Mus, Directeur de l’Ecole supérieure de Pédagogie de rUniversité Indochinoise, “La Premiere Université ỉndochinoise”, Hanoi, Imprimerie G.[r]
Trang 1TAP CHÍ KHOA HỌC ĐHQGHN, KHXH & NV, T.XXII, s ố 2, 2006
VẤN ĐỂ ĐÀO TẠO CỦA ĐẠI HỌC ĐÔ NG DƯƠNG
THỜI KỲ ĐẦU THÀNH LẬP (1906-1908)
Trường Đại học Đông Dương (ĐHĐD)
được th àn h lập bằng Nghị định ngày 16-
5-1906 và được phép làm lễ k h á n h th à n h
bằng Nghị định ngày 12-6-1907 của
Toàn quvền Đông Dương P a u l Beau Vì
nhiều lý do nên mãi cho đến bôn th á n g
sau, ngày 10-11-1907, các điều kiện
chuẩn bị mới hoàn tấ t và lễ k h á n h th à n h
mới được tổ chức tại P h ủ Toàn quyền cũ
(khu nhượng địa) ở Hà Nội, dưới sự chủ
tọa của Thông sứ Bắc Kỳ De Miribel
Trong diễn văn đọc trước gần như
toàn bộ các quan chức Pháp và Việt ở Hà
Nội có m ặt tại buổi lễ, Tổng Giám đốc
Học chính Gourdon đã nêu rõ mục đích
của trường ĐHĐD “không p h ả i là n h ằ m
đào tạo nẽn những cử n h â n h ay n h ữ n g
tiến sĩ và th à n h lập tại Hà N ội n h ữ n g
Khoa giông n h ư ở chính quốc”[2> tr.7]
Tổng Giám đốc Học chính cũng giải thích
lý do đã chọn tên “Trường Đại học ’ để
đặt cho tổ chức mới th à n h lập này vì nó
có bản chất tương tự vối các trường học
khác cũng m ang tên “trường Đ ại học ’ ở
một sô" tru n g tâm tại Viễn đông Cuối
cùng, vào cuối th á n g 11-1906, lễ khai
giảng năm học đầu tiên của trường
ĐHĐD đã được tổ chức
Tuy nhiên, sau khi năm học đầu tiên
này kết thúc, trường ĐHĐD đã đột ngột
đóng cửa, không một lòi giải thích của
b ất cứ một vị quan chức nào tro n g bộ
máy chinh quyền thuộc dịa Đê có thê
tìm hiểu nguyên n h â n dẫn đên sự đóng
n TS-, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I
<1) Paul Beau chính thức nhâm chức Toàn quyền Đông Dương
Đào Thị D iến °
cửa đột ngột của trường ĐHĐD, trước tiên ch ú n g ta cần phải tìm hiểu quá trìn h và mục tiêu th à n h lặp cũng như vấn đề đào tạo của trường đại học nôi tiến g này
I Quá trìn h và m ục tