Vốn lưu động là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông quá quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán các n
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ KHAI THÁC VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I/ Khái niệm cơ bản về vốn
1/ Vốn hiện vật
Vốn hiện vật là các hàng hoá đã được sản xuất và được sử dụng đẻ sản xuất
ra các hàng hoá và dịch vụ khác có lợi hơn
Vốn hiện vật bao gồm máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nghuyên nhiên vật liệu
dự trữ do quá trình sản xuất và kinh doanh Vốn hiện vật và đất đai gộp lại tạo nên tài sản hữu hình của doanh nghiệp Chúng là của cải hoặc tài sản bởi vì chúng có tính lâu bền Chúng là hữu hình bởi vì chúng là hàng hoá hiện vật có thể sờ thấy được Lao động kết hợp với tài sản sẽ tạo ta các sản phẩm cầnthiết cho xã hội
2/ Vốn nhân lực
Vốn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà một người lao động tích luỹ được Nó được đánh giá cao vì có tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai Cũng như vốn vật chất, vốn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mực đích tạo ra thu nhập trong tương lai
3/ Vốn tài chính
Vốn tài chính không phải là tài sản hữu hình Nó không thể trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ mặc dù chúng được sử dụng để mua các yếu tố dùng để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ
Như vậy sự kết hợp hài hoà giữa vốn nhân lực, vốn vật chất và vốn tài chính giúp cho các doanh nghiệp tiến hành sản xuất ra những sản phẩm cần thiết cho xã hội Bất cứ một quá trình sản xuất nào cũng cần phải có vốn Vốn là khâu mắt xích quan trọng đầu tiên của một quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá
Vốn tài chính được thể hiện dưới các hình thức tiền tệ Tiền tệ trong tuỹ nghiệp vụ của Ngân hàng, tiền tồn quỹ tại các đơn vị và các tổ chức kinh tế, tiền tiết kiệm trong dân cư Nguồn vốn này rất phong phú và đa dạng nhưng chúng ta chưa khai thác hết để phục vụ cho việc phát triển kinh tế
II/ Vốn và các hình thức tạo vốn của ngân hàng thưong mại trong nền kinh tế thị trường
Trang 21/ Khái niệm cơ bản về vốn của Ngân hàngthương mại.
Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do NH tạo lập hoặc huy động, dùng để cho vay, đầu tư hoặc hiện các dịch vụ kinh doanh khác
Thực chất, nguồn vốn NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời sản xuất trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, mà người chủ sở hữu chúng gửi vào NH với các mục đích khác nhau Hay nói cách khác, họ chỉ có quyền sở hữu còn quyền sử dụng vốn tiền tệ họ chuyển nhượng cho NH, để rồi ngân hàng phải trả lại cho họ một khảon thu nhập Và như vậy ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và kích tích mọi hoạt động kinh tế phát triển Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định đến sự tồn tại và hoạt động kh của ngân hàng nông nghiệp Nhìn chung, vốn chi phối toàn bộ các hoạt động của ngân hàng thương mại
2/ Két cấu và tính chất vốn kinh doanh của NHTM
2.1/ Vốn tự có
Vốn tự có củan NHTM là những giá trị tiền tệ của NHTM tạo lập được, thuộc sở hữu của ngân hàng Vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi mới thành lập một ngân hàng Do tích chất thường xuyên ổn định của vốn tự có, ngân àhng có thể chủ động sử dụng vào các mục đích khác nhau như; trang bị cơ sở vật chất, tạo tái tài sản cố định (văn phòng, kho tàng, trang thiết bị ) phục vụ cho bản thân Ngân hàng, cho vay và đặc biệt là tham gia đầu tư, góp vốn liên doanh Mạt khác, với chức năng bảo vệ, vốn tự có được coi như tài sản đảm bảo gây lòng tin với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp Ngân hàng gặp nhiều thua lỗ
Nó còn là một trong những căn cứ quyết định đến quy mô và khối lượng vốn huy động của Ngân hàng (theo pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính quy định vốn huy động không được vượt quá 20 lần vốn tự có) Như vậy, quy mo và sự tăng trưởng của vốn tự có sẽ quyết định đến năng lực và ưu thế phát triển của NH Về bản chất, vốn tự có là một bộ phận của tài sản nợ, mà mỗi thành phần của nó gắn liền với một loại nghiệp vụ nhất định
Trang 3Vốn tự có của NHTM gồm những thành phần cơ bản sau:
- Vố cơ bản là vốn pháp định - vốn điều lệ Trong đó mức vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập Ngân hàng do pháp luật quy ddịnh Khác với vốn pháp định, vốn điều lệ lại là vốn do các cổ đông đóng góp và được ghi vào trong điều lệ hoạt động của Ngân hàng và theo quy định tối thiểu phải bằng vốn pháp định Đối với các Ngân hàng tư Ngân hàngân, đây là vốn sở hữu riêng của doanh nghiệp và được hìNgân hàng thàNgân hàng sau một quá trìNgân hàng tích
tụ tập trung vốn lại, đối với các Ngân hàng quốc doanh được phép hoạt động trên
cơ sở vốn ban đầu do ngân sách cấp Vốn điều lệ của các Ngân hàng cổ phần do các cổ đông đóng góp dưới hình thức mua cổ phiếu, còn với Ngân hàng liên doanhlà sự góp vốn từ các bên liên doanh
- Vố tự có bổ sung: Vốn của các NHTM không ngừng được tăng lên theo thời gian nhờ có nguồn vốn bổ sung Vố tự có bổ sung bao gồm:
+ Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, có mục đích tăng cường vốn tự có ban đầu
+ Quỹ dự trữ đặc biệt để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nhằm bảo toàn vốn điều lệ
+ Ngoài các quỹ trên, vốn tự có bổ sung còn bao gồm phần lợi nhuận chưa phân bổ hoặc các quỹ nghiệp vụ khác như: Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ Ngân hàng, quỹ phúc lợi, khen thưởng, khấu hao
2.2 Vốn huy động
Vốn lưu động là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông quá quá trình thực hiện các nghiệp
vụ tín dụng, thanh toán các nghiệp vụ kinh doanh khác và được làm vốn để kinh doanh
Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả
cả gốc và lãi đến kỳ hạn (đối với tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn để chi trả (đối với tiền gửi không có kỳ hạn) Vốn huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHNN
Trang 4Vốn huy động luôn biến động, nên Ngân hàng không được phép sử dụng hết
số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán Vốn huy động bao gồm:
- Tiền gửi: tiền gửi tại NHTM bao gồm tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không
kỳ hạn
+ Tiền gửi có kỳ hạn: là khoản tiền gửi mà người sử dụng có thể rút ra bằng séc hay tiền mặt để có thể sử dụng chúng báat cứ lúc nào và Ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng Tiền gửi không kỳ hạn có mức lãi suất thấp hoặc không được trả lãi và bao gồm hai loại:
i Tiền gửi thanh toán: Đó là các khoản tiền gửi không kỳ hạn trước hết được
sử dụng để tiến hành thanh toán, chi trả bằng vốn trên tài khoản vãng lai Thông thường tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền có thời hạn và lãi suất cao
Tiền gửi có kỳ hạn giữ vai trò trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, Ngân hàng có thể sử dụng phần lớn tồn khoản vào kinh doanh Chính vì vậy, các ngân hàng Thương mại luôn tìm cách
đa dạng hoá loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn khác nhau với các mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng
- Tiền gửi tiết kiệm
Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của cá nhân người lao động chưa
sử dụng vào tiêu dùng Họ gửi vào Ngân hàng với mục đích tích luỹ tiền một cách
an toàn và hưởng lãi từ số tiền đó Tiền gửi tiết kiệm là một dạng đặc biệt để tích luỹ tiền tệ trong tiêu dùng cá nhâ Trên thực tế, trong nền kinh tế thị trường tiền gửi tiết kiệm được phát triển dưới hai loại hình tiết kiệm sau:
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào nhưng không được sử dụng vào các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khoản tiền gửi có sự thoả thuận về thời hạn gửi và có rút tiền, có mức lãi suất cao hơn với tiền gửi không kỳ hạn
- Các nguồn huy động khác:
Trang 5Bên cạnh phương thức nhận tiền gửi, các Ngân hàng Thương mại còn phát hành chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu Thực chát các nghiệp vụ này là Ngân hàng huy động vốn tiền tệ bằng việc phát hành chứng từ có giá Trong đó, chứng chỉ tiền gửi là phiếu nợ ngắn hạn với mệnh giá quy định, trái phiếu là loại phiếu nợ trung
và dài hạn Hai loại phiếu này được Ngân hàng phát hành từng đợt, tuỳ theo mục đích với sự chấp nhận của Ngân hàng trung ương hoặc hội đồng chứng khoán quốc gia
