Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Ngoài việc tham gia phiên tòa hình sự với vai trò là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (bên gỡ tội) thì luật sư[r]
Trang 1Vai trò tranh tụng của luật sư Trong các vụ án hình sự tại Hà Nội
ThS.NCS Đặng Văn Cường1
Văn phòng Luật sư Chính Pháp - Đoàn Luật sư TP.Hà Nội
65 Tôn Đức Thắng, Quốc Tử Giám, Đống Đa, Hà Nội
Tóm tắt: Hoạt động tranh tụng trong các vụ án hình sự hiện nay đang là vấn đề nóng
được quan tâm trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam, vai trò của luật sự cũng được chú trong hơn so với giai đoạn trước, hoạt động tranh tụng của luật sự tại các phiên tòa hình sự sẽ giúp cho hoạt động xét xử được khách quan, công minh và tránh oanh sai, bỏ lọt tội phạm
Từ khóa: tranh tụng, vai trò của luật sư, vụ án hình sự.
1 Luận giải về vấn đề tranh tụng
Vấn đề tranh tụng không phải là vấn đề mới, nhưng cho đến nay vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau Người ta thường đề cập đến nguyên tắc tranh tụng, kiểu tố tụng tranh tụng,
mô hình tranh tụng, hệ thống tranh tụng lý giải vấn đề tranh tụng từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra một khái niệm cụ thể tranh tụng là gì Trong một số tài liệu, thường người ta thường đề cập đến hệ thống tranh tụng (Adversarial System) Theo từ gốc tranh tụng trong tiếng Anh là “Adversarial” có nghĩa là đối kháng, đương đầu Như vậy về bản chất tranh tụng là “cuộc đấu” giữa hai bên trong đó
tố tụng hình sự (bên buộc tội và bên bị buộc tội) mà giai đoạn đương đầu tại tòa án (tại phiên tòa) là trung tâm, là chính Tuy nhiên, không nên hiểu một cách giản đơn tranh tụng
là tranh luận, tranh cãi giữa hai bên tại phiên tòa, mà hiểu tranh tụng diễn ra trong một quá trình tố tụng lâu dài, được cả hai bên tiến hành một cách quyết liệt để “cạnh tranh” nhau để
“chống” lại nhau Theo đúng nghĩa, tranh tụng là việc bên buộc tội (công tố) cố gắng để thuyết phục các thành viên Hội đồng xét xử tin rằng bị cáo là người có tội, còn bên bị buộc tội ngược lại, cố gắng và phải sử dụng mọi biện pháp, lý lẽ, căn cứ để biện bạch, bác bỏ những lời buộc tội do bên công tố đưa ra [10] Điều đáng lưu ý là trong hệ thống tố tụng tranh tụng gốc, Luật sư của bị cáo có thể bất chấp thủ đoạn để bảo vệ thân chủ bằng mọi giá Phiên tòa tranh tụng thật sự là một “chiến trường” theo đúng nghĩa của nó khi mà kết cục phiên tòa, chỉ có một bên giành được phần thắng
Về mặt lập pháp: khái niệm tranh tụng chưa được chính thức ghi nhận hoặc giải thích
trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta được ban hành từ năm 1945 đến nay
Về mặt ngôn ngữ: theo Đại từ điển tiếng Việt năm 1998 thì tranh tụng có nghĩa là
“kiện tụng”; còn theo Hán-Việt tự điển thì tranh tụng có nghĩa là “cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải” Theo cách giải thích này, thì tranh tụng chính là quá trình giải quyết vụ kiện dân
sự theo đó các đương sự được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Hiểu theo nghĩa rộng: tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi các đương sự
thực hiện quyền khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng thì quá trình tranh tụng này sẽ bao gồm toàn bộ các giai đoạn khởi kiện,
1 Tác giả liên hệ: +84-987089398
Email: cuongdang.vplscp@gmail.com
Trang 2thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cả giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm ơ [10]
Hiểu theo nghĩa hẹp: Tranh tụng là sự đối đáp, đấu tranh giữa các bên đương sự với
nhau về chứng cứ, yêu cầu và phản đối yêu cầu của mỗi bên để từ đó nhằm chứng minh cho đối phương và Tòa án rằng yêu cầu và phản đối yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp [10]
Trong những năm gần đây, một trong những vấn đề được tranh luận khá sôi nổi ở nước ta trong quá trình nghiên cứu và lập pháp nhằm cải cách thủ tục tố tụng tư pháp hình
sự là vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của
Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đề ra chủ trương “Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác ” [1] Tiếp đó, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” nhấn mạnh việc “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp” [2] Trong nội dung cải cách tư pháp, tranh tụng đang là một trong những vấn đề thường xuyên được đề cập đến và cũng còn nhiều ý kiến khác nhau Đặc biệt khi Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành thì vấn đề tranh tụng đã thực sự trở thành vấn đề thời sự, không chỉ được tranh luận tại các hội nghị khoa học và các hội nghị
về tư pháp mà còn trở thành một yêu cầu bức thiết trong hoạt động nghiên cứu sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự cũng như trong hoạt động thực tiễn
Vậy thế nào là tranh tụng và vấn đề tranh tụng được đề cập trong Nghị quyết 08-NQ/TW, Nghị quyết 49 -NQ/TW của Bộ Chính trị cần được hiểu như thế nào cho đúng
Có ý kiến cho rằng, cần xác định tranh tụng như một nguyên tắc của tố tụng hình sự Việt Nam, có ý kiến đề nghị chuyển mô hình tố tụng hình sự ở nước ta sang mô hình tố tụng tranh tụng Tuy nhiên, nhiều ý kiến lại cho rằng, yêu cầu tăng cường tranh tụng được nêu trong Nghị quyết 08-NQ/TW và Nghị quyết 49 -NQ/TW của Bộ Chính trị không nên hiểu
là yêu cầu thay đổi hệ thống tố tụng (từ hệ thống tố tụng thẩm vấn sang hệ thống hệ thống
tố tụng tranh tụng), mà cần phải đựơc hiểu là yêu cầu cần phải tăng cường khả năng tranh luận dân chủ giữa các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Chúng ta
có thể xem xét khái niệm “tranh tụng” dưới hai góc độ là: Tranh tụng là mô hình tố tụng hình sự và tranh tụng là nguyên tắc của tố tụng hình sự để hiểu rõ hơn về khái niệm này [4]
2 Phiên tòa xét xử vụ án hình sự và vai trò tranh tụng của luật sư
2.1 Phiên tòa xét xử vụ án hình sự
Phiên tòa xét xử vụ án hình sự là giai đoạn quan trọng nhất, là trọng tâm của toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự (VAHS) Thông qua hoạt động xét xử, Tòa án xác định
bị cáo có phạm tội hay không phạm tội, phạm tội gì, mức độ trách nhiệm hình sự (TNHS)
và trách nhiệm khác của bị cáo đến đâu…, nhằm phát hiện nhanh chóng, chính xác sự thật khách quan của vụ án và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Toàn bộ các kết quả của hoạt động tố tụng trước đó được sử dụng để hội đồng xét xử (HĐXX) làm việc tại phiên tòa, trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm vấn công khai và tranh luận tại phiên tòa, HĐXX sẽ ra bản án, quyết định nhằm kết thúc quá trình giải quyết VAHS Có thể nói, phiên tòa có vai trò đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định trong giải quyết VAHS, thực hiện các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt ra [5]
Trang 3Tham gia phiên tòa không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của người bào chữa Để đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo tại phiên tòa, pháp luật quy định người bào chữa có nghĩa vụ tham gia phiên tòa, người bào chữa có thể gửi trước bản bào chữa cho tòa án, nếu người bào chữa vắng mặt thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử trừ trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa Trong trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa, nếu người bào chữa vắng mặt thì HĐXX sẽ hoãn phiên tòa
Phiên tòa được bắt đầu từ khi khai mạc phiên tòa và kết thúc khi HĐXX tuyên bản án hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án và trải qua các phần là: phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, phần thủ tục xét hỏi tại phiên tòa, phần tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án Theo quy định của pháp luật nước ta thì tòa án xét xử hai cấp là sơ thẩm và phúc thẩm Trong
đó, xét sử sơ thẩm là bắt buộc nếu viện kiểm sát (VKS) có cáo trạng truy tố bị cáo, còn thủ tục xét xử phúc thẩm chỉ diễn ra khi bản án sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị
2.2 Vai trò tranh tụng của luật sư trong phiên tòa xét xử vụ án hình sự
Trong phiên tòa, vai trò của luật sư được thể hiện chủ yếu và tập trung nhất tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa Phần tranh luận tại phiên tòa
là thời điểm thể hiện rõ nét nhất hoạt động tranh tụng của luật sư
2.2.1 Tranh tụng của luật sư trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa
Mặc dù pháp luật quy định phần thủ tục bắt đầu phiên tòa do những người tiến hành
tố tụng (THTT) thực hiện, chưa phải là lúc mà luật sư đối đáp, tranh luận với các bên Tuy nhiên trong thời gian này luật sư cần phải đặc biệt lưu ý và hết sức tập trung để thực hiện các công việc cần thiết phục vụ cho việc bào chữa Luật sư cần theo dõi thủ tục tố tụng trong phần bắt đầu phiên tòa có được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật hay không Luật sư cần lắng nghe xem nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét xử được Chủ tọa phiên tòa đọc tại phiên tòa có đúng với nội dung quyết định đưa vụ án ra xét
xử mà mình và bị cáo đã được nhận không, trong danh sách những người được triệu tập tham gia phiên tòa có thiếu ai không [6]
Trong thực tế, có nhiều bị cáo chưa nhận được bản cáo trạng và quyết định đưa vụ án
ra xét xử đúng thời hạn pháp luật quy định Trường hợp này, khi bị cáo có yêu cầu thì luật
sư phải đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa để bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo Luật sư cần đưa ra các lý lẽ, dẫn chứng và các căn cứ pháp lý để yêu cầu hoãn phiên tòa, đảm bảo hoạt động tố tụng được thực hiện đúng pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng của
bị cáo
Nếu phát hiện có căn cứ cho rằng KSV hoặc thành viên HĐXX, người giám định, người phiên dịch không vô tư, khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ tại phiên tòa thì luật sư có quyền đề nghị HĐXX xem xét thay đổi để tránh việc giải quyết vụ án một cách phiến diện, có thể dẫn tới oan, sai, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người khác Trong trường hợp xét thấy không cần thiết phải hoãn phiên tòa mà có người tham gia tố tụng đề nghị hoãn phiên tòa thì luật sư cần nêu quan điểm để thuyết phục HĐXX tiếp tục làm việc
Việc giải thích các quyền, nghĩa vụ của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa cũng rất quan trọng, nó giúp cho những người này biết họ được phép làm gì
và có nghĩa vụ như thế nào tại phiên tòa Nếu HĐXX bỏ qua việc này hoặc giải thích chưa đầy đủ thì luật sư cần đề nghị HĐXX thực hiện cho đúng
2.2.2 Tranh tụng của luật sư trong trong phần xét hỏi
Trang 4Việc xét hỏi tại phiên tòa thực chất là hoạt động điều tra công khai với sự tham gia của những người THTT và những người tham gia tố tụng, của cả bên buộc tội và bên gỡ tội nhằm kiểm tra các tài liệu, đồ vật thu thập được ở các giai đoạn tố tụng trước đó, thu thập thêm những chứng cứ mới do các bên đưa ra tại phiên tòa nhằm làm sáng tỏ sự thật của vụ án
Theo quy định thì trình tự xét hỏi tại phiên tòa được thực hiện như sau: Chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến KSV rồi mới đến người bào chữa Trình tự thủ tục hỏi này gần như chưa thấy có sự thay đổi trong quy định mới đây của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 Trình tự hỏi như vậy
sẽ không thể hiện tính ưu việt của nguyên tắc tranh tụng Việc quy định Thẩm phán có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi xét xử, quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung và điều hành việc xét hỏi, thực hiện chủ yếu việc xét hỏi trong quy định của BLTTHS năm
2003 đã tạo ra sự thiếu khách quan trong việc đánh giá chứng cứ, làm giảm hiệu quả tranh tụng tại phiên tòa Hạt nhân hợp lý trong mô hình tố tụng tranh tụng là thẩm phán không được nghiên cứu hồ sơ trước và việc xét hỏi được giao cho bên buộc tội và bên gỡ tội, thẩm phán chỉ hỏi những nội dung còn mâu thuẫn hoặc thật sự cần thiết… Những quy định như vậy sẽ nâng cao được nguyên tắc tranh tụng, đảm bảo được sự khách quan trong phán quyết của tòa án [9]
Thực tế có nhiều trường hợp, lời khai của bị cáo tại phiên tòa rất khác, thậm chí là trái ngược hoàn toàn với lời khai của họ tại cơ quan điều tra (CQĐT) Trong trường hợp này, luật sư cần thận trọng trong việc hỏi bị cáo để làm rõ nguyên nhân có sự khác nhau này Thông thường, lý do được bị cáo đưa ra cho việc khai khác nhau này là do bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình Nếu thấy lời khai của bị cáo có căn cứ, luật sư cần đặc biệt lưu ý HĐXX về những tình tiết này và đề nghị HĐXX chỉ sử dụng những lời khai, những tình tiết, chứng cứ được thu thập công khai tại phiên tòa để làm căn cứ ra phán quyết, vì lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra được thu thập một cách bất hợp pháp, vi phạm quy định tại Điều 63, BLTTHS năm 2003 nên không thể dùng làm chứng cứ
Việc hỏi tại phiên tòa của luật sư rất quan trọng, nhưng trên thực tế luật sư thường bị hạn chế quyền này Bộ luật tố tụng năm 2003 và kể cả các quy định mới của BLTTHS năm
2015 vẫn quy định là chủ tọa điều hành việc xét hỏi theo một thứ tự hỏi từ Hội đồng xét
xử, đến kiểm sát viên rồi mới đến luật sư và những người khác Quy định như vậy vẫn chưa đảm bảo phát huy nguyên tắc tranh tụng Quy định luật sư hỏi sau cùng sẽ không tránh khỏi những câu hỏi lặp lại về mặt nội dung, bản chất dẫn đến nguy cơ bị chủ tọa cắt, hoặc có ý kiến làm vai trò tranh tụng của luật sư tại phiên tòa bị ảnh hưởng
Tùy theo diễn biến của phiên tòa, luật sư có thể đề nghị HĐXX xem xét vật chứng, hỏi những người có liên quan để làm rõ những vấn đề chưa rõ ràng; khi cần thiết, luật sư
có thể đề nghị xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến phiên tòa Luật sư có thể đề nghị HĐXX xem xét các chứng cứ mới hoặc công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ
án có lợi cho thân chủ của mình khi lời khai của người được xét hỏi tại phiên tòa
có mâu thuẫn với lời khai của họ tại CQĐT… Trên cơ sở kết quả của việc hỏi tại phiên tòa, luật sư cần kịp thời điều chỉnh, bổ sung vào bản luận cứ bào chữa những lập luận cần thiết cho phù hợp
Như vậy, có thể nói, việc xét hỏi tại phiên tòa là hoạt động tố tụng rất quan trọng, qua
đó có thể làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, đồng thời tạo điều kiện cho luật sư đưa
ra quan điểm của mình để bảo vệ cho bị cáo Tuy nhiên, thứ tự xét hỏi chưa hợp lý, chưa đảm bảo được nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa, vì vậy cần tiếp tục có những sửa đổi,
Trang 5bổ sung chế định này cho phù hợp với công cuộc cải cách tư pháp hiện nay, đảm bảo nâng cao vai trò tranh tụng của luật sư tại phiên tòa hình sự
2.2.3 Tranh tụng của luật sư trong trong phần tranh luận tại phiên tòa
Trong quá trình xét xử, việc tranh luận tại phiên tòa là rất quan trọng, trên cơ sở đó những người THTT và người tham gia tố tụng kiểm tra được giá trị chứng minh của các tài liệu buộc tội, gỡ tội, giúp cho quá trình giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, đúng pháp luật Tranh luận tại phiên tòa thể hiện tập trung nhất hoạt động tranh tụng của luật sư tại phiên tòa hình sự Việc tranh luận được bắt đầu sau khi kết thúc phần xét hỏi, KSV trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn… Đây là thời điểm vai trò của luật sư được thể hiện rõ nét nhất bởi “việc xét xử của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo…” [8]
Những người có quyền tham gia tranh luận tại phiên tòa gồm có KSV, người bào chữa, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án… Tuy nhiên, trên thực tế, những người tham gia tranh luận tại phiên tòa chủ yếu là KSV, bị cáo và luật sư bào chữa Trong đó, KSV là bên buộc tội còn bị cáo và luật sư là bên gỡ tội Khi tham gia tranh luận, luật sư bày tỏ các quan điểm bào chữa của mình để bảo vệ bị cáo Có thể nói, tranh luận tại phiên tòa chính là phương tiện hữu hiệu để luật sư bảo vệ cho bị cáo thông qua việc phân tích, đưa ra các lập luận, lý
lẽ sắc bén, có sức thuyết phục Tranh luận là quyền quan trọng nhất của luật sư tại phiên tòa, là hoạt động sử dụng các kết quả của những bước chuẩn bị trước đó của luật sư để bảo
vệ cho bị cáo Tranh luận cũng là hoạt động giúp cho HĐXX được nghe một cách đầy đủ nhất ý kiến của đại diện VKS và những người tham gia tố tụng khác về việc giải quyết vụ
án
Đây là lúc thể hiện rõ nhất quyền bình đẳng của các bên buộc tội và bên gỡ tội vì KSV, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng
cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án; Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ
án (Điều 19) Điều 218 BLTTHS năm 2003 quy định “Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến nhưng có quyền cắt những vấn đề không liên quan đến vụ án” [3]
Như vậy, việc “đáp lại ý kiến của người khác” là quyền chứ không phải là “nghĩa vụ”
