1. Trang chủ
  2. » Địa lý

Phủ Dầy - Mẫu Liễu trong ''Tứ bất tử" nhìn từ góc độ địa - chính trị - xã hội

8 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 4,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[r]

Trang 1

PHỦ DẦY - MẪU LIỄU TRONG

"TỨ BẤT TỬ" NHÌN TỪ GÓC ĐỘ ĐỊA -

CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

1 Trong một thập kỷ qua, bên cạnh những góc nhìn ngày một sâu sắc của các nhà nghiên cứu về văn hóa, lịch sử văn hóa, văn hóa dân gian , thời gian gần đây đã có thêm một số cách tiếp cận, góc nhìn khác về đạo Mẩu, về Phủ Dầy - một trung tâm đạo Mẩu ở Việt Nam tại châu thổ sông Hồng, chẳng hạn:

Đầu năm 2000, Ngô Vũ Hải Hằng đã chọn “Không gia n lịch sứ văn hóa Phủ

D ầy với cái n h ìn địa - lịch sử, địa - kinh tế, địa - văn hóa”, làm đề tài khóa

luận tốt nghiệp ngành Lịch sử Việt Nam, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Năm 2001, khu vực Phủ Dầy đã được Tiến sĩ Nguyễn Hồng Kiên nhìn từ “vị th ế và bản sắc địa - văn hóa”

2 v ề bia ký

Bia ký ở Phủ Dđy không nhiều

Theo thứ tự thời gian bia ký có:

2 Bia trên gác chuông - 1849

3 Bia trên gác chuông - 1857

4 Nhị xã hòa hội phụng sự bi ký - 1901

5 Quan lại cúng ngân bi ký - 1914

ó Bia trùng tu Phủ Tiên Hương - 1915

9 Bản huyện Tập phúc phá tự điển bi - 1930

10 Bia trong nhà bia phía Đông - 1938

Còn những câu đối, đại tự thì dầy đặc

(* ở phủ Vân Cát, ** ở Lăng MỈU, còn lại là phủ Tiên Hương)

* T iế n sĩ khoa học Đ ại học Khoa học xã h ộ i và nhân văn, D ại học Q u ố c gia Hà N ộ i V iệ t N am

Trang 2

PHỦ DẪY - MÁU LIỂU TRONG T Ứ BẦT TỬ’ NHÌN TỬ GÓC ĐỘ Đ|A - CHÍNH TR| - XÃ HỘI

Quý Sửu (1913) Đại tự T ro n g h ọ , tro n g x ã c ù n g d â n g lên

đường cung đệ tứ

Đoàn Triển - Tổng đốc Nam Định

sơn son thiếp vàng

Lê Hy Vĩnh - Đốc học Thanh Hóa

Quý Sửu (1913) Câu đối Đ o à n Đ ìn h G iả n - T ổ n g đcíc An T ĩn h

Quý Sửu (1913) Đại tự C ác c h á n h p h ó tổ n g tro n g h u y ệ n Vụ

Bản Giáp Dần (1914) Câu đối* N g u y ễ n V ăn T ín h - n g u y ê n Đ ố c h ọ c

Hải Phòng

Dương Tự Phan - Tri huyện Đông Quan

Dương Tự Trác - Tri huyện Nam Trực

thu, chánh bát phẩm, chánh tổng

- Trần Thế Đức, Trần Quang Đoan, Trần Hữu Đoan - Phó Lý

2 Đinh Tỵ (1917) Đại tự* P h ạ m Đ ìn h B ả n g - T ri h u y ệ n Vụ B ản

(1918)

Bắc Ninh)

phi gian giữa tiền đường

Ngô Giáp Đậu - Đốc học Nam Định

(1930)

(về hưu), Nguyễn Xuân Đĩnh - Tri huyện Vụ Bản

Bản

về hưu

Trang 3

VIỆT NAM HỌC - KỶ YỀU HỘI THẢO QUÔC TỀ LẲN THỨ HAI

1-25

9-30

Câu đối cửa Đông** (2 đôi)

?

