[r]
Trang 1TẠP CHỈ KHOA HỌC ĐHQGHN, KHXH & NV T.XXII s ố 1, 2006
V IỆ T NAM - V Ư Ơ NG QUỐC ANH (TỪ NĂM 1973 Đ Ế N NAY)
Vương quốc Anh không chỉ là một
trong n h ữ n g th à n h viên chủ chốt của
Liên m in h châu Âu m à còn là quốc gia có
ả n h hưởng trê n t h ế giới, đặc biệt ở khía
cạnh lịch sử văn hoá So vối các mốỉ
q u a n hệ vối nhiều nước Tây Âu khác,
q u a n hệ Việt Nam - Vương quốc Anh có
một tiến trìn h lịch sử dài và trả i qua
nhiều giai đoạn th ă n g trầm Mối quan hệ
song phương này hiện nay được đ án h giá
là “chưa tương xứng vối tiềm n ă n g ”, có lẽ
vì vậy chưa thực sự được q u a n tâm và
nghiên cứu sâu sắc Tuy n h iên trong xu
t h ế hội n h ập và châu Âu đang ngày càng
trở th à n h đốì tác q u an trọng của Việt
N am thì việc nghiên cứu các mốì quan
hệ song phương này là điều cần thiết
Bằng cách khái q u á t lại tổng th ể quan
hệ Việt Nam - Vương quốc Anh, bài viết
n ày mong muốn được đóng góp một phần
nhỏ bé vào việc nghiên cứu quốc t ế cũng
n h ư thúc đẩy mối q u an hệ song phương
n h iều tiềm năng này
1 Q uan hệ V iệt - Anh: N h ữ ng bước
khởi đầu
C hính thức th iế t lập q uan hệ ngoại
giao ngày 9.11.1973, song Việt Nam và
Vương quốc Anh đã có n h ữ n g mối liên hệ
từ nhiều t h ế kỷ trưốc
Sau n h ữ ng p h á t kiến đại lý vĩ đại vào
t h ế kỷ XV, XVI, phương Tây ngày càng
mở rộng q u an hệ buôn bán với phương
Đông Ngoài các quôc gia châu Á đã có
Bùi Hồng H ạ n h (,)
quan hệ buôn bán với Việt Nam từ trước, thời kỳ này đã x u ất hiện n h ữ n g nhà buôn đến từ châu Âu như Bồ Đào Nha,
Hà Lan, Anh, P h áp Sau gần một th ế
kỷ bị thực d â n Ph áp xâm lược và đô hộ, người ta n h ắc nhiều đến ảnh hưởng của văn hoá P h á p đối với Việt Nam C hính vì vậy, t h ậ t th ú vị khi p h á t hiện rằng, trong quá trìn h xâm nhập của phương Tây vào Việt Nam, người Anh đã có m ặt trước người P h á p và cũng đã r ấ t nỗ lực
để thiết lập quan hệ giao thương với các triều đại phong kiến Việt Nam
Ngay từ đầu t h ế kỷ XVII, các thương
n h â n Anh đã tìm mọi cách mở rộng ảnh hưởng của m ình sang k h u vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Năm
1613, th u y ền trưởng Anh Cavanđen (Carwanden) đcã đ ặ t chân đến Hội An xin lập thương điếm n h ư ng không th à n h công [9, tr.80] P h ải đến 10 năm sau,
bằng rất nhiều nỗ lực, các thương gia
Anh mối được C húa T rịnh cho phép lập thương điếm ở Phô' Hiến và 10 năm sau nữa mới có m ặ t ở Kẻ Chợ Lúc này Việt Nam đang trong tìn h trạ n g p h ân tran h giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài, đây là thời kỳ ngoại thương của Việt Nam tương đổi p h á t triển do cả hai dòng họ
T rịnh - Nguyễn đều muôn tr a n h th ủ nguồn cung cấp vũ khí của các lái buôn phương Tây Tuy nhiên việc buôn bán của người Anh cũng không mấy khả quan do chính quyền phong kiến nắm
° ThS., Khoa Quốc tế học, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, ĐHQGHN.
3 8
Trang 2Những bước thăng trám trong quan hệ Việt Nam 3 9
độc quyền mua bán, lại thưòng mua
chịu, trả chậm Thêm vào đó n hữ ng m ặt
h à n g chính của Anh n h ư len dạ, đồ xa xỉ
lại không phải là m ặ t h àn g Chúa Đàng
Ngoài đang cần phục vụ cho cuộc chiến
p h ân tranh Do vậy, cuối t h ế kỷ XVII,
năm 1697, thương điếm của Anh ở Đàng
Ngoài buộc phải đóng cửa [5, tr 155]
Việc buôn bán của người Anh ỏ Đàng
Trong cũng gặp phải n hữ ng khó khăn
tương tự, th ậ m chí người Anh đã có xô
xát với quân của Chúa Nguyễn Phúc
Chu trong việc xâm chiếm Côn Lôn
Sang t h ế kỷ XVIII, người Anh tiếp
tục nỗ lực th iế t lập quan hệ giao thương
vối Việt Nam, tuy nhiên mục đích của
họ đ ã có p h ần thay đổi Cuộc cách m ạng
công nghiệp xuâ't p h á t từ nước Anh tạo
nên bước ngoặt trong lịch sử n h â n loại
và d ần đưa nước Anh trở th à n h bá chủ
t h ế giới Nhu cầu mở rộng thuộc địa đã
trở th à n h p h ầ n th iế t yếu để p h á t triển
k in h tế tư bản chủ nghĩa Chính vì vậy,
trong quan hệ với các nước phương Đông,
các thương n h â n phương Tây nói chung
và người Anh nói riêng không chú trọng
n h iều đến lợi n h u ậ n buôn b á n n h ư thời
kỳ trước mà muốn mở rộng giao thương
c h ặt chẽ hơn n h ằm điều tr a và tìm cách
mở đường cho mứu đồ xâm lược Sau vụ
Côn Lôn n ă m 1702, tà u Rumbôn
(Rumbold) của thương gia Sapm an
(Chapm an) đã quay lại Đ àng Trong tìm
cách đ ặ t lại quan hệ Đây là thời kỳ cầm
quyền của n h à Tây Sơn, q u an hệ giữa
h ai bên đã có n h ữ n g biểu hiện tốt đẹp
chưa từng có trước đó S a p m an đã được
V ua Tây Sơn Nguyễn Nhạc đón tiếp
trọ n g thể, hai bên đã giới th iệu những
m ặ t h à n g có th ể trao đổi Vua Tây Sơn
còn cho phép các thuyền buôn của Anh
vào các cửa biển do Tây Sơn kiểm soát [6] Tuy nhiên nhiều thoả th u ậ n buôn
b án đã không th ể thực hiện do cuộc chiến tra n h giữa q u ân Tây Sơn và n h à Nguyễn
Cùng vối sự p h á t triển của chủ nghĩa
tư bản, bước sang t h ế kỷ XIX châu Á trở
th à n h miếng mồi cho các nước thực dân phương Tây tr a n h giành n h ằm mở rộng thuộc địa Vì vậy sự có m ặt của người phương Tây ở đây dù với b ấ t cứ lý do nào cũng gây tâm lý lo ngại vê vấn đề chủ quyền Tại Việt Nam, triều đình n h à Nguyễn vừa giành lại vương quyền nên
đã thực hiện các chính sách đối ngoại “bê quan toả cảng” N hững thông tin về sức
m ạnh và sự b à n h trướng của Anh trên khắp t h ế giới đã khiến vua quan nhà Nguyễn coi Anh n h ư một mối nguy xâm lược đáng sợ Thêm vào đó, Anh cũng đã từng có n hững xung đột với triều đình Việt Nam Trước th á i độ của n h à Nguyễn, Anh vẫn r ấ t tích cực đến đề nghị đ ặt quan hệ H àng loạt các sứ th ầ n Anh đã đến đưa thư, tặ n g quà và xin mở cửa hiệu buôn bán, song đều bị từ chối Như vậy trong suốt gần bâ th ê kỷ từ thê
kỷ XVII đến t h ế kỷ XIX, các thương gia Anh đã nhiều đến Việt Nam n h ằm th iế t lập quan hệ song vì nhiều lý do khách
q u an cũng n h ư chủ quan, k ế t quả đ ạ t được h ầu n h ư không đáng kể
Vào nửa đầu t h ế kỷ XX, một giai đoạn khốc liệt, n h â n loại phải trả i qua liên tiếp h ai cuộc chiến tr a n h t h ế giới Với vị t h ế khác n h au, Anh là nước đế quốc thực dân, còn Việt Nam lại đứng trong h à n g ngũ các dân tộc đang đấu
tr a n h giành độc lập dân tộc, h ai bên không có q u an h ệ song phương trực tiếp
Tạp chi Klw a học ĐHQGHN KHXH & NV, T.XXII, s ố / , 2006
Trang 34 0 Bùi H ổn g Hạnh
N ăm 1945, khi Việt N am vừa g iàn h độc
lập từ p h á t xít N h ậ t, q u â n đội A nh với tư
cách là lực lượng q u â n sự đồng m in h đã
vào giải giáp q u â n N h ậ t ở p h ía n a m vĩ
tu y ế n 16 Ngay sa u đó, t h á n g 9.1945
A nh đã giúp P h á p q u a y trở lại Việt Nam,
khởi động cuộc chiến t r a n h xâm lược tại
Sài Gòn từ đêm 23.9.2945 Vì vậy, th á n g
10 cùng n ăm , A nh đã lập tức công n h ậ n
c h ín h quyền b ù n h ìn ở m iền N am Việt
N am do thực d â n P h á p lập ra Trưốc sự
t h ấ t bại của P h á p ở Đ iện Biên P h ủ , A nh
đã n g ă n cản ý đồ của Mỹ sử d ụ n g “bom
ng u y ên tử h ạ n chế'’ tr ê n chiến trường
này Do lo ngại ả n h hư ở ng của cách
m ạ n g Việt N am đổi với các thuộc địa của
m ìn h ở Đông N am Á, A nh tìm cách châm
d ứ t chiến t r a n h Đông Dương, th a m gia
Hội nghị Giơnevơ tr ê n cương vị đồng chủ
tịch với Liên Xô N h ư n g về cơ b ản , Anh
v ẫn đứng về phía Mỹ để chông p h á
phong trào xã hội ch ủ n g h ĩa, n g ă n cản
cuộc đấu t r a n h th ô n g n h ấ t của n h â n d ân
Việt Nam C h ín h p h ủ A nh k hông ngăn
c h ặn âm m ư u xâm lược Việt N am của
Mỹ, không lên tiến g k h i Mỹ và chính
quyền Sài Gòn có n h ữ n g h à n h động p h á
vỡ Hiệp định T rong suốt giai đoạn đầu
của cuộc đấu tranh th ông n h ấ t đất nưốc
của Việt N am , A nh luôn thự c h iện chính
sách ủ n g hộ Mỹ, đã th iế t lập q u a n hệ ở
cấp đại sứ với chính qu y ền Sài Gòn Tuy
n h iê n trong cuộc đ ấ u t r a n h này, n h â n
d â n Việt N am đã n h ậ n được sự ủ n g hộ
của n h â n d â n tiến bộ tạ i A nh cũ n g n h ư
tr ê n toàn t h ế giới S á n g k iến của n h à bác
học Anh B ectơrăng R u tx e n th iế t lập Toà
á n quốc t ế xử vụ Mỹ xâm lược Việt N am
được sự hưỏng ứng th a m gia củ a đỏng
đảo trí thức tr ê n t h ế giới N hiều cuộc m ít
tin h , biểu tìn h của n h â n d â n p h ả n đốì
chính sách xâm lược của Mỹ diễn r a sôi nổi, liên tục tro n g cả nước Anh
N hư vậy, n h ìn lại những n ăm t h á n g lịch sử, có th ể thây, người Anh đã có m ặ t
ở Việt Nam từ r ấ t sớm, song do n h iề u lý
do khách q u an cũng n h ư chủ quan, q u a n
hệ giữa hai bên có nhiều trắc trở, chưa
thực sự được thiết lập.
2 Quan hệ V iệt - Anh - Giai đ oạn trầm lắng 1973 - 1993
T h ế chiến th ứ hai vừa kết th ú c n ăm
1945, t h ế giới lại bưốc ngay vào một cuộc chiến mói - Chiến tr a n h lạnh vối sự đốì đầu giữa hai h ệ thông tư bản chủ nghĩa
và xã hội chủ nghĩa đã chi phôi to àn bộ quan hệ quốc t ế thời kỳ này Q u an hệ Việt Nam và Vương quốc Anh cũng không là ngoại lệ
Vào n h ữ n g năm 70 của t h ế kỷ XX, quan hệ quốc t ế có những dâu hiệu hoà hoãn Đông - Tây Trong lúc đó, nước Mỹ, trụ cột của một cực, đã sa lầy trong cuộc chiên ở Việt Nam Thêm vào đó, phong trào của n h â n dân tiến bộ trên t h ế giới chông chiến tr a n h Việt Nam đã khiến chính phủ nhiều nước có n h ữ n g hoạt động xích lại gần hơn với Việt N am Dân chủ cộng hoà (VNDCCH) Sau khi Hiệp định P aris 1973 được ký kết, h à n g loạt các quốc gia đã chính thức công n h ậ n và
th iế t lập ngoại quan hệ ngoại giao với Việt Nam, trong đó có một sô' nưóc châu
Âu Trong giai đoạn 1970-1974 nước Anh Thủ tướng E dw ard H eath chủ trương
tă n g cường việc đưa nước Anh xích lại gần các nước phương Tây Sau nhiều
th ă n g trầm trong quan hệ, ngày 1.8.1973 nước Anh đã chính thức th a m gia Cộng đồng kinh t ế châu Âu (EEC), đ á n h dấu bước hội nhập của Anh vào Cộng đồng
Tạp chi Khoa học ĐHQGHN, KHXH & NV T.XXJI, S ổ 1 , 2006
Trang 4Những bước thăng trầm trong quan hộ Việt Nam 4 1
châu Au Chính vì vậy, trước xu thê các
nước châu Au n h ư Pháp, Ý, Bỉ, Hà Lan
và nhiều nước khác trê n t h ế giới thiết
lập quan hệ với VNDCCH, Anh không
th ể h àn h động ngược lại Ngày 9.11.1973
Vương quốc Anh và Bắc Ailen và
VNDCCH đã chính thức th iế t lập quan
hệ ngoại giao
Tuy nhiên, thực tiễn q u an hệ giữa
h ai nước trong suốt gần hai th ậ p niên
tiếp theo đã cho th ấy việc th iế t lập quan
hệ ngoại giao này không tiến triển ngoài
việc chính p h ủ Anh công n h ậ n sự tồn tại
của nhà nưóc VNDCCH Trong hai thập
niên (1973 - 1993) có th ể k h á i q u á t quan
hệ Việt-Anh th à n h hai giai đoạn n h ư sau:
2.1 G iai đ o a n từ 1973 - 1986
1973 - 1975 là thời kỳ n h â n dân Việt
Nam dốc toàn tâm lực cho sự nghiệp
thông n h ấ t đ ấ t nước, q u an hệ giữa hai
nước hoàn toàn đóng băng C hính phủ
Mỹ vẫn tiếp tục duy trì th á i độ t h ù địch
chông phá cách m ạn g và công cuộc thông
n h ấ t đ ất nước của n h â n d â n Việt Nam
và Anh luôn là đồng m inh số một của
Mỹ Vì vậy, chính p h ủ Anh vẫn tiếp tục
duy trì quan hệ với chính quyền nguỵ
Sài Gòn Với chính p h ủ VNDCCH, Anh
mới chỉ cử đại biện chưa th iế t lập đại sứ
như với chính p h ủ Sài Gòn
Năm 1975, Việt N am hoàn toàn
thông n h ất, q u a n hệ giữa hai nước bớt
căng th ẳn g hơn Hai bên đã n â n g quan
hệ lên cấp đại sứ, th à n h lập đại sứ quán
Chính phủ Anh bước đầu đã có những
hoạt động viện trợ giúp n h â n d ân Việt
Nam khắc phục h ậ u quả chiến tr a n h và
ủng hộ Việt N am gia n h ậ p Liên Hợp
Quốc Tuy nhiên, mối q u an hệ này vẫn
chưa thực c h ấ t và chỉ là k ết quả n h ấ t
thời do chịu ả n h hưởng của xu t h ế hoà dịu tro n g q u a n hệ quốc t ế t r ê n t h ế giới Ngoài ra, p h o n g trào đấu t r a n h của các
tầ n g lớp n h â n d â n cũng gây áp lực buộc chính p h ủ A nh p h ả i có m ột sô" động th ái tích cực Do đó đây mới chỉ là dấu hiệu hoà dịu tro n g q u a n h ệ Việt- Anh
N h ữ n g n ă m cuối th ậ p n iên 70 của
t h ế kỷ XX, t h ế giới lại rơi vào một cuộc
k h ủ n g h o ả n g mới, xu t h ế hoà dịu Đông - Tây vừa đ ạ t được n h ữ n g n ă m đầu th ậ p niên có nguy cơ bị p h á vỡ C hính sách của T h ủ tư ó n g A nh M.T h a tc h e r vẫn “gắn
c h ặ t vói chính sách đốì ngoại Hoa Kỳ”[4]
S au n h iều n ă m chiến t r a n h , Việt Nam
bắt đầu công cuộc khôi phục kinh t ế và
xây dựng lại đ ấ t nưóc tro n g điều kiện khó k h ă n về mọi m ặt T h êm vào đó, vấn
đề C a m p u c h ia v à việc người Việt N am di
cư b ấ t hợp p h á p đã gây n h iều hiểu lầm
và bâ't lợi cho V iệt Nam
Q u a n hệ V iệt - A nh cũng rơi vào tình
tr ạ n g tương tự, th ậ m chí còn trở nên h ế t sức căng th ẳ n g C ù n g với Mỹ và T ru n g Quốc, chính p h ủ A nh đã góp p h ầ n vào chiến dịch tu y ê n tr u y ề n chổng Việt Nam Không chỉ n g ừ n g viện trợ, thực hiện chính sách bao vây cấm v ậ n k in h tế, Anh còn lôi kéo Cộng đồng c h âu Âu (EC)
tu y ê n bô" c ắ t đ ứ t viện trợ và q u a n hệ kin h t ế đối vói V iệt Nam
Có th ể nói, q u a n hệ Việt - Anh giai đoạn này chịu ả n h hưởng củ a sự đốì đầu giữa h a i cực tro n g C hiến t r a n h lạ n h vì vậy m ặc d ù đã c h ín h thức th iế t lập quan
hệ ngoại giao song thực c h ấ t q u a n hệ bị đóng băng
2.2 G ia i đ o a n từ 1986-1993
Đây là giai đoạn tu y k hông dài
n h ư n g lại diễn r a n h iều sự kiện q u an
Tạp chi Khoa học ĐHQGHN, KHXH & NV, T.XXII, S ổ ỉ , 2006
Trang 54 2 Bùi H ồng Hạnh
trọng làm th ay đổi tìn h h ìn h quan hệ
quốc t ế nói chung và tác động m ạn h mẽ
đến quan hệ song phương Việt - Anh Hệ
thông xã hội chủ nghĩa Đông Au và Liên
Xô ta n rã, hệ thông h ai cực sụp đổ T ất
cả các quốc gia buộc phải điều chỉnh
chính sách đối nội cũng n h ư đỗi ngoại
của m ình n h ằ m p h ù hợp vói bổì cảnh
quốc t ế mới
Năm 1986 được coi là mốc lịch sử
quan trọng của Việt Nam, Đại hội Đảng
lần thứ VI đề ra đường lối đổi mới trên
t ấ t cả các lĩnh vực không chỉ làm thay
đổi bộ m ật kinh t ế của đ ấ t nước m à còn
tác động đến t ấ t cả các mối q u an hệ
ngoại giao của Việt Nam Việt N am đã
tích cực giải quyết các vấn đề còn gây
hiểu lầm trong cộng đồng quốc t ế như
vấn đề Campuchia, vấn đề người tị
n ạn và dần dần th o á t khỏi t h ế bị cấm
vận kinh tế, chính trị Trước xu t h ế hoà
dịu và thiện chí của Việt Nam, A nh đã có
những nhìn n h ậ n khác về Việt Nam
Thêm vào đó việc EC đã ghi n h ậ n thiện
chí của Việt Nam và tuyên bô" bỏ lệnh
cấm vận đối với Việt Nam đã có tác động
tích cực đến q u an hệ song phương Việt -
Anh
Giai đoạn 1986 - 1993 có th ể coi là
thòi kỳ khởi động, h â m nóng lại mối
quan hệ giữa Việt N am và Vương quốc
Anh Trong vòng 7 n ă m này, đã có
khoảng 10 chuyến th ă m giữa h a i bên
Mở đầu là chuyến th ă m Việt N am của
đoàn Đại biểu u ỷ b an đối ngoại Quốc hội
Anh theo lời mời của Bộ Ngoại giao Việt
Nam th á n g 4.1986, đây là chuyên th ăm
chính thức ở cấp quốc gia đ ầ u tiên của
Anh N hững chuyến th ă m này chủ yếu
m ang tính chất tìm hiểu, th ă m dò chứ
chưa đi đến ký kết m ột v ă n kiện m a n g tín h pháp lý cho quan h ệ song phương Trong thời gian này chính p h ủ A nh cử các Quốc vụ k h a n h sa n g khai thô n g
q u an hệ, các Bộ trưởng Ngoại giao của Việt Nam đã nhiều lần đến th ă m Anh
Về quan hệ kinh tế, n h iều cơ quan chức n ăn g và các doanh nghiệp Anh đã đến Việt Nam để tìm hiểu và tìm kiếm cơ hội Các công ty Anh có m ặ t đầu tiên ở Việt Nam đều chủ yếu ở lĩn h vực d ầ u khí như B ritish Petroleum (BP), E n te rp rise Oil, Shell Đây cũng là n h ữ n g tậ p đoàn đầu tiên đầu tư vào Việt N am thô n g qua hình thức ký k ế t các hợp đồng cùng khai thác với Tổng công ty d ầ u k h í Việt Nam
v ể quan hệ thương mại, kim ngạch
x u ấ t n h ập k h ẩ u giữa h a i bên còn rấ t khiêm tôn, song cũng đã có những chuyển biến n h ấ t định N h ậ p k h ẩ u của Việt Nam từ Anh đã tă n g từ 638 triệu Rup-USD n ă m 1986 lên 11.381 triệu Rup-USD năm 1993 Các m ặ t h à n g nhập
k h ẩu chủ yếu của Việt N am là hoá chất
và máy móc M ặt h à n g x u ấ t k h ẩ u chủ yếu của Việt Nam sa n g Anh là dầu khí
và một sô" m ặ t h à n g thự c phẩm , mỹ nghệ Con sô" x u ất k h ẩ u của Việt Nam cũng tă n g từ 1,116 triệ u Rup-USD năm
1986 lên 23,017 triệ u Rup-USD năm
1993 [8]
Nhìn lại q u an hệ Việt - Anh giai đoạn 1986-1993 trê n các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, có th ể thấy m ặc dù k ết quả còn
r ấ t nhỏ bé song đây là thời kỳ chuyển tiếp từ tìn h trạ n g đóng b ă n g trong 20 năm đầu sau khi chính thức th iết lập quan hệ, sang một thòi kỳ mối, quan hệ song phương được n â n g lên theo đúng tinh th ần hợp tác, hữu nghị
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, KHXH & NV, T.XXII, S Ố L 2006
Trang 6Nhừng bước thăng trầm trong quan hệ Việt Nam 4 3
3 Q uan hệ V iệt N am - Vương quôc
Anh từ năm 1993 đ ến nay: Khởi sắc
và T riển v ọ n g
3.1 B ôi c ả n h
Sau khi C hiến t r a n h lạn h k ết thúc,
t h ế giới bước vào m ột giai đoạn mới, thời
kỳ của xu t h ế to à n cầu hoá, k h u vực hoá
Các Xổ chức quốc t ế và k h u vực hình
th à n h là k ế t q u ả của xu t h ế này đồng
thòi cũng th ú c đẩy các q u a n hệ đa
phương và tạo r a cơ hội để q u an hệ song
phương p h á t triển
v ỏ i tin h t h ầ n tích cực chủ động hội
n h ập và tă n g cường q u an hệ quốc tế,
Việt N am đã đ ạ t được n h ữ n g th à n h tựu
ngoại giao q u a n trọng Trong chính sách
đối ngoại của Việt N am , Liên m inh châu
Âu (EU) và các đỗi tác châu Ãu luôn giữ
m ột vai trò q u a n trọng T h án g 11.1990,
EU và Việt N a m đã chính thức bình
thường hoá q u a n hệ và th iế t lập quan hệ
ngoại giao ở cấp đ ại sứ Năm 1994, EU
đã công bô" “C hiến lược mới hướng tới
châu Á” n h ằ m tă n g cường xây dựng mỗi
q u an hệ b ạ n bè ổn định, bình đẳng với
châu Á tro n g đó Việt N am được coi là
mũi đột p h á để từ đó xâm n h ậ p vào các
th ị trường k h á c củ a k h u vực này Chính
vì vậy, x u ấ t p h á t từ n h u cầu hợp tác của
cả h ai phía, t h á n g 7.1995, Hiệp định
k h u n g về hợp tác giữa Việt N am và EU
đã chính thức được ký kết, đ ặ t cơ sở
pháp lý và mở r a m ột triể n vọng mới cho
không chỉ q u a n hệ Việt N am - EU mà
còn là q u a n h ệ song phương giữa Việt
N am và các nước t h à n h viên EU Cũng
trong n ă m 1995, V iệt N am đã trở th à n h
th à n h viên ch ín h thức của Hiệp hội các
nước Đông N a m Á (ASEAN), bình
thường hoá q u a n h ệ với Mỹ Thêm vào
đó quan hệ Việt N am - EU còn được hỗ trợ và bổ su n g trong khuôn khổ hợp tác của Hội nghị Thượng đỉnh Á-Âu (ASEM)
T ấ t cả tạo nên một h ìn h ảnh Việt Nam mới trong m ắt cộng đồng quốc tế
v ỏ i tư cách là một th à n h viên tích cực của EƯ, trưỏc n h ữ n g th ay đổi của bối cảnh quốc tế, k h u vực cũng như Việt Nam, chính p h ủ Anh xem xét và điều chỉnh chính sách đối ngoại với Việt Nam Vào những n ă m đầu th ập niên 90 của
t h ế kỷ XX, nước Anh đang trong quá trìn h phục hồi và tă n g trưởng kinh tế Hơn nữa, Anh lại đứng trước áp lực phải trao trả thị trường h à n g đầu của Anh ở châu Á là Hongkong cho T ru n g Quốc vào năm 1997 Vì vậy, một trong những nhiệm vụ đ ặ t ra đối với Anh là tìm kiếm
và mở rộng thị trường ở kh u vực châu Á Việt Nam là một thị trường mối, nhiều tiềm năng, do đó cần phải tạo chỗ đứng thông qua việc mở rộng q u an hệ chính trị kinh t ế với quốc gia này Anh là một trong n h ững nước Tây Âu đầu tiên ủng
hộ công cuộc đổi mối của Việt Nam Trong thời gian giữ chức Chủ tịch luân phiên của EC, Vương quốc Anh đã ủng
hộ Việt Nam ký k ết Hiệp định h àn g dệt may vối EC n ăm 1992
3.2 Thành tựu
a L ĩn h vực chính trị ngoại giao
S au thời gian khởi động và hâm nóng quan hệ (1986-1993), trước n hững tác động tích cực của tìn h hìn h quốc t ế cũng như tìn h h ìn h trong nưốc, q u an hệ Việt - Anh đã bước vào một giai đoạn mối, khởi sắc và p h á t triển
Đ án h dấu cho giai đoạn này là chuyên th ă m Vương quốc Anh của Thủ
Tạp chí Khoa liọc Đ HQGHN, KHXH & NV, T.XXII, S ổ ỉ , 2006
Trang 74 4 Bùi Hổng H ạ n h
tướng Võ Văn Kiệt th á n g 7.1993 Đây là
chuyến th ăm nước Anh đầu tiên của Thủ
tướng Việt N am sau 20 năm th iế t lập
quan hệ ngoại giao Q u an hệ chính trị
giữa hai bên được khai thô n g và mở
đường cho h à n g loạt các cuộc viếng th ăm
ở nhiều cấp độ giữa h a i chính p h ủ với
mục đích mở rộng và p h á t triể n hợp tác
Nhiều bộ trưởng Anh đã có m ặ t ở Việt
Nam như: Bộ trưởng Ngoại giao Doglas
H urd th á n g 4.1994; Bộ trưởng Tài chính
K enneth Clarke th á n g 1.1995; Bộ trưởng
Thương mại và Công nghiệp P.L.F raser
th á n g 11.1995; Bộ trưởng Giao thông
vận tải George Young th á n g 8.1996
Q uan trọng hơn cả là chuyên th ă m chính
thức Việt N am của Công chúa H oàng gia
Anh Anne Elizabeth Alido th á n g 3.1994
Sau đó Công chúa cũng đã quay lại th ăm
Việt Nam vào th á n g 5.2002 Những
chuyến th ăm của Công chúa đã thúc đẩy
các dự án phúc lợi hỗ trợ p h ụ nữ và trẻ