vì vậy trong thực tiễn xét xử, nhiều Kiểm sát viên đã thực hiện cái quyền này để “giữ nguyên quan điểm”, không đối đáp, tranh luận gì với luật sư khiến việc tranh tụng tại phiên tòa không mang lại hiệu quả tốt Ngoài ra, những ý kiến trình bày của luật sư cũng thường
bị chủ tọa phiên tòa cắt với lý do “không liên quan đến vụ án”… Tuy nhiên, nội dung trình bày này có liên quan hay không thì chỉ có chủ tọa mới được quyền quyết định Vì vậy, pháp luật TTHS nên được sửa đổi theo hướng buộc KSV phải đáp lại những quan điểm, ý kiến của luật sư, bởi đây là trách nhiệm của KSV, trong trường hợp không đáp lại được những ý kiến, quan điểm của luật sư thì HĐXX ghi nhận ý kiến của luật sư là có cơ sở, cần được xem xét, bởi trong trường hợp những tài liệu, chứng cứ không đủ cơ sở pháp luật
để buộc tội thì phải áp dụng có lợi cho bị cáo [6]
Trang 6Qua sự phân tích nêu trên có thể khẳng định tại phiên tòa XXST VAHS, hoạt động tranh tụng của luật sư là hết sức quan trọng là hình thức thể hiện vai trò của luật sư trong
vụ án hình sự Cũng tại phiên tòa, luật sư có điều kiện tốt nhất để bào chữa, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp cho bị cáo Kết quả bào chữa cho bị cáo phụ thuộc nhiều vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa của luật sư với vai trò là người bào chữa Vì vậy, cần sửa đổi,
bổ sung một số các quy định của BLTTHS để đảm bảo nguyên tắc tranh tụng, nâng cao hơn nữa vai trò, vị trí của bên gỡ tội trong vụ án hình sự
3 Vai trò của luật sư - người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại tại phiên tòa hình sự (theo BLTTHS năm 2003)
3.1 Người bị hại và người bảo vệ quyền - lợi ích hợp pháp cho người bị hại
Người bị hại là một trong những người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) Việc tham gia tố tụng của người bị hại không chỉ nhằm bảo vệ, khôi phục những quyền và lợi ích hợp pháp của họ đã bị hành vi phạm tội xâm hại mà còn góp phần quan trọng vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án Theo quy định của pháp luật, “người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra” (khoản 1 Điều 51 BLTTHS) [3] Với quy định này, người bị hại thường được hiểu là
"con người cụ thể bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại Thế chất, tinh thần, tài sản của họ phải là đối tượng của tội phạm"
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Ngoài việc tham gia phiên tòa hình sự với vai trò là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (bên gỡ tội) thì luật sư còn có thể tham vụ án hình sự nói chung và tham gia gia phiên tòa hình sự nói riêng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (đứng về phía bên buộc tội cùng với VKS, Người bị hại, Nguyên đơn dân sự) Khi tham gia phiên tòa hình sự với tư cách pháp lý này thì mục tiêu và hoạt động của luật sư khác với việc tham gia với tư cách là người bào chữa Hiện nay chưa có khái niệm cụ thể về người có bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người hại, mà chỉ có những quy định về quyền và nghĩa vụ
cụ thể của chủ thể này tại Điều 59 BLTTHS năm 2003 [7]
3.2 Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại (theo quy định của BLTTHS năm 2003)
Hoạt động của luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại được quy định phân tán trong Bộ luật tố tụng hình sự, chủ yếu tập trung ở Chương IV – Người tham gia tố tụng (Điều 51, Điều 59); Chương XI, Chương XIII và phần thứ ba, phần thứ tư của BLTTHS Theo đó, có các điều luật quy định về người bị hại, quyền và nghĩa
vụ của người bị hại Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại, quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại; thủ tục tham gia của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại Những quy định pháp luật này phần nào đã góp phần tạo cơ sở pháp lý để luật sư tham gia vụ án hình sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại, đại diện gia đình người bị hại, góp phần làm sáng tỏ nội dung vụ án, động viên tinh thần và bảo đảm quyền lợi hợp pháp về dân sự, quyền lợi về tố tụng cho phía người bị hại
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc luật sư tham gia vụ án hình sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại chưa nhiều, chỉ chiếm khoảng 5-6% vụ án hình sự Việc tham gia của luật sư trong những vụ án này đôi khi chưa phát huy hết vai trò tranh tụng, chưa phân định rõ trách nhiệm, thẩm quyền trong việc tranh tụng liên quan tới nội dung vụ
