1. Trang chủ
  2. » Psychological

Rèn kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1

34 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 10,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giải toán có lời văn, bước tóm tắt cũng không kém phần quan trọng như các bước khác, nếu các em tóm tắt đúng cũng đồng nghĩa với việc các em đã hiểu bài rồi, còn tóm tắt như thế nà[r]

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI

- -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

“Rèn ký năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1”

Môn: Toán

Cấp :Tiểu học Tên tác giả: Nguyễn Thị Thu Đơn vị công tác:Trường Tiểu học Tây Đằng A Chức vụ: Giáo viên

MỤC LỤC

A.ĐẶT VẤN ĐỀ

N À

M

Trang 2

I Lý do chọn đề tài: ……….….

… 2

II Mục đích nghiên cứu……….…

… 3

III Đối tợng nghiên cứu: ……….……

… 3

IV Đối tợng khảo sát,thực nghiệm: ……….…….……

3

V Phơng pháp nghiên cứu: ……….…….……

3

VI Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu: ………

……… 3

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. I Lớ luận thực tiễn ………

………3

1 Cơ sở tõm lớ học : ………

…… 3

2 Cơ sở lý luận………

……….3

3 Cơ sở thục tiễn ……… 4

II Thực trạng:………

……… 4

1.Thực trạng chung……… 4

2 Kết quả khảo sỏt……… 4

C BIỆN PHÁP THỰC HIỆN I Kế hoạch rốn toỏn cho học sinh : ……… 7

II Biện phỏp cụ thể: ……… 8

1 Giai đoạn 1: 9

2 Giai đoạn 2: 12

Trang 3

3 Giai đoạn 3: 14

4 Giai đoạn 4: 17

2.Kết quả:………26

II Đề xuất và khuyến nghị ………27

Trang 4

A- ĐẶT VẤN ĐỀ

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Mỗi một môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam Trong các môn học ở Tiểu học, cùng với Tiếng Việt thì Toán học là một môn học có vị trí vô cùng quan trọng Đặc biệt trong đời sống và khoa học kĩ thuật hiện đại Nó góp phần đào tạo học sinh trở thành con người phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo đáp ứng mọi nhu cầu phát triển của khoa học công nghệ trong xã hội thời kỳ đổi mới Việc dạy học giải toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán, được rèn luyện kĩ năng thực hành, với những yêu cầu được thể hiện một cách đa dạng, phong phú Nhờ việc dạy học mà giúp học sinh cố điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn phương pháp suy luận và những phẩm chất của con người lao động mới

Trong dạy học Toán thì giải toán có lời văn là loại toán riêng biệt, là biểuhiện đặc trưng của trí tuệ Và cũng là mục tiêu của việc dạy học toán ở Tiểu học nói chung và giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 nói riêng Giải toán

có lời văn đối với học sinh lớp 1 là dạng toán khó Do đó, việc dạy dạng toán này đạt kết quả chưa cao vì:

- Giáo viên đã hướng dẫn học sinh giải toán nhưng chưa xác định được chuẩn kiến thức kĩ năng và mục tiêu của sách giáo khoa Giáo viên chưa chủ động, linh hoạt sáng tạo trong giảng dạy Khi dạy chưa phân hóa đối tượng học sinh

- Giáo viên chưa chú trọng đến việc hướng dẫn học sinh đọc kĩ bài toán, hiểu nội dung bài toán và tóm tắt bài toán để tìm phương pháp giải (cách giải) bài toán theo các bước Do vậy, việc rèn luyện tư duy của học sinh còn hạn chế

- Học sinh đọc bài toán chưa thông thạo, chưa hiểu nội dung bài toán, chưa xác định được yêu cầu của bài toán: Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? Đa số học sinh chưa biết cách trình bài giải

Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy học giải toán ở Tiểuhọc.Lµ mét ngêi gi¸o viªn trùc tiÕp d¹y líp 1, t«i nhËn thÊy việc học toán vàgiải toán có lời văn cho häc sinh líp 1 lµ rất quan trọng và cần thiết,t¹o nÒnt¶ng v÷ng ch¾c cho c¸c em ë líp trªn Để thực hiện tốt mục tiêu đó, giáo viêncÇn phải nghiên cứu, tìm biện pháp giảng dạy thích hợp, giúp các em giải bàitoán một cách vững vàng Hiểu sâu được bản chất của vấn đề cần tìm, mặtkhác giúp các em có phương pháp suy luận toán lôgíc thông qua cách trìnhbày, lời giải đúng, ngắn gọn, sáng tạo trong cách thực hiện Từ đó giúp các em

húng thú, say mê học toán Từ đó nên tôi đã tìm mạnh dạn đưa ra: “Một số

biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1”.

Trang 5

II Mục đích nghiên cứu:

Qua đề tài này, tôi muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn Toán để tìm ra phương pháp giúp giáo viên dạy môn Toán cho học sinh lớp 1 được tốt hơn

Cụ thể:

+ Dạy cho học sinh biết về cấu tạo của một bài toán có lời văn

+ Đọc hiểu - phân tích - tóm tắt bài toán

+ Giải bài toán về thêm (bớt) bằng một phép tính cộng (trừ)

+ Trình bày bài giải gồm câu lời giải + phép tính + đáp số

+ Tìm lời giải phù hợp cho bài toán bằng nhiều cách khác nhau

III Đối tượng nghiên cứu:

Học sinh khối 1.

IV Đối tượng khảo sát, thực nghiệm:

Học sinh lớp 1A5

V.Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp điều tra.

- Phương pháp đàm thoại, gợi mở

- Giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1

2 Thời gian thực hiện:

đã hình thành khả năng tư duy bằng tín hiệu, là những tín hiệu thay thế ngữ

âm Ở độ 6-7 tuổi khả năng phân tích, tổng hợp ở trẻ khá hoàn chỉnh, từ đâycác em có khả năng biÕt đọc,biết viết ,biết làm toán…

2.C¬ së lý luËn:

Kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 rất quan trọng ,nó ph¶n

¸nh n¨ng lùc vËn dông kiÕn thøc cña häc sinh Häc sinh hiÓu vÒ mÆt néi dung

Trang 6

kiến thức toán học - vận dụng vào giải toán kết hợp với kiến thức Tiếng Việt

để giải quyết cỏc vấn đề trong toán học Từ ngôn ngữ trong các đề toán đa ra cho học sinh đọc - hiểu - biết hớng giải đa ra phép tính kèm câu trả lời và đáp

số của bài toán

Giải toán có lời văn góp phần củng cố kiến thức toán, rèn luyện kỹ năng

diễn đạt, tích cực góp phần phát triển t duy cho học sinh tiểu học

3.Cơ sở thực tiễn

Mụn Toỏn (đặc biệt là Toỏn cú lời văn )đối với học sinh lớp 1 nhỡn có vẻ

dễ nhng để học sinh đọc-hiểu bài toán có lời văn quả không dễ dàng; vả lại việc viết lên một câu lời giải phù hợp với câu hỏi của bài toán cũng là vấn đề không đơn giản Bởi vậy nỗi băn khoăn của giáo viên là hoàn toàn chính đáng

Vậy làm thế nào để giáo viên nói - học sinh hiểu , học sinh thực hành -

diễn đạt đúng yêu cầu của bài toán.

Và đú là mục đích chính của đề tài này

II Thực trạng:

1 Thực trạng chung:

Trong quỏ trỡnh giảng dạy ở Tiểu học, đặc biệt là dạy lớp 1, tụi nhận

thấy hầu như giỏo viờn nào cũng phàn nàn khi dạy đến phần giải toỏn cú lời văn Học sinh lỳng tỳng khi nờu cõu trả lời, viết sai phộp tớnh, viết sai đỏp số Những tiết đầu tiờn của giải toỏn cú lời văn mỗi lớp chỉ cú khoảng 15% -20%

số học sinh biết nờu lời giải, viết phộp tớnh và đỏp số Số cũn lại là rất mơ hồ, cỏc em chỉ nờu theo quỏn tớnh hoặc nờu miệng được nhưng khi viết cõu trả lời thỡ cỏc em lại rất lỳng tỳng, làm sai, một số em làm đỳng nhưng khi cụ hỏi cỏc

em lại khụng biết trả lời Chứng tỏ cỏc em chưa nắm một cỏch chắc chắn cỏchgiải toỏn cú lời văn