em Việt Nam
Về phía Việt Nam, nhiều đoàn đại
diện của chính p h ủ đã đến th ă m chính
thức Vương quốc Anh n h ằ m tă n g cường
quan hệ hợp tác h ữ u nghị giữa h ai nước
Trong số đó có chuyến th ă m của Bộ
trưởng Bộ Kế hoạch và Đ ầu tư T rần
Xuân Giá, th á n g 3.1997; Phó T h ủ tướng
kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn
M ạnh c ầ m th á n g 2.1998; và trong
chuyến đi London dự ASEM 2, Thủ
tướng P h a n Văn Khải đã có cuộc hội đàm
vối Thủ tướng Anh n h ằ m thúc đẩy quan
hệ song phương
Như vậy, n h ữ n g n ăm cuối th ậ p niên
90, quan hệ Việt - Anh đã thực sự được
k hai thông và khởi sắc Các k ết quả đạt
được từ n h ữ ng chuyến th ă m giữa hai bên
chủ yếu là n h ữ n g thoả th u ậ n về viện trợ
p h á t triển, vay von ODA (như th o ả
th u ậ n cho Việt Nam vay 50 triệu b ả n g Anh năm 1994) và Anh cổ* gắng th ú c đ ẩ y một số* dự án ưu tiên, đặc biệt là các dự
án dầu khí S ang đầu th ế kỷ XXI, q u a n
hệ Việt - Anh đã dần chuyển san g m ột hình th ái mới, hợp tác kinh tế, thương mại trê n cơ sở h ai bên cùng có lợi, đáp ứng nguyện vọng của hai quốc gia
Có th ể th ấ y sự chuyển biến này q u a kết quả các chuyên th ăm giữa h ai bên Trong chuyến th ă m Anh của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên th á n g 9.2001, chính p h ủ Anh đã k h ẳ n g định coi Việt N am là một đối tác quan trọng trong chính sách hợp tác k in h tế, đầu tư
và thương m ại ở Đông N am Á; cam kết tăn g cường ODA; khuyến khích doanh
n h â n Anh đầu tư vào Việt Nam; tạo điều kiện th u ậ n lợi để h àn g x u ấ t k h ẩ u của Việt Nam vào EU và ủng hộ Việt Nam gia nhập Tổ chức thương m ại t h ế giới (WTO) Tuyên bô" này một lần nữa được
k h ẳ n g định khi Phó T hủ tướng Anh Jo h n Prescott tới th ă m chính thức Việt Nam
th á n g 12.2001 Đây là chuyến th ă m cấp cao n h ấ t của chính phủ Anh tới Việt Nam, đánh dấu một bước p h á t triển mới
cả về bề rộng lẫn chiều sâu trong quan
hệ giữa h ai nước T h àn h tự u q u an trọng
n h ấ t của các chuyến th ă m này là các văn
b ả n pháp lý được ký kết, tạo nền tảng cho quan hệ hợp tác giữa h ai bên như Hiệp định về cơ chế và hoạt động của Hội đồng Anh tại Việt Nam (12.2001); Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (8.2002); Hiệp định về chuyển giao quyền sở h ữ u tài sản ngoại giao (9.2003)
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, KHXH & NV, T XXII, S ố ì, 2006
Trang 8Nhừng bước thăng trầm trong quan hộ Việt Nam 4 5
T rên cơ sở n h ữ n g k ết quả đã đ ạt
được, n ăm 2004 đã trở th à n h năm gặt
h á i n h ữ ng th à n h công trong quan hệ
Việt - Anh trê n t ấ t cả các lĩnh vực Trong
n ă m này liên tục có các chuyến công du
của đại diện chính p h ủ h ai nưóc Trong
đó, chuyến th ăm Vương quốc Anh của
C hủ tịch nước T rầ n Đức Lương th án g
5.2004 đã hứa hẹn một bước p h á t triển
mới cho quan hệ song phương này Cũng
trong dịp này, T hủ tướng Anh Tony Blair
đ ã coi q u an hệ Anh - Việt là “q u a n hệ đối
tác chiến lược”, Việt N am là đốì tác
chính trị - kinh t ế q uan trọng, đầy tiềm
năng C huyến th ă m đã k ết thúc tốt đẹp
với các cam k ết viện trợ và đầu tư mỏi
của chính phủ và doanh nghiệp Anh
Bên cạnh đó, quan hệ Nghị viện,
q u ân sự, lãnh sự giữa h ai bên cũng
được đẩy m ạnh và góp p h ầ n thúc đẩy
quan hệ song phương toàn diện hơn Sau
chuyến th ă m Anh của Chủ tịch Quốc hội
Nông Đức M ạnh th á n g 10.1993, nhiều
đoàn Nghị sĩ Anh đã sang th ă m Việt
Nam Các chuyến th ă m này đã giúp hai
bên hiểu n h a u hơn, tạo điều kiện p h át
triển q u an hệ song phương Và gần đây
n h ấ t, th á n g 3.2005, Chủ tịch Quốc hội
Nguyễn Văn An đã th ă m chính thức Anh
với mục đích thúc đẩy đổì thoại cấp cao,
tă n g cương tìn h hữu nghị và hợp tác
giữa Việt N am và Vương quốc Anh
b L ĩn h vực k in h t ế
Sự khởi sắc và p h á t triển trong lĩnh
vực chính trị ngoại giao đã đ ặ t nền tản g
cho các q u an hệ khác, đặc b iệt là quan
hệ kinh tế
Trong lĩn h vực thương m ạ i, từ năm
1993, sau 12 n ăm gián đoạn, chính phủ
Anh đã tháo gõ bảo hiểm tín dụn g x uất
