1. Trang chủ
  2. » Lịch sử

Miệt mài đào tạo nhân tài cho cách mạng

2 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 2
Dung lượng 4,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1949, Giáo sư là giáo viên Trường trung học chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng kiêm Giáo sư triết học của lớp Đại học Văn khoa đầu tiên mở ở Liên khu IV.. Sau chiến thắng Điện Bi[r]

Trang 1

12 Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội Số 284 - 2014 13

Miệt Mài đào tạo

nhân tài cho cách Mạng

Lớp lớp các học trị trực hệ của GS

Cao Xuân Huy thống nhất tơn vinh

người thầy của mình là vị sư biểu

Chữ này lấy từ truyền thống phương

đơng: “Vi nhân sư biểu” là người thầy

mẫu mực

Theo Từ điển Văn học (Bộ mới), GS

Cao Xuân Huy sinh năm 1900, tại làng

Thịnh Mĩ, tổng Cao Xá, phủ Diễn Châu,

nay thuộc xã Diễn Thịnh, huyện Diễn

Châu, tỉnh Nghệ An, trong một gia tộc đại trí thức của triều Nguyễn Ơng nội Giáo sư là Cử nhân Cao Xuân Dục (1843

- 1923) là một nhà giáo dục, nhà văn hĩa, nhà sử học, nhà văn nổi tiếng cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, từ một vị huyện quan, bằng tài năng và đức độ đã thăng dần các chức Tổng đốc, Thượng thư bộ học,

Cơ mật viện đại thần, Phụ chính đại thần, Tổng tài quốc sử quán Ngài Cao Xuân Dục là tác giả và chủ trì nhiều cơng trình lịch sử, địa lí, pháp luật, giáo dục, văn hĩa quan trọng và sáng tác nhiều tác phẩm thơ văn xuất sắc để lại cho hậu thế Cha Giáo sư là Phĩ bảng Cao Xuân Tiếu (1865

- 1939) cũng làm đến chức Thượng thư

và Tổng tài quốc sử quán triều Nguyễn

Cơ ruột Giáo sư là nữ sĩ Cao Ngọc Anh (1878-1970), một nhà văn thời cận hiện đại Việt Nam, ủng hộ phong trào Đơng

du và Đơng kinh nghĩa thục, chống Pháp,

mở trường dạy văn võ cho phụ nữ tại Hà Nội và bị thực dân pháp đĩng cửa, thơ văn của ơng chất chứa nỗi u sầu của một người dân mất nước

Thuở nhỏ, GS Cao Xuân Huy trui rèn chữ Hán cổ và Nho học ngay trong thư viện Long Cương của ơng nội ở làng quê cùng với việc tu luyện Pháp văn

Mười lăm tuổi đi thi Hương tại trường thi Nghệ An nhưng khơng đậu, bèn vào học Trường trung học Pháp-Việt và đậu Thành chung vào năm 1922 rồi thi vào học Trường Cao đẳng Sư phạm Đơng Dương danh giá, đến năm 1925 thì tốt nghiệp trường này, đi dạy trường Quốc học Huế

Năm 1926, ở tuổi 26, Giáo sư tham gia Đảng cách mạng Tân Việt Năm

1927, Giáo sư bị thực dân Pháp bắt, bị giải chức khỏi ngạch giáo dục và phải đi đày ở Lao Bảo, sau đĩ giải về nhà lao Nghệ An và 1929 được tha tù Giáo sư lập gia đình và chuyên chú trước thuật, nghiên cứu nhưng cơng việc khơng suơn sẻ Trong 6 năm trời đĩ cũng là thời gian Giáo sư nghiền ngẫm tinh hoa

tư tưởng, triết học Trung Hoa và Đơng phương Năm 1934, Giáo sư vào Biên Hịa rồi Sài Gịn dạy học tại Trường Paul Doumer và Trường Chấn Thanh Năm

1938, Giáo sư về lại Huế dạy học và dốc hết tâm trí nghiên cứu Lão Tử và sớm nổi danh là “Nhà Đạo học” Ơng cộng tác viết luận cho tạp chí giáo dục Revue Pesdagogique ở Huế

Cách mạng tháng Tám thành cơng

GS.Cao Xuân Huy

Trang 2

12 Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội Số 284 - 2014 13

năm 1945, Giáo sư được mời ra giảng dạy môn triết học phương Đông tại Trường Đại học Việt Nam do chế độ mới thành lập Chiến tranh Pháp Việt ngày càng leo thang, Giáo sư về Diễn Châu các năm 1946 - 1949 làm Hiệu trưởng Trường Trung học Tư thục Nguyễn Xuân

Ôn, đào tạo nhân tài cho vùng tự do

Năm 1949, Giáo sư là giáo viên Trường trung học chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng kiêm Giáo sư triết học của lớp Đại học Văn khoa đầu tiên mở ở Liên khu