Tổng huy động vốn dưới hình thức phát hành chứng chỉ tiền gửi trái phiếu Ngân hàng, các Ngân hàng Thương mại phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất huy động.Nhgiệp vụ này cjỉ được tiến hành khi Ngân hàng thiếu vốn mà vốn tự có
và vốn huy động không đủ trang trải Như vậy, khi huy động vốn dưới hình thức này, cac Ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định về khối lượng huy động, mức lãi suất và thời hạn, phương pháp huy động, khi đã huy động đủ khối lượng theo dự kiến các ngân hàng sẽ dừng việc huy động (bán) kỳ phiếu, trái phiếu
Tóm lại vốn huy động là công cụ chính đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM Nó là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng, giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, NHTM tuân thủ theo quy luật về mức vốn huy động tối đa không được vượt quá
20 lần vốn tự có, đồng thời mở tài khoản tiền gửu tại NHNN để duy trì ở đó khối lượng bắt buộc Song nếu một Ngân hàng kinh doanh tiền tệ có hiệu qảu thì không những nguồn lợi của Ngân hàng được tăng lên mà còn làm cho uy tín của nó trên thị trường cũng tăng theo, chính vì thế nguồn vốn huy động vào Ngân hàng ngày càng tăng theo, mở rộng quy mô hoạt động để phục vụ cho phát triển kinh tế
2.3 Vốn đi vay
Vốn đi vay là quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng Thương mại với NHNH, hoặc giữa các NHTM với nhau hay các tổ chức tín dụng khác Các NHTM sẽ đi vay vốn để bổ sung vào vốn hoạt động của mình khi Ngân hàng đã sử dụng hết vốn khả dụng mà vẫn không đủ hoạt động vốn, hay nói cách khác Ngân hàng tạm thời thiếu vốn khả dụng Trong trườn hợp vốn vay trên mà không đáp ứng được nhu cầu
sử dụng vốn của NHTM thì NHTM sẽ đi vay của NHNN
Trang 6Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn, vốn vay NHTM được chia thành hai loại: Vốn vay ngắn hạn bổ sung, vay để thanh toán và vay để tái cấp vốn
+ Vốn vay ngắn hạn bổ sung là hình thứcmmà NHTM xin vay vốn nganứ hạn bổ sung của mình Trong hình thức này, các Ngân hàng chỉ được vay khi còn hạn mức dụng hoặc trong hạn mức tín dụng mà Ngân hàng đã thoả thuận
+ Vố vay để thanh toán: Các Ngân hàng Thương mại vay Ngân hàng nhà nước nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời trong thanh toán (thời hạn vay thường ngắn)
+ Tái cấp vốn Ngân hàng nhà nước cho Ngân hàng Thương mại vay trên cơ
sở chứng từ có giá Các chứng từ phải đảm bảo tính hợp lệ, hợp pháp đảm bảo an toàn Tái cấp vốn gồm hai hình thức:
i Cho vay chiết khấu: Ngân hàng nhà nước nhận các chứng từ có giá mà NHTM đã chiết khấu trước đây để thực hiện các nghiệp vụ giống như các NHTM
đã làm Tuy nhiên, việc cho vay tái chiết khấu đôiư với Ngân hàng Thương mại đã được giứoi hạn trong mức cho phép (hạn mức tía chiéet khấu) để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước
ii Cho vay bản đảm: là hình thức các NHTM đem các chứng từ có giá đến Ngân hàng nhà nước để làm vật tư bảo đảm xin vay vốn Căn cứ trên tổng mệnh giá các chứng từ có giá làm vật tư bảo đảm, Ngân hàng nhà nước sẽ cho vay theo
tỷ lệ nhất định tuỳ theo chính sách quản lý giá của Ngân hàng nhà nức trong từng thời kỳ
Vốn vay Ngân hàng nhà nức là quan hệ trực tiếp giữa các NHTM nằm trong
sự điều tiết của chính sách tiền tệ Khi Ngân hàng nhà nước sử dụng công cụ thị trường mở mua bán các trái phiếu, kỳ phiếu ngắn hạn, hệ thống ngân hàng Thương mại phải chịu sự kiểm soát gắt gao của Ngân hàng nhà nước
2.4 Vốn khác
Trong quá trình làm trung gian thanh toán, NHTM cũng tạo được một khoản vốn trong thanh toán: vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài khoản tiền gửi séc bảo chi, sséc định mức và các khoản tiền phong toả do Ngân hàng chấp nhận hối
Trang 7phiếu Thương mại Các khoản tiền tạm thời được trích khỏi tài khoản này nhập vào tài khoản khác chờ sử dụng, nên được coi là tiền nhàn rỗi
Thông qua nghiệp vụ đại lý, NHTM cũng thu hút được một lượng vốn đáng
kể trong quá trình thu hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý cho tổ chức tín dụng khác, nhận vận chuyển cho một kách hàng hoặc một dự án đầu tư Do việc phát tiến được thực hiện theo tiến độ công việc, nên Ngân hàng còn có thể sử dụng tạm thời tồn khoản đó vào kinh doanh
