Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình Chương 2: Ý NGHĨA QUY LUẬT TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 2.1.. Vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trìn
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Chương 1: KHÁI NIỆM, QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ
HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 05
1.4 Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình
Chương 2: Ý NGHĨA QUY LUẬT TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
2.1 Sự vận dụng quy luật vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
2.2
Vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong quá trình công nghiệp hoá - Hiện đại hóa nước ta hiện nay
22
2.3
Học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội cơ sở lý luận của
sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong giai đoạn hiện nay
25
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1: KHÁI NIỆM, QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ
HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 05
1.4 Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình
Chương 2: Ý NGHĨA QUY LUẬT TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
2.1 Sự vận dụng quy luật vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
2.2
Vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong quá trình công nghiệp hoá - Hiện đại hóa nước ta hiện nay
22
2.3
Học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội cơ sở lý luận của
sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong giai đoạn hiện nay
25
MỞ ĐẦU
Trang 3
1 Tính cấp thiết của tiểu luận
Xã hội loài người đã trải qua năm phương thức sản xuất đó là: Nguyênthuỷ, chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội chủ nghĩa, tư bản chủ nghĩa
Tư duy nhận thức của con người không dừng lại ở một chỗ mà theo thời gian
tư duy của con người càng phát triển càng hoàn thiện hơn Từ đó kéo theo sựthay đổi phát triển lực lượng sản xuất cũng như cơ sở sản xuất Từ khi sảnxuất chủ yếu bằng hái lượm săn bắt, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu thìngày nay trình độ khoa học đạt tới mức tột đỉnh Không ít các nhà khoa học,các nhà nghiên cứu đổ sức bỏ công cho các vấn đề này cụ thể là nhận thứccon người, trong đó có trường phái triết học Với ba trường phái trong lịch sửphát triển của mình chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm và trường phái nhịnguyên luận Nhưng họ đều thống nhất rằng thực chất của triết học đó là sựthống nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất nhưthống nhất giữa hai mặt đối lập tạo nên chỉnh thể của nền sản xuất xã hội Tácđộng qua lại biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất đượcmác và Ănghen khái quát thành qui luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuấtvới lực lượng sản xuất Từ những lý luận trên đưa Mác - Ănghen vươn lênđỉnh cao trí tuệ của nhân loại Không chỉ trên phương diện triết học mà cảchính trị kinh tế học và chủ nghĩa cộng sản khoa học Dưới những hình thức
và mức độ khác nhau, dù con người có ý thức và mức độ khác nhau, dù conngười có ý thức được hay không thì nhận thức của hai ông về qui luật vẫnxuyên suốt lịch sử phát triển
Nước ta lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa bỏ qua chế độ tư bản chủnghĩa từ một nước nông nghiệp lạc hậu, do đó xây dựng phương thức sản xuất
xã hội chủ nghĩa là một quá trình lâu dài và đầy khó khăn, phức tạp Kinhnghiệm thực tế chỉ rõ, lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trườnghợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không
Trang 4tế, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất để xây dựng cơ sở kinh tế của chủnghĩa xã hội
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn tiểu luận "Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, ý nghĩa quy luật trong sự phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triểnlực lượng sản xuất, ý nghĩa quy luật trong sự phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất
Nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượngsản xuất, ý nghĩa quy luật trong sự phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng nghiên cứu
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất,
Trang 5
