đồng; Có quyền tự do lựa chọn loại hợp đồng đã được pháp luật quy định cụ thể cũng như cả những họp dồng dân Sụ' khac du ràng pháp luật chưa quy định; Được tự do lựa chọn chủ thể khác để
Trang 2• • • •
VŨ ĐỨC LICH •
MỘT SỐ VẨN ĐỀ CO BẢN VỀ GIAO KẾT HỌP ĐỔNG DẦN Sự TRONG PHÁP LUẬT
Trang 3Nhân đâỵ xin bàỵ tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất
đ ế n cốc Thầỵ giáo, C ô giáo, các Giảng viên Trường Dại học Luật Hà Nội, đ ặ c b i ệ t lồ sự hưóng d ẫ n tận tình của Tiến s ĩ Luật học Bùi Đăng Hiếu cùng sự giúp đõ, đ ộ n g viên kịp thòi của gia đình, b ạ n b è vồ đ ồ n g nghiệp
đ ể tôi hoàn thành Luận văn này
Học viên
Vũ Đức Lịch
Trang 41.1.1 Khái niệm và đặc điêm của hợp đồng dân sự
1.1.2 Khái niệm giao kết hợp đồng dân sự
I l 2.1 Giao kết hợp đồng dân sự là gì?
1.1.2.2 Ban chất cua giao kết hợp đồng dãn sự
1.2 Các nguyên tấc giao kết hợp đồng dân sự
1.2.1 N guyên tắc "Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội"
1.2.2 N guyên tắc: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực v à ngay thẳng”
CHƯƠNG 2:
TRÌNH TỤ GIAO KÉT HỢP ĐỒNG DÂN s ụ • • •
TRONG PHÁP LUẬT DÂN s ụ VIỆT NAM• • •
2.1 Đe nghị giao kết họp đồng dân sự
2.1.1 K hái niệm, hình thức, nội dung đề nghị giao kết hợp đồng dân sự
2.1.2 Thời điểm đề nghị giao kết họp đồng dân sự có hiệu lực2.1.3 T hay đổi, rút lại, huỷ bỏ và sửa đổi đề nghị giao kết hợp đồng dân sự
2.1.4 C h ấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng dân sự
Trang 52.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự 252.2.1 Khái niệm, hình thức, nội dung chấp nhận đề nghị giao
2.2.4 Hậu quả pháp lý của sự chấp nhận đề nghị giao kết hợp
2.3 Địa điểm, thời điểm giao kết hợp đồng dân sự 33
3.2 Trách nhiệm dân sự của bên đưọc đề nghị giao kết• • • o • o
hợp đồng dân sự (bên chấp nhận đề ng h ị giao kết) 38
3.3 Trách nhiệm dân sự của các chủ thế khác trong quá
CHƯƠNG 4:
GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN s ụ TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT • • • • 42
4.2 Giao kết hợp đồng dân sự với hình thức bằng hành vi
4.3 Giao kết hợp đồng dân sự bằng phương tiện điện tủ 46 4.4 Giao kết họp đồng dân sự qua hoạt động của các tổ
4.5 Giao kết hợp đồng mua bán sau khi dùng thử 51
Vũ Đ ứ c I.Ịch L u ậ n văn T hạc s ì L u ậ t h ọ c : "M ộ t s ố vằn itè c ơ hỏ n vè g ia o k ẻ i h ợ p đ ô n g d ã n s ự /ro n g p h á p lu ậ t Việt N a m ■' T rư ớ n g P ợ i h ọ c L u ậ i H a NộI- 2010
Trang 6CHƯƠNG 5:
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT • • •
VÊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN s ự VÀ KIẾN NGHỊ• • •
5.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật và một số hạn chế của
pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng dân sự
5.1.2 Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự
5.1.3 Giao kết hợp đồng dân sự trong trường hợp một người
có nhiều tư cách chủ thể
5.1.4 Hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng bằng văn bản
5.1.5 Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự
quy định chưa bảo đảm tính thống nhất
5.1.6 Xác định thời điếm giao kết hợp đồng khi các bên ở
các nước mà pháp luật theo các thuyết khác nhau
5.2 Kiến nghị phưoiig hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng dân sự ở Việt Nam trong thời gian tới
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Vũ Đ ứ c L ịc h L u ậ n v ă n T h ạ c s ĩ L u ậ t h ọ c : "M ộ t s ổ vồn đỏ c ơ b án về g ia o k ê i h ọ p đ ồ n g d ã n s ự tr o n g p h á p lu ậ t Việt N am " T rưử iig D ạ i h ọ c I.uctt H u N ộ i-2 0 1 0
52
525354
Trang 71 Lý do chọn đề tài
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hợp đồng dân sự là cơ sở quan trọng để xác định quyền, nghĩa vụ của chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự cụ thể đó Việc giao kết hợp đồng dân sự phù hợp với các quy định của pháp luật sẽ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân
sự giữa các bên với nhau, được pháp luật bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi để các bên thực hiện hợp đồng dân sự, đồng thời hạn chế vi phạm và giúp cơ quan, tổ chúc giải quyết tranh chấp được nhanh chóng, chính xác khi có tranh chấp xảy
ra, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan
Việc bày tỏ ý chí của các chủ thể trong quá trình xác lập các quyền, nghĩa vụ
dân sự với nhau (giao kết hợp đồng dân sự) được diễn ra thường xuyên, phố biến
trong quan hệ xã hội và liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên, đồng thời liên quan đến lợi ích của người khác, lợi ích chung của xã hội Chính vì vậy mà giao kết hợp đồng dân sự được các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng rất quan tâm điều chỉnh bằng pháp luật Hiện nay, Bộ luật Dân sự của Nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày
14/6/2005, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 (dưới đây gọi tắt là Bộ luật Dân sự năm 2005) là cơ sở pháp lý chung điều chỉnh về giao kết hợp đồng dân sự (trong đó dân
sự được hiểu theo nghĩa rộng) đã phát huy tác dụng tích cực trong đời sống xã hội,
giúp các bên xác lập các quyền, nghĩa vụ dân sự với nhau một cách tương đối thuận lợi Tuy nhiên, một số quy định về giao kết họp đồng dân sự thể hiện còn chưa thống nhất, gây khó khăn cho các bên trong quá trình giao kết, tố chức thực hiện trên thực
tế cũng như khi giải quyết tranh chấp phát sinh Đặc biệt, thực hiện chủ chương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của Đảng và Nhà nước ta đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện pháp luật về dân sự, trong đó có các quy định về giao kết hợp đồng dân sự, đáp ímg yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu dân sự hiện nay
Trước tình hình đó, học viên chọn đề tài: “ M ột số vấn đề cơ bủn về giao kết
hợp đồng dân s ự trong pháp luật Việt N a m ” làm Luận văn tốt nghiệp của mình.
Trang 81.2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự ngày 28/10/1995 và Bộ luật Dân sự ngày 14/6/2005 đã có các công trình nghiên cứu như: Luận văn thạc sĩ Luật học năm 1996 của học viên Trần Kim Chi “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng dân sự”; Luận văn thạc sĩ Luật học năm 1996 của học viên Nguyễn Viết Tý “Bộ luật Dân sự - nền tảng pháp lý cho hoạt động kinh doanh
“Một số vấn đề về giao dịch dân sự và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu”; Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2001 của học viên Tạ Thanh Bình “Đặc điểm pháp lý của giao kết hợp đồng mua bán chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung tại Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2003 cua học viên Hoàng Minh Chiến “Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh - những vấn đề lý luận
và thực tiễn”; Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2004 của học viên Nguyễn Thị Hằng Nga “Giao kết hợp đồng trong kinh doanh một số vấn đề lý luận và thực tiễn”; Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2006 của học viên Trần Hải Hưng “Đổi mới sự điều chỉnh pháp luật về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005”; Luận văn tiến sĩ Luật học năm 2007 của học viên Vũ Thị Thanh Tâm “ Giao kết trục lợi trong nền kinh tế thị trường ở nước ta và những giải pháp pháp lý nhằm hạn chế, khắc phục”; Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2007 của học viên Đinh Hồng Ngân “Trách nhiệm dân sự trong họp đồng” và một số bài viết, nghiên cứu, bài giảng về hợp đồng dân sự trong đó
có đề cập đến vấn đề giao kết hợp đồng dân sự được đăng trên các tạp chí chuyên ngành hoặc Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam
Các công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu khái quát về giao kết hợp đồng dân sự với tư cách là một mục nhỏ khi giải quyết các vấn đề về hợp đồng dân sự nói chung hoặc nghiên cứu ở từng giác độ nhất định của chuyên ngành Luật Kinh tế và đại đa số là nghiên cứu, công bố trước khi có Bộ luật Dân sự năm 2005 Vì vậy việc
nghiên cứu: "Một sổ vấn đề cơ bản về giao kết họp đồng dân sự trong pháp luật Việt Nam ” theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 ơ phạm vi rộng, chuyên sâu, đồng
thời đánh giá, tìm ra những hạn chế, bất cập và phương hướng, giải pháp khắc phục
sẽ góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng dân sự
ở Việt Nam và tổ chức giao kết họp đồng dân sự trên thực tế
Trang 92 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
2.1 Mục đích
Mục đích khi nghiên cứu đề tài là phân tích, làm rõ những quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về giao kết họp đồng dân sự góp phần nhận thức đúng, đầy đủ phục vụ cho việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về giao kết họp đồng dân sự trên thực tế Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá, tìm ra những hạn chế, bất cập và kiến nghị một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao kết họp đồng dân sự ở Việt Nam trong thời gian tới
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Giao kết hợp đồng dân sự trong pháp luật Việt Nam là một vấn đề có phạm vi rộng, với nhiều nội dung, song trong phạm vi của một Luận văn thạc sĩ luật học, tác giả chỉ xin tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản là: Khái quát chung về giao kết hợp đồng dân sự; Trình tự giao két hợp đồng dân sự trong pháp luật dân sự Việt Nam; Trách nhiệm trong quá trình giao kết hợp đồng dân sự; Giao kết hợp đồng dân sự trong một số trường hợp đặc biệt; Thực tiễn áp dụng pháp luật về giao kết hợp đồng dân sự và kiến nghị phương hướng, giải pháp khắc phục hạn chế của pháp luật về giao kết hợp đồng dân sự hiện nay
3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
3.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác
- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, lý luận chung về Nhà nước và pháp luật Việt Nam trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng hiện nay
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử; Phân tích, tổng hợp và các phương pháp nghiên cứu khác như: so sánh, thống kê, đối chiếu với thực tiễn để hoàn thành nội dung đề tài
4 Ý nghĩa của Luận văn
Luận văn góp phần quan trọng trong việc nàng cao nhận thức đúng, đầy
đủ các quy định về giao kết hợp đồng dân sự trong Bộ luật Dân sự năm 2005
Trang 10để tổ chức thực hiện trên thực tế; Là tài liệu tham khảo cho việc tiếp tục nghiên cứu, giảng dạy, học tập và đề ra các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng dân sự ở Việt Nam trong thời gian tới, cũng như việc xác lập các hợp đồng dân sự trên thực tế.
