Giá bán điện giờ bình thường được xác định theo công thức:
Tbt =
Cmd( kh)
Acd x h + Atd x i + Abt
Giá bán điện giờ cao điểm: là giá bán áp dụng trong giai đoạn từ 18h00 đến
22h00 hàng ngày Giá bán điện giờ cao điểm được xác định theo công thức:
Tcd = Tbt x h
Giá bán điện giờ thấp điểm: là giá bán áp dụng trong giai đoạn từ 22h00
đến 4h00 hàng ngày Giá bán điện giờ thấp điểm được xác định theo công thức:
Ttd = Tbt x i
Trong đó:
* Tcd , Ttd , Tbt : Giá bán điện giờ cao điểm, giờ thấp điểm và giờ bình thường
* Cmd(kh) : Chi phí mua điện đầu nguồn kế hoạch
* Acd , Atd , Abt : Kế hoạch sản lượng điện mua nội bộ giờ cao điểm, giờ thấp điểm
và giờ bình thường
* h = 1,55 : Hệ số chênh lệch giá giờ cao điểm và giờ bình thường
* i = 0,65 : Hệ số chênh lệch giá giờ thấp điểm và giờ bình thường
2.3 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHI PHÍ MUA ĐIỆN ĐẦU NGUỒN.
2.3.1 Giá bán điện nội bộ của Tổng Công ty Điện lực.
Bảng 12 : Giá bán điện nội bộ EVN cho Công ty Điện lực I
Trang 9Giờ thấp điểm 238,9 252,0
(Nguồn: Phòng kinh doanh)
Giá bán điện nội bộ của EVN cho các thành viên là nhân tố tác động trựctiếp đến mức độ hiệu quả sử dụng chi phí mua điện của Công ty Điện lực I Theocông thức xác định chi phí mua điện đầu nguồn kế hoạch theo quyết định số136/QĐ-EVN-HĐQT ngày 27/05/2002 của Hội đồng quản trị
Cmd(th) = Ath x Tth
Theo công thức này ta nhận thấy Tth là giá bán điện nội bộ theo từng giờ củaEVN cho Công ty Điện lực I có tác động trực tiếp đến chi phí mua điện đầu nguồn.Trước năm 2003 trở về trước khi EVN chưa tiến hành bán điện theo ba giá mà chỉbán điện theo một giá cố định thì khi đó giảm chi phí mua điện và nâng cao hiệuquả sử dụng chi phí mua điện đầu nguồn đòi hỏi Công ty ty phải tăng thươngphẩm, giảm điện nhận đầu nguồn từ EVN điều này là rất khó thực hiện Khi giábán điện cố định theo một giá thì sự biến động của chi phí mua điện thực hiệntrong năm không còn phụ thuộc chặt chẽ vào kế hoạch giá bán điện nội bộ củaEVN
Sau năm 2003 trở về đây, EVN ban hành quy chế bán giá điện nội bộ theo
ba giờ: cao điểm, thấp điểm và bình thường Thì chi phí mua điện đầu nguồn phụthuộc chặt chẽ vào giá bán điện nội bộ của EVN ở hai mức độ Thứ nhât, toàn bộchi phí mua điện đầu nguồn phụ thuộc vào giá bán điện kế hoạch từng giờ củaEVN theo công thức xác định chi phí mua điện Mối quan hệ này tỷ lệ thuận vớinhau, có nghĩa là nếu giá bán điện nội bộ của EVN càng cao thì chi phí mua điệnthực hiện của Công ty Điện lực I càng cao, và ngược lại Thứ hai, từ khi có quy chếbán điện ba giá như trên đòi hỏi Công ty phải điều chỉnh hợp lý kế hoạch sử dụngđiện hợp lý theo từng giờ, có nghĩa rằng Công ty hạn chế mua điện vào giờ caođiểm, tăng cường mua điện vào giờ thấp điểm Việc này đông nghĩa với việc cảithiện đồ thị phụ tải của Công ty Nếu xét ở mức độ phụ thuộc thứ nhất, thì chi phí
Trang 10mua điện của Công ty Điện lực I bị tác động từ bên ngoài của giá bán điện nội bộtheo kế hoạch của EVN, còn xét mức độ phú thuộc hai thì chi phí mua điện đầunguồn bị tác động của giá bán điện theo giờ theo kế hoạch mà EVN giao, điều này
có nghĩa tác động này là tác động từ bên trong kế hoạch thực hiện và điều chỉnhcủa Công ty Điện lực I
Nói tóm lại, nhân tố giá bán điện nội bộ của EVN có tác động trực tiếp đếnchi phí mua điện đầu nguồn của Công ty Điện lực I, mối quan hệ này có tác độngchặt chẽ và tỷ lệ thuận Một sự điều chỉnh giá bán điện nội bộ của EVN sẽ có tácđộng rất lớn đến kế hoạch chi phí mua điện đầu nguồn của Công ty Điện lực I