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đề tài sử dụng các phương pháp: hệ thống - cấu trúc, phân tích, tổng hợp
7 Đóng góp của tiểu luận
- Góp phần nâng cao nhận thức về Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp vớitrình độ phát triển lực lượng sản xuất
8 Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và phụ lục, tiểu luận thành
Trang 6
Chương 1 KHÁI NIỆM, QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ
PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 1.1 Khái niệm về lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất (LLSX) là mối quan hệ của con người với tự nhiênhình thành trong quá trình sản xuất Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ởtrình độ khống chế tự nhiên của con người Đó là kết quả năng lực thực tiễn củacon người tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất đảm bảo sự tồn tại vàphát triển của loài người
Trong cấu thành của lực lượng sản xuất, có thể có một vài ý kiến nào đókhác nhau về một số yếu tố khác của lực lượng sản xuất, song suy cho cùng thìchúng đều vật chất hoá thành hai phần chủ yếu là tư liệu sản xuất và lực lượngcon người Trong đó tư liệu sản xuất đóng vai trò là khách thể, còn con người làchủ thể
Tư liệu sản xuất được cấu thành từ hai bộ phận đó là đối tượng lao động
và tư liệu lao động Thông thường trong quá trình sản xuất phương tiện lao độngcòn được gọi là cơ sở hạ tầng của nền kinh tế Trong bất kỳ một nền sản xuấtnào công cụ sản xuất bao giờ cũng đóng vai trò là then chốt và là chỉ tiêu quantrọng nhất Hiện nay công cụ sản xuất của con người không ngừng được cảithiện và dẫn đến hoàn thiện, nhờ thành tựu của khoa học kỹ thuật đã tạo ra công
cụ lao động công nghiệp máy móc hiện đại thay thế dần lao động của con người
Do đó công cụ lao động luôn là độc nhất, cách mạng nhất của LLSX
Bất kỳ một thời đại lịch sử nào, công cụ sản xuất bao giờ cũng là sảnphẩm tổng hợp, đa dạng của toàn bộ những phức hợp kỹ thuật được hình thành
và gắn liền với quá trình sản xuất và phát triển của nền kinh tế Nó là sự kết hợpcủa nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất và trực tiếp nhất là trí tuệ con ngườiđược nhân lên trên cơ sở kế thừa nền văn minh vật chất trước đó
Trang 7
Nước ta là một nước giàu tài nguyên thiên nhiên, có nhiều nơi mà conngười chưa từng đặt chân đến nhưng nhờ vào tiến bộ của khoa học kĩ thuật vàquá trình công nghệ tiên tiến, con người có thể tạo ra được sản phẩm mới có ýnghĩa quyết định tới chất lượng cuộc sống và giá trị của nền văn minh nhân loại.Chính việc tìm kiếm ra các đối tượng lao động mới sẽ trở thành động lực cuốnhút mọi hoạt động cuả con người
Tư liệu lao động dù có tinh sảo và hiện đại đến đâu nhưng tách khỏi conngười thì nó cũng không phát huy tác dụng của chính bản thân Chính vậy màLê-nin đã viết: “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là côngnhân, là người lao động” Người lao động với những khinh nghiệm, thói quenlao động, sử dụng tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất Tư liệu sản xuất với
tư cách là khách thể của LLSX, và nó chỉ phát huy tác dụng khi nó được kết hợpvới lao động sống của con người Đại hội VII của Đảng đã khẳng định: “Sựnghiệp phát triển kinh tế đặt con người lên vị trí hàng đầu, vị trí trung tâm thốngnhất tăng trưởng kinh tế với công bằng khoa học và tiến bộ xã hội.”
Người lao động với tư cách là một bộ phận của LLSX xã hội phải làngười có thể lực, có tri thức văn hoá, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, cókinh nghiệm và thói quen tốt, phẩm chất tư cách lành mạnh, lương tâm nghềnghiệp và trách nhiệm cao trong công việc Trước đây do chưa chú trọng đúngmức đến vị trí của người lao động, chúng ta chưa biết khai thác phát huy mọisức mạnh của nhân tố con người Đành rằng năng lực và kinh nghiệm SX củacon người còn phụ thuộc vào những TLSX hiện có mà họ đang sử dụng Nhưngtích cực sáng tạo của họ đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Nền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển của LLSX mộtcách đúng hướng Xác định con đường đi lên của CNXH không qua giai đoạnphát triển của CNTB, trong đó có vấn đề phát triển LLSX như thế nào là nhiệm
vụ quan trọng mang tính cấp bách ở nước ta Nó không những ảnh hưởng đến
Trang 8cũ sang chất mới.