(1 đối)

Lê Xuân Khôi - đệ tử Hội Đào chi Nguyễn Tăng Mỹ - Tham tá

2-35

Câu đối cửa Bắc**

(4 đôi)

- Nguyễn Hữu Vĩnh - Tuần phủ vể hưu

- Nguyễn Mộng Thạch - Đệ tử Hội Đào chi Hàn lâm thị độc

- Hồ Trọng Lâm- Đệ tử Hội Đào chi ?

6-37

Câu đối cửa Tây**

(2 đôi)

-Nguyễn Tăng Mỹ - Tham tá, Tự chủ điện Diệu Văn Thừa Thiên

-Vũ B ằ n g - đ ệ tử H ội Đ à o ch i, th ô n g

sự

Lưu ý là:

muốn chính của các câu đối, hoàng phi, bia ký, thì:

- Qua những nội dung của một sô' câu đối, thơ cho những thông tin (hay đúng hơn là ký ức, truyền thuyết) về quá trình xây dựng, sửa chữa, phát triển của quần th ể Phủ Dầy (như câu đối trên đ ề n Thượng viết năm 1859 nhắc truyền tụng đời Thái Tông, Triệu Bình nguyên niên (1434), nhà họ Phạm sinh ra Thánh, đ ế n T h ế Tông Quan Hưng sơ c h ế (1578) dựng đ ền trên núi Thái

- Qua những dòng lạc khoản (của câu đối, hoành phi, đại tự) những thông tin về địa vị, quê quán của những người cung tiến những hiến vật

- Qua một số văn bia được dựng lên nhân những sự kiện mua đất, sửa chữa đền cho biết cơ sở kinh tế tại chỗ của đền ở mọi thời điểm nhất định,

về những chi phí xây dựng, sửa chữa, số tiền cúng, cùng địa vị xã hội của người cúng tiền

Trang 4

PHỦ DẦY - MÁU LIỂU TRŨNG T Ứ BAT TỦ“ NHÌN TỬ GÓC ĐỘ Đ|A - CHÍNH TRI - XÃ HỘI

b Theo niên đại (được ghi) trên các SƯU tập văn bia, câu đối, đại tự, muộn nhất là năm 1942 Do vậy những nhận xét của chúng tôi chỉ giới hạn từ đó trở

về trước

Nếu từ nửa đầu thế kỷ XIX trở về trước, bên cạnh chuyện về Mẩu được văn bản hóa qua tác phẩm của Hổng Hà nữ sĩ - Đoàn Thị Điểm, thì những chuyện

về mở mang, xây dựng, lễ hội Phủ Dầy, điệu múa Hoa Trượng có liên quan đến

bà chúa Ngọc Đài - Vương phi của Trịnh Tráng, còn là những câu truyện, chỉ được nghe truyền, thì từ đó về sau tại địa điểm này, những vấn đề trên đã được vật thể hóa thành phủ, thành đền, thành câu đối, đại tự, tượng, lang câu đối, bia

ký Nếu theo dân gian “thần thiêng tại đối thờ”, “đẹp vàng son” thì với dân Yên Thái, khách thập phương, cái - thiêng - liêng của Mẩu đã được hiện hình, được trực giác tại quần thể kiến trúc Phủ Dầy Chính các thế hệ người Yên Thái, Vụ Bản, Nam Định và khách thập phương đến Phủ Dầy, đến Hội đã bền bỉ góp phần hữu thể hóa cái thiêng liêng ấy

Trong quá trình ấy, chính nhà nước trung ương, bộ p h ận quyền thế, giàu

có và trí thức đương thời đã góp phần đặc biệt quan trọng vào việc khởi dựng, trung tu, làm đ ẹp Phủ Dầy Điều đơn giản này ai cũng hiểu, cũng không thể quên được, quần thể kiến trúc bề th ế này được khẳng định và bởi chính triều đình Bảo Đại năm 1938 Tôi chỉ bổ sung qua phân tích tấm “Quan lại cung ngân bi ký” (Bia ghi việc cúng tiền của các quý quan)

