Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: - Phương pháp quan sát Tham gia dự giờ một số tiết dạy của Giáo viên có sử dụng phương pháp “ Bàn tay nặn bột”, quan sát quá trình học tập và thá
Trang 1Có rất nhiều phương pháp dạy học tích cực có thể sử dụng và đem lại hiệuquả cao khi dạy môn Tự nhiên xã hội lớp 2, một trong số những phương pháp
dạy học tích cực đó thì phương pháp “ Bàn tay nặn bột” mang lại hiệu quả
cao hơn cả nếu sử dụng trong các bài học phù hợp
Với mong muốn tìm ra những phương pháp dạy học phù hợp và đem lạihiệu quả cao nhất trong giảng dạy, chính vì vậy tôi lựa chọn “ Một số kinh
nghiệm khi áp dụng phương pháp “ Bàn tay nặn bột” trong giảng dạy môn
Tự nhiên xã hội lớp 2” làm đề tài nghiên cứu
II Mục đích và phương pháp nghiên cứu
1 Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu nội dung, nghiên cứu các phương pháp dạy học môn Tự nhiênxã hội lớp 2, những khó khăn, thiếu sót mà học sinh và giáo viên thườngmắc phải trong khi học môn Tự nhiên xã hội
- Bước đầu tìm hiểu và áp dụng phương pháp “ Bàn tay nặn bột” vào một
số tiết dạy trong môn tự nhiên xã hội – Lớp 2
2 Phương pháp nghiên cứu:
a Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Trang 2Thu thập thông tin tài liệu từ các lý thuyết ( đọc sách, báo, tạp chí giáodục, tham khảo các đề tài đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiêncứu…) nhằm xây dựng hệ thống cơ sở lý luận một cách hoàn chỉnh
b Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát
Tham gia dự giờ một số tiết dạy của Giáo viên có sử dụng phương pháp “
Bàn tay nặn bột”, quan sát quá trình học tập và thái độ học của học sinh
trong quá trình học theo phương pháp này
- Phương pháp điều tra:
Trao đổi với đồng nghiệp về những ưu điểm của phương pháp “ Bàn tay
nặn bột” và những hiệu quả mà phương pháp này mang lại.
- Các phương pháp thống kê toán học
Bằng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu, rút ra kết luận phùhợp
III Giới hạn đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu việc sử dụng phương pháp “ Bàn tay nặn bột” trong môn Tự nhiên xã hội – Lớp 2 Cụ thể là bài: Cơ quan tiêu hóa – tuần 5.
IV Giả thiết nghiên cứu:
Phương pháp Bàn tay nặn bột có khả năng tạo nên tính tò mò, ham muốn
khám phá, yêu và say mê khoa học của học sinh Hình thành cho học sinh mộtthế giới quan khoa học, một mục tiêu mà giáo dục hiện đại đang hướng đến
Phương pháp Bàn tay nặn bột huy động cả năm giác quan: xúc giác, thị giác,
thính giác, khứu giác và vị giác trong quá trình học sinh tiếp xúc với thế giới baoquanh để khám phá và tìm hiểu chúng
Ngoài ra khi áp dụng phương pháp này, giáo viên có thể rèn luyện được
nhiều hơn cho học sinh khả năng ngôn ngữ ( ngôn ngữ nói thông qua giao tiếp
với giáo viên, với các thành viên trong nhóm làm việc, trình bày trước lớp, trước
nhóm và ngôn ngữ viết thông qua trình bày trong vở thí nghiệm , ghi chép vào
vở ghi )
Trang 3Học sinh rèn luyện ngôn ngữ nói và viết thông qua giao tiếp và trình bày vởthực hành
Không khí học tập vui vẻ, sôi nổi, HS hứng thú và cảm thấy nhẹ nhàng,không bị áp lực trong học tập
V Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu:
1.Cơ sở lý luận:
Hiện nay vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở bậc tiểu học đang diễn ra một cách sôi động, được nghiên cứu ứng dụng rộng rãi cả về lí luận cũng như vềmặt thực tiển Việc dạy học theo hướng “ tích cực hóa người học” hay “hướng tập trung vào học sinh” tăng cường phương pháp dạy học tổ chức cho học sinh hoạt động để các em chiếm lĩnh kiến thức bằng chính hoạt động học của chính mình là định hướng cơ bản trong đổi mới phương pháp dạy học của Tiểu học.Hòa cùng với công cuộc đổi mới mạnh mẽ về phương pháp, hình thức tổ chức dạy học trên toàn ngành, môn Tự nhiên xã hội cũng có những bước chuyểnmình, từng bước vận dụng thay đổi các phương pháp dạy học nhằm tích cực hóacác hoạt động của học sinh, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức
Để việc dạy Tự nhiên xã hội có hiệu quả cần sử dụng những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, một trong những phương pháp đó là
phương pháp “ Bàn tay nặn bột” Trong những tiết dạy ở môn Tự nhiên xã hội như tiết Tự nhiên xã hội – Tuần 5 – Bài: Cơ quan tiêu hóa, ngoài những phương
pháp đặc trưng của môn học, tôi chủ yếu sử dụng và phát huy hiệu quả của
phương pháp “ Bàn tay nặn bột”.
2 Phương pháp “ Bàn tay nặn bột”
* Khái niệm phương pháp “ Bàn tay nặn bột”
Phương pháp dạy học “ Bàn tay nặn bột” (BTNB), tiếng Pháp là La main
à la pâte - viết tắt là LAMAP; tiếng Anh là Hands-on, là phương pháp dạyhọc khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi - nghiên cứu, áp dụng cho việcdạy học các môn khoa học tự nhiên Phương pháp này được khởi xướng
Trang 4bởi Giáo sư Georges Charpak (Giải Nobel Vật lý năm 1992) Theo phươngpháp BTNB, dưới sự giúp đỡ của giáo viên, chính học sinh tìm ra câu trảlời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thínghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiếnthức cho mình.
Đứng trước một sự vật hiện tượng, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi,các giả thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành thực nghiệm nghiêncứu để kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận,
so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức
* Đặc điểm của phương pháp “ Bàn tay nặn bột”
+ Ưu điểm của phương pháp “ Bàn tay nặn bột”
Với phương pháp dạy học truyền thống, một bộ phận học sinh hay cảm thấy nhàm chán và không có hứng thú học tập các môn Tự nhiên và xã hội, khoa học
Nhưng với “ Bàn tay nặn bột” thì hoàn toàn khác, học sinh chủ động hơn trong
học tập vì khi đó các em được thực nghiệm, quan sát và tiếp xúc trực tiếp tại lớphọc Trẻ luôn cảm thấy tò mò trước những hiện tượng mới mẻ của cuộc sống
xung quanh, các em luôn đặt ra câu hỏi “ tại sao” Phương pháp “ Bàn tay nặn
bột” là sự quy trình hóa một cách logic phương pháp dạy học, dẫn dắt học sinh
đi từ chưa biết đến biết theo một phương pháp mới mẻ là để học sinh tiếp xúc với hiện tượng, sau đó giúp các em giải thích bằng cách tự mình tiến hành quan sát qua thực nghiệm Phương pháp này giúp các em không chỉ nhớ lâu, mà còn hiểu rõ câu trả lời mình tìm được Qua đó, học sinh sẽ hình thành khả năng suy luận theo phương pháp nghiên cứu từ nhỏ và hình thành tác phong, phương pháplàm việc khi trưởng thành
Có thể nói phương pháp dạy học “ Bàn tay nặn bột” là phương pháp dạy
hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm, thông qua cách học sinh chia nhóm để tự làm, tự trao đổi, nghiên cứu, quan sát để tìm ra câu trả lời cho các vấn đề trong cuộc sống Người thầy chỉ đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn
Trang 5Chính vì vậy ưu điểm của phương pháp này là ngoài dạy kiến thức, giáo viên còn dạy học sinh cách tự học, tự khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu cuộc sống xungquanh Đồng thời, tạo sự ham muốn khám phá, say mê khoa học của học sinh
Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, Phương pháp “ Bàn tay nặn bột”
còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói, viết, làm việc nhóm, … và hình thành năng lực nghiên cứu khoa học cho học sinh
Không khí lớp học trong tiết tự nhiên xã hội dạy theo phương pháp “ bàn tay
nặn bột” lúc nào cũng sinh động và hấp dẫn mỗi khi giáo viên gợi ý một vấn đề,
ví dụ: Trong bài Loài vật sống ở đâu? – Môn Tự nhiên xã hội lớp 2 – Tuần 27 dạy theo phương pháp “ Bàn tay năn bột” học sinh chủ động hơn khi đưa ra
những thắc mắc, đặt câu hỏi cho nhau, dựa vào kinh nghiệm sống cùng nhauthảo luận và đưa ra câu trả lời về nơi sống của các loài vật
Học sinh hứng thú học tập trong tiết tự nhiên xã hội dạy theo phương pháp
“ Bàn tay nặn bột”
Từ việc dẫn dắt học sinh đi từ chưa biết đến biết Giáo viên sẽ cho học sinhtiếp xúc với hiện tượng, sau đó giúp các em giải thích bằng cách tự mình tiếnhành nghiên cứu qua thực nghiệm Nhờ đó, học sinh sẽ hình thành khả năng suyluận theo phương pháp nghiên cứu từ nhỏ, và điều này sẽ góp phần không nhỏtrong sự hình thành tác phong và phương pháp làm việc của các em khi trưởngthành Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác “Bàn tay nặn bột”luôn coi học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là ngườitìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên
Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, BTNB còn chú ý nhiều đếnviệc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho HS
Trang 6Học sinh trình bày quan niệm ban đầu của mình trong vở Thực hành
+ Một số tồn tại của phương pháp “ Bàn tay nặn bột”
Bên cạnh những ưu điểm trên phương pháp “ Bàn tay nặn bột” cũng có một vài tồn tại: Thời gian đầu áp dụng phương pháp “ Bàn tay nặn bột”
các giáo viên gặp rất nhiều khó khăn vì thiếu về cơ sở vật chất,phòng thí nghiệm…
Mặt khác, số học sinh trên một lớp quá đông nên việc tổ chức học tập theonhóm ( khi tiến hành thực nghiệm) rất khó khăn Điều này cũng gây khó khăntrong việc tổ chức các hoạt động tham quan, điều tra thực tế cho học sinh
+ Cơ sở sư phạm của tiến trình dạy học theo phương pháp “ Bàn tay nặn bột”
Phương pháp“ Bàn tay nặn bột” đề xuất một tiến trình sư phạm ưu tiên
xâydựng những tri thức (hiểu biết, kiến thức) bằng khai thác, thực nghiệm vàthảo luận
Đó là sự thực hành khoa học bằng hành động, hỏi đáp, tìm tòi, thực nghiệm,xây dựng kiến thức chứ không phải phát biểu lại các kiến thức có sẵn xuất phát
từ sự ghi nhớ thuần túy
Học sinh tự mình thực hiện các thí nghiệm, các suy nghĩ và thảo luận để hiểuđược các kiến thức cho chính mình, vì vậy các kiến thức khoa học được học sinhghi nhớ chắc hơn, sâu hơn
Trang 7Học sinh học tập nhờ hành động, cuốn hút mình trong hành động; Học sinhhọc tập tiến bộ dần bằng cách tự nghi vấn; Học sinh học tập bằng hỏi đáp vớicác học sinh cùng lớp (theo nhóm làm việc 2 người hoặc với nhóm lớn), bằngcách trình bày quan điểm cá nhân của mình, đối lập với quan điểm của bạn và vềcác kết quả thực nghiệm để kiểm tra sự đúng đắn và tính hiệu lực của nó.
3 Cơ sở tâm lý:
Học sinh tiểu học là trẻ từ 6 – 12 tuổi, là giai đoạn từ hoạt động chủ đạo làvui chơi chuyển sang hoạt động học tập đây là bước ngoặt mới gây ra những khókhăn cho trẻ Bên cạnh đó cơ thể trẻ đang phát triển hoàn thiện dần và các quátrình tâm lý cũng đang phát triển và hoàn thiện
Học sinh tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 2, các em vừa chuyển hoạt độngchủ đạo từ vui chơi sang học tập Các em hiếu động ham chơi, sự tập trung chohọc tập và chú ý chưa cao Tư duy của các em còn nặng về trực quan cụ thể, tưduy trừu tượng chưa phát triển Do đó khi tổ chức dạy học giáo viên phải linhhoạt sáng tạo thì mới có hiệu quả
VI Kế hoạch thực hiện
- Từ đầu tháng 8/2012 đến 31/08/2012: Lập kế hoạch, nghiên cứu tài liệu
- Từ đầu tháng 9/2012 đến tháng 12/2013: Tiến hành dạy thực nghiệm vàrút kinh nghiệm
Trang 8và xã hội sẽ giúp các em học tốt các môn học khác.
Khi giảng dạy môn Tự nhiên và xã hội có những thuận lợi và khó khăn sau:
Trang 9Cùng với việc đổi mới nội dung chương trình lớp 2, môn Tự nhiên và xã hội
là một môn học được thay đổi nhiều về nội dung chương trình và cấu trúc sáchgiáo khoa Với chương trình thay sách, giáo viên được hướng dẫn cách xâydựng, thiết kế bài học theo hướng mới có phân chia từng hoạt động cụ thể, cóchỉ dẫn các phương pháp theo từng hoạt động
Giáo viên được học tập, tham dự các chuyên đề về môn Tự nhiên và xã hội.Học sinh luôn say mê học hỏi, tìm hiểu về thế giới xung quanh với nhữngcâu hỏi: Tại sao? Như thế nào? Vì sao?
2 Khó khăn:
Học sinh tiểu học tư duy cụ thể còn chiếm ưu thế, phương pháp dạy học truyền thống làm cho học sinh dễ mệt mỏi, chán nản trong giờ học, khó tiếp thu bài học Giờ học diễn ra nặng nề, không duy trì được khả năng chú ý của học sinh
Qua thực tế giảng dạy và dự giờ thăm lớp, tôi nhận thấy việc giảng dạy môn
tự nhiên xã hội đạt hiệu quả chưa cao cơ bản do mấy nguyên nhân sau :
a Về phía giáo viên:
Trong trường tiểu học hiện nay, mặc dù phân lượng thời gian, số tiết cho các môn học rất rõ ràng nhưng ở môn Tự nhiên và xã hội nhiều giáo viên còn coi là môn phụ Do khối lượng kiến thức ở môn Toán và Tiếng việt còn nhiều nên đôi khi môn Tự nhiên và xã hội còn bị lấn lướt và cắt giảm thời lượng
Giáo viên chưa lựa chọn được phương pháp phù hợp để giúp học sinh tích cực trong việc lĩnh hội tri thức Khi dạy môn tự nhiên và Xã hội, giáo viên thường sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống như: Hỏi đáp, quan sát, thảo luận nhóm, trò chơi,… những phương pháp này chưa phát huy được tính tích cực của học sinh trong học tập
Trang 10Cách dạy của giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc một cách máy móc vào sáchgiáo viên, hầu như rất ít sáng tạo, chưa linh hoạt, chưa cuốn hút được học sinh.Ngoài ra cách dạy của giáo viên còn có phần khuôn mẫu
Hình thức tổ chức trong các tiết học chưa phong phú khiến cho học sinh nhàm chán
Khi trao đổi với giáo viên dạy lớp 2 về cách dạy các bài trong môn Tự nhiênxã hội đa số giáo viên điều trả lời rằng :
Bước 1: Giáo viên cho học sinh quan sát các tranh trong sách giáo khoa Bước 2 : Giáo viên nêu câu hỏi, học sinh trả lời các câu hỏi mà giáo viên đã
nêu
Bước 3 : Giáo viên đưa ra kết luận, cung cấp kiến thức cho học sinh.
Bước 4 : Học sinh nhắc lại và ghi nhớ kiến thức mà giáo viên đã cung cấp.
- Với cách hướng dẫn như trên học sinh chỉ tiếp nhận kiến thức một chiều vàchưa đóng vai trò chủ động trong việc tiếp nhận Việc ghi nhớ các kiến thức mớiđược cung cấp ấy cũng khá khó khăn Học sinh phải học thuộc lòng mới có thểnhớ được
- Với việc sử dụng các phương pháp chưa phát huy được tính tích cực, chủđộng sáng tạo cho học sinh như thế sẽ khiến cho không khí lớp học nặng nề,chưa tạo được hứng thú học tập cho học sinh dẫn đến hiệu quả tiết dạy đạt đượcchưa cao
b Về phía học sinh:
Học sinh tiếp nhận kiến thức từ phía giáo viên bằng các hình thức như quansát tranh, ảnh và trả lời các câu hỏi do giáo viên nêu ra Việc học sinh chủ độngtrong việc tiếp nhận kiến thức còn hạn chế, chính vì vậy mà học sinh chưa hứngthú trong quá trình học tập và hiệu quả đạt được chưa cao
Ví dụ: Khi học bài Cơ quan tiêu hóa – Tự nhiên xã hội lớp 2 – Tuần 5
Hoạt động 1: Quan sát và chỉ đường đi của thức ăn trên sơ đồ ống tiêu hóa.
Giáo viên sẽ tổ chức theo các bước sau:
Bước 1: Làm việc theo cặp
Trang 11Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát hình 1 trong sgk trang 12 ( sơ đồ ống tiêuhóa) đọc chú thích và chỉ vị trí của miệng, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già,hậu môn trên sơ đồ Sau đó trả lời câu hỏi: “ Thức ăn sau khi vào miệng đượcnhai, nuốt rồi đi đâu?
Bước 2: Làm việc cả lớp
Giáo viên treo hình vẽ ống tiêu hóa phóng to lên bảng Gọi học sinh gắn têncác cơ quan của ống tiêu hóa Sau đó gọi học sinh lên chỉ và nói về đường đi củathức ăn trong ống tiêu hóa
Bước 3: Giáo viên đưa ra kết luận, cung cấp kiến thức cho học sinh
Giáo viên đưa ra kết luận: Thức ăn vào miệng rồi xuống thực quản, dạ dày,ruột non và biến thành chất bổ dưỡng Ở ruột non các chất bổ dưỡng được thấmvào máu đi nuôi cơ thể, các chất bã được đưa xuống ruột già và thải ra ngoài
Bước 4: Học sinh nhắc lại và ghi nhớ kiến thức.
II CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Về nhận thức của giáo viên :
Giáo viên cần chú trọng việc giảng dạy môn tự nhiên xã hội cho học sinh.Cần coi đây là môn học có vị trí quan trọng vì học xong môn học này học sinhsẽ có một kiến thức cơ bản về con người và sức khoẻ, những hiện tượng đơngiản trong tự nhiên và xã hội bước đầu biết tự chăm sóc bản thân và cộng đồng,
có ý thức giữ gìn vệ sinh, yêu thiên nhiên, gia đình
Như vậy, muốn học sinh học tốt môn Tự nhiên và Xã hội thì trước tiên giáoviên phải dạy tốt , người giáo viên ngoài kiến thức tự nhiên và xã hội phải luôntìm hiểu, nghiên cứu cập nhật chương trình mới để trang bị cho mình vốn kiếnthức dạy học mới nhằm đạt được mục tiêu chương trình mới đề ra
Bên cạnh đó giáo viên phải thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học, lựachọn những phương pháp phù hợp với từng môn học như phương pháp dạy họcnhóm,phương pháp trò chơi, phương pháp giải quyết vấn đề…và đặc biệt là
Trang 12phương pháp “ Bàn tay nặn bột” nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo
của học sinh để đạt hiệu quả cao hơn trong từng tiết dạy
2 Về phương pháp :
Việc hình thành cho học sinh một thế giới quan khoa học và niềm say mêkhoa học, sáng tạo là một mục tiêu quan trọng của giáo dục hiện đại khi mà nền
kinh tế tri thức đang dần dần chiếm ưu thế tại các quốc gia trên thế giới “ Bàn
tay nặn bột” là một phương pháp dạy học tích cực, thích hợp cho việc giảng dạy
các kiến thức khoa học tự nhiên, đặc biệt là đối với bậc tiểu học khi học sinhđang ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu mạnh mẽ các kiến thức khoa học, hình thànhcác khái niệm cơ bản về khoa học
Tiến trình sư phạm của phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột” có thể làm
rõ theo 5 bước cụ thể như sau:
* Bước 1: Đưa ra tình huống xuất phát và nêu vấn đề
Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do giáo viên chủ động đưa ra Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi, dễ hiểu đối với học sinh
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học Giáo viên phải dùng câu hỏi
mở, tuyệt đối không dùng câu hỏi đóng ( trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêu vấn đề Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu cầu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học của giáo viên càng dễ dàng thực hiện thành công
* Bước 2: Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu của học sinh
Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu của học sinh không phải là giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức cũ đã học có liên quan đến kiến thức mới của bài học Khi yêu cầu học sinh trình bày biểu tượng ban đầu, giáo viên có thể yêu cầunhiều hình thức biểu hiện của học sinh, có thể bằng lời nói ( thông qua phát biểu
cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ
* Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án tìm tòi
Cách đề xuất câu hỏi:
Trang 13Ở bước này, giáo viên cần khéo léo chọn lựa một số biểu tượng ban đầu khácbiệt trong lớp để giúp học sinh so sánh, từ đó giúp học sinh đặt câu hỏi liên quanđến nội dung bài học.
Đây là một bước khá khó khăn, vì giáo viên phải chọn lựa các biểu tượng banđầu tiêu biểu trong số hàng chục biểu tượng của học sinh một cách nhanh chóng theo mục đích dạy học, đồng thởi linh hoạt điều khiển của học sinh nhằm giúp học sinh đề xuất các câu hỏi từ những sự khác biệt theo ý đồ dạy học
Một số lưu ý khi lựa chọn biểu tượng ban đầu:
- Không chọn hoàn toàn các biểu tượng ban đầu đúng với câu hỏi
- Không chọn hoàn toàn các biểu tượng ban đầu sai với câu hỏi
Sau khi chọn lọc các biểu tượng ban đầu và cho học sinh trình bày, giáo viên cần khéo léo gợi ý cho học sinh so sánh những điểm giống và khác nhau của cácbiểu tượng ban đầu
Đôi khi có những điểm khác biệt rõ rệt nhưng lại không liên quan đến kiến thức bài học được học sinh nêu ra thì giáo viên khéo léo giải thích cho học sinh
ý kiến đó rất thú vị nhưng trong khuôn khổ kiến thức của lớp mà các em đang học chưa đề cập đến vấn đề đó Nói như vậy nhưng giáo viên cũng nên ghi chú lên bảng để khuyến khích học sinh phát biểu ý kiến và không quên đánh dấu đây
là câu hỏi tạm thời chưa xét đến ở bài học này
Đề xuất giải pháp tìm tòi, nghiên cứu
Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh, đề nghị các
em đề xuất giải pháp ( phương án) tìm tòi – nghiên cứu để tìm câu trả lời cho câu hỏi đó Ví dụ: Theo các em làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lời cho các câu hỏi trên?
Nếu ý kiến của học sinh nêu lên có ý đúng nhưng ngôn từ chưa chuẩn xác hoặc diễn đạt chưa rõ thì giáo viên có thể gợi ý và từng bước giúp học sinh hoànthiện diễn đạt Đây là một vấn đề quan trọng trong việc rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh
Sau khi học sinh đề xuất phương án tìm tòi – nghiên cứu, giáo viên nên nhận xét chung và quyết định tiến hành phương án thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn
Trang 14Trường hợp học sinh không đưa ra được phương án phù hợp thì giáo viên có thể gợi ý hoặc đề xuất cụ thể phương án cho hocj sinh thực hiện.
* Bước 4: Thực hiện phương án tìm tòi
Từ các phương án thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu mà học sinh nêu ra, giáo viên khéo léo nhận xét và lựa chọn thí nghiệm để học sinh tiến hành Ưu tiên thực hiện thí nghiệm trên vật thật Một số trường hợp không thể tiến hành trên vật thật có thể làm mô hình hoặc cho học sinh quan sát tranh vẽ
* Bước 5: Kết luận kiến thức
Sau khi thực hiện thí nghiệm tìm tòi, nghiên cứu, các câu trả lời dần dầnđược giải quyết, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thốnghoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học Giáo viên có nhiệm vụ tóm tắt, kếtluận và hệ thống lại kiến thức để học sinh ghi nhớ
Để tiện theo dõi các bước của tiến trình, tôi trình bày theo một ví dụ cụ thể,kết hợp phân tích và trình bày về lí luận ở trên để làm rõ các bước của tiến trình
Giả sử dùng phương pháp “Bàn tay nặn bột” để dạy Tiết Tự nhiên xã hội – Tuần
5 - bài: Cơ quan tiêu hóa.
* Bước 1: Đưa ra tình huống xuất phát và nêu vấn đề
Gv đưa ra tình huống:
- Theo em thức ăn được đưa vào miệng, nhai, nuốt rồi sẽ đi đâu?
* Bước 2: Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu của học sinh
GV đưa ra yêu cầu: Hãy vẽ đường đi của thức ăn trong cơ thể.
- Học sinh tưởng tượng và vẽ đường đi của thức ăn trong cơ thể vào vở thực hành cá nhân ( thời gian cho hoạt động này là 2, 3 phút) Trong thời gian học sinh vẽ, giáo viên quan sát, hỗ trợ học sinh kịp thời nếu có khó khăn
Trang 15Học sinh làm việc cá nhân
Sau khi học sinh vẽ cá nhân vào vở Thực hành, giáo viên cho học sinh trình bày bài vẽ với các bạn trong nhóm mình, thảo luận, thống nhất ý kiến và tiến hành vẽ vào giấy khổ lớn bài vẽ của nhóm mình
Trong thời gian học sinh vẽ theo nhóm, giáo viên tranh thủ quan sát nhanh đểtìm các hình vẽ ( các biểu tượng ban đầu) khác biệt Giáo viên chú ý không nhất thiết để ý đến các hình vẽ đúng và cần phải chú trọng đến các hình vẽ sai ( biểu tượng ban đẩu ngây thơ)
Học sinh thảo luận và vẽ theo nhóm.
Sau khi các nhóm hoàn thành bài vẽ của nhóm mình, giáo viên cho học sinh đại diện trình bày bài vẽ của nhóm mình
Trang 16Học sinh trình bày bài vẽ theo nhóm trước lớp.
* Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án tìm tòi
- Từ các hình ảnh học sinh vẽ, Gv tập hợp thành các nhóm biểu tượng ban đầu, hướng dẫn học sinh so sánh sự giống và khác nhau của các hình vẽ đó, sau
đó giúp các em đề xuất các câu hỏi liên quan đến nội dung kiến thức tìm hiểu vềđường đi của thức ăn trong ống tiêu hóa
Học sinh đề xuất các câu hỏi.
Ví dụ các câu hỏi học sinh nêu:
+ Ống tiêu hóa gồm các bộ phận nào?
+ Có phải thức ăn được nhai, nuốt rồi đi xuống tim không?
+ Thức ăn có đi vào dạ dày không?
- GV tổng hợp các câu hỏi của các nhóm