Mặc dù giữa hình thức phát triển nhảy vọt và tuần tự có sự khác nhau cơbản song chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau Hình thức phát triển nàylàm tiền đề cho hình thức phát triển kia như là mối quan hệ nhân quả, chúng làcác giai đoạn phát triển của một quá trình thống nhất
Giai đoạn phát triển tuần tự về mặt lượng, tự nó không làm thay đổi chấtlượng của LLSX mà chỉ tạo nên sự thay đổi những thuộc tính về lượng, chỉ làbước chuẩn bị tiền đề để chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, cao hơn,mạnh hơn về chất Sự phát triển có tính cách mạng của LLSX là bước nhảy vọtcăn bản tạo nên một chất lượng hoàn toàn mới trong kết cấu cấu trúc cũng nhưtrong mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành LLSX Sự phát triển trong LLSX
có đặc tính làm thay đổi căn bản những tư liệu lao động, quy trình công nghệ cơ
sở khoa học của SX, yếu tố chủ quan trong LLSX
Hành trang của chúng ta để đi lên CNXH là quá thấp và lạc hậu, khôngtập chung Chỉ cần nhìn lại tình hình SX nông nghiệp: cho đến năm 80 nôngnghiệp chưa vượt ra khỏi khuôn khổ của nền SX nhỏ, nó chỉ mới đang ở ngưỡngcửa của SX hàng hoá Hiện nay nông nghiệp nước ta chiếm 70 % lực lượng laođộng XH, sức kéo trâu bò mới chỉ đảm bảo được 47% diện tích canh tác, sứckéo bằng máy đảm bảo 37%, còn lại 16% diện tích chưa có sức kéo phải dùngsức người để thay thế
Trang 9
Về trình độ văn hoá và trình độ kỹ thuật của người lao động ở nước ta vẫnđang còn thấp, năng lực quản lý còn kém, tỷ lệ cán bộ ở trình độ đại học đạt3,7% Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự lạc hậu đó trong LLSX của nước tahiện nay: Một đất nước vừa thoát ra khỏi chế độ phong kiến nửa thuộc địa, lại bịkìm hãm bởi 30 năm chiến tranh
Trong một thời gian dài dường như chúng ta đã nhầm tưởng rằng cứ cóQHSX XHCN là có CNXH mà như quên đi rằng QHSX phải dựa trên cơ sởLLSX hiện có chúng ta đã nóng vội, duy ý chí trong việc xác điịnh bước đi,cũng như việc chọn lựa các hình thức tổ chức kinh tế Chúng ta gần như đồngnhất QHSX với quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất (TLSX), đã tuyệt đối hoá thànhphần kinh tế quốc doanh
Trong LLSX chúng ta chỉ chú ý đến TLSX, gia tăng TLSX một cáchthuần tuý mà thiếu sự cân xứng cần thiết ở yếu tố con người cả về trình độ lẫnthái độ lao động của con người Bản thân con người là yếu tố chủ thể quan trọngnhất trong sản xuất, song đặt trong cơ chế quản lý tập chung quan liêu bao cấpnên con người đã trở thành thực thể thụ động, năng lực sáng tạo bị ức chế vàmất đi một cách tự nhiên Tất cả những sai lầm đó đã tạo nên sự ngã gục trongtiến trình phát triển của LLSX.Trong hoàn cảnh hiện nay LLSX truyền thốngcòn là nguồn bổ sung quan trọng đối với giai đoạn chuyển tiếp của LLSX Đi lênsản xuất XHCN đòi hỏi tất yếu phải thực hiện: hiện đại hoá LLSX, kết hợp cácyếu tố truyền thống và hiện đại để tạo nên một sự phát triển ổn định, bìnhthường của LLSX
Trong thời đại ngày nay không thể đẩy nhanh hay rút ngắn thời hạnphát triển tự nhiên của LLSX, thực hiện những bước nhảy vọt về chất, nếukhông có sự kết hợp trong nước với nước ngoài Những tiến bộ to lớn của cuộccách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay trên thế giới, cũng như tính quốc tế hoángày càng tăng của LLSX đã tác động mạnh mẽ đến nhiều quốc gia Từ đóchúng ta có thể tạo nên sự kết hợp những tiến bộ về LLSX vốn có trong nước để
Trang 10
đẩy nhanh và rút ngắn thời hạn của lịch sử tự nhiên, vươn lên kịp trình độ củathế giới và trên cơ sở đó chúng ta có thể xây dựng một nền sản xuất hiên đại, mởcửa hợp tác kinh tế với các nước bạn Nó giúp cho việc xoá bỏ tình trạng biệtlập, khép kín và trì trệ về nền kinh tế và văn hoá nước nhà
Con người có thể tác động đến quá trình phát triển của LLSX, sự tác độngnày được thể hiện ở chỗ con người có thể đẩy nhanh hay kìm hãm sự phát triểncủa LLSX thông qua những hoạt động phù hợp hay không phù hợp với nhữngquy luật vận động của LLSX với quy luật phù hợp của QHSX Mặc dù TLSX,vốn khoa học và kỹ thuật đều là những yếu tố cần thiết để thực hiện sản xuất,xong tất cả phải thông qua hoạt động của con người mới đem lại những hiệu quảkinh tế, những giá trị mới Những yếu tố trên sẽ tồn tại dưới dạng tiềm năng và
nó sẽ trở thành vô hiệu hoá khi nó không được đặt trong mối quan hệ giữa tưliệu lao động và người lao động, đối tượng lao động