Một điều dễ thấy trong chương trỡnh Toỏn của lớp 1, cú quỏ ớt số tiếtdành cho toỏn cú lời văn, nờn nếu học sinh khụng chịu khú nghe giảng, giỏoviờn khụng giảng dạy nhiệt tỡnh thỡ cỏc em sẽ mất gốc phần này, gõy ra nhữnghạn chế khú khăn cho cỏc lớp học tiếp theo

2 Kết quả khảo sỏt:

Năm học 2017 - 2018, lớp 1A5 cú tổng số 35 học sinh Trong đú cú 18

học sinh nữ Hầu hết gia đỡnh cỏc em đều làm nụng nghiệp, sự đụn đốc kốm cặp cũn hạn chế Nhiều em hoàn cảnh gia đỡnh khú khăn, bố mẹ đi làm ăn xa

Trang 7

phải ở ông bà nên việc học tập của các em chưa thực sự được quan tâm, gia đình các em còn phó mặc việc học của con em mình cho giáo viên.Tuy điều kiện như vậy, song bản thân tôi - giáo viên chủ nhiệm cùng tập thể lớp 1A5 luôn nỗ lực rèn luyện và phấn đấu để đạt nhiều thành tích trong các phong trào thi đua của nhà trường

Trước thực trạng đó, tôi đã tiến hành khảo sát để phân loại và nắm đượcnhững lỗi cụ thể của từng học sinh Ghi vào sổ tay cá nhân những em học yếu

và những em nổi trội để tiện có kế hoạch giúp đỡ các em trong từng tiết học

KẾT QUẢ KHẢO SÁT GIẢI TOÁN.

Số HS / Tổng số Lỗi của học sinh trong bài khảo sát Tỉ lệ %8/ 35 Giải đúng,trình bày sạch ,đẹp 22,77/ 35 Trình bày còn bẩn, câu trả lời chưa

đúng, chưa sát câu hỏi

Vào lớp 1, lần đầu tiên được tiếp xúc với toán học với tư cách là mộtmôn học, rèn luyện với thao tác tư duy như là so sánh, quan sát, phân tích,…Thật là một thử thách lớn đối với học sinh trong khi các em chưa đọc thông,chưa viết thạo

Thời gian tập trung chăm chú vào một tiết học hoàn chỉnh là rất khó vì:

+ Tư duy của học sinh còn mang tính trực quan là chủ yếu

+ Đọc được đề bài nhưng chưa hiểu đề bài, cũng có em đến phần giảitoán có lời văn mà đọc còn phải đánh vần, thậm chí còn chưa biết đọc, các emchưa biết thế nào là tìm hiểu bài toán có lời văn

Trang 8

+ Không biết tìm hiểu bài toán như: Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏigì?

+ Chưa hiểu các thuật nhữ toán học như: thêm, bớt, cho đi, biếu, tặng,bay đi, mua về, chạy đến, ban đầu, trong đó,…và câu hỏi: Có tất cả baonhiêu? Còn lại bao nhiêu?

+ Không biết tóm tắt bài toán, lúng túng khi nêu câu trả lời, có học sinhnêu lại câu hỏi của bài toán Không hiểu thuật ngữ toán học nên không biếtlàm phép tính cộng hay làm phép tính trừ dẫn đến nói sai, viết phép tính sai,sai đơn vị, viết sai đáp số

Tuy nhiên ở độ tuổi 6 tuổi này, các em rất ngoan, dễ vâng lời, nghe lời côgiáo, hay bắt chước, thích học tập và thi đua với các bạn, nên những lời độngviên khích lệ, khen thưởng cho các em là rất hiệu quả

+ Về phía giáo viên:

Một số giáo viên còn coi việc dạy cho học sinh “ Giải toán có lời văn”cho học sinh là đơn giản, dễ dàng nên chưa tìm tòi nghiên cứu phương phápdạy học có hiệu quả Việc chuyển đổi phương pháp dạy học còn lúng túng,chưa phát huy được tính tích cực của học sinh, do phương pháp dạy họctruyền thống đã ăn sâu vào tư duy, vào lề lối dạy học hằng ngày

Giáo viên dạy theo cách thông báo kiến thức sẵn có, dạy theo phươngpháp thuyết trình có kết hợp với đàm thoại, thực chất vẫn là “thầy truyền thụ,trò tiếp nhận ghi nhớ”

Giáo viên ngại đầu tư làm thêm đồ dùng dạy học để phục vụ chotiết dạy, ngại tóm tắt bằng sơ đồ hình vẽ hoặc đoạn thẳng, sử dụng phươngpháp phân tích tổng hợp trong việc giúp học sinh tìm phương pháp giải và giảitoán

Giáo viên phân bố thời gian không hợp lí, có những phần dạy quá sâuhoặc dông dài không cần thiết mà quên mất đối tượng học sinh của mình làhọc sinh lớp 1 Vốn từ, vốn kiến thức, kinh nghiệm thực tế của học sinh lớp 1còn rất hạn chế mà khi giảng dạy cho học sinh giáo viên lại diễn đạt khó hiểu.Bản thân giáo viên là tấm gương soi rọi cho học sinh noi theo, nhưng tôinhận thấy ở một số giáo viên lời giảng chưa mẫu mực, tác phong sư phạmkhông nhanh nhẹn, lời giảng khó hiểu dẫn dắt câu hỏi không hợp lí nên dẫnđến phần nào hạn chế về kĩ năng giải toán cho học sinh là điều dễ xảy ra Khả năng phối hợp, kết hợp với nhiều phương pháp để dạy mạch kiếnthức “ Giải toán có lời văn” ở lớp 1 còn thiếu linh hoạt

Giáo viên còn lúng túng khi tạo các tình huống sư phạm để nêu vấn đề.Trình bày bảng chưa khoa học, chữ viết chưa chân phương, chưa tỉ mỉ

Trang 9

Môn Toán rất khô cứng, giáo viên lại chưa biết tạo sự hứng thú khi dạy

và học môn học này, nên dẫn đến hiệu quả chưa mong muốn

Tất cả những nguyên nhân trên đều khiến học sinh lớp 1 chưa có nềntảng vững chắc, tâm thế chưa sẵn sàng để tiếp nhận kiến thức mới Vì vậy bảnthân tôi đã mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm nhỏ trong quá trình giảng

dạy nhằm giúp học sinh có kĩ năng “Giải toán có lời văn” ngày một tốt hơn.

C BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.

I Kế hoạch rèn toán cho học sinh như sau:

Với thực trạng lớp mình nên ngay từ đầu tôi đã :

Xây dựng tốt nề nếp học tập cho học sinh

Giáo dục cho học sinh hiểu về tầm quan trọng của việc học toán

Hướng dẫn các em chuẩn bị thật đầy đủ sách vở đúng quy định trước khiđến lớp

Vào đầu năm học nhà trường tạo điều kiện cho giáo viên chủ nhiệm họpphụ huynh học sinh Tôi đã trao đổi, bàn bạc với phụ huynh mua đầy đủ tàiliệu, đồ dùng cho các em học tốt môn học

Qua cuộc họp, tôi đã lắng nghe ý kiến của phụ huynh và thấy chính phụhuynh cũng đã nắm được tâm lý và ý thức, thái độ học tập của con em mìnhkhi học ở nhà Tôi đã nhấn mạnh đến việc dạy các em làm toán là một việckhông thể lơ là chậm trễ Phụ huynh cần kết hợp chặt chẽ với giáo viên để hỗtrợ các em Từ đó gia đình có sự đôn đốc, kiểm tra việc học ở nhà của con,giúp các con chuẩn bị bài tốt hơn trước khi đến lớp