5 Những đóng góp mói của Luận văn
Luận văn có những đóng góp mới như sau:
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề chung về họp đồng dân sự và giao kết họp
đồng dân sự để tạo cơ sở lý luận cho việc định hướng phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng dân sự ở Việt Nam trong thời gian tới;
Thứ hai, phân tích làm rõ trình tự giao kết; Xác định trách nhiệm trong quá
trình giao kết hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam phục vụ cho công tác tuyên truyền, phố biến và hướng dẫn thực hiện pháp luật;
Thứ ba, chỉ ra một số trường họp giao kết họp đồng dân sự đặc biệt và thực
tiễn áp dụng pháp luật về giao kết họp đồng dân sự để thấy rõ những hạn chế, bất cập, chưa thống nhất trong quy định của pháp luật cũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện trên thực tế;
Thứ tư, đề xuất một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao
kết họp đồng dân sự ở Việt Nam trong thời gian tới
6 Cơ cấu của Luận văn
Luận văn được kết cấu cụ thể như sau:
Lời mở đầu;
Chưotig 1: Khái quát chung về giao kết hợp đồng dân sự;
Chương 2: Trình tự giao kết hợp đồng dân sự trong pháp luật dân sự Việt Nam;Chương 3: Trách nhiệm dân sự trong quá trình giao kết hợp đồng dân sự;Chương 4: Giao kết hợp đồng dân sự trong một số trường họp đặc biệt;
C hương 5: Thực tiễn áp dụng pháp luật về giao kết họp đồng dân sự và kiến nghị;
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 11CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO KÉT HỢP ĐỎNG DÂN s ự
1.1 Khái niệm về họp đồng dân sự và giao kết hợp đồng dân sự
1.1.1 K hải niệm và đặc điếm của hợp đồng dân sự
Khái niệm hợp đồng nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng có nhiều cách tiếp cận khác nhau:
Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều n%ườỉ cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một việc nào đ ó ” (Điều 1101);
Pháp luật dân sự Nhật Bản quy định hợp đồng là một loại giao dịch dân
sự thể hiện sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên Mục đích của hợp đồng thông thường làm phát sinh nghĩa vụ [28, tr.7]
Luật Hợp đồng của Trung Quốc có quy định: “Hợp đồng là sự thoả thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên nhân, pháp nhân và các tổ chức khác ” (Điều 2);
Pháp luật về họp đồng của Singapore quy định “hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên, trong đó có một hoặc nhiều sự hứa hẹn (promỉses) mà việc thực hiện chúng ìà nghĩa vụ pháp lỷ bắt buộc, nếu vi phạm
sẽ phải chịu chế tà i” [2, tr.43].
Ở Việt Nam, về mặt lý luận, khái niệm về hợp đồng dân sự được xem xét
ở phương diện khách quan và phương diện chủ quan Theo phương diện khách quan thì hợp đồng dân sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật của Nhà nước
ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch
chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau Theo phương diện chủ quan, hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi
ý chí với nhau nhằm đi đến sự thoả thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định [65, tr.92] Hợp đồng dân sự theo nghĩa chủ quan là một quan hệ xã hội được hình thành từ sự thoả thuận của các bên
để thoả mãn nhu cầu trao đổi trong giao lưu dân sự
Trang 12Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 của Việt Nam cũng có quy định xác
định hợp đồng dân sự dưới dạng định nghĩa như: "Hợp đồng dân sự là sự thoả
thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của
các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng cho tài sản; làm hoặc không làm
một việc, dịch vụ hoặc các thoả thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm
đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu đùn g ” (Điều 1) Quy định này mang tính liệt kê
nên không bao quát đầy đủ các hợp đông dân sự xảy ra trên thực tế
Hiện nay, khái niệm họp đồng dân sự được quy định tại Điều 388 Bộ luật
Dân sự năm 2005: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác
lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân s ự ” Khái niệm này được quy
định giống như khái niệm đã được quy định tại Điều 394 Bộ luật Dân sự ngày
28/10/1995, nhung do phạm vi diều chỉnh của Bộ luật Dân sự năm 2005 được mở
rộng hơn so với Bộ luật Dân sự năm 1995 nên thực chất khái niệm về hợp đồng
dân sự cũng đã được mớ rộng hon so với trước đây (bao gồm cả: dân sự, kinh
doanh, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình - Điều 1 Bộ luật Dân sự năm
2005) Họp đồng dân sự không chỉ là sự thoả thuận để một bên chuyển giao
quyền, nghĩa vụ cho bên kia mà có thể còn là sự thoá thuận để thay đổi hoặc chấm
dứt quyền, nghĩa vụ đó 1 lợp đồng dân sự là hành vi có ý thức cúa chủ thể nhằm
đạt được mục đích nhất định nên hành vi này mang tính ý chí của chủ thể tham
gia họp đồng, với những mục đích và động cơ nhất định
Hợp đồng dân sự là hình thức pháp lý quan trọng và phổ biến nhất thể hiện
bản chất của giao dịch dân sự liên quan đến tài sản Hợp đồng dân sự dù thể hiện
dưới hình thức nào cũng phản ánh bản chất là sự thoả thuận, sự thống nhất ý chí
cúa các bên nhằm xác lập, thay dối hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý Hợp
đồng dân sự có một số đặc điểm sau:
hoậc nhiều chủ thể dân sự Trong hợp đồng dân sự, ý chí của một bên đòi hỏi
sự đáp lại của bên kia, tạo thành sự thống nhất ý chí của các bên, từ đó mới
hình thành được hợp đồng Các bên trong hợp đỏng dân sự có sự khác biệt về
lợi ích nên phải thỏa thuận đê hướng tới mục tiêu cao nhất là các bên cùng có
lợi Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng (bao gồm cả trách nhiệm
Trang 13dân sự) do các bên thỏa thuận (trừ các quyền, nghĩa vụ được quy định bởi pháp
luật); Sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữa các chủ thể phải được bày to dưới
một hình thức nhất định (bằng lời nói; bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ
thể) Khi các bên đạt được “thỏa thuận’'' thống nhất ý chí phù hợp với quy định
của pháp luật và có hiệu lực thì nội dung thoả thuận đó là “luật” đối với các
bên trong hợp đồng dân sự Sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữa các bên vừa là
nguyên tắc, vừa là đặc điểm cua hợp đồng dân sự để phân biệt với hành vi pháp
lý đơn phương trong giao dịch dân sự
dứt quyền dân sự, nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật Sự thỏa thuận
giữa các chủ thể là điều kiện cần nhưng chưa đủ nếu không có mục đích làm phát
sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền dân sự, nghĩa vụ dân sự Họp đồng dân sự là
hành vi có ý thức của các chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định cho nên hợp
đồng dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những
mục đích và động cơ nhất định Ý chí phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một
hình thức nhất định để các chủ thể khác có thể biết được ý chí của chủ thể tham
gia vào một hợp đồng dân sự cụ thể
Mặt khác, mục đích của thỏa thuận trong họp đồng dân sự phải không vi
phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Điều cấm của pháp luật
là nhũng quy định của pháp luật không cho phép chủ thê thực hiện nhũng hành vi
nhất định Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với
người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng Chỉ những
tài sản được phép giao dịch, những công việc được phép thực hiện không vi
phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội mới là đổi tượng của giao
dịch dân sự Những hợp đồng xác lập nhằm trốn tránh pháp luật hoặc trái đạo đức
xã hội là những hợp đồng có mục đích và nội dung không hợp pháp, không làm
phát sinh hiệu lực pháp luật của hợp đồng đó Đặc điêm này cho thây điêm khác
biệt giữa hợp đồng dân sự với sự thỏa thuận khác (Ví dụ: Các bên tlìóa thuận với
nhau về việc mua bán ma túy là vi phạm điều cấm của pháp luật, không được
pháp luật thừa nhận, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các bên)
Trang 141.1.2 Khái niệm giao kết hợp đồng dân sự
Theo nghĩa rộng, giao kết hợp đồng dân sự là quá trình hình thành quan hệ hợp đồng dân sự với hai yếu tố chủ yếu là đề nghị giao kết hợp đồng {sự bày tỏ ỷ chí của một bên) và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (sự img thuận của bên kia).
Quan điểm khác giải thích: Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên bày tỏ
và thống nhất ý chí vói nhau dưới hình thức lời nói (bằng miệng) hoặc văn bản theo những nguyên tắc và trình tự nhất định nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ dân
sự đối với nhau trong hợp đồng dân sự [71, tr.62] Quan điểm này có điểm hạn
chế là chỉ liệt k ê “hình thức lời nói (bằng miệng) hoặc vãn bản” nên chưa thật sự
phù hợp với thực tế của giao kết hợp đồng dân sự
Cũng có quan niệm cho ràng: Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên bày
tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc và trình tự nhất định đê qua đó xác lập với nhau các quyền, nghĩa vụ dân sự [65, tr 107] Quan điểm này có điểm hạn chế
là không thể hiện được hình thức, nội dung của giao kết hợp đồng dân sự
Các quan điểm trên cũne đã phần nào làm sáng tỏ và phản ánh khá rõ nét bản chất của giao kết họp đồng dàn sự Ở Việt Nam, các văn bản pháp luật về hợp đồng và Bộ luật Dân sự năm 2005 đều không có định nghĩa về giao kết hợp đồng dân sự Theo chúng tôi, giao kết hợp đồng dân sự là giai đoạn thiết lập mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể trong quan hệ hợp đồng dân sự Thông thường quá trình giao kết hợp đồng dân sự được bắt đầu từ thời điểm một bên bày tỏ ý chí giao kết hợp dồng và kết thúc khi họp đồng dân sự được
giao kết (Khi bên sau cùng ký vào văn bản; Cũng có thê là thời điểm khi “g ử i” chấp nhận đề nghị giao kết hợp đòng; Hoặc thời điêrn “nhận ” được chấD nhận
đề nghị giao kết hợp đồng ) Nội dung sự bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các
bên phải thể hiện theo hình thức, nguyên tắc, trình tự nhất định được pháp luật
Trang 15thừa nhận Kết quả của việc giao kết hợp đồng dân sự là làm phát sinh, thay đôi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dâu sự của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng
dân sự Như vậy, giao kết hợp đồng dân sự có thể hiểu là quá trình bày tỏ,
thống nhất ỷ ch ỉ giữa các bên theo hình thức, nội dung, nguyên tắc, trình tự nhất định được ph áp luật thừa nhận nhằm xác tập quyền, nghĩa vụ dân sự đối với nhau.
1.1.2.2 Bản chất của giao kết họp đồng dân sự
Bản chất của hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận, trong đó các bên thể hiện
sự bày tỏ và thống nhất ý chí nhằm hướng tới nhũng lợi ích nhất định Việc giao kết hợp đồng dân sự cũng được xác lập trên cơ sở của sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các bên Quá trình giao kết hợp đồng dân sự diễn ra với hai yếu tố: sự bày
tỏ ý chí (đề nghị giao kết) và sự chấp nhận ý chí (chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự), nhưng trên thực tế không phải hợp đồng dân sự nào cũng xác định
được rõ ràng hai yếu tổ này Quá trình này có thế diễn ra nhanh chóng hay kéo dài, đơn giản hay phức tạp, diễn ra đồng thời hay tiến triển ở nhiều giai đoạn khác nhau (phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: ý chí của các bên, vào nội dung, hình thức biểu hiện của hợp đồng ) Các bên có thể sử dụng phương thức giao kết trực tiếp (gặp nhau trao đổi, đàiri phan, thương lượng, ký kêt ) hoặc phương thức giao kết gián tiếp (thông qua công Văn, đơn chào hàng, các phương tiện điện tử ,.)
để thỏa thuận, thống nhất ý chí với loàn bộ nội dung của hợp đồng
Hợp đồng dân sự có nhiều loại, nhưng kết quả cuối cùng của quá trình giao kết hợp đồng dân sự nói chung đều là thể hiện sự thoả thuận, thống nhất ý chí của các bên để làm phát sinh, ỉ hay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự trong quan hệ hợp đồng đó (hình thành họp đồng dân sự) Do đó, bản chất
của giao kết hợp đồng dân sự là quá trình bày tỏ ý chí của các chủ thể tham gia hợp đồng nhằm thỏa thuận, thống nhất toàn bộ nội dung, hình thức hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật
1.2 Các nguyên tắc giao kết họp đồng dân sự
Nguyên tắc giao kết hợp đc.Ịg dân sự được lìiếu là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo làm nền lảng trong quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các bên nhằm xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự đối với nhau trong họp đồn”
Trang 16Viện Thống nhất Tư pháp Quốc tế (viết tắt theo Tiêng Pháp là
UNIDROIT), một tổ chức quốc tế liên chính phú thành lập năm 1929, đặt trụ sở
tại Roma, Italia, đã tập trung nghiên cứu tìm kiếm các quy định chung để điều
chỉnh họp đồng sao cho có thể thích hợp trong nhiều hệ thống pháp luật của
những nước khác nhau Năm 1994, UNIDROIT đã soạn thảo và cho ra đời cuốn
sách “Nguyên tắc Họp đồng Thương mại Quốc tế” viết tắt theo tiếng Anh là PICC
(Principle of International Commercial Contract) trong đó có đưa ra nguyên tắc
"tự do họp đồng" (Điều 1.1) và "Nguyên tắc thiện chí và trung thực" (Điều 1.7)
Theo đó, các bên trong hợp đồng được tự do giao kết hợp đồng và quy định nội
dung của hợp đồng; Các bên trong hợp đồng phải hành động phù họp với tinh
thần thiện chí và trung thực trong các giao dịch thương mại quốc tế
Ở Việt Nam, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng, Điều 3 Pháp lệnh
Hợp đồng kinh tế năm 1989 có quy định: “Hợp đồng kinh tế được ký kết theo
nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, bình đăng về quyền và nghĩa vụ, trực tiếp chịu
trách nhiệm tài sản và không trái pháp luật” Điều 2 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự
năm 1991 quy định; "Hợp đồng dân sự được giao kết theo nguyên tắc tự nguyện,
bình đẳng, không trái với pháp luật và đạo đức xã hội" Sau đó, Điều 395 Bộ luật
Dân sự năm 1995 và hiện nay Điều 389 Bộ luật Dân sự năm 2005 đều có quy
định về nguyên tắc giao kết họp đồng dân sự là: “Việc giao kết hợp đồng dân sự
phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
1 Tự do giao kết họp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức
xã hội;
2, Tự nguyện, bình đang, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thăng
Việc quy định rõ các nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự có ý nghĩa
quan trọng bởi đây là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình giao kết hợp đồng
của các chủ thể và vi phạm nguyên tắc giao kết sẽ làm cho hợp đồng dân sự vô
hiệu Vì vậy, các nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự phải được pháp luật quy
định rõ ràng
1.2.1 Nguyên tắc "Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trải pháp luật, đao đức xã hôi ” * ' • •
Trang 17đồng; Có quyền tự do lựa chọn loại hợp đồng đã được pháp luật quy định cụ thể
cũng như cả những họp dồng dân Sụ' khac du ràng pháp luật chưa quy định; Được
tự do lựa chọn chủ thể khác để giao kết hợp đồng với mình, tự do thể hiện ý chí
trong việc thỏa thuận về nội dung cua hợp đồng dân sự; Tự do lựa chọn hình thức
của họp đồng mà không ai có quyền ép buộc hay áp đặt ý chí khi các chủ thể giao
kết hợp đồng dân sự
Tuy nhiên, sự tự do ý chí của các chú thế trong giao kết hợp đồng dân sự
phải nằm trong một khuôn khổ nhất định để bảo đám quyền lợi của người khác
cũng như lợi ích của toàn xã hội Vì vậy, tự do của mỗi chủ thể phải “không trái
pháp luật, đạo đức xã hội'' Mỗi chủ thể vừa có quyền "tự do giao kết hợp đồng"
vừa có nghĩa vụ “không trải pháp luật, đạo đức xã hội" (tôn trọng pháp luật và
dạo đức xã hội) và dây dược coi là "sự giới hạn" ý chí tự do của mỗi một chủ thể
trong việc giao kết hợp dồng dân sụ
Điều 128 Bộ luật Dân sự năm 2005 có xác định rõ: "Điều cấm của pháp
luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thê thực hiện những
hành vi nhất định" và "Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ủng xử chung giữa
người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng ”,
nhưng không xác định thế nào là "không trái pháp luật" Vậy thuật ngữ "không
trái pháp luật" có đồng nghĩa với "khônụ vi phạm điều cấm của pháp luật" hay trái
pháp luật là khác với quy định của pháp luật? Theo chúng tôi, quy định nguyên
tắc này là "Tự do giao kết hợp đồng nhưng không vi phạm điều cấm của pháp
luật, không trải đạo đức xã h ộ i” mới thực sự chính xác và bảo đảm tính thống
nhất với các quy định khác trong Bò luật Dân sự
1.2.2 Nguyên tăc: "Tự nguyện, bình đăng, ịhiện chí, hợp tác, trung thực
và ngay thẳng”
Nguyên tắc này thế hiện bản chất của quan hệ dân sự và đòi hỏi phải bảo
đảm: Tự nguyện trong giao kết họp đồng; Bình đẳng trong giao kết hợp đồng;
Thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng trong giao kết hợp đồng dân sự
Trang 18Nguyên tắc tự nguyện trong giao kết họp đồng dân sự đòi hỏi các chủ thể phải hoàn toàn được tự do lựa chọn quyết định tham gia hay không tham gia giao dịch mà không bị chi phối, ép buộc, đe dọa, lừa dối, nhầm lẫn khi giao kết hợp đồng dân sự Muốn xem xét các chu thể có tự nguyện trong giao kết họp đồng hay không, cần phải dựa vào sự thống nhất biện chứng giữa hai yếu tố: ý chí và sự bày
tỏ ý chí Ý chí tự nguyện chính là sự thống nhất giữa ý muốn chủ quan bên trong
và sự bày tỏ ý chí đó ra bên ngoài Chi khi nào hợp đồng là hình thức phản ánh một cách khách quan, trung thực những mong muốn bên trong của các bên giao kết thì việc giao kết đó mới được coi là tự nguyện Như vậy, tất cả các họp đồng được giao kết do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối hoặc đe doạ đều là những hợp đồng không đáp ứng được nguyên tắc tự nguyện khi giao kết và sẽ bị coi là vô hiệu
có địa vị và quyền ngang nhau khi thiết lập quan hệ hợp đồng Khi thỏa thuận, các bên được bình đắng trong việc đưa ra nội dung phù hợp với lợi ích của mình để đạt được mục đích Không một ai được lấy lý do khác biệt về thành phần xã hội, dân tộc, giới tính, tôn giáo, hoàn cảnh kinh tế để làm biến dạng các quan hệ dân
sự Chỉ khi nào các bên bình đẳng với nhau về mọi phương diện trong giao kết hợp đông dân sự thì ý chí tự nguyện của các bên mới thật sự được bảo đảm
Nguyên tắc thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng trong giao kết hợp đồng dân sự đòi hỏi các chủ thể phải luôn có thái độ tôn trọng ý chí của nhau; Cùng nhau trao đối, thương lượng, thừa nhận, quan tâm đến lợi ích của nhau, cũng như lợi ích của Nhả nước và các lợi ích khác một cách hợp ỉý để nhanh chóng thiết lập quan hệ họp đồng; Các chủ thể không được lừa dối nhau, không được lợi dụng sơ hở, yếu thế của nhau để đạt được lợi ích quá cao so với công sức của mình bỏ ra trong giao kết hợp dồng dân sự
Như vậy, các nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự được quy định trong Bộ luật Dân sự là cơ sở pháp lý quan trọng đế các chủ thể tuân theo, góp phần bảo đảm thiết lập quan hệ hợp dồng dân sự họp pháp trên thực tế
Trang 19CHƯƠNG 2 TRÌNH TỤ GIAO KÉT HỢP ĐỒNG DÂN s ự• • •
TRONG PHÁP LUẬT DÂN s ụ VIỆT NAM• • •
'k iĩ >ĩ
2.1 Đe nghị giao kết họp đồng dân sự
2.1.1 Khái niệm, h ình tlĩírc, nội (lung đề nghị giao kết hợp đồng dân sự
Một họp đồng dân sự cụ thể là kết qua cua sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng đó về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Đe thoả thuận, đi đến thống nhất ý chí giữa các bên trong một hợp đồng dân sự cụ thể
đòi hỏi phải có quá trình giao kết hợp đồng với một bên bày tỏ ý chí của mình (đề nghị giao kết hợp đồng dân sự) và bên kia có sự chấp nhận ý chí đã được tuyên bố (chấp nhận đề nghị giao kết hợp đông dân sự) Chính vì vậy mà pháp luật điều chỉnh
về giao kết hợp đồng dân sự cua các nước cùng như ở Việt Nam đều có quy định về
đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết họp đồng
“Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế” do Viện Thống nhất Tư
pháp Quốc tế soạn thảo có dua ra định nghĩa về đề nghị giao kết là: "Một đề n%hị được gọi là đề nghị giao kết nếu nó rõ ràng, đầy đu và nêu rõ ỷ định của bên đưa ra đề nghị mong muốn bi ràng buộc bởi hợp đồnẹ khi đề nghị giao kết được chấp nhận ”( Điều 2.2).