2.3.2 Tình hình thực hiện và quản lý tổn thất điện năng.
Điện thương phẩm là điện có khả năng tạo doanh thu cho Công ty, việc tăngđiện thương phẩm có nghĩa là tăng doanh thu, lợi nhuận cho Công ty Sỡ dĩ tổnthất điện năng có ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng chi phí mua điện đầu nguồn, bởi
vì với một chi phí mua điện đầu nguồn của Công ty theo kế hoạch sẽ bỏ ra thìCông ty sẽ nhận được lượng điện nhận đầu nguồn Phần điện tổn thất do kỹ thuậthay tổn thất do thương mại sẽ làm giảm điện năng thương phẩm, lượng điện nhậnsau khi đến người tiêu dùng sẽ bị tổn thất một phần do nhiều lý do, phần bị hao hụt
đó gọi là tổn thất điện năng Như vậy quản lý chỉ tiêu tổn thất điện năng là rất quantrọng nó ảnh hưởng đầu tiên đến chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận và sau đó là ảnhhưởng đến chỉ tiêu hiệu quả sử dụng chi phí mua điện đầu nguồn
Bảng 13 ; Tổng hợp điện nhận, tổn thất, điện thương phẩm các năm Đơn vị: 10 6 kWh
Điện nhận
đầu nguồn
Tổn thất điện năng
Điện thương phẩm
Điện nhận đầu nguồn
Tổn thất điện năng
Điện thương phẩm
9.824,27 772,20 9.052,07 10.938,22 852,09 10.086,13
(Nguồn: Phòng Kinh doanh)
Trang 11Để có thể đánh giá chỉ tiêu hiệu quả sử dụng chi phí mua điện đầu nguồn ta
có thể sử dụng chỉ tiêu so sánh tỷ lệ tổn thất bên cạnh chỉ tiêu doanh thu trên chiphí mua điện đầu nguồn
Tỷ lệ tổn thất=
TænthÊt ®iÖnn¨ ng D§iÖnnhËn®Çunguån x 100%
Chỉ tiêu tỷ lệ tổn thất phản ánh tỷ lệ phần trăm điện bị tổn thất từ quá trìnhnhận điện từ đầu nguồn đến phát điện đến người tiêu dùng Chỉ tiêu này càng caochứng tỏ việc quản lý điện bị thất thoát là kém, làm giảm doanh thu, và giảm hiệuquả sử dụng chi phí mua điện đầu nguồn Tuy nhiên xét một góc cạnh nào đó thìchỉ tiêu không phản ánh đầy đủ mức độ và hiệu quả của một đồng chi phí bỏ ra, chỉtiêu này chỉ nói lên về mặt kỹ thuật, nói lên mức độ kiểm soát thất thoát của Côngty
Dựa vào số liệu bảng trên ta nhận thấy mức độ tổn thất điện năng của năm
2004 là 852,09tr.kWh cao hơn mức độ tổn thất của năm 2003 là 772,20 trkWh, tuynhiên con số này không nói lên ý nghĩa gì và ta không thể đánh giá được tình hìnhkiểm soát tổn thất của Công ty nếu không sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ tổn thất phần trăm.Dựa vào công thức, ta tính được tỷ lệ tổn thất năm 2003 là 7,86% và tỷ lệ tổn thấtnăm 2004 là 7,78% So sánh kết quả ta nhận thấy rằng tỷ lệ tổn thất năm 2004 nhỏhơn so với năm trước 2003 Như vậy chứng tỏ công tác kiểm soát tỷ lệ tổn thấtnăm 2004 tốt hơn năm 2003, điều này đã hạn chế được lượng điện thất thoát củaCông ty.Và chính điều này đã tác động tích cực đến mức độ hiệu quả sử dụng chiphí mua điện đầu nguồn