Vào những giờ truy bài đầu giờ hay những tiết sinh hoạt cuối tuần tôithường đọc những bài thơ,những câu chuyện liên quan đến môn toán cho các

em nghe, tôi thấy các em rất hào hứng và có ảnh hưởng rất tích cực đến việchọc toán của các em

Tôi phân loại học sinh và lên kế hoạch dạy học - phụ đạo thêm 15 hoặc

30 phút những buổi học chính (đặc biệt là buổi 2) cho học sinh yếu kém Tôi

đã kiên trì, chịu khó dạy từng phần cho các em để các em đó theo kịp các bạntrong lớp, giúp các em không chán học, nản học khi học bài mới Ngay từnhững tiết dạy Toán đầu tiên, tôi đều đưa các em vào quy trình dạy học đúng,

đủ các bước và áp dụng các phương pháp linh hoạt phù hợp với nội dung củatừng bài dạy

Tôi luôn sắp xếp thời gian ở nhà hợp lý, để có mặt ở lớp sớm cùng các

em truy bài 15 phút đầu giờ Phát huy có hiệu quả tinh thần tự học của các em

Trang 10

Vì lẽ đó trong tất cả các giờ học tôi không rời bỏ học sinh yếu, tôi sắpxếp cho các em ngồi ngay đầu bàn để tiện theo dõi, xếp xen kẽ các em học tốtvào

các bàn để các em giúp cùng nhau tiến bộ Thành lập đôi bạn cùng tiến bộtrong mọi tiết học

Buổi sáng có hai tiết Hướng dẫn học nên tôi dành nhiều thời gian cho các

em luyện toán Thêm vào đó tôi thường tổ chức trò chơi trong phân môn này,nên thu hút các em tham gia làm toán rất sôi nổi Theo dõi sự chuyển biến vềcách làm của các em trong từng tiết học hằng ngày, hàng tuần, hàng tháng để

có biện pháp cụ thể rèn cho từng em Có những phần quà khích lệ, lời độngviên kịp thời giúp các em tự tin, mạnh dạn hơn khi trả lời hoặc khi làm toánnhanh và đúng

Mong muốn lớn nhất của tôi về việc nâng cao chất lượng giải Toán làgiúp tất cả các học sinh lớp mình, 35/ 35 em sau khi học xong chương trìnhToán lớp

1 nói chung và phần giải toán có lời văn nói riêng, các em sẽ biết:

- Cấu trúc của bài toán

- Biết giải và trình bày cách giải

- Bước đầu phát huy tư duy độc lập, sáng tạo, rèn luyện phương phápgiải toán, có khả năng diễn đạt, phân tích vấn đề, trình bày vấn đề bằng ngônngữ nói và viết, bám sát mục tiêu của giải toán có lời văn

- Khả năng giải toán có lời văn chính là phản ánh năng lực vận dụngkiến thức của học sinh Học sinh hiểu về mặt nội dung kiến thức toán học, vậndụng vào giải toán có lời văn kết hợp với kiến thức Tiếng Việt, để giải quyếtvấn đề trong toán học, từ ngôn ngữ thông thường trong các đề toán đưa ra chohọc sinh đọc - hiểu, để biết hướng giải và đưa ra phép tính, câu trả lời và đáp

số của bài toán

- Giải toán có lời văn góp phần củng cố kiến thức toán, rèn luyện kĩnăng diễn đạt, tính tích cực, rèn luyện ý chí vượt khó, cận thận, kiên trì vàlòng tự tin

II Biện pháp cụ thể:

Là giáo viên trực tiếp giảng dạy ở lớp 1, tôi nhận thấy kĩ năng giải toán ởlớp 1 đòi hỏi không cao lắm nhưng lứa tuổi 6 đến 7 tuổi thì lại gặp rất nhiềukhó khăn Nhưng vì những lý do, nguyên nhân và thực trạng ở lớp tôi dạy như

đã nêu ở trên làm tôi suy nghĩ, phải làm thế nào cho học sinh nắm bắt đượccách học một cách nhanh nhất về kĩ năng làm toán để các em áp dụng vào

Trang 11

việc học tập của mỡnh dễ dàng và hiệu quả nhất Điều đú thụi thỳc tụi khụngngừng học hỏi, nghiờn cứu về vấn đề này và bước đầu ỏp dụng thành cụng, cúhiệu quả.