k h ẩ u đổỉ với Việt Nam, h à n g hoá của Việt Nam được hưởng n h ữ ng chế độ ưu đãi n h ư các quốc gia đang p h á t triển khác Do đó, q u an hệ thương mại giữa
h ai bên có điều kiện p h á t triển m ạnh mẽ hơn Từ năm 1995 đến năm 2003, xuất
k h ẩ u của Việt N am sang Anh liên tục
tă n g qua các năm: từ con sô' r ấ t khiêm tôn là 74,6 triệ u USD năm 1995 đã tăng lên hơn 10 lần vào năm 2003, 755 triệu USD Kim ngạch n h ập k h ẩ u từ Anh cũng tă n g d ần lên từ 50,7 triệu USD
n ă m 1995 lên 217 triệu USD năm 2003 [7] Năm 2004, Anh là đối tác thương
m ại lón th ứ hai của EU tại Việt Nam sau CHLB Đức M ặ t h à n g x u ấ t k h ẩ u chủ yếu của Việt Nam sang Anh là giày dép,
h à n g dệt may, sản phẩm gỗ, cà phê, thuỷ sản, h àn g th ủ công mỹ nghệ và m ặt
h à n g nhập k h ẩ u chính từ Anh là th iết bị
m áy móc, p h ụ tùng, sợi hoá học, dược
p h ẩ m (1) Kết quả n ày có được là do sự nỗ lực
x u ấ t p h á t từ n h u cầu p h á t triển của cả
h ai phía trong suốt thời gian vừa qua Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh đã coi Việt Nam là m ột trong “n hữ ng vùng đất
cơ hội” trong chiến dịch thúc đẩy thương mại Việt Nam cũng có n h u cầu về nguồn vốn đầu tư, thị trường và công nghệ cũng
n h ư “vị trị chủ chốt” của Anh trong EU
Do đó hai bên đã có nhiều hoạt động để
tă n g cường q u an hệ kinh t ế song phương Bên cạnh các Hiệp định có tính
th ú c đẩy q u an hệ k in h tế, Anh đã lập Hiệp hội thương mại Anh ở Việt Nam
n h ằ m giúp các doanh n h â n Anh th u thập các thông tin về thị trường Việt Nam
H iện nay, Anh đã có 138 văn phòng đại
(1) http://www.dei.gov.vn
Tạp chi Khoa học ĐHQGHN, KHXH & NV, T.XXỊỊ, S ổ ỉ , 2006
Trang 94 6 Bùi Hồng Hạnh
diện và chi n h á n h thương mại thường
tr ú tại Việt Nam N ăm 1999, Việt Nam
là một trong ba đôi tác được Bộ Thương
mại quốc t ế Anh chọn làm đổì tác cho
chương trìn h hợp tác giữa doanh nghiệp
Anh và doanh nghiệp nước đôi tác Các
doanh nghiệp Việt Nam th a m gia vào
chương trìn h này có điều kiện tiếp xúc
với các công ty của Anh, có cơ hội mở
rộng quan hệ thương m ại và chuyển giao
công nghệ Cũng cuối năm này, Phòrrg
Thương mại và Công nghiệp Việt N am
phôi hợp với Tông lãn h sứ q u á n Anh tại
th àn h phô" Hồ Chí Minh đã tổ chức giỏi
thiệu th à n h công “Chương trìn h hợp tác
Việt * Anh” với sự th a m gia của 120
doanh nghiệp Anh và Việt Nam Chương
trìn h đã tạo cơ hội cho doanh nghiệp hai
bên gặp gỡ, trao đổi và hợp tác kinh doanh
Trong lĩn h vực đ ầ u tư , ở giai đoạn
đầu của thập niên 90, các sô' liệu cho
thấy đầu tư trực tiếp (FDI) của Anh vào
Việt Nam không đáng kể Tuy nhiên,
những con số đó đã không đ á n h giá được
thực chất hoạt động đầu tư của Anh ở
Việt Nam Bởi lẽ Anh đã đầu tư một
lượng lớn, chiếm tới 50% tổng giá trị đầu
tư, thông qua các tập đoàn đa quỗc gia
hoặc một nước th ứ ba n h ư Singapore, Hà
Lan, Philippines, Hongkong [l] Tuy
vậy hình thức đầu tư gián tiếp này càng
về sau càng giảm do các doanh nghiệp
Anh đã tin tưởng hơn vào thị trường Việt
Nam, đặc biệt là sau khi Hiệp định bảo
hộ thương mại và đầu tư được ký kết
năm 2002
Đến th á n g 4.2004, Anh đã có 53 dự
án với tổng vốn đầu tư gần 1,2 tỷ USD,
đứng thứ 11 trong số các nước có đ ầ u tư
vào Việt Nam và đứng th ứ 3 trong sô" các
nưóc EƯ(2) Các lĩnh vực đầu tư chủ yếu của Anh là dầu khí, một sô" ngành công nghiệp nặng, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm BP và P ru d en tial là hai công ty lớn và th à n h công trong kinh doanh ở Việt Nam BP đã có m ặt ở Việt Nam từ
r ấ t sớm, n ă m 1987, với dự án th ăm dò dầu khí N am Côn Sơn, BP là công ty nước ngoài có dự án đầu tư lớn n h ấ t tại Việt Nam với sô" vốn là 1,3 tỷ USD Có
m ặt ở Việt Nam từ năm 1994, công ty bảo hiểm n h â n thọ P ru d en tial nh an h chóng đứng đầu các công ty bảo hiểm nước ngoài và được đánh giá là dự án đầu tư nước ngoài th à n h công n h ấ t tại Việt Nam M ặ t khác, Việt Nam cũng có được m ột sô" dự án đầu tư vào Vương quốc Anh n h ư dự án F a re a st Shipping &