2.3.3 Kế hoạch thực hiện của Công ty.
Chi phí mua điện đầu nguồn của Công ty Điện I phụ thuộc rất lớn đến vào
kế hoạch thực hiện của Công ty, kế hoạch ở đây chính là kế hoạch mua điện củaCông ty và kế hoạch phân phối điện của Công ty Điện lực I cho các Điện lực thànhviên Kế hoạch mua điện chính là kế hoạch điện nhận từ nguồn của Công ty
Trang 12Ta có thể hình dung nhân tố này chính là sản lượng mà Công ty Điện lực dựkiến sẽ mua từ nguồn của EVN Như vậy, nếu sản lượng điện mà Công ty Điện lực
I dự kiến sẽ mua càng cao thì chi phí mua điện càng cao và ngược lại theo mốiquan hệ tỷ lệ thuận Ta có thể nhận thấy tác động của nhân tố này đến chi phí muađiện đầu nguồn là từ phía Công ty, hay nói cách khác là tác động này là do Công tyĐiện lực I
Kế hoạch thực hiện mua điện của Công ty Điện lực I phải được xây dựngmột cách hợp lý dựa vào đồ thị phụ tải của các năm trước Để có thể hạn chế chiphí mua điện lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí mua điện Công tyĐiện lực I phải xây dựng được một kế hoạch hay một đồ thị phụ tải hợp lý và khoahọc
2.3.4 Biến động thị trường nguyên liệu sản xuất năng lượng điện.
Đây là một nhân tố mang tính vĩ mô, nó có tác động rất lớn đến toàn
bộ nền kinh tế, đặc biệt là tác động rõ rệt đến một ngành năng lương như ngànhđiện Sự biến động thị trường nguyên liệu sản xuất năng lượng có thể kể đến là sựthay đổi thị trường của dầu, than đá… Trong những năm gần đây sự tăng giá kỷlục của giá dầu trên thế giới trong mấy thập kỷ tác động không nhỏ đến các nước,trong đó có Việt Nam Sự biến động này tác động trực tiếp đến ngành điện nướcnhà
Trong xu thế hội nhập toàn cầu ngày nay thị một sự biến động của thị trườngnăng lượng trên thế giới sẽ ảnh hưởng đến các nước, đặc biệt là các nước đang pháttriển Có thể phân tích sự tác động này như sau: Ngành điện muốn sản xuất, tạo ranăng lượng thì cần đến nhiên liệu như than đá, dầu, Diezen… Một sự tác động làmbiến đổi thị trường này, chẳng hạn là sự tăng giá dầu của các nước có trữ lượngdầu lớn trên thế giới như: Iran, Arập Xêút…bằng cách cắt giảm trữ lượng dầu xuấtkhẩu sẽ làm giá dầu trên thế giới đồng loạt tăng theo Như vậy, tất yếu giá nhiêu
Trang 13liệu nhập khẩu của ngành điện Việt Nam sẽ tăng theo Chính điều này làm cho giáthành điện năng của EVN tăng và giá bán điện nội bộ cho các Điện lực thành viênnhư Công ty Điện lực I tăng Và cuối cùng chi phí mua điện đầu nguồn từ EVN sẽtăng.
Đây là một nhân tố khó kiểm soát, nếu không nói là không thể Nhân tố này
có màu sắc chính trị trên thế giới Một sự biến động nhỏ của thị trường này sẽ tácđộng rất lớn đến ngành điện Việt Nam, tuy nhiên nhân tố này cũng có thể dự báotrước, việc dự báo chính xác có thể giúp Công ty Điện lực I và EVN có nhữngphương án sản xuất hợp lý để có thể duy trì và nâng cao hiệu quả sản xuất
2.3.5 Các nhân tố khác.
Các nhân tố khác có thể kể đến đó là các chính sách của Nhà nước và EVN,
các nhân tố này mang tầm vĩ mô và có ảnh hưởng đến chi phí mua điện đầu nguồnthông qua các chính sách Ví dụ như năm 2003 Tổng Công ty Điện lực Việt Namban hành quy chế bán giá điện theo ba giá, điều này đã ảnh hưởng đến chi phí muađiện của Công ty thông qua giá bán điện nội bộ
Ngoài chính sách trên có thể kể đến các chính sách về giá, thuế, … củachính phủ Trong thời gian gần đây dưới cho cho phép của Nhà nước, chính phủ thì
sự gia nhập của các công ty kinh doanh trong ngành điện cũng ảnh hưởng đến tìnhhình kinh doanh của Công ty ty
Việc ban hành Luật Điện lực cũng đã tạo ra hành lang pháp lý cho ngànhĐiện lực
2.4 NHỮNG GIẢI PHÁP CÔNG TY ĐIỆN LỰC I ĐÃ THỰC HIỆN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CHI PHÍ MUA ĐIỆN ĐẦU NGUỒN.