1.2 Khái niệm quan hệ sản xuất
Để tiến hành quá trình sản xuất nhất định con người phải có mối quan hệvới nhau Tổng thể những mối quan hệ này gọi là quan hệ sản xuất Nói cáchkhác quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất
Trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình con người dù muốn haykhông cũng buộc phải duy trì những quan hệ nhất định với nhau để trao đổihoạt động sản xuất cũng như kết quả lao động những quan hệ sản xuất nàymang tính tất yếu Như vậy quan hệ sản xuất do con người tạo ra song nó đượchình thành một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai.Việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tínhquy luật tất yếu, khách quan của sự vận động xã hội
Với tính chất là những quan hệ kinh tế khách quan không phụ thuộc vào
ý muốn của con người, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chấtcủa đời sống xã hội Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản
Trang 11
xuất và là cơ sở của đời sống xã hội Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:
- Quan hệ sở hữu về tư liêu sản xuất: tức là quan hệ giữa người với tư
liệu sản xuất Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan
hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất – Biểu hiện thành chế độ sở hữu trong hệthống các quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có vai tròquyết định đối với các quan hệ xã hội khác
+ Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ sởhữu đối với tư liệu sản xuất Nó biểu hiện thành chế độ sở hữu – đặc trưng cơbản của phương thức sản xuất
+ Trong hệ thống các quan hệ sản xuất của mỗi nền kinh tế – xã hội xác
định, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất luôn có vai trò quyết định đối với cácquan hệ xã hội khác Quan hệ sở hữu là quan hệ xuất phát, cơ bản, trung tâm củacác quan hệ sản xuất
+ Một cách chung chất, có thể hiểu quan hệ sở hữu là quan hệ giữa các
tập đoàn người trong việc chiếm hữu các tư liệu sản xuất.
Trang 12
+ Cuối cùng, chính quan hệ sở hữu là cái quyết định phương thức phânphối sản phẩm cho các tập đoàn người theo địa vị của họ đối với hệ thống sảnxuất xã hội Trong các hình thái – kinh tế xã hội mà loài người đã từng trải qua,lịch sử đã được chứng kiến sự tồn tại của hai loại hình sở hữu cơ bản đối với tư liệusản xuất:
Sở hữu công cộng: Là loại hình mà trong đó tư liệu sản xuất thuộc về
mọi thành viên của mỗi cộng đồng Nhờ cơ sở đó nên về nguyên tắc, các thànhviên của mỗi cộng đồng bình đẳng với nhau trong tổ chức lao động và phân phối sảnphẩm Do tư liệu sản xuất là tài sản chung của cả cộng đồng nên các quan hệ xãhội trong sản xuất vật chất và trong đời sống xã hội trở thành quan hệ hợp tác,tương trợ lẫn nhau
Sở hữu tư nhân: Trong các chế độ tư hữu, do tư liệu sản xuất chỉ nằm
trong tay một số ít người nên của cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc về
số ít người đó Do vậy, các quan hệ xã hội trở thành bất bình đẳng: quan hệthống trị và bị trị Đối kháng xã hội trong các xã hội này tiềm tàng trở thành đốikháng gay gắt Đến nay, lịch sử loài người chứng kiến 03 chế độ sở hữu tư nhânđiển hình:Chế độ chiếm hữu nô lệ; Chế độ phong kiến; Chế độ tư bản chủ nghĩa
+ Trong đó, chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là đỉnh cao của loạihình sở hữu này C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã chứng minh rằng chế độ tư bản chủnghĩa không phải là hình thức sở hữu cuối cùng trong lịch sử loài người Chủnghĩa xã hội dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, dù sớm hay muộncũng sẽ đóng vai trò phủ định đối với chế độ tư hữu
- Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất: tức là quan hệ giưuã
người với người trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải Trong hệthống các quan hệ sản xuất các quan hệ về mặt tổ chức quản lý sản xuất là cácquan hệ có khả năng quyết định một cách quy mô tốc độ hiệu quả và xu hướngmỗi nền sản xuất cụ thể đi ngược lại các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làmbiến dạng quan hệ sở hữu ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế xã hội
Trang 13và quản lý sản xuất Rõ ràng, nếu những quan hệ này được tổ chức khoa học thìdoanh thu của Alibaba sẽ phát triển.