Trang 7án khiến luật sư có thể bị động tại phiên tòa khi Hội đồng xét xử hạn chế nội dung tham gia xét hỏi, tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại
Trong quá trình thực hiện thủ tục tố tụng, những người tiến hành tố tụng cũng chưa thực sự coi trọng và đảm bảo thực hiện các quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khiến vai trò của họ bị mờ nhạt, chưa đảm bảo hết quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại Vì vậy, cần phải có những sửa đổi, bổ sung đối với những chế định này để khi luật sư tham gia vụ án với vai trò là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thì vai trò tranh tụng vẫn được đề cao, góp phần làm sáng tỏ nội dung vụ án, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại
4 Thực tiễn vai trò tranh tụng của luật sự trong các phiên tòa hình sự tại Hà Nội (áp dụng theo quy định Bộ luật TTHS năm 2003)
4.1 Khái quát về hệ thống Tòa án trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Hệ thống tòa án ở Hà Nội bao gồm 32 tòa án, cụ thể có tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, tòa án quân sự thủ đô Hà Nội, các tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã gồm, các tòa án quận Ba Đình, Hoàn Kiếm, Tây Hồ, Long Biên, Cầu Giấy, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Thanh Xuân, Hà Đông, Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm; 17 tòa án huyện: Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Đông Anh, Gia Lâm, Hoài Đức, Mê Linh, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Sóc Sơn, Thạch Thất, Thanh Oai, Thanh Trì, Thường Tín, Ứng Hòa, và 1 tòa án thị xã: Tòa án Nhân dân Thị xã Sơn Tây Ngoài ra trên địa bàn thành phố Hà Nội còn có Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án Quân sự Trung ương [5]
4.2 Đội ngũ luật sư, tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Cùng với sự phát triển của đất nước, đội ngũ luật sư Việt Nam đã phát triển nhanh chóng về số lượng và chất lượng ngày càng được nâng cao Có thể nói, trong những năm gần đây, chất lượng của đội ngũ Luật sư đã tăng tên đáng kể, về cơ bản đủ khả năng cung cấp dịch vụ pháp lý tin cậy cho khách hàng Luật luật sư được ban hành đã góp phần nâng cao vị thế của luật sư, tạo cơ sở pháp lý đẩy mạnh nhanh quá trình xây dựng đội ngũ luật
sư, nghề luật mang tính chuyên nghiệp, nâng tầm với nghề luật sư ở các nước tiên tiến trên thế giới Đặc biệt Luật Luật sư đã quy định hoàn chỉnh hệ thống các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư từ Trung ương tới các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Sự ra đời của Liên đoàn luật sư Việt Nam (12/5/2009) đã đánh dấu một bước phát triển mới, vững mạnh của đội ngũ luật sư Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng của giới luật sư cả nước, tạo bước ngoặt quan trọng trong việc đổi mới về tổ chức, hoạt động luật sư, khẳng định vị trí, vai trò của luật sư trong điều kiện đẩy mạnh cải cách tư pháp, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế của đất nước
Theo số liệu thống kê tại đại hội đại biểu luật sư lần thứ II tại Hà Nội ngày 17/4/2015 chủ tịch liên đoàn luật sư Việt Nam - Lê Thúc Anh cho biết, tại thời điểm liên đoàn thành lập, cả nước có 5.300 luật sư, đến cuối năm 2014, tổng số luật sư của cả nước là 8.928 luật
sư (tăng hơn 40%) Số liệu do Cục Bổ trợ Tư pháp (Bộ tư pháp) cung cấp cho thấy, tính đến ngày 31/12/2014, cả nước có 9.375 luật sư, tăng 15% so với năm 2013 và tăng 23% so với năm 2012 [9]
Trang 8Bảng 4.1 Số lượng luật sư và tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn cả nước từ năm 2007 đến năm 2014
Năm Số lượng tổ chức hành nghề luật sư Số lượng luật sư
(Nguồn: Bộ Tư pháp năm 2016)
Cùng với sự phát triển chung của luật sư Việt Nam, cộng với một vị trí địa lý thuận lợi, lại là trung tâm phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Hà Nội thu hút khá nhiều luật