S ô' t i ề n ( N g u y ê n )

D a n h h i ê u , c h ứ c v u

Đ o àn T riể n 400 T ổ n g đ ố c N am Đ ịn h

Đ o àn Đ ìn h G iản 10 T ổ n g đ ố c N g h ệ An

H o à n g M ạn h Trí 50 Tuần phủ Ninh Bình

Vũ T h iệ n Đ ễ 100 T u ầ n p h ủ H à N am

Đ o à n D a n h C h ấ n 10 Á n sá t H à N am

T rầ n X uân T h iều 10 Đốc học Bắc Ninh

P h an N hư K huê 10 Đ ốc h ọ c N in h B ình

Bùi T hứ c Bộ ngũ sự đồng

= 5 n g u y ê n

T iế n sĩ Bùi T h ứ c x ã C h â u c ầ u

N g u y ễ n P h o n g 120 Tri p h ủ N g h ĩa H ư ng

N g u y ễ n T rác 100 Tri p h ủ X u ân T rư ờ n g

Trang 5

VIỆT NAM HỌC - KỶ YỀU HỘI THẢO QUỒC 1Ề LẦN THỨ HAJ

S ô 't i ề n ( N g u y ê n )

D a n h h i ệ u , c h ứ c v ụ

N g u y ễ n T ư T íc h 60 Tri phủ Yên Khánh

Lê V ăn T h ú y 60 Tri h u y ệ n M ỹ Lộc

Vũ L uyện 6 H u ấ n đ ạ o V ụ B ả n

N g u y ễ n Đ ô n H o ặ c 50 Tri h u y ệ n P h o n g D o a n h

K h iế u T a m Đ ồ n g 5 Tri phủ Thọ Xuân

T rầ n T h u ậ n 30 Nguyên tri huyện Phong Doanh

1851

Từ tấm bia trên ta có một bảng sau:

Trang 6

PHỦ DAY - MÁU LIỂU TRONG T Ử BẦT TỬ ' NHÌN TỬ GÓC ĐỘ Đ|A - CHÍNH TR| - XÃ HỘI

Tính bình quân mỗi người cúng 66,107 nguyên

Mức cúng cao nhất 400 nguyên chính là Tổng đốc đương quyền Nam Định Đoàn Triển Và nếu tính cả Tuần phủ Bắc Ninh góp 300 nguyên vào hạng này, thì 2 người (7,1 tập hợp) góp 37,85 kinh phí sửa chữa

Giữa mức cao nhất và thấp nhất (10) chênh nhau: 400:5 = 80 lần

Thuộc hàng thấp nhất có thể gồm từ 10 nguyên trở xuống đến 5 nguyên góp 4,3% tiền chi phí thì có 10 người chiếm 35,7 tập hợp, trong đó 60% của hạng cúng thấp nhất này lại là các vị tiến sĩ, đốc học, huấn đạo và về hưu

ly những điều kiện của môi trường địa - văn hóa, địa - lịch sử của khu vực ven sổng Sắt - Vụ Bản, của tích hợp tín ngưỡng thờ thủy thần - đạo Mẩu - Tam tòa,

Tứ phủ

Vị th ế địa - văn hóa của Phủ Dầy đã được GS Trần Quốc Vượng,

TS Nguyền Hồng Kiên đã viết rất hay và khẳng định trong vị th ế và bản sắc địa

- văn hóa của khu vực Phủ Dầy Chúng tôi xin bổ sung:

Vị th ế địa - văn hóa của mỗi vùng đất nói chung trong lịch sử Việt Nam cho đến khi thực dân Pháp sang, trước hết bị quy định bởi hệ thống đường giao thông phổ biến, quan trọng hơn cả là đường sông nước Tuy nhiên, nếu chỉ có vậy thì vẫn chung chung Trên tuyến đường - sông - nước ấy, ở một khu vực nhất định (chứ không phải tất cả) có một vị trí đặc biệt, hiểm yếu, quan trọng thường là ngã ba, ngã tư giao điểm hai hay các con sông - con đường ấy tạo thành Các điểm hành hương - được coi các trung tâm thờ cúng Tứ bất tử của Người Việt Bắc

Bộ đều gdn liền với vị th ế địa- văn hóa, địa - lịch sử đặc biệt nhạy cảm quan trọng với đời sống chính trị, quân sự, kinh tế, của khu vực, của vùng Bắc Bộ của các triều đình Đại Việt, với trung tâm chính trị, hành chính, văn hóa Thăng Long

T h á n h T ả n - “ngự” trên núi Tản (Ba Vì) “trấn sơn trong cả nước” (Lê Quý Đôn - Kiến văn tiểu lục) “là núi tổ của cắc dãy núi nước ta” (Lê Đại Cương — Bác Thành địa dư chí lục), án ngữ ngã ba sông hồng, sông Đà, nẻo dẫn về Hưng Hóa, lên vùng Tây Bắc, nẻo sang Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) nẻo “nao nức sóng dồi” xuôi dọc xứ Đoài về trung tâm châu thổ Thăng Long

Đức T h á n h D ó n g - Phù Đổng Thiên vương - cũng gác ngã ba Đuống - Thiên Đức lên xứ Bắc, Đông Bắc nẻo dẫn về trung tâm

C h ử Đ ồ n g T ử (Cậu bé bến bãi tắm trâu, tắm nghé) thì rõ ràng cả kiếm ăn

và tắm vùi trong cát sông Nhị hóa thân vào đền thiêng Đa Hòa Mễ Sở - cách không xa vực rồng - “Đoạt sóc Chương Dương độ, cầm Hồ Hàm tử quan” (Hàm

Tử - Chương Dương) của chiến trận chống Mông - Nguyên lần thứ 2 (năm 1285) Không chỉ với “Tứ bất tử” mà hầu như các trung tâm hành hương lớn nổi tiếng gãn liền, hòa quyện với tín ngưỡng dân gian Việt trong lịch sử cũng gắn liền với các vị trí đặc biệt nhạy cảm và quan trọng

Trang 7

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÊU HỘI THẢO QUÔC TỀ LẪN THỨ HAI

Đ ền Đức T h á n h T rầ n ở Vạn Kiếp - Lục Đầu giang - Ngã 6 lớn nhất của vùng Đông Bắc, (và cũng là ngã 6 duy nhất trong các tuyến đường giao thông miền Bác Việt Nam cổ - trung đại) tụ hội và khống chế những nẻo đường dãn lên Bắc, Lạng, Quảng Yên, về Bác Ninh, Hà Nội

Dọc sông Như Nguyệt (sông cầu) của xứ Bắc thờ Triệu Quang Phục, Trương Hống, Trương Hát - tụ lại Ngã Ba Xà - được coi là quê Mẹ của Thần, nơi bố trí thế trận tiêu diệt quân Tống năm 1077

Trên tuyến sông Đáy từ xứ Đoài về xứ Nam trải hàng loạt các đền thờ thủy thần, thờ Triệu Quang Phục, nhưng chỉ nổi lên thành Tam Tòa Bách Linh

- nơi từng có cửa Đại Ác từ th ế kỷ X đã nổi sóng dìm thuyền chiến của Ngô Nhật Khánh

Trên tuyến sông Luộc - con đường quan trọng của vùng Duyên hải, tuyến đường (theo các nhà sử học từ Đặng Xuân Bảng trở đi) là các sứ thần Tống đã

từ vùng Hạ Long mà theo đó vào kinh thành Hoa Lư

Lê Hoàn đã phải dành đến 3/9 con trai của mình để trấn giữ

Thì chỉ Ngã ba sông - sông Luộc gặp sông Thanh - nơi đã hóa thân thành nơi ông cộc ông dài tái ngụ “chỗ nước xoáy dữ lắm” thuyền bè khó qua được ”, thành câu truyện “Đối tụng ở Long Cung” của Nguyễn Dữ th ế kỷ XVI Và đến tận thời hiện đại vẫn được coi là vị trí yết hầu của quân Khu Tả ngạn), mới nổi lên đền Quan Lớn Tuần Tranh