Một số quan niệm khác cho rằng: “Đe nghị giao kết hợp đồng dân sự là bày tỏ ỷ chỉ và mong muốn giao kết hợp đồng” [71, tr.54] Hoặc: "Đe nghị giao kết hợp đồng là việc một bên biểu lộ ỷ chí của mình trước người khác bằng cách bày tỏ cho phía bên kia biết ỷ muôn tham gia giao kêt với người đó một hợp đồng dân sự" [65, tr 110] Đề nghị giao kết hợp đồng được gửi cho một
bên xác định có giá trị ràng buộc đối với bên đưa ra đề nghị giấo kết và bên nhận được đề nghị Khi bên dược đề nshị nhận được đề nghị chấp nhận toàn bộ nội dung đề nghị giao kết hợp dồng thì sẽ xác lập quan hộ hợp đồng đó
Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định: “Đề nghị giao kết hợp đồng ỉà việc thể hiện rõ ỷ định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể" (Khoản 1 Điều 390) Như
vậy, Bộ luật Dân sự năm 2005 Việt Nam sử dụng thuật ngữ “đề nghị giao kết
Trang 20hợp đồng” mà không sử dụng thuật ngữ “chào hàng" hay "lời đề nghị" như
pháp luật của các nước cùnu, như Côrm ước của Liên Họp Quốc về hợp đồng
mua bán quốc tế (Công ước Viên 1980)
- v ề hình thúc đề nghị giao kết hợp đồng dân sự: Hình thức đề nghị giao
kết hợp đồng dân sự thể hiện ý chí của bên đề nghị giao kết dưới dạng nhất định mà
người khác có thể nhận biết được Muốn thiết lập một hợp đồng dân sự thì bên đề
nghị giao kết phải the hiện ý muốn đó cua mình ra bên ngoài thông qua hình thức
nhất định để bên kia có thể nhận biết được ý muốn của họ và từ đó mới có thể đi đến
việc giao kết hợp đồng dân sự
Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định về hình thức họp đồng dân sự (cỏ thể
được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể), nhưng không
có quy định cụ thể về hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng dân sự Tuy nhiên,
trong các văn bản pháp luật có liên quan và thực tế cho thấy việc đề nghị giao kết hợp
đồng dân sự được thực hiện vỏ'i nhiều hình thức khác nhau và có thể thể hiện dưới
bất kỳ hình thức nào Bên đề nghị có thể trực tiếp (đối mặt) với bên được đề nghị để
trao đổi, thoả thuận hoặc có thể thông qua điện thoại, bằng việc chuyển công văn,
giấy tờ qua đường bưu điện, thông qua phương tiện điện tử hoặc các phương tiện
khác mà các bên giao kết hợp đồng không có mặt tại cùng một địa điểm để ký kết
họp đồng (bằng lỏi nói, hằng vãn han hoặc bằng hành vi cụ thê ) để biểu lộ ý chí
của mình muốn tham gia giao kết vói chủ thể nhất định một hợp đồng dàn sự '
Hình thức đề nghị giao kết họp đồng dân sự và hình thức họp đồng dân sự có
điểm khác biệt cơ bản là: Hình thức đề nghị giao kết hợp đồng dân sự chỉ thể hiện ý
chí của bên đề nghị giao kết và do bên đề nghị giao kết tự chọn cách thức thể hiện ý
chí đó để chủ thể khác nhận biết được; Còn hình thức họp đồng dân sự thể hiện sự
thống nhất ý chí của bên đề nẹhị giao kết với bên chấp nhận đề nghị giao kết hợp
đồng và do các bên trong họp dồng thoả thuận cách thức thể hiện ý chí đó hoặc phải
thể hiện bằng hình thức theo quy định của pháp luật Mặt khác, hình thức của đề nghị
giao kết họp đồng dân sự cũng không phụ thuộc vào hình thức của hợp đồng dân sự:
Đe nghị giao kết họp đồng dân sự có thể dược thể hiện bằng lời nói, nhưng hợp đồng
dân sự lại có thê được các bên i,)' kêi băng văn bản
Trang 21- Nội dung đê nghị giao kêt hợp đông dân sự: Bên đê nghị giao kêt
hợp đông dân sự phải đưa ra nội dung đề nghị giao kết với những điều khoản
của hợp đồng một cách cụ thể và rõ ràng để bên kia có thể hình dung ra được
hợp đồng dân sự sẽ được giao kết với nội dung như thế nào, có thể tham gia
giao kết hợp đồng dân sự đó được hay không ?
Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán quốc tế (gọi tắt là
Công ước Viên 1980) có quy định về cách thức, nội dung của một ký kết hợp
đồng mua bán quốc tế như sau: “Một đề nghị ký kết hợp đồng gửi cho một hay
nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu cỏ đủ chính xác và nếu nó
chỉ rỗ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường họp có
sự chấp nhận chào hàng đó M ột đề nghị là đủ chính xác khi nỏ nêu rõ hàng
hóa và ấn định sổ lượng về giá cả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc quy
định thể thức xác định những yếu tổ n à y ”(Khoản 1 Điều 14) Như vậy, nội
dung một đề nghị ký kết hợp đồng mua bán quốc tế phải bảo đảm đủ các yếu tố
là: Chỉ rõ ý chí của người chào hàng; Phải được gửi cho một hay nhiều người
xác định được; Nêu rõ hàng hóa và ấn định số lượng về giá cả một cách trực
tiếp hoặc gián tiếp hoặc quy định thể thức xác định những yếu tố này
Pháp luật một số nước cũng quy định các yếu tố để được coi là một đề nghị
giao kết hợp đồng cần phải có như: Người đề nghị giao kết phải thế hiện rõ ý muốn
tạo lập hợp đồng; Các điều kiện trong lời đề nghị giao kết phải cụ thẻ và dút khoát;
Lời đề nghị phải được truyền đạt đến người được đề nghị một cách cụ thể
Ớ Việt Nam, trong các văn bản pháp luật được ban hành trước khi có Bộ luật
Dân sự năm 2005 như: Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991; Bộ luật Dân sự năm 1995; Pháp lệnh Họp đồng kinh tế năm 1989 đều chưa có quy định về nội dung của
đề nghị giao kết hợp đồng (dân sự, kinh tế) Luật Thương mại năm 1997 có quy định:
"Chào hàng là một đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá trong một thời hạn nhất định, được chuyển cho một hay nhiều người đã xác định và phải có các nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định tại Điều 50 của Luật này Chào hàng gôm chào bán hàng và chào mua hàng" (Khoản 1 Điêu 51) và Điêu
50 của Luật này quy định cụ thế nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hoá
Trang 22gôm: Tên hàng; Sô lượng; Quy cách, chát lượng; Giá cả; Phương thức thanh toán; Địa điêm và thời hạn giao nhận hàng; Các bên có thê thoa thuận các nội dung khác trong hợp đồng Như vậy, Luật Thương mại năm 1997 cũng xác định khá rõ nội dung của "chào hàng là một để nghị giao kết hợp đông" trong hợp
Theo chúng tôi, nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng dân sự cần có các yếu tố chính như sau:
T hử nhất, đề nghị giao kết hợp đồng dân sự phải thể hiện rõ ý định giao kết
họp đồng của bên đề nghị giao kết hợp đồng dân sự: Muốn thiết lập một hợp đồng dân sự với chủ thể khác thì trong nội dung đề nghị, bên đề nghị giao kết phải thế hiện rõ ý muốn giao kết đó của mình để bên kia có thể nhận biết được và từ đó mới có thể đi đến việc giao kết hợp đồng dân sự Ví dụ: Bên đề nghị giao kết phải
thể hiện rõ nội dung mình muốn bán nhà ở (giao kết hợp đồng mua bản nhà ở) hoặc muốn cho thuê nhà ở (hợp đồng thuê nhà ơ) với chủ thê khác
T h ứ hai, đề nghị giao kết hợp đồng phải có các nội dung chủ yếu của loại
hợp đồng dân sự mà các bên muốn xác lập: Đe nghị giao kết hợp đồng dân sự do
bên đề nghị chủ động đưa ra nội dung (chưa phải là hợp đồng dân sự), nhưng đòi
hỏi phải thể hiện rõ những nội dung chủ yếu của họp đồng dân sự mà bên đề nghị
dự kiến sẽ giao kết để các chủ thể khác biết được và tham gia giao kết họp đồng
(đề nghị giao kết hợp đồng có chứa các nội dung của hợp đồng tương lai) Yêu
cầu này có nghĩa là đề nghị giao kết hợp đồng dân sự phải có đầy đủ nội dung chủ yếu của loại hợp đồng dân sự để cho phép bên nhận được đề nghị biết được rằng,
Trang 23để giao kết hợp đồng chỉ cần họ thể hiện sự đồng ý của mình với đề nghị giao kết thì hợp đồng dân sự được giao kết.
Nội dung chủ yêu của hợp đông dân sự là những điêu khoản mà không thê thiếu được đối với từng loại họp đồng; Nếu không thoả thuận được những điều khoản đó thì hợp đồng dân sự không thể giao kết được Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2005 hiện nay không quy định về nội dung "chủ yếu" của hợp đồng dân sự mà
chỉ quy định: Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội
dung sau đây: Đổi tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm; s ổ lượng, chất lượng; Giả, phương thức thanh toán; Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; Quyền, nghĩa vụ của các bên; Trách nhiệm
do vỉ phạm hợp đồng; Phạt vi phạm hợp đồng; Các nội dung khác (Điều 402) Quy
định này chỉ mang tính chất liệt kê các nội dung thường gặp trong hợp đồng chứ không phải quy định về nội dung chủ yếu của hợp đồng (Nội dung chủ yếu là những nội dung mà thiếu nó hợp đồng không thể được coi là giao kết) Ví dụ như: các quy định về thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện nếu không có thoả thuận thì cũng đã có quy định của pháp luật Như vậy, việc xác định nội dung chú yếu của hợp đồng dân sự cũng như nội dung chủ yếu của đề nghị giao kết hợp đồng dân sự trên thực tế cũng rất khó khăn, phức tạp.
Thứ ba, đề nghị giao kết hợp đồng dân sự phải hướng tới một (hoặc một
vài) chủ thể khác đã được xác định cụ thể: Đây là nội dung quan trọng giúp phân biệt đề nghị giao kết hợp đồng dân sự với một số hành vi tương tự như: lời mời làm chào hàng, báo giá, quảng cáo, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ Trong nội dung đề nghị giao kết hợp đồng dân sự phải thể hiện rõ ý định của bên đề nghị giao kết với bên đã được xác định về việc giao kết một hợp đồng dân sự cụ thể và phải được "gửi" cho bên được đề nghị biết về đề nghị giao kết; Bên đề nghị giao kết phải chịu sự ràng buộc về đề nghị này đối với bên đã được xác định cụ thể trong đề nghị giao kết.
Công ước Viên 1980 cũng có quy định: "Một đề nghị gửi cho những người
không xác định chỉ được coi là một lời mời làm chào hàng, trừ khi người đề nghị đã phát biêu rõ ràng điêu trải lại "(Khoản 2 Điêu 14).
THƯ VIF»
Trang 24Hoạt động trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ (tại các siêu thị có niêm yêt giá của các sản phẩm để bán; Niêm yết giá vận chuyển hành khách trên xe khách, xe buýt ) và tài liệu về hàng hoá, dịch vụ để giới thiệu với khách hàng về hàng hoá, dịch vụ đó, hoạt động quảng cáo không được gửi cho chủ thê xác định cụ thê mà
nó chỉ có mục đích thông báo, giới thiệu cho tất cả những người quan tâm về một loại sản phẩm, dịch vụ nên không được coi là đề nghị giao kết họp đồng dân sự Lời mời chào hàng, tờ gấp giới thiệu sản phẩm mặc dù được gửi cho một hay một số
chủ thế xác định, nhưng không thế hiện được sự ràng buộc của bên đề nghị giao kết
họp đồng dân sự thì cũng không coi là đề nghị giao kết hợp đồng dân sự
Thứ tư, đề nghị giao kết hợp đồng dân sự có thề xác định thời hạn trả lời
chấp nhận đề nghị giao kết: Lý thuyết về giao kết hợp đồng dân sự cho thấy có hai loại đề nghị giao kết hợp đồng dân sự là đề nghị giao kết có quy định thời hạn trả lời và đề nghị giao kết không quy định thời hạn trả lời Trong nội dung đề nghị giao kết hợp đồng dân sự, bên đề nghị giao kết họp đồng dân sự có thể xác định rõ khoảng thời gian để bên kia trả lời chấp nhận đề nghị Việc xác định rõ thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết trong đề nghị giao kết họp đồng sẽ tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xác định tính hợp pháp của chấp nhận đề nghị giao kết cũng như trách nhiệm của các bên trong quá trình giao kết họp đồng dân sự
Ở Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 1995 không quy định bắt buộc phải nêu thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự trong nội dung đề nghị giao kết họp đồng, nhưng có quy định về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết họp đồng dân sự là:
Khi bên đề nghị có ẩn định thời hạn ừ-ả lời thì việc ừ ả lòn chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được tra lời khỉ đã hết thời hạn chờ trả lời thì lời chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời; Hoặc khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trườỉig hợp nói qua điện thoại và các phương tiện khác, thì bèn được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường họp củ thoa thuận về thời hạn trả lời (Điều 397) đề làm cơ sở cho việc xác định Luật Thương mại năm
1997 quy định cụ thể hơn: Trong ừường hợp không xác định thời hạn chấp nhận chào hàng thì thời hạn trách nhiệm của bên chào hàng là ba mươi ngày, kê từ ngày
Trang 25chào hàng được chuyến đi cho bên được chào hàng (Khoản 1 Điều 53).
Trong “N guyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế” do Viện Thống nhất Tư pháp Quốc tế soạn thảo trên cơ sở nghiên cứu các quy định chung
để điều chỉnh hợp đồng của nhiều hệ thống pháp luật của những nước khác
nhau có đưa ra cách xác định chung: Sự chấp nhận đề nghị cần phải được tiến hành trong thời hạn bẽn đề nghị ấn định, nếu thời hạn này không được
ấn định, đề nghị giao kết phải được chấp nhận trong khoảng thời gian hợp
lý tuỳ từng trường hợp, có xem xét đến tốc độ truyền tin mà bên đề nghị dùng Đe nghị giao kết bằng miệng phải được chấp nhận ngay, trừ khi hoàn cảnh có yêu cầu khác (Điều 2.7) Công ước Viên 1980 cũng quy định theo hướng: Nếu người chào hàng không quy định thời hạn trong chào hàng thì trong một thời hạn hợp lý, xét theo các tình tiết của sự giao dịch, trong đó
có xét đến tốc độ của các phương tiện liên lạc do người chào hàng sử dụng;
M ột chào hàng bằng m iệng phải được chấp nhận ngay, trừ p h i các tình tiết bắt buộc ngược lại (K hoản 2, Điều 18).
Nghiên cứu Khoản 2 Điều 390 Bộ luật Dân sự năm 2005 có thể nhận thấy pháp luật Việt Nam có quy định về trường hợp đề nghị giao kết có nêu rõ thời hạn trả lời và như vậy cũng sẽ công nhận có trường hợp đề nghị giao kết không nêu rõ thời hạn trả lời trên thực tế Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2005 không có quy định bắt buộc phải nêu rõ thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết trong đề nghị giao kết hợp đồng dân sự, nhưng cũng không quy định cụ thể cách thức xác định thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng dân sự không nêu rõ thời hạn trả lời chấp nhận giao kết và giá trị pháp lý của đề nghị giao kết này Đây là vấn đề dễ phát sinh tranh chấp và rất khó giải quyết trên thực tế
Như vậy, xác định việc thê hiện ý chí cua một bên có phái là đê nghị giao kêt họp đồng dân sự hay không cần phải xem xét đến các nội dung thể hiện của nó, nhất
ià các yếu tổ như đã nêu ở trên Đe nghị giao kết hợp đồng dân sự thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng cũng như sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên
đã được xác định cụ thể và khi bên được đề nghị chấp nhận đề nghị đó đúng thời hạn
Trang 26thì sẽ hình thành hợp đồng dân sự Đề nghị giao kết họp đồng dân sự mặc dù chưa phải là hợp đồng nhưng ít nhiều đã có tính chất ràng buộc đối với bên đề nghị giao kết họp đồng dân sự.
2.1.2 Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng dân sự có hiệu lực
Khi đề nghị giao kết hợp đồng dân sự được bên đề nghị giao kết thể hiện với hình thức, nội dung phù hợp với quy định của pháp luật thì cần thiết phải xác định thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng dân sự có hiệu lực, qua đó xác định thời điểm chịu sự ràng buộc về đề nghị của bên đề nghị giao kết, cũng như trách nhiệm của các bên có liên quan trong quá trình giao kết hợp đồng dân sự Việc xác định thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng dân sự có hiệu lực là quan trọng vì đó là thời điểm mà bên nhận đề nghị giao kết có thể chấp nhận lời đề nghị, do vậy ràng buộc bên đưa ra đề nghị về hợp đồng sẽ định giao kết
“Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế” do Viện Thống nhất Tư pháp
Quốc tế soạn thảo có xác định: "Đề nghị giao kết có hiệu lực khi bên được đề nghị nhận được đề nghị" ( Khoản 1 Điều 2.3) Trong Công ước Viên 1980 cũng quy định:
"Chào hàng có hiệu lực khi nó tới nơi người được chào hàng" (Khoản 1 Điều 15)
Như vậy, “Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế” và Công ước Viên 1980 đã theo Thuyết tiếp thu để quy định về thời hạn hiệu lực của đề nghị giao kết (chào hàng) Quy định này cũng có bất lợi cho bên đề nghị giao kết (chào hàng) trong trường hợp vì lý do nào đó đề nghị (chào hàng) tới nơi người được đề nghị (chào hàng) rất muộn thì người đề nghị (chào hàng) sẽ không kiểm soát được thời hạn chấp nhận nếu không ấn định ngày hết hiệu lực “Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế” và Công ước Viên 1980 đã không quy định việc bên đề nghị giao kết (chào hàng) ấn định thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng dân sự có hiệu lực
sinh hiệu lực khi nó được thông báo (gửi) cho bên được đề nghị biết Bộ luật Dân sự năm 2005 bổ sung Điều 391 quy định về thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng dân sự có hiệu lực, cụ thể:
"1 Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như san:
Trang 27a) Do bên đề nghị ấn định;
b) Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu
lực kế từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó.
hợp đồng:
a) Đe nghị được chuyên đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân;
được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;
b) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được
đề nghị;
c) Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua
các phương thức khác
Như vậy, pháp luật dân sự Việt Nam quy định thời điểm đề nghị giao kết hợp
đồng dân sự có hiệu lực theo hướng để cho bên đề nghị giao kết chủ động ấn định
thời điểm trong đề nghị jia « kết hợp đồng dân sự, nhưng đồng thời cũng quy định
cách xác định thời điểm trong trường hợp bên đề nghị giao kết không ấn định thời
điểm đề nghị giao kết hợp dồng dân sự có hiệu lực (cỏ hiệu lực kẻ từ khi bên được đè
nghị nhận được đề nghị) Quy định này bảo đảm phù hợp với quan hệ hợp đồng dân
sự vốn rất đa dạng, phong phú trên thực tế
2.1.3 Thay đổi, rút lại, huỷ bỏ và sửa đổi đề nghị giao kết hợp đồng dàn sự
Quá trình giao kết hợp đồng dân sự thông thường và cơ bản được diễn ra như
sau: Bên đề nghị giao kết hợp đồng dân sự bày tỏ ý định giao kết hợp đồng với bên
được đề nghị thông qua việc "gửi" đề nghị giao kết hợp đồng cho bên được đề nghị;
Sau khi "nhận" được đề nghị giao kết, nếu bên được đề nghị xem xét, trả lời chấp
nhận toàn bộ nội dung của đề nghị giao kết và "gửi" chấp nhận đề nghị giao kết hợp
đồng cho bên đề nghị giao kết biết thì hợp đồng dân sự được giao kết
Tuy nhiên, trong quá trình giao kết hợp đồng dân sự, có nhiều trường
hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng có thay đổi, rút lại, thậm chí huỷ bỏ đề nghị
giao kết hợp đồng dân sự mà mình đã đưa ra; Hoặc bên được đề nghị giao kết
hợp đồng đã chấp nhận giao kết hợp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa
đổi đề nghị giao kết do đó đòi hỏi pháp luật phải có quy định cụ thê đế giải
Trang 28quyêt các vân đê phát sinh trên thực tế.
“Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế” do Viện Thống nhất Tư pháp
Quốc tế soạn thảo có xác định: "Đe nghị, kê cả đề nghị không thể huỷ ngang, cũng có thê bị rút lại nếu bên được đề nghị chưa nhận được đề nghị giao kết hoặc yêu cầu rút lại đề nghị đến cùng lúc với đề nghị" (Khoản 2 Điều 2.3) Đồng thời nêu rõ: Cho đến
khi họp đồng được giao kết, đề nghị giao kết có thể bị huỷ bỏ, nếu bên đề nghị thông báo cho bên nhận đề nghị trước khi bên này chấp nhận lời đề nghị Đe nghị giao kết không thể huỷ bỏ khi: Lời đề nghị có ấn định thời hạn cố định để trả lời hoặc ấn định rằng nó không thế bị huỷ ngang; hoặc nếu bên được đề nghị có thê tin tưởng một cách hợp lý là đề nghị giao kết không thế huỷ ngang và bên được đề nghị đã hành động trên cơ sở tin tưởng vào lời đề nghị đó ( Điều 2.4) Như vậy, "Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế" chỉ đề cập đến việc rút lại đề nghị, huỷ bỏ đề nghị giao kết và đề nghị giao kết không thể huỷ bỏ mà không nêu cụ thể về trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng có thay đổi và trường họp bên được đề nghị giao kết hợp đồng đã chấp nhận giao kết hợp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sứa đổi đề nghị giao kết ban đầu
Theo Công ước Viên 1980, chào hàng dù là loại chào hàng cố định, vẫn
có thể bị hủy nếu như thông báo về việc hủy chào hàng đến người được chào hàng trước hoặc cùng lúc với chào hàng (Khoản 2 Điều 15) Cho tới khi hợp đồng được giao kết, người chào hàng vẫn có thể thu hồi chào hàng, nếu như thông báo về việc thu hồi đó tới nơi người được chào hàng trước khi người này gửi thông báo chấp nhận chào hàng Tuy nhiên, chào hàng không thê bị thu hồi: Nếu nó chỉ rõ, bằng cách ấn định một thời hạn xác định đế chấp nhận hay bàng cách khác, rằng nó không thể bị thu hồi, hoặc nếu một cách hợp lý người nhận coi chào hàng là không thể thu hồi được và đã hành động theo chiều hướng đó (Điều 16) Như vậy, Công ước Viên 1980 quy định khá rõ về việc huỷ, thu hồi chào hàng trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Pháp luật của Nhật Bản, Đức và các nước Châu Ảu lục địa, trong thời gian có hiệu lực của chào hàng cố định (chào hàng không hủy ngang) thì người chào hàng không có quyền huỷ bỏ chào hàng [45, tr.24] Còn các nước theo pháp luật Thông lệ (Anh - Mỹ) thì áp dụng trên nguyên tắc chung là bên đề nghị có quyền rút lại lời đề
Trang 29nghị bất cứ lúc nào, trừ khi có một sự đối ứng của bên được đề nghị để đôi lấy việc bên đề nghị duy trì lời đề nghị [85] Tuy nhiên, đối với quan hệ mua bán, Bộ Luật Thương Mại Thống nhất Hoa Kỳ (Uniíbrm Commercial Code - UCC) cũng có quy
định: "Đe nghị mua hoặc bán hàng bằng văn bản của một thương nhãn trong đó các điều khoản cam kết đề nghị mua bán được đê ngỏ, sẽ không thể bị huỷ bỏ vì lý do thiếu đối ứng trong khoảng thời gian được quy định hoặc nếu không thì ừong khoảng thời gian hợp lỷ không vượt quá 3 tháng; nếu điều khoản này được nêu trong bản hợp đồng của người được đề nghị thì phải được xác nhận bằng chữ ký riêng rẽ của người đề nghị" (Khoản 2 Điều 205 Bộ Luật Thương Mại Thống nhất Hoa Kỳ).
Ở Việt Nam, Điều 52 Luật Thương mại năm 1997 có quy định về sửa đổi, bổ sung chào hàng theo hướng: Trong trường hợp bên được chào hàng có sửa đôi, bo sưng một trong những nội dung chủ yếu của chào hàng thì hành vi đó được coi là từ chối chào hàng và hình thành một chào hàng mới; Còn trong trường họp bên được chào hàng sửa đổi, bổ sung nội dung chào hàng nhung không làm thay đoi một trong những nội dung chủ yếu của chào hàng thì hành vi đó được coi là chấp nhận chào hàng (trừ trường hợp người chào hảng từ chối ngay nhũng sửa đổi, bố sung đó) Tuy nhiên, sau khi có Bộ luật Bân sự năm 2 ÌI5 thì quy định này đã không được tiếp tục quy định trong Luật Thương mại năm 2115
Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định các trường họp thay đổi, rút lại, huỷ bỏ, sửa đổi đề nghị giao kết hợp đồng dân sự như sau:
- Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đỗi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong các trường hợp sau đây: Nếu bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điếm nhận được đề nghị; Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường họp bên đề nghị có nêu
rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh Khi bên đề
nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đề nghị đó được coi là đề nghị mới (Điều 392).
- Trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng thực hiện quyền huỷ bỏ đề
nghị do đã nêu rể'quyền này ữong đề nghị thì phải thông báo cho bên được đề nghị
và thông báo này chỉ có hiệu lực khi bên được đề nghị nhận được thông báo trước
khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết họp đồng (Điểu 393) Đây là
Trang 30nội dung mới được quy định bố sung trong Bộ luật Dân sự năm 2005 so với Bộ luật
Dân sự năm 1995
kiện hoặc sửa đối đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới (Điều 395)
Bộ luật Dân sự không phân biệt nội dung điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị giao kết là
nội dung chủ yếu hay không chủ yếu nên bất kỳ điều kiện hoặc sửa đổi nào từ phía
bên được đề nghị giao kết hợp đồng đều được coi là đề nghị mới
Tóm lại, pháp luật dân sự Việt Nam tập trung quy định quyền của bên đề nghị
giao kết hợp đồng trong các trường hợp thay đổi, rút lại, huỷ bỏ đề nghị giao kết họp
đồng căn cứ vào thời điểm nhận được đề nghị giao kết hoặc do đã có nêu rõ trong đề
nghị giao kết hợp đồng Tuy nhiên, việc quy định bên được đề nghị đã "chấp nhận
giao kết hợp đồng", nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị (Điều 395), Bộ
luật Dân sự năm 2005 chưa được xác định rõ thuật ngữ "chấp nhận giao kết hợp
đồng" là thế nào ? có cùng nghĩa với thuật ngữ "chấp nhận đề nghị giao kết họp
đồng" quy định tại Điều 396 Bộ luật Dân sự năm 2005 hay không ? .cũng cần tiếp
tục nghiên cứu, hướng dẫn để bảo đảm tính thống nhất khi áp dụng trên thực tế Theo
chúng tôi thì chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự được hiểu là việc bên được đề nghị
nhận lời đề nghị và đồng ý tiến hành giao kết hợp đồng dân sự với bên đã đề nghị
2.1.4 Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng dân sự
Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng dân sự là vấn đề cần được điều chỉnh cụ
thế Tuy nhiên, pháp luật về hợp đồng của các nước cũng quy định không rõ về các
trường họp chấm dứt đề nghị giao kết họp đồng dân sự mà chủ yếu quy định việc
huỷ bỏ, từ chối, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự “Nguyên tắc Hợp đồng
Thương mại Quốc tế” do Viện Thống nhất Tư pháp Quốc tế soạn thảo có xác định:
"Đề nghị giao kết bị từ chổi khi bên giao kết nhận được sự từ chổi của bên được đề
nghị" (Điều 2.5) Như vậy, việc từ chối đề nghị giao kết của bên nhận đề nghị là
nguyên nhân chấm dứt một đề nghị giao kết hợp đồng
Điều 394 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định đề nghị giao kết hợp đồng chấm
dứt trong các trường hợp sau đây:
"I Bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận;
2 Het thòi hạn trả lời chấp nhận;
Trang 313 Khi thông báo vé việc thay đôi hoặc rút lại đê nghị cỏ hiệu lực;
4 Khi thông báo vê việc huy bo đê nghị có hiệu lực;
5 Theo thoả thuận của bên đê nghị và bên nhận được đê nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời".
Như vậy, Bộ luật Dân sự của Việt Nam quy định khá cụ thề các trường hợp chấm dứt đề nghị giao kết họp đồng dân sự dựa trên sự thể hiện ý chí của các bên trong quá trình giao kết họp đồng Tuy nhiên, trên thực tế có các trường hợp cũng có thể làm chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng dân sự như: Trường hợp một bên hoặc hai bên (Bên đề nghị giao kết và bên được đề nghị giao kết) chết, mất năng lực hành
vi dân sự hoặc bị phá sán trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị; Đối
tượng của họp đồng dân sự dự kiến giao kết được nêu trong đề nghị giao kết không còn nữa do nguyên nhân bất khả kháng (Họp đồng thuê nhà ở, nhưng nhà ở bị đổ do bão) nhưng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 chưa có quy định cụ thế
Thuật ngữ "Chấp nhận giao kết" được sử dụng trong “Nguyên tắc Hợp đồng
Thương mại Quốc tế” do Viện Thống nhất Tư pháp Quốc tế soạn thảo được xác định
cụ thế theo cách thức chấp nhận giao kết là: "Lời nói, văn bản hoặc các hành vi cụ thế của bên được nhận đề nghị nói lên sự đồng ỷ lời đề nghị giao kết, do đó được coi
là chấp nhận giao kết" (Khoản 1 Điều 2.6) Còn thuật ngữ "chấp nhận chào hàng" được sử dụng trong Công ước Viên 1980 với nghĩa "Một lời tuyên bổ hav một hành
Trang 32vi khác cua người được chào hàng biếu ì ộ sự đồng ỷ với chào hàng cấu thành chấp
nhận chào hàng" (Khoản 1 Điều 18).