IV Năm 1951 - 1954, Giáo sư giảng dạy triết học tại Trường dự bị Đại học Việt Nam mở ở Thanh Hóa Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Giáo sư được phân công giảng dạy môn Triết học phương Đông,

Lô gich học, và Tâm lí học ở hai lớp Đại học Văn khoa và Đại học sư phạm Văn khoa Năm 1956, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập, Giáo sư làm việc tại Khoa Ngữ văn của trường Năm

1957, Ggiáo sư được điều động sang giảng dạy tâm lí học tại khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Năm

1959, Viện Nghiên cứu Văn học được thành lập, Giáo sư là một trong những thành viên đầu tiên Năm 1965, GS Cao Xuân Huy được bổ nhiệm Giáo sư chính lớp Đại học Hán học đầu tiên của chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa Năm 1970

- 1974, Giáo sư được điều sang làm Ủy viên Ban Hán Nôm, trực thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam Giáo sư được Trường Đại học Tổng hợp và Trường Đại hoc Sư pham luôn mời làm Giáo sư thỉnh giảng, đào tạo liên tục các thế hệ sinh viên Giáo sư chính thức nghỉ hưu năm

1974 nhưng vẫn tham gia đào tạo các lớp Hán Nôm cho khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Giáo sư mất

năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh

GS Cao Xuân Huy để lại trước thuật không nhiều nhưng đặc biệt tinh túy

Suốt đời Giáo sư là một nhà giáo dục miệt mài đào tạo nhân tài cho cách mạng, cho tổ quốc, cho chế độ Sau này, vào năm 1995, các thế hệ học trò của Giáo sư đã tập hợp tư liệu, bài giảng

in thành công trình Tư tưởng phương Đông, gợi những điểm nhìn tham chiếu

Ngoài ra ông còn có các công trình nghiên cứu, hiệu đính, biên chú về Lê Quý Đôn, Nguyễn Trường Tộ

Sự tích tụ của hiện tượng Cao Xuân Huy có thể thấy qua các phương diện:

Thừa hưởng trí thông minh thiên bẩm từ dòng dõi gia tộc, được rèn cặp nghiêm khắc theo phong cách cổ học phương Đông, sống đằm mình trong không khí học thuật, trong thư viện gia đình với phong phú tối đa về từ thư, sách

vở Phong cách khảo cứu và khái quát hóa tư liệu từ một gia đình 2 đời là Tổng tài quốc sử quán đã tạo điều kiện cho tri thức, trí tuệ của Giáo sư sớm phát triển, sớm định hình Học phong và quá trình

tu luyện bản thân là nền tảng cho tư duy xuất sắc của Giáo sư Học phải có dòng

là vậy

Cái thứ hai làm nên GS Cao Xuân Huy phải là sự tiếp xúc sớm với tư tưởng

và triết học phương Tây Chính điều này làm Giáo sư có cơ sở tham chiếu để vững tâm đi vào con đường nghiên cứu hình nhi thượng triết học

Điều thứ ba, đó là sự lựa chọn triết học phương Đông phong phú và phức tạp, khó minh giải, đặc biệt với Phật giáo và

Đạo giáo, hai hệ thống triết học cao cấp

và chính danh nhất tạo ra thế giới quan Đông phương, làm mục tiêu tiếp cận của mình để tham chiếu với Tây phương

Sự lựa chọn này là sớm và độc đáo, đầy khó khăn vì không phải ai cũng có điều kiện quan tâm sâu sắc

Cái thứ tư làm nên nhân cách Giáo sư

là tấm lòng yêu nước thiết tha, không chịu cam tâm làm vong quốc nô Giáo

sư sớm tham gia Đảng cách mạng Tân Việt hoạt động chống Pháp, và sau này đứng hẳn về lục lượng kháng chiến kiến quốc, xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa, đấu tranh bảo vệ tổ quốc

Cái thứ năm làm nên nhân cách của Giáo sư là tư tưởng cách mạng Sinh

ra và lớn lên trong gia tộc đại trí thức phong kiến nhưng cũng như nhiều trí thức đầu thế kỉ XX, sớm tiếp thu ánh sáng Tự do- Bình đẳng- Bác ái của cách mạng tư sản Pháp và sau này tiếp thu Biện chứng pháp của Các Mác, tư tưởng

GS Cao Xuân Huy là tư tưởng mang tính cách mạng trong học thuật, trong thực tiễn truyền dạy triết học, văn hóa

Cái thứ sáu đó là đạo đức và nhân cách của con người giáo dục, dạy người không biết mỏi trong mọi điều kiện khó khăn nhất của chiến tranh và đời sống kinh tế, ung dung tự tại của người nắm trong tay tri thức tối thượng để tư duy và nhìn nhận thời cuộc

Kỷ NIệM 32 NăM NGày NHà GIáo VIệT NAM (20/11/1982 - 20/11/2014)

Theo tài liệu "20 năm hoạt động khoa học công nghệ của Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN"

Ngày đăng: 25/01/2021, 01:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w