Để đưa ra giải phỏp cụ thể và cú hiệu quả cao, giỏo viờn cần nắm rừ nộidung chương trỡnh dạy Toỏn lớp 1

Mụn Toỏn và mụn Học vần ( kỡ II chuyển sang Tập đọc ) chiếm 3 phầnthời gian, số tiết so với thời gian cỏc mụn học khỏc Mỗi tiết 35 - 40 phỳt chialàm 4 giai đoạn

- Giai đoạn 1:Từ tuần 1 đến tuần 6 Học sinh được học cỏc số đến 10,hỡnh vuụng, hỡnh trũn, hỡnh tam giỏc

- Giai đoạn 2: Từ tuần 7 đến tuần 17 Học sinh học về phộp cộng, phộptrừ trong phạm vi 10 Giai đoạn này lần đầu tiờn học học sinh được làm quenvới dạng toỏn: nhỡn hỡnh vẽ, nờu thành bài toỏn ở mức độ đơn giản rồi nờuphộp tớnh

- Giai đoạn 3: Từ tuần 18 đến tuần 28 Giai đoạn này học sinh học về cỏc

số trong phạm vi 100, đo độ dài, giải bài toỏn Đặc biệt là tiết 84 tuần 21 họcsinh được chớnh thức học về bài toỏn cú lời văn

- Giai đoạn 4: Từ tuần 29 đến hết tuần 35 Học sinh học về phộp cộng,phộp trừ trong phạm vi 100, học về tuần lễ và số đo thời gian Giai đoạn nàyhọc sinh thường xuyờn được rốn kĩ năng giải toỏn cú lời văn

1 Giai đoạn 1:

Ngay từ đầu học kỳ I, cỏc bài toỏn được giới thiệu ở mức độ: “ Nhỡnhỡnh vẽ viết phộp tớnh thớch hợp” Mục đớch là cho học sinh hiểu bài toỏn quahỡnh vẽ, suy nghĩ chọn phộp tớnh thớch hợp Thụng thường, sau mỗi phộp tớnh

là phần luyện tập cú một hỡnh vẽ 5 ụ vuụng để cho học sinh chọn và viết phộptớnh thớch hợp vào hỡnh vẽ.Ban đầu để giúp học sinh dễ thực hiện sách giáokhoa ghi sẵn các số và kết quả :

Trong chương trỡnh Toỏn lớp 1, giai đoạn đầu học sinh cũn đang học chữnờn chưa thể dạy ngay “ Bài toỏn cú lời văn” Song tụi đó cú ý ngầm chuẩn

bị từ xa cho việc làm này ngay từ bài “Luyện tập” - Trang 46 - SGK Toỏn 1,

về phộp cộng trong phạm vi 3, ở tuần 7 Tụi hiểu đú chớnh là yờu cầu: Tậpbiểu thị bằng tỡnh huống trong tranh bằng một phộp tớnh thớch hợp

Trang 12

Thật ra khi gặp bài toán này nhiều em sáng ý hoặc có một số em làm

mò cũng ra phép tính đúng nhưng tôi không cho các em tự làm Mà sau khixem tranh vẽ ở trang 46 (SGK) Bài đầu tiên rất quan trọng nên tôi cho họcsinh quan sát kĩ tranh để học sinh biết được: “Có mấy quả bóng? Thêm mấyquả bóng? Hỏi có tất cả mấy quả bóng ?” Để giúp các em phát triển, lời nói,ngôn ngữ của mình, tôi giúp học sinh nêu thành bài toán đơn với một phéptính cộng

Như: “Hà có 1 quả bóng Hà có 2 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy

quả bóng?”.