ơ Việt Nam, Pháp lệnh Họp đồng dân sự năm 1991 và Bộ luật Dân sự năm
1995 không có quy định cụ thê thê nào là châp nhận đê nghị giao kêt hợp đông dân
sự? Liên quan đến đề nghị giao kết hợp đồng, Luật Thương mại năm 1997 có quy
định: "Chấp nhận chào hàng là thông báo của bên được chào hàng chuyên cho bên
chào hàng về việc chấp thuận toàn bộ các nội dung đã nêu trong chào hàng" (Khoản
2 Điều 51) để áp dụng trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá
Hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định: "Chấp nhận đề nghị giao kết
hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đổi với bên đề nghị về việc chấp nhậrỉ
toàn bộ nội dung của đề nghị" (Điều 396) Như vậy, chấp nhận đề nghị giao kết hợp
đồng dân sự là sự trả lời đồng ý của bên được đề nghị giao kết hợp đồng với toàn bộ
nội dung được nêu trong đề nghị giao kết của bên đề nghị giao kết họp đồng dân sự
- Hình thức chấp nhận đề nghị giao kết họp đồng dân sự: Bộ luật Dân sự
năm 2005 không có quy định về hình thức chấp nhận đề nghị giao kết, nhưng tương
tự như hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng, hình thức chấp nhận đề nghị giao kết
hợp đồng dân sự cũng được thực hiện nhiều hình thức khác nhau và có thể thể hiện
dưới bất kỳ hình thức nào Bên được đề nghị giao kết họp đồng dân sự có thể trực
tiếp (đối mặt) với bên đề nghị giao kết để trao đổi, thoả thuận hoặc có the thông qua
điện thoại, bằng việc chuyển công văn, giấy tờ qua đường bưu điện, thông qua
phương tiện điện tử hoặc các phương tiện khác mà các bên giao kết hợp đồng không
có mặt tại cùng một địa điểm để giao kết họp đồng (bằng lời nói, bằng văn bản hoặc
bằng hành vi cụ thể) để biếu lộ ý chí của mình về việc đồng ý với toàn bộ nội dung
được nêu trong đề nghị giao kết của bên đề nghị giao kết hợp đồng dân sự nêu ra đe
hình thành hợp đồng dân sự
Tuy nhiên, hình thức chấp nhận đề nghị giao kết có điểm khác với hình thức
của đề nghị giao kết hợp đồng dân sự là: Hình thức chấp nhận đề nghị giao kết thế
hiện ý chí của bên được đề nghị giao kết hợp đồng dân sự về việc đồng ý với toàn bộ
nội dung được nêu trong đề nghị giao kết; Còn hình thức đề nghị giao kết hợp đồng
dân sự thể hiện ý chí của bên đề nghị giao kết họp đồng dân sự Hình thức chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng dân sự có thể do bên được đề nghị giao kết tự mình lựa
Trang 33chọn cách thức thế hiện ý chí đó, nhưng cũng có thể phải tuân theo hình thức do bên
đề nghị giao kết hợp đồng dân sự đưa ra trong đề nghị giao kết họp đồng dân sự Ví dụ: Bên A đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng mua bán xe máy với bên B, nhưng trong
đề nghị đó lại nêu rõ: "trong thời hạn 15 ngày nếu đồng ỷ mua xe máy thì bên B phai trả lời bằng văn bản" thì bắt buộc bên B phải thể hiện hình thức chấp nhận đề nghị
giao kết hợp đồng mua bán này bằng hình thức văn bản mới được coi là phù hợp
“Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế” do Viện Thống nhất Tư pháp
Quốc tế soạn thảo có nêu rõ: Im lặng hay bất tác vi tự bản thản nó không nói lên sự chấp nhận đề nghị Mặc dù vậy, nếu lời đề nghị giao kết hay quy ước đã được xác lập giữa đôi bên hoặc theo tập quán có quy định khác, bên nhận đề nghị có thê bày
tỏ sự chấp nhận bằng việc thực hiện một công việc mà không cần phai thông báo cho bên đề nghị giao kết biết, sự chấp nhận có hiệu lực khi công việc đó được thực hiện
(Khoản 1, 3 Điều 2.6) Trong Công ước Viên 1980 cũng có quy định: Sự im lặng hoặc bất tác vi không mặc nhiên có giá trị một sự chấp nhận Tuy nhiên, nếu do hiệu lực của chào hàng hoặc do thực tiễn đã có giữa hai bên trong mối quan hệ tương hồ hoặc tập quán thì người được chào hàng có thể chứng tỏ sự chấp thuận của mình bàng cách làm một hành vi nào đó như hành vi liên quan đến việc gửi hàng hay trả tiền chẳng hạn dù họ không thông báo cho người chào hàng thì chấp nhận chào hàng chỉ có hiệu lực từ khi những hành vi đó được thực hiện với điều kiện là những hành
vi đó phải được thực hiện trong thời hạn đã quy định (Khoản 1, 3 Điều 18)
Ở Việt Nam, trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định tại Khoản 3 Điều 11 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 và Khoản 2 Điều 403 Bộ luật Dân sự năm
1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định: "Hợp đồng dân sự cũng xem như được
* giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nêu cỏ thoa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết” (Khoản 2 Điều 404) Như vậy, "im
lặng" cũng có thể được coi là hình thức chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự nếu các bên có thoả thuận hoặc bên đề nghị giao kết có nêu rõ trong đề nghị giao kết hợp đồng dân sự Tuy nhiên, quy định này cũng khó xác định được trên thực tế vì sự
"im lặng" cũng có thể là kết quả của việc bên được đề nghị chưa được biết thông tin
là có đề nghị giao kết hợp đồng dân sự
Trang 34Pháp luật dân sự Việt Nam cũng chưa có quy định cụ thê hình thức chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng có phải phù họp với hình thức đề nghị giao kết hợp đồng
hoặc phù hợp với hình thức họp đồng dân sự hay không? Nhưng theo chúng tôi,
hình thức chấp nhận đề nghị giao kết họp đồng dân sự không phụ thuộc vào hình
thức đề nghị giao kết và hình thức họp đồng dân sự
- Nội dung chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự: Khi "nhận được"
đề nghị giao kết, bên được đề nghị giao kết họp đồng dân sự có thê trả lời bên đề
nghị giao kết hợp đồng với nội dung như: Đồng ý (chấp nhận) toàn bộ nội dung đề
nghị giao kết (chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự), hoặc đồng ý một phần
nội dung đề nghị giao kết, hoặc có the chỉ đồng ý việc giao kết hợp đồng nhưng
không đồng ý với nội dung mà bên đề nghị đã đưa ra, hoặc không đồng ý việc giao
kết họp đồng dân sự với bên đề nghị giao kết
“Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế” do Viện Thống nhất Tư pháp
Quốc tế soạn thảo có nêu rõ: Khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết
nhung kèm theo các điều kiện mới hoặc những điều khoản bổ sung, hạn chế và sửa
đổi, nó sẽ được coi như là sự từ chối để nghị và là một đề nghị mới Dù vậy, nến các
điều kiện mới hoặc nhũng hạn chế và sửa đổi nói trên không ảnh hưởng nhiều đến
các điều khoản trong đề nghị giao kêt, sự trả lòi nói trên được xem là sự chấp nhận,
trừ khi bên để nghị bác bỏ không chậm trê sự thay đôi này (Điêu 2.11) Trong
Công ước Viên 1980 cũng có quy định tương tự: Một sự phúc đáp có khuynh hướng
chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đụng những điếm bổ sung, bớt đi hay các sửa
đổi khác thì được coi là từ chối chào hàng và cấu thành một hoàn giá Tuy nhiên một
sự phúc đáp có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đụng các điều
khoản bỏ sung hay những điều khoản khác mà không làm biến đổi một cách cơ bản
nội dung của chào hàng thì được coi là chấp nhận chào hàng, trừ khi người chào
hàng ngay lập tức không biểu hiện bằng miệng để phản đối những điếm khác biệt đó
hoặc gửi thông báo về sự phản đối của mình cho người được chào hàng Nếu người
chào hàng không làm như vậy, thì nội dung của họp đồng sẽ là nội dung của chào hàng với những sự sửa đôi nêu trong châp nhận chào hàng Các yếu tô bỏ sung hay sửa đổi liên quan đến các điều kiện giá cả, thanh toán, đến phẩm chất và số lượng hàng hóa, địa điêm và thời hạn giao hàng, đên phạm vi trách nhiệm cua các bên hay
Trang 35đến sự giải quyết tranh chấp được coi là nhũno, điều kiện làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng (Điều 19) Như vậy, “Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế” và Công ước Viên 1980 có quy định trường hợp ngoại lệ được coi là chấp nhận đề nghị (chào hàng) khi bên được đề nghị trả lời nhung có đưa ra các điều kiện mới hoặc những hạn chế và sửa đổi nói trên không ảnh hưởng nhiều đến các
điều khoản trong đề nghị giao kết (tức là không quy định bắt buộc chấp nhận đề nghị phải đồng ỷ toàn bộ nội dung đề nghị).
Ở Việt Nam, Điều 52 Luật Thương mại năm 1997 có quy định: Trong trường họp bên được chào hàng có sửa đối, bổ sung một trong nhừng nội dung chủ yếu của chào hàng thì hành vi đó được coi là từ chối chào hàng và hình thành một chào hàng mới Trường hợp bên được chào hàng sửa đối, bố sung nội dung chào hàng nhưng không làm thay đổi một trong nhũng nội dung chủ yếu của chào hàng thì hành vi đó được coi là chấp nhận chào hàng, trừ trường hợp người chào hàng từ chối ngay những sửa đối, bố sung đó
Bộ luật Dân sự năm 2005 không quy định cụ thể về nội dung chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự, nhưng trên tinh thần nội dung Điều 396 quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, theo chúng tôi, nội dung chấp nhận đề nghị giao kết họp đồng dân sự thông thường phải bảo đảm hai yếu tố sau:
Thứ nhất, đồng ý (chấp nhận) toàn bộ nội dung như đã nêu trong đề nghị giao
kết họp đồng dân sự, tức là chấp nhận đầy đủ và không thiếu nội dung nào
Thứ hai, không bổ sung thêm nội dung nào khác so với đề nghị giao kết họp
đồng dân sự.
Nội dung mà bên được đề nghị giao kết họp đồng trả lời không thoả mãn hai
yếu tố như đã nêu trên sẽ được coi là đã đưa ra đề nghị mới (trong trường họ-p bên được đề nghị giao kết có sửa đổi, bổ sung, đồng ỷ một phần nội dung đề nghị giao kết, hoặc có thê chỉ đồng ỷ việc giao kết hợp đồng nhưng không đồng ý với nội dung
mà bên đề nghị đã đưa ra), hoặc không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự (trưòng hợp trả lời không đồng ý việc giao kết hợp đồng dân sự với bên đề nghị giao kết) Do đó, trường họp các bên có sự trao đổi qua lại, sửa đổi, bổ sung nội dung điều
khoản đã nêu trong quá trình giao kết họp đồng dân sự sẽ có sự hoán vị từ bên được
đê nghị giao kêt hợp đông thành bên đê nghị giao kết hợp đồng và ngược lại cho
Trang 36đên khi nào các bên thống nhất thoả thuận được với nhau đồng ý toàn bộ nội dung của hợp đồng thì sẽ đi đến chính thức giao kết hợp đồng dân sự.