Yếu tố chiếm tỷ trọng quyết định trong giá thành phân phối điện là chi phímua điện nên muốn tăng hiệu quả kinh doanh trước hết phải tìm các giải phápgiảm chi phí mua điện đầu vào
Trang 14Điện năng mua điện đầu vào bằng tổng của 03 thành phần là điện năngthương phẩm, điện năng tổn thất kỹ thuật, điện năng tổn thất thương mại do vậymuốn giảm chi phí mua đầu vào phải giảm tổn thất điện năng.
Thực tế cho thấy biện pháp này đã được thực hiện tích cực trong những nămqua, tiến trình giảm tổn thất điện năng của Công ty Điện lực I những năm gần đây,
từ mức 29,55% năm 1990 đã giảm xuống 15,65% năm 1995, năm 1999 là 10,53%
và đến năm 2003 là 7,86% Quá trình giảm tổn thất điện năng đã nêu chứng tỏnhững cố gắng tổng hợp đáng ghi nhận của Công ty Điện lực I nhưng chỉ số 7,86%vẫn còn lớn hơn đáng kể so với một số nước ở Đông Nam Á, ví dụ Công ty Điệnlực PEA của Thái Lan có địa bàn hoạt động tương tự như Công ty Điện lực Inhưng có chỉ số tổn thất điện năng chỉ là 6,76% Như vậy tiềm năng giảm tổn thấtđiện năng của Công ty Điện lực I là rất đáng kể
2.4.1 Nhóm biện pháp giảm chi phí mua điện đầu nguồn thông qua giảm tổn thất điện năng kỹ thuật.
2.4.1.1 Giảm tổn thất điện năng trên lưới 110 kV bằng biện pháp bù ngang giảm lượng công suất phản kháng tải trên đường dây.
Đặc điểm của lưới điện thuộc Công ty Điện lực I là nguồn điện ở xa trungtâm phụ tải Các khu vực phụ tải lớn như Supe Lâm Thao, gang thép Thái Nguyên,phân đạm Bắc Giang, các khu công nghiệp Việt Trì, Vinh, khu mỏ than Hồng Gai,Cẩm Phả,… đều không có nguồn điện tại chỗ, do đó tổn thất điện năng trên lưới
P: Công suất tác dụng tải trên đường dây
Q: Công suất phản kháng tải trên đường dây
Trang 15R: Điện trở của đường dây.
U: Điện áp trên đường dây
Để giảm P ta cần thực hiện hai biện pháp là:
* Nâng cao điện áp đầu đường dây đến phạm vi cho phép trong vận hành.Theo quy định hiện hành là 110 kV là 121 kV Biện pháp này phụ thuộc rất nhiềuvào điều kiện vận hành của lưới
* Giải pháp hữu hiệu nhất là giảm lượng công suất phản kháng Q tải trênđường dây, bằng cách các bộ tụ ở cuối đường dây Biện pháp này cần thực hiện ởmột loạt trạm 110 kV ở cuối những đường dây dài như các trạm 110 kV MôngDương, Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Lạng Sơn, Nam Định,… Thực chất các bộ tụ đặt ởphía 6 kV hoặc 10 kV của các trạm biến áp 110 kV nên không gây tốn kém đặcbiệt
Hiện nay biện pháp này đang được quan tâm ở Công ty Điện lực I Cần cótính toán phân tích và so sánh kinh tế để xác định lượng công suất phản kháng cần
bù thích hợp cho các trạm
2.4.1.2 Giảm tổn thất điện năng trên lưới trung áp thông qua các biện pháp:
* Xử lý kịp thời các trạm bị quá tải Năm 1999 Công ty Điện lực I bị cháy 6máy biến áp trung gian chủ yếu do chế độ vận hành quá tải kéo dài, tình trạng nàykhông chỉ làm tăng tổn thất mà còn gây ra giảm thương phẩm Để tránh những sựtrên Công ty Điện lực I cần có một số máy biến áp di động đặt sẵn trên xe để có thể
hỗ trợ kịp thời cho các trạm biến áp bị quá tải hoặc bị sự cố, đặc biệt là các trạmbiến áp phục vụ cho các vùng phụ tải trọng điểm
* Từng bước chuyển đổi các lưới điện 6 và 10 kV khi lưới điện này đã hếtkhả năng tải lên 22 kV nếu là mạng đô thị hoặc lên 35 kV nếu là mạng nông thôn.Công thức (1) cho thấy tổn thất công suất tỷ lệ nghịch với U2 nên thay đổi cấp điện
áp có tác dụng rất rõ tới tổn thất Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với lưới điện 6