Vì học sinh lớp 1 có tính bắt chước rất nhanh nên tôi cho nhiều học sinhnêu lại bài toán theo ý hiểu của mình, không bắt buộc phải giống y nguyên bàitoán mẫu của cô giáo Sau khi làm như vậy, tôi thấy có nhiều em nêu bài toánrất nhanh, chứng tỏ các em phần nào đã nắm được nội dung bài

Tôi nhấn mạnh vào từ: “có, thêm, có tất cả” để học sinh dần hiểu được:

“thêm” có nghĩa là “ cộng” như bài đầu tiên học dấu cộng, dấu trừ, tôi đãhình thành khái niệm :

“ +” là thêm vào, là làm cho nhiều lên ;

“ - ” là bớt đi, là làm cho ít đi

Và cụm từ “có tất cả” để cho học sinh chắc chắn được rằng chúng ta sẽ thực

hiện viết phép tính cộng vào ô trống đó Đặc biệt tôi cũng không áp đặt họcsinh cứ phải nêu phép tính theo ý giáo viên mà để các em có thể nêu theo ýhiểu của mình:

Trang 13

1 + 2 = 3 hoặc 2 + 1 = 3.

1 + 2 = 3 Hoặc

HS1: Có 4 con chim đang đậu trên cành cây, 1 con nữa bay đến Hỏi có

tất cả mấy con chim?

4 + 1 = 5

HS2: Có 4 con chim đang đậu, 1 con nữa bay đến Hỏi có tất cả mấy con

chim?

4 + 1 = 5

HS 3: Có 1 con chim đang bay và 4 con chim đang đậu trên cành Hỏi có

tất cả mấy con chim?

1 + 4 = 5

Nhưng cũng có trường hợp như em:Nguyễn Anh Tuấn,Nguyễn HữuBảo,

Ngô Xuân Thắng, viết là:

Tôi nhấn mạnh vào các từ “bay đến”, Để học sinh viết phép tính phù hợp

với tình huống của bài nêu ra

Trang 14

Tương tự với các bài điền phép tính như vậy ở bài 4 trang 47, bài 4 trang

48, bài 4 trang 49, đến hết tiết 61: Luyện tập - Trang 85

VD: Bài 3 - Trang 85 - SGK Toán 1.

Tôi cho học sinh quan sát tranh và các em cần phải hiểu được:

Lúc đầu trên cành có 10 quả Sau đó rụng 2 quả Còn lại trên cành 8 quả

Ở bài toán này, tôi lưu ý cho các em từ “rụng” có nghĩa là trừ đi và cũng

động viên các em diễn đạt - trình bày bằng miệng để ghi đúng phép tính

Ở giai đoạn này, tôi cứ làm như vậy nên nên các em đã quen với việc:

- Xem tranh vẽ

- Nêu bài toán bằng lời

- Nêu câu trả lời

- Điền phép tính thích hợp ( với tình huống trong tranh)

Nên việc làm bài của các em rất tốt và đạt hiệu quả cao

2 Giai đoạn 2:

Đến cuối học kỳ I Từ tuần 16: ( Từ tiết 62 Trang 87 đến hết tiết 83

-Trang 113) Ở giai đoạn này, học sinh không quan sát tranh để nêu bài toán

thích hợp nữa mà chuyển sang: “ Viết phép tính thích hợp” dựa vào tóm tắtbài toán

VD:

Bài 3 - Phần b - Trang 87 - SGK Toán 1.

Trang 15

b) Có: 10 quả bóng

Cho: 3 quả bóng

Còn: quả bóng?