2.2.2 Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đòng dân sự
v ề thời hạn chấp nhận đề nghị giao kết, “Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế” do Viện Thống nhất Tư pháp Quốc tế soạn thảo và Công ước Viên 1980 có quy định tương tự theo hướng: Sự chấp nhận đề nghị (chấp nhận chào hàng) cần phải được tiến hành trong thời hạn bên đề nghị ấn định; Nếu thời hạn này không được ấn định, đề nghị giao kết (chào hàng) phải được chấp nhận trong khoảng thời gian hợp
lý tuỳ từng trường hợp, có xem xét đến tốc độ truyền tin mà bên đề nghị (chào hàng) dùng Đe nghị giao kết (chào hàng) bàng miệng phải được chấp nhận ngay, trừ khi hoàn cảnh có yêu cầu khác Đối với điện báo hoặc thư từ, thời hạn quy định cho sự chấp nhận được tính từ khi bức điện báo được yêu cầu gửi đi hoặc ngày gửi thư hoặc, nếu trong đó không có ngày gửi thư, thì là ngày ghi trên dấu bưu điện Đối với các phương tiện trực tiếp trao đối thông tin, thời gian quy định được tính từ lúc bên được
đề nghị nhận đề nghị giao kết số ngày lễ hoặc ngày không giao dịch trong thời hạn quy định cũng được tính vào khoảng thời hạn này Tuy vậy, nếu thông báo chấp nhận không đên được bên đê nghị trong ngày cuôi cùng của thời hạn quy định do ngày này trùng vào ngày lễ hoặc ngày không làm việc tại nơi kinh doanh của người nhận, thời hạn giao kết sẽ được kéo dài đến ngày giao dịch đầu tiên tiếp theo ngày lễ hoặc ngày không làm việc đó Sự chấp nhận những thông tin chậm trễ vẫn có hậu quả pháp lý như sự chấp nhận những thông tin đúng hạn, nếu như bên đề nghị không thông báo ngay lập tức cho bên được đề nghị về việc này Nếu một lá thư hoặc một văn bản khác cho hay sự chấp nhận được chuyển đến bên đề nghị chậm trễ là do lỗi của việc chuyển tin, sự chấp nhận chậm trễ đó vẫn được coi như có hiệu lực, trừ khi bên đề nghị thông báo không chậm trễ cho bên được đề nghị ràng lời đề nghị giao kết đã hết hiệu lực vào thời điếm nhận được sự chấp nhận
Ở Việt Nam, Luật Thương mại năm 1997 có quy định về chấp nhận chào hàng sau khi hết thời hạn chấp nhận chào hàng, theo đó trong trường hợp bên chào hàng nhận được chấp nhận chào hàng sau khi hết thời hạn chấp nhận chào hàng thì chấp nhận đó không có hiệu lực, trừ trường hợp bên chào hàng thông báo ngay cho bên được chào hàng về việc chấp nhận của mình Thời hạn trách nhiệm của bên chấp
Trang 37nhận chào hàng bắt đầu từ thời điểm chấp nhận chào hàng được chuyển đi cho bên
chào hàng {Khoản 2 Điều 53 và Điều 54).
Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết họp đồng dân sự được quy định tại Điều
397 Bộ luật Dân sự năm 2005 như sau:
- Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chí có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khỉ đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.
Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết họp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bèn đề nghị biết hoặc phải biêt về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ ừường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ỷ với chấp nhận đó của bên được đề nghị
- Khi các bên ưực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ truừng hợp có thoả thuận về thời hạn tra lời.
Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định bổ sung quy định công nhận thông báo chấp nhận giao kết họp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề
nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan; Đồng thời bở quy định "Trong trường hợp việc trả lời được chuyên qua bưu điện, thì thời điêm trả lời là ngày gửi đi theo dấu của bưu điện ” (Khoản 3 Điều 397 Bộ luật Dân sự năm 1995) nhằm bảo đảm
tính thống nhất và phù hợp với giao lưu dân sự quốc tếH
Quy định về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong trường họp các bên ở cách xa nhau thì pháp luật các nước cũng có quy định khác nhau và đang song song tồn tại hai khuynh hướng trái chiều nhau: Khuynh hướng thứ nhất theo Thuyết tống phát, khuynh hướng thứ hai the« Thuyết tiếp thu Cụ thể là :
Theo Thuyết tống phát: Hiệu lực của chấp nhận được tính theo thời điểm chấp
nhận được gửi đi (tống phát đi), theo đó chấp nhận sẽ phát sinh hiệu lực nếu được gửi
đi trong thời hạn nêu trong đề nghị Thời điếm gửi đi được tính theo dấu buu điện nơi
đi Thời hạn nêu trong đề nghị là "thời hạn trả lời" (tức thời hạn thực hiện việc trả lời) Neu trả lời chấp nhận được gửi đi trong thời hạn đó nhưng đến nơi bên đề nghị
Trang 38Theo Thuyết tiếp thu (Thuyết tiếp nhận): Hiệu lực của chấp nhận được tính
theo thời điểm trả lời chấp nhận đến được tới người đề nghị (người đề nghị tiếp nhận), theo đó chấp nhận sẽ phát sinh hiệu lực nếu được gửi đến nơi trong thời hạn nêu trong đề nghị Thời điểm gửi đến được tính theo dấu bưu điện nơi đến Thời hạn nêu trong đề nghị là "thời hạn chờ trả lời" (tức thời hạn ràng buộc bên đề nghị phải giữ lời và chờ câu trả lời) Neu trả lời chấp nhận được gửi đi trong thời hạn đó nhưng đến nơi bên đề nghị khi đã hết thời hạn thì trả lời chấp đó sẽ không phát sinh hiệu lực (và sẽ được coi là đề nghị mới) Bên đề nghị sẽ có trách nhiệm thông báo cho bên trả lời biết về sự chậm trễ đó Thuyết tiếp thu được coi là thuận tiện hơn cho bên đề nghị
Như vậy, hai Thuyết nêu trên có nội dung trái ngược nhau nên khi áp dụng chỉ được lựa chọn áp dụng một trong hai Thuyết để bảo đảm tính thống nhất Tuy nhiên,
Bộ luật Dân sự Việt Nam chưa thể hiện nhất quán theo khuynh hướng nào
2.2.3 Rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đằng dân sự
Rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự được hiểu là việc bên được đề nghị giao kết hợp đồng chủ động thể hiện ý định thay đổi chấp nhận giao kết theo hướng không đồng ý với chấp nhận giao kết hợp đồng đâ được truyền đi trước đó
“Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế” do Viện Thống nhất Tư pháp Quốc tế soạn thảo có nêu về việc “rút lại lời chấp nhận” tại Điều 2.10 và Công ước Viên 1980 cũng có quy định việc "hủy chấp nhận chào hàng” tại Điều 22 Theo đó, chấp nhận đề nghị (chấp nhận chào hàng) có thể được rút lại nếu như việc rút lại này được truyền đạt đến bên đề nghị trước hoặc cùng lúc với thời điểm mà lời chấp nhận trở nên có hiệu lực Theo các nước Anh, M ỹ người được chào hàng không được huỷ đơn chấp nhận chào hàng; Còn theo các nước Pháp, Đức, Á o chấp nhận chào hàng vẫn có thể được huỷ nhưng với điều kiện huỷ chấp nhận chào hàng phải đến trước hoặc cùng lúc khi chấp nhận có hiệu lực [45, tr.27]
Ở Việt Nam, vấn đề rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng là một vấn
đề mới được quy định tại Điều 400 Bộ luật Dân sự năm 2005 Theo đó, bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết họp đồng, nếu
Trang 39thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điếm bên đề nghị nhận đưọc trả lời chấp
nhận giao kết hợp đồng Quy định này nhằm bảo vệ quyền của bên được đề nghị
giao kết hợp đồng trong việc rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự,
2.2.4 Hậu quả pháp lý của sự chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự
Chấp nhận đề nghị giao kết họp đồng dân sự là yếu tố thứ hai để hình thành
họp đồng dân sự Khi bên đề nghị giao kết hợp đồng dân sự "nhận" được trả lời chấp
nhận đề nghị giao kết của bên được đề nghị giao kết thì hợp đồng dân sự được xác
lập, làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên trong quan hệ hợp đồng
đó; Đồng thời giữa bên được đề nghị giao kết họp đồng và bên đề nghị giao kết họp
đồng có sự ràng buộc trách nhiệm pháp lý thông qua nội dung họp đồng đã giao k ế t
Bộ luật Dân sự năm 2005 còn bô sung quy định làm rõ hậu qua pháp lý của sự
trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp
đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự (Điều 398) và trường họp bên được đề
nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự (Điều 399) Theo đó,
trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân
sự sau khi bên được đề nghị giao kết hợp đồng trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng
thì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị Trong trường hợp bên được đề nghị giao
kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi trả lời chấp nhận giao
kết họp đồng thì việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có giá trị Quy định này
là rất cần thiết nhằm bảo đảm giá trị của họp đồng dân sự đã được giao kết Tuy
nhiên, các quy định này chỉ hợp lý khi yếu tố nhân thân của các chu thê không đóng
vai trò quan trọng đối với việc thực hiện hợp đồng Còn đối với các trường hợp đề
nghị hay chấp nhận mang tính nhân thân (yếu tố nhân thân của người đề nghị hay
người được đề nghị có vai trò quyết định đối với việc giao kết, ví dụ như giao kết họp
đồng với ca sĩ, hoạ sỹ .) thì sẽ không hợp lý vì khi ấy đề nghị (chấp nhận) sẽ hét
hiệu lực nếu như bên đề nghị (bên trả lời chấp nhận) chết Do đó, Bộ luật Dân sự
cũng cần phải quy định cụ thể hơn về vấn đề này
2.3 Địa điểm, thời điểm giao kết hợp đồng dân sự
Trang 40Các bên có thể giao kết hợp đồng dân sự bằng phương thức giao kết trực
tiếp (các bên trực tiếp gặp nhau đê trao đôi, thoả thuận bằng lời nói hoặc kỷ
vào văn bản ) hoặc phương thức gián tiếp (các bên không trực tiếp gặp nhau
mà trao đổi, thoả thuận thông qua điện thoại, thư tín, fax, telex, email, bằng
việc chuyên công vãn, giấy tờ qua đường bưu điện, thông qua phương tiện điện
tử hoặc các phương tiện khác ).
Trường hợp các bên giao kết hợp đồng dân sự bằng phương thức trực
tiếp thì địa điểm giao kết được xác định là nơi mà trực tiếp các bên đạt được
thoả thuận đồng ý toàn bộ nội dung hợp đồng và thời điểm giao kết hợp đồng
dân sự là thời điếm các bên đã thoả thuận xong toàn bộ nội dung họp đồng
hoặc là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản
Trường hợp các bên giao kết hợp đồng dân sự bằng phương thức gián
tiếp thì việc xác định địa điểm giao kết và thời điểm giao kết hợp đồng dân sự
được Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định cụ thể như sau:
định: "Địa điểm giao kết hợp đồng dân sự do các bên thoa thuận; nếu không có
thoả thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng dân sự là nơi cư trú của cá nhãn
hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng” (Điều 403)
Đồng thời bổ sung quy định: "Trong trường hợp giao kết hợp đồng vắng mặt
thì việc xác định nơi giao kêt hợp đông phải tuân theo pháp luật của nước noi
cư trú của cá nhản hoặc nơi cỏ trụ sở chỉnh của pháp nhân là bên đề nghị giao
kết hợp đồng" (Điều 771) Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên đề
nghị giao kết, nhất là khi giải quyết tranh chấp xảy ra
Tuy nhiên, quy định tại Điều 403 Bộ luật Dân sự năm 2005 có điểm hạn chế
là có thể phù hợp khi xác định địa điểm giao kết họp đồng đối với trường hợp giao
kết hợp đồng gián tiếp, còn đối với giao kết hợp đồng trực tiếp cũng có điểm không
hợp lý Ví dụ: Đối với hợp đồng vận chuyến, thông thường hành khách luôn là người
đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng, trong khi đó hầu như không có một sự thoả
thuận riêng biệt nào giữa hành khách và người vận chuyển và về địa điểm giao kết
họp đồng Nếu quy định địa điểm giao kết hợp đồng là nơi cư trú của hành khách thì
không thực tế vì nơi cư trú của hành khách và nơi mua vé rất xa nhau Hoặc ví dụ