Phủ Dầy - Mâu Liễu nằm bên sông sắt - Thiên (Vụ) Bản - Trục giao thông

từ trung châu vào Nam, ra biển quan trọng bậc nhất trong thời chưa hoàn thiện tuyến đường bộ, cho đến thời cận đại của trung châu Bắc Bộ, cũng nằm trong quy luật chung đó

Chính những vị thế địa lý - văn hóa ấy lại được nâng lên, phát huy bởi chính

sự quan tâm đặc biệt của nhà nước phong kiến taing ương, của bộ phận quyền thế và giàu có trong xã hội đương thời

Với “Tứ bất tử” như Thánh Tản Viên, Thánh Dóng chẳng hạn:

Ở núi Tản, Cao Biền đời Đường muốn yểm mà không xong Dư địa chí của Nguyễn Trãi phụ chú “vua Lý Nhân Tông nhà Lý khiến thợ làm đến ở ngọn thứ nhất trên núi có 12 tầng Đại Nam nhất thống chí triều Nguyễn chép: “Niên hiệu Thái Ninh nhà Đường ban tiền bạc để sửa chữa đền, đến nay vẫn còn”

Với địa điểm Phù Đổng, thì theo Toàn thư ngay mùa xuân trước khi

chuyển kinh đô từ Hoa Lư ra Đại La ven sông Nhị, vua Lý Công u ẩ n về quê, sang làng Dóng, rồi phong danh hiệu Xung Thiên thẩn vương cho Thần Cũng là tín ngưỡng dân gian, nhưng thờ cúng thần thành hoàng dẫu đặc biệt phổ biến, nhưng lại chỉ có thể hòa tan, ẩn thân vào các đền, miếu, đình của biển

cả làng xóm tiểu nông người Việt ở châu thổ sông Hồng

Trang 8

PHỦ DẦY - MÃU LIẾU TRŨNG T Ứ BẦT TỬ’ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ Đ|A - CHỈNH TR| - XÃ HỘI

T h ế nhưng với đạo Mâu, Mầu Liễu, với Tứ bất tử của người Việt ở châu thổ sông Hồng thì lại hiện lên thành những quần thể bề th ế như đã kể trên

Như vậy:

- Thật khó có thể cặn kẽ, rạch ròi rằng, các vị trở thành bất tử, thành nổi tiếng ấy là chỉ thuần túy dựa vì “lý lịch” vào thần tích hay còn là từ những

vị trí quan trọng, nhạy cảm trên các dòng sông - dòng đường - dòng đời - trong hàng ngàn, hàng trăm năm qua đã tụ lại rồi lan theo, chuyển tải, mở rộng, đáp bồi trong dòng vãn hóa người Việt ở châu thổ này

- Góp vào dòng chảy đó, phải kể đến một động lực quan trọng đó là tiềm lực kinh tế, xã hội của nhà nước, của bộ phận quan lại cao cấp trong và ngoài triều đình Nguồn vốn này, một mặt là nguồn vốn đầu tiên, thường xuyên được

bổ xung có hiệu quả, thậm chí quyết định các điểm thờ cúng này hiện hình được để thành một trung tâm thờ cúng mạnh, vượt qua được những khó khăn, lúng túng của nền kinh tế tiểu nông làng xóm Mặt khác, chính động thái đó lại có tác dụng gây kích thích, lôi cuốn với các bộ phận công đức - góp vốn khác của đông đảo tầng lớp dân cư, của trong vùng quê và của các khách

“thập phương”

Ngày đăng: 25/01/2021, 02:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w