Tương tự giai đoạn 1, tôi tiếp tục cho học sinh đọc nhiều lần tóm tắt bài

toán rồi căn cứ vào các thuật ngữ: “ Có , cho , còn” để tiếp tục hướng dẫn học sinh: “ Cho” là bớt đi và từ “ Còn” là chúng ta phải thực hiện phép tính trừ

vào ô trống

Qua dạng toán này học sinh từng bước làm quen với lời thay cho hình

vẽ, học sinh dần thoát ly khỏi hình ảnh trực quan từng bước tiếp cận với đềtoán Yêu cầu học sinh phải đọc và hiểu được tóm tắt, biết diễn đề bài và lờigiải bài toán bằng lời, chọn phép tính thích hợp nhưng chưa cần viết lời giải.Tôi cho các em nêu thành bài toán

VD:

HS1: Có 10 quả bóng, cho 3 quả bóng Hỏi còn lại mấy quả bóng?.

Tôi khuyến khích các em gắn tên cụ thể cho bài toán, có thể lấy tên cácbạn trong lớp mình để nêu

HS2: Hùng có 10 quả bóng, Hùng cho Long 3 quả bóng Hỏi Hùng còn lại

Tương tự bài trên, tôi tiếp tục cho học sinh đọc nhiều lần tóm tắt bài

toán rồi căn cứ vào các thuật ngữ: “ Có , thêm , có tất cả” để tiếp tục hướng dẫn học sinh: “ Thêm” là thêm vào và từ “Có tất cả” là chúng ta phải thực hiện phép tính cộng vào ô trống.

5 + 2 = 7

Trang 16

Sau đó tôi yêu cầu học sinh phải đọc và hiểu được tóm tắt, biết diễn đềbài và lời giải bài toán bằng lời, chọn phép tính thích hợp nhưng chưa cần viếtlời giải Tôi cho các em nêu thành bài toán.

VD:

HS1: Có 5 con cá, thêm 2 con cá nữa Hỏi có tất cả mấy con cá?.

HS2:Trong chậu có 5 con cá, bố thả thêm 2 con cá nữa.Hỏi trong chậu có

Tôi cho rằng, việc làm này của tôi phát triển ngôn ngữ và khả năng tựđặt

đề toán của học sinh rất là tốt Rèn luyện thành thạo kĩ năng này sẽ là bướcđệm

thuận lợi cho các em khi bước vào giai đoạn học: “ Bài toán có lời văn”

3 Giai đoạn 3: Tiết 84 - Trang 115 - SGK Toán 1.

Mặc dù chỉ có một tiết, nhưng tôi tách riêng làm giai đoạn 3 vì ở tiếtnày các em chính thức nhận biết được cấu tạo bài toán có lời văn Các emđược học với đề toán chưa hoàn thiện Tôi tiếp tục sử dụng kết hợp kĩ năngquan sát tranh và gợi mở vấn đáp mà học sinh đã rất thành thạo ở hai giaiđoạn trên, nên hoàn thiện nốt đề bài toán là điều không khó đối với học sinhlớp tôi Qua tiết dạy này tôi giảng thật kĩ để học sinh nắm chắc một bài toán

có lời văn ở lớp 1 gồm 2 phần

+ Phần cho biết: gồm có 2 ý: Có ,thêm.

Có và.

+ Phần hỏi: Có tất cả bao nhiêu?

Trong tiết có 4 bài toán có yêu cầu khác nhau

VD: Bài 1 - Trang 115 - SGK Toán 1.

Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài toán

Có bạn, có thêm bạn đang đi tới Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn?

VD: Bài 2 - Trang 115 - SGK Toán 1.

Trang 17

Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài toán.

Có con thỏ, có thêm con thỏ đang chạy tới Hỏi có tất cả bao nhiêucon thỏ?

( Hai bài toán còn thiếu số).

VD: Bài 3 - Trang 116 - SGK Toán 1.

Viết tiếp câu hỏi để có bài toán

Có 1 gà mẹ và 7 gà con

Hỏi ?

( Bài toán còn thiếu câu câu hỏi – thiếu cái cần tìm).

VD: Bài 4 – Trang 116 – SGK Toán 1.

Nhìn tranh vẽ, viết tiếp vào chỗ chấm để có bài toán:

Ngày đăng: 25/01/2021, 14:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w