T rading giữa Liên hiệp Hàng hải Việt Nam và công ty Chemex, dự án V inatea - Anh giữa công ty x u ấ t nhập khẩu và đầu
tư chè Việt N am với R.E.A Holding PLC của Anh
c L ĩn h vực văn hoá - giáo dục
Có th ể nói đây là một trong những lĩnh vực hợp tác Việt - Anh quan trọng
Từ năm 1993 đến nay, quan hệ song phương trong lĩnh vực này liên tục phát triển và được đánh giá là thành công nhất
Vê giáo d ụ c , quan hệ hợp tác chủ yếu
tập tru n g vào việc đào tạo tiếng Anh Đây là n h u cầu cấp th iết của Việt Nam, lại là t h ế m ạn h của Anh Tổ chức được
chính phủ Anh giao nhiệm vụ này là Hội đồng Anh tại Việt Nam Có m ặt từ CUỐI
năm 1993, Hội đồng Anh đã tiến hành dạy tiếng Anh ở Hà Nội, sau đó mở rộng
cơ sở ở th à n h phổ* Hồ Chí Minh M ặt
(2) http://www.dei.gov.vn
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN K tìXtì & NV, T.XXỈI, S ố 1, 2006
Trang 10Những bước thăng trăm trong quan hệ Việt Nam 4 7
khác, chính phủ Anh cũng có n h ữ n g dự
án tài trợ th iết bị giảng dạy cho nhiều
trường đại học của Việt Nam Đào tạo
sau đại học cũng là lĩnh vực Anh quan
tâm và khuyến khích C hính phủ Anh đã
phối hợp với trường Đại học Kinh t ế quốc
dân mở các khoá đào tạo MBA bằng
tiếng Anh Vương quốc Anh cũng là một
trong những địa chỉ h ấ p dẫn, th u h ú t
sinh viên Việt Nam du học Trong những
năm gần đây sô' lượng học sinh, sinh viên
được đào tạo ở Anh tă n g lên và họ trở
th à n h một cầu nối cần th iế t trong việc
p h á t triển quan hệ giữa hai nưốc Tuy
nhiên, các học bổng do chính p h ủ Anh tài
trợ còn tương đổi h ạ n ch ế nên hợp tác
trong lĩnh vực này chưa thực sự tương
xứng với tiềm n ă n g cũng như n h u cầu
của h ai bên
Trong lĩn h vực hợp tác văn hoáy hai
bên đã tiế n h à n h ngày càng nhiều các
h oạt động giao lưu văn hóa Các đoàn
nghệ th u ậ t của Việt N am đã được mời
san g Anh biểu diễn, n h ữ n g “Ngày Việt
N a m ” ỏ Anh cũng được tổ chức thường
xuyên n h ằm giói th iệu h ìn h ả n h Việt
N am với n h â n dân Anh Trong lĩnh vực
này, Hội đồng Anh là n h â n tô" tích cực
tro n g việc giới th iệu văn hoá Anh tại
Việt Nam Hội đồng Anh đã mời các
nghệ sĩ Anh sang biểu diễn ở Việt Nam,
đồng thòi cũng tài trợ cho các nghệ sĩ
Việt N am trong nhiều lĩnh vực n h ư múa,
âm nhạc, nhiếp ảnh, hội hoạ, thời
tra n g sang Anh học tập và biểu diễn
N h ữ n g th à n h tự u trong lĩnh vực hợp
tác v ă n hoá - giáo dục đã góp p h ầ n tích
cực trong việc thúc đẩy q u an hệ song
phương Việt - Anh
d L ĩn h vực hợp tác p h á t triển
L ĩnh vực hợp tác p h á t triển luôn là
t h ế m ạ n h của Anh tại Việt Nam Mức ODA của Anh d à n h cho Việt Nam đã
tă n g từ 20 triệu USD/năm (1992-1998) lên 40 triệ u USD/năm (2003-2004) và lên tới 100 triệu U SD /năm (2004-2005)(3) Hiện nay Anh là n h à tài trợ sô" một tại Việt Nam Viện trợ của Anh phù hợp với các ưu tiên của Việt Nam Từ năm 2005, Anh đã đề nghị thực hiện phương thức
hỗ trợ n g â n sách trực tiếp cho các chương trìn h xoá đói giảm nghèo của chính phủ Việt Nam Để phương thức tài trợ được linh hoạt, Anh cũng đã có sự điều chỉnh chính sách từ viện trợ hỗ trợ kỹ t h u ậ t và cung cấp tín dụ n g ưu đãi sang chỉ th u ầ n tuý viện trợ không hoàn lại Thủ tục cam
k ết tài chính song phương cũng tương đốì đơn giản Các dự án hợp tác p h á t triể n của Anh đã đóng góp một phần
k hông nhỏ vào sự p h á t triể n kinh t ế xã hội của Việt Nam
3.3 Triển vọng
N h ìn lại ch ặng đường hơn 10 năm qua, q u a n hệ hợp tác giữa Việt Nam và Vương quốc Anh trê n mọi linh vực đã có
n h ữ n g bước p h á t triển r ấ t tích cực cả về
bề rộng lẫn chiều sâu Từ quan hệ m ang tín h ngoại giao chính trị và viện trợ phát triể n trong n h ữ n g n ă m 90, bước sang thê
kỷ XXI, đã chuyển biến sang hình thái hợp tác k in h t ế dựa trê n lợi ích của cả
h a i bên Vương quốc Anh, từ một thị trư ờ n g tiềm n ă n g đã trở th à n h đỗi tác
q u a n trọng của Việt N am trong EU Việt Nam , từ một đốì tác ít được quan tâm đã được chính p h ủ A nh đánh giá là “đôi tác
(3) http://www.mofa.gov.vn
Tạp chi Khoa học ĐHQGHN, KHXH & NV, T.XXII, S ố I, 2006