sư và các tổ chức hành nghề luật sư Trong những năm qua, đội ngũ Luật sư tại Hà Nội cũng đã phát triển nhanh chóng về cả số lượng và chất lượng Tính đến tháng 2/2016 Đoàn luật sư thành phố Hà Nội có đến 2.846 luật sư và 971 tổ chức hành nghề luật sư Như vậy
tỷ lệ luật sư/ dân số vào khoảng 1/2666, Hà Nội là thành phố có số lượng luật sư đông thứ
2 cả nước, sau thành phố Hồ Chí Minh [5]
4.3 Thực trạng tranh tụng của luật sư trong các phiên tòa hình sự tại thành phố Hà Nội
Trong thời gian qua, số lượng các vụ án hình sự có luật sư tham gia bào chữa cũng ngày càng tăng Theo thống kê của liên đoàn luật sư Việt Nam, từ tháng 5/2009 đến đầu năm 2015, các luật sư tham gia bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, cung cấp dịch
vụ pháp lý cho các cá nhân, tổ chức cho 77.129 vụ án hình sự Theo thống kê số lượng án của tòa án nhân dân tối cao, năm 2013 số lượng vụ án hình sự xét xử sơ thẩm của cả nước
là 68.751 vụ án, tăng 2,05% so với năm 2012, tăng 5,02% so với năm 2009 [9]
Trong các năm từ 2007 - 2011, đội ngũ luật sư trong cả nước đã tham gia 64.173 vụ
án trên tổng số 299.574 vụ án hình sự đã xét xử Tỷ lệ số vụ án hình sự có luật sư tham gia chiếm 21,44%, trong đó 100% các vụ án theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng đều
có luật sư tham gia Con số này mặc dù còn khiêm tốn nhưng cũng đã được gia tăng rất nhiều so với giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2006 Trong số các vụ án hình sự có luật sư tham gia thì tỷ lệ số vụ bào chữa do khách hàng mời ngày càng tăng so với việc bào chữa
do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu, cụ thể, trong số 64.173 vụ án hình sự có luật sư tham gia nêu trên thì có 32.752 (chiếm 51%) vụ án do khách hàng mời và 31.421 (chiếm 49%) vụ án luật sư tham gia theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng [9]
Tại tòa án Thành phố Hà Nội, số liệu các vụ án thụ lý năm 2015 là 8.887 vụ với 14.931 bị cáo, giải quyết 8.702 vụ với 14.479 bị cáo Tổng từ năm 2011 đến 2015, ngành tòa án tại thành phố Hà Nội đã thụ lý 45.162 vụ với 80.333 bị cáo, trong đó giải quyết 44.977 vụ với 79.881 bị cáo [9]
Bảng 4.2 Số liệu giải quyết các vụ án hình sự của Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội từ 2011-2015
SỐ LIỆU ÁN HÌNH SỰ SƠ THẨM
Trang 92011 6,972 12,828 6,948 12,757 1,537 2,665 1,504 2,561
2012 7,892 14,575 7,868 14,490 1,646 3,309 1,622 3,226
2013 7,580 12,985 7,523 12,851 1,798 3,408 1,747 3,260
2014 7,255 12,758 7,224 12,675 1,887 3,766 1,839 3,582
2015 7,346 11,992 7,204 11,724 1,541 2,939 1,498 2,755
Tổng 36,909 64,765 36,767 64,497 8,409 16,087 8,210 15,384
Để thấy được kết quả hoạt động tham gia bào chữa của luật sư trong thời gian qua tại
Hà Nội, tác giả đã tiến hành khảo sát tại nhiều tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn thành phố Kết quả khảo sát một số tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn thành phố Hà Nội trong 4 năm từ 2010 đến 2013 như sau:
Bảng 4.3 Kết quả khảo sát hoạt động tranh tụng của luật sư trong vụ án hình sự,
tại một số tổ chức hành nghề luật sư trong các năm từ 2010 - 2016
Địa
bàn
Số tổ
chức
hành
nghề
luậtsưđư
ợc khảo
sát
Số VAHS cử luật sư tham gia tại giai đoạn
XXST
Số vụ đề nghị của luật sư được Tòa án chấp
nhận
Tổng
số vụ
cử luật sư thamgi a bàoch ữa
Số vụ tham gia bào chữa
do chỉ định
Số vụ tham gia bào chữa do được mời
Số vụ đìnhchỉgi
ải quyết vụán
Số vụ tuyên bị cáo không phạm tội
Số vụ có bị cáo bị tuyên mức hình phạt thấp hơn mức cao nhất mà VKS đã đề nghị
Số vụ có
bị cáo được hưởng án treo
(31,2%)
64 (68,8%)
(Nguồn: kết quả khảo sát tại địa bàn thành phố Hà Nội, 2016)
Kết quả khảo sát trên cho thấy, hoạt động tham gia tranh tụng của luật sư trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật nhiều vụ án, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của các bị cáo Số vụ tham gia tranh tụng do được mời chiếm phần lớn số
vụ án hình sự cử luật sư tham gia tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, cụ thể chiếm đến 68,8 % Các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; người bào chữa, bị đơn dân sự; người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của