3 Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh Ngân hàng
3.1 Vốn là cơ sở để Ngân hàng Thương mại tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì phải có vốn, bởi vì vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết đinhj khả năng kinh doanh Riêng đối với Ngân hàng, vốn là cơ sở để Ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của mình Nói cách khác, NHTM không có vốn thì không thực hiện được các nghiệp vụ kinh doanh Bởi vì dặc trưng của Ngân hàng, vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là phương tiện kinh doanh chủ yếu của NHTM Ngân hàng là đơn vị tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường tiền
tệ (thị trường vốn ngắn hạn) và trên thị trường chưngs khoán (thị trường vốn dài hạn) Những Ngân hàng nhiều vốn là những Ngân hàng có thế mạnh trong kinh doanh Chính vì thế, có thể nói vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của Ngân hàng Do đó, ngoài vốn ban đầu cần thiết (tức là đủ vốn theo điều lệ luật định) thì Ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình
3.2 Vốn của Ngân hàng sẽ quyết định quy mo hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của Ngân hàng
Vốn của Ngân hàng sẽ quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng Thông thường, nếu so với các Ngân hàng lớn thì Ngân hàng nhỏ có khoản mục đầu tư cho vay kém đã dạng hơn, phạm vi cho vay của các Ngân hàng này cũng nhỏ hơn Trong khi, các Ngân hàng lớn cho vay được tại các thị trường trong vùng, thậm chí trong nước và quốc tế, thì các Ngân hàng nhỏ bị giới hạn về
Trang 8phạm vị hoạt động hẹp, mà chủ yếu trong cộng đồng Thêm vào đó, do khả năng hạn hẹp nên các Ngân hàng nhỏ không phản ứng nhạy bén với sự biến động của lãi suất gây khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế Nếu khả năng của Ngân hàng đó dồi dào, thì chắc chắn Ngân hàng sẽ mở rộng thị trường tín dụng và các dịch vụ Ngân hàng
Thật vậy, trong nền kinh tế thị trường, để mở rộng quy hoạt động đòi hỏi các Ngân hàng lớn phải đủ lớn trên thị trường là điều trọng yếu Uy tín đó phải được thể hiện trước hết ở khả năng thanh toán chi trả cho khách hàng, khả năng thanh toán càng cao thì vốn khả dụng của Ngân hàng càng lớn Vì vậy loại trừ nhân tố khác, khả năng thanh toán của Ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của Ngân hàng nói chung và vốn khả dụng nói riêng Với tiềm năng vốn lớn, Ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô hoạt động ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnh tranhcó hiệu quả nhằm vừa giữ uy tín, vừa nâng cao thanh thế của Ngân hàng trên thương trường
3.3 Vốn của Ngân hàng quyết định năng lực cạnh tranh
Thực tế đã chứng minh: quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật hiện đại của Ngân hàng là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn Đồng thời, với khả năng vốn là điều kiện thuận lợi đối với Ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động
về thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức lãi suất vừa phải trả cho khách hàng Điề đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của Ngân hàng sẽ tăng nhanh chóng và Ngân hàng có nhiều thuận lợi trong kinh doanh Đây cũng là điều kiện bổ sung thêm vốn tự có của Ngân hàng, tăng cường
cơ sở vật chất và quy mô hoạt động của Ngân hàng trên mọi lĩnh vực
Đồng thời, vốn ngân hàng lớn sẽ giúp cho Ngân hàng có đủ khả năng tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường, không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn mở rộng hình thức liên doanh, liên kết, kinh doanh trên thị trường chứng khoán Chính các hình thức kinh doanh đa năng này sẽ góp phần phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh và tạo thêm vốn cho Ngân hàng đồng thoì tăng sức cạnh tranh của Ngân hàng trên thị trường
Trang 94 Các hình thức tạo vốn của NHTM trong nền kinh tế thị trường
Các NHTM làm nhiệm vụ vay tiền (hầu hết từ những gửi tiền) và cho vay hoặc đầu tư với mục đích hưởng lợi qua lãi suất Đây là công việc của một trung gian tài chính, đóng vai trò giữa người có vốn và người cần vốn Quá trình tạo lập vốn của các NHTM được thực hiện dưới các hình thức sau:
4.1 Tạo vốn qua huy động tiền gửi không kỳ hạn
Đây là loại tiền gửi mà chủ nhân của nó có thể rút tiền hoặc trả tiền cho bên thứ ba bằng cáhc phát hành séc hoặc công cụ thanh toán không dùng tiền mặt khác
Đối với khách hàng, việc dễ dàng chuyển nhượng được xem như là một yếu
tố quan trọng, còn việc hưởng lãi đối với số vốn dùng vào mục đích giao dịch chỉ
là thứ yếu Do vây, loại tiền gửi này được mệnh danh là tiền gửi theo yêu càu không đem lại lãi suất cụ thể ở Việt Nam tiềng gửi thuộc loại này được thể hiện dưới các hình thức như tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế và tài khoản tiền gửi cá nhân Do tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam còn quá thấp, để khuyến khích việc thực hiện thanh toán qua Ngân hàng, các NHTM ở Việt Nam đã tiến hành trả lãi cho tiền gửi này (0,5% đối với tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của các đơn vị, tổ chức kinh tế và tiền gửi cá nhân) Trong tương lai gần, khi nhu cầu thanh toán của dân cư phát triển, dịch vụ thanh toán của Ngân hàng sẽ thay thế, khuyến khích bằng lãi suất tiền gửi ở các nước phát triển loại tiền gửi này chiếm một vị trí quan trọng trong kết câu nguồn vốn của NHTM
4.2 Tạo vốn qua huy động tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm
KHác với tiền gửi không kỳ hạn có số dư tăng giảm phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của chủ tài khoản, công tác quản lý tiền mặt của Ngân hàng, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm mang tính nhạy cảm rất cao đối với lãi suất Quá trình tạo vốn này được thực hiện dưới hai hình thức sau:
+ tiền gửi có kỳ hạn
Mức lãi suất đối với các chứng chỉ tiền gửi có thể cố định hoặc linh hịat tuỳ theo sự lựa chọn của khách hàng và đối với các chứng chỉ có lãi suất linh hoạt, khách hàng có thể gửi thêm tiền trước hạn định Các chứng chỉ tiền gửi đã được đa dạng hoá nhằm đáp ứng được sự cạnh tranh trong huy động vốn của các Ngân
Trang 10hàng Ví dụ: Các chứng chỉ tiền gửi với mệnh giá cao do Ngân hàng lớn phát hành
có thể chuyển nhượng được, và chính những người mua chứng khoán đã tạo ra một thị trường phụ cho các chứng chỉ này Như vậy, Ngân hàng có thể thu hút vốn thanh toáừ các nhà đầu tư lớn, mà lẽ ra các nhà đầu tư này đã có thể đầu tư vào trái phiếu kho bạc hay vào thị trường tiền tệ Các chứng chỉ tiền gửi có khả năng chuyển nhượng tốt này thường được các công ty, quỹ hưu trí và các tổ chữc chính quyền đầu tư với khối lượng lớn và được giao dịch trên thị trường chứng khoán thứ cấp, trước hạn định thanh toán
ở Việt Nam, hình thức tiền gửi có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi (kỳ phiếu ngân hàng có mục đích) đã xuất hiện với các thời hạn 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng Tuy mới được sử dụng trong hai năm trở lại đây, song hình thức huy động
đã ngày càng phát huy vai trò trong việc tạo vốn của các Ngân hàng Trên thực tế,
tỷ trọng huy động vốn bằng hình thức phát hành kỳ phiếu Ngân hàng chiếm một tỷ
lệ tương đối so với các hình thức huy động khác
+ tiền gửi Ngân hàng
Từ lâu tiền gửi tiết kiệm đã được coi là công cụ huy động vốn truyền thống của các NHTM Vốn huy động từ các tài khoản tiết kiệm chiếm một tỷ trọng đáng
kể trong tiền gửi Ngân hàng Tiền gửi tiết kiệm bao gồnm các loại sau: loại không
kỳ hạn, có kỳ hạn và có kỳ hạn dài
- Tiền gửi không kỳ hạn
Thực chất đay là khoản tiền gửi tiết kiệm thông thường Đối với khoản tiền gửi này, chủ tài khoản có thể rút tiền ra bất ú lúc nào mà không phải báo trước nhưng chỉ được rút bằng tiền mặt và người gửi tiền được hưởng lãi suất Tuy nhiên,
số dư tài khoản này thường không lớn, nhưng có ưu điểm lớn hơn so với các tài khoản tiền gửi giao dịch ở chỗ số dư này ít biến động Chính vì vậy, đối vối loại tiền gửi này, các NHTM thường trả lãi giống như tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế NHTM cần tạo điều kiện mở rộng khai thác khoản vốn này
- Tiết kiệm có kỳ hạn
Các NHTM thường huy động tiết kiệm với kỳ hạn từ 3 tháng đến 1 năm Về nguyên tắc, một khi khách hàng đã gửi tiền vào tài khoản này, thì không được rút