Ngược lại, nếu những quan hệ này có vấn đề, hoạt động kinh doanh củaAlibaba sẽ gặp rắc rối
+ Ngày nay, nhờ ứng dụng được những thành tựu to lớn của khoa họcquản lý hiện đại và những tiến bộ của công nghệ thông tin, nên vai trò của cácquan hệ tổ chức và quản lý đối với sản xuất, đặc biệt là đối với việc điều hànhsản xuất ở tầm vĩ mô, đã tăng lên gấp bội
- Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm: tức là quan hệ chặt chẽ với nhau
cùng mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu qủa tư liệu sản xuất để làmcho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng nângcao phúc lợi cho người lao động Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức quản lý,trong hệ thống quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao
Trang 14
động cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động củatoàn bộ nền kinh tế Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu củasản xuất nhưng ngược lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hãn sự pháttriển của xã hội
+ Trong hệ thống các quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sảnphẩm lao động cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vậnđộng của toàn bộ nền kinh tế – xã hội Mặc dù phụ thuộc vào các quan hệ sởhữu và vào trình độ tổ chức quản lý sản xuất, song do có khả năng kích thíchtrực tiếp vào lợi ích của con người, nên các quan hệ phân phối là chất xúc táccủa các quá trình kinh tế – xã hội Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ vànhịp điệu của sự sản xuất, làm năng động toàn bộ đời sống kinh tế xã hội.Ngược lại, các quan hệ này có khả năng kìm hãm sản xuất, kìm hãm sự pháttriển của xã hội
Nếu xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất
sở hữu quyết định tính chất của quản lý và phân phối Mặt khác trong mỗi hìnhthái kinh tế xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai tròchi phối các quan hệ sản xuất khác, ít nhiều cải biến chúng để chẳng nhữngchung không đối lập mà phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế
xã hội mới
Trang 15
1.3 Phương thức sản xuất
Phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình
độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng tạo thành cách thức sản xuất trongmột giai đoạn nhất định của lịch sử
– Về mặt kết cấu, ta có thể công thức hóa như sau:
Lực lượng sản xuất + Quan hệ sản xuất => Phương thức sản xuất =Cách thức sản xuất vật chất
Phép “+” ở đây không phải là phép cộng giản đơn, mà là biểu thị mốiquan hệ biện chứng, gắn bó xoắn xuýt lẫn nhau giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất
Với tính cách là phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương thức sảnxuất biểu thị cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở nhữnggiai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người Với một cách thức nhất địnhcủa sự sản xuất xã hội, trong đời sống xã hội sẽ xuất hiện những tính chất, kếtcấu và đặc điểm tương ứng về mặt xã hội
Đối với sự vận động của lịch sử loài người, cũng như sự vận động củamỗi xã hội cụ thể, sự thay đổi về phương thức sản xuất bao giờ cũng là sự thayđổi có tính chất cách mạng Trong sự thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã hội…được chuyển sang một chất mới
Trang 16
Nhờ có phương thức sản xuất, ta có thể phân biệt được sự khác nhau của những thời đại kinh tế khác nhau Dựa vào phương thức sản xuất đặc trưng của mỗi thời đại lịch sử, người ta hiểu thời đại lịch sử đó thuộc về hình thái kinh tế – xã hội nào C Mác khẳng định: “Những thời đại kinh tế khác
nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằngcách nào, với những tư liệu lao động nào”
1.4 Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Thứ nhất, về tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất:
Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu lao động và ngườilao động Khi công cụ sản xuất được sử dụng bởi từng cá nhân riêng biệt để sảnxuất ra một sản phẩm cho xã hội không cần đến lao động của nhiều người Công
cụ sản xuất được nhiều người sử dụng để sản xuất ra các vật phẩm thì LLSXmang tính chất xã hội
Trình độ phát triển của tư liệu lao động mà đặc biệt là công cụ sản xuất,
là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người Đồng thời nó cũng làtrình độ sản xuất và tiêu chuẩn đánh giá sự khác nhau giữa các thời đại, xã hộikhác nhau Chính công cụ sản xuất và phương tiện lao động kết hợp với laođộng sáng tạo của con người là yếu tố quyết định đến năng xuất lao động
Thứ hai, lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành và phát triển , biến
đổi của các hình thức của quan hệ sản xuất
Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và giảm bớt lao động nặng nhọc, conngười không ngừng cải tiến hoàn thiện và chế tạo ra các công cụ sản xuất mới.Đồng thời sự tiến bộ của công cụ tri thức khoa học, trình độ chuyên môn kỹthuật và mọi kỹ năng của người lao động cũng ngày càng phát triển Yếu tố năngđộng này của LLSX đòi hỏi QHSX phải thích ứng với nó LLSX quyết định sựhình thành, phát triển của QHSX từ đó nó quy định sự phát triển và biến đổi củaquan hệ sở hữu Sự lớn mạnh của LLSX đã dẫn đến mâu thuẫn gay gắt với chế