họ Là một chủ thể của bên tranh tụng, theo BLTTHS năm 2003, người bào chữa bao gồm: Luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bào chữa viên nhân dân (Điều 56) Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề theo Luật Luật sư năm 2006 Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể là bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, anh chị em ruột và người giám hộ theo quy định của pháp luật đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về
Trang 10thể chất hoặc tâm thần Bào chữa viên nhân dân là những người được các tổ chức, đoàn thể
xã hội cử ra để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo [5]
Bị cáo là chủ thể của một bên tranh tụng (bên bào chữa), bị buộc tội trực tiếp, họ có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội (Điều 10 BLTTHS) Bị cáo tham gia phiên tòa để bào chữa cho sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình, đồng thời là nguồn chứng cứ quan trọng về vụ án Chỉ có bị cáo – người trực tiếp thực hiện hành
vi phạm tội mới hiểu đầy đủ, rõ ràng các tình tiết của vụ án nên hơn ai hết, chính họ mới thực hiện quyền bào chữa một cách khách quan và toàn diện nhất trước sự buộc tội Do đó,
sự tham gia của bị cáo tại phiên tòa là bắt buộc, đây vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của họ Người bào chữa tham gia phiên tòa là chủ thể của một bên tranh tụng – bên bị buộc tội để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo – người bị buộc tội Người bào chữa tham gia phiên tòa theo hai hình thức, do bị cáo hay gia đình của bị cáo mời hoặc theo yêu cầu của Tòa án trong trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị cáo không phạm tội; làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chủ yếu đề cập đến vai trò của Luật sư trong việc thực hiện chức năng bào chữa
Trong những năm qua, đặc biệt là kể từ khi Đảng và Nhà nước phát động công cuộc cải cách tư pháp, vị trí vai trò của người bào chữa ngày càng được khẳng định Có được điều này là đội ngũ những người làm công tác bào chữa mà chủ yếu là Luật sư đã từng bước trưởng thành về chất và lượng Về cơ bản, sự tham gia tố tụng hình sự của Luật sư đã khắc phục được tính hình thức Hoạt động tố tụng của Luật sư trong nhiều vụ án không những đảm bảo tốt hơn quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, mà còn giúp
cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa những thiếu sót, làm rõ sự thật khách quan, góp phần đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Theo quy định của luật luật sư hiện hành thì một luật sư đăng ký hoạt động tại một địa phương có thể tham gia tố tụng trên cả nước chứ không chỉ riêng địa phương đó
Vì vậy, trên địa bàn thành phố Hà Nội thì ngoài các luật sư thuộc đoàn luật sư Hà Nội tham gia tranh tụng trong vụ án hình sự, còn có các luật sư của đoàn luật sư lân cận, thậm chí cả các luật sư trong thành phố Hồ Chí Minh đến Hà Nội để tham gia tranh tụng, cung cấp dịch vụ pháp lý làm cho hoạt động tố tụng của luật sư trở lên đa dạng, cạnh tranh và phát triển ngày một tốt hơn [5]
Như vậy, có thể khẳng định trong thời gian qua đội ngũ luật sư đã tham gia tích cực vào việc bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm (XXST) VAHS và đã đạt được những kết quả nhất định, thể hiện vai trò ngày càng quan trọng của luật sư trong quá trình giải quyết VAHS, góp phần xác định sự thật khách quan của vụ án, giúp Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, áp dụng đúng pháp luật, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo Trong những năm qua, hoạt động bào chữa của đội ngũ luật sư trong giai đoạn XXST VAHS đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng vẫn còn có những hạn chế:
Thứ nhất, số VAHS có luật sư tham gia bào chữa còn rất hạn chế Theo Báo cáo số
46/BC-BTP ngày 06/3/2012 của Bộ Tư pháp thì cho đến nay mới chỉ có khoảng 21,42% tổng số VAHS trong cả nước có luật sư tham gia bào chữa Trong 5 năm từ 2007 - 2011, luật sư đã tham gia 64.173 vụ án trên tổng số 299.574 VAHS đã xét xử Phần lớn các vụ án (chiếm hơn 50%) là luật sư tham gia bào chữa do yêu cầu của cơ quan THTT Thành phố
Hồ Chí Minh là địa phương có đội ngũ luật sư đông đảo nhất và có số vụ án có luật sư tham gia bào chữa lớn nhất so với cả nước nhưng cũng chỉ đạt khoảng 40% số VAHS có luật sư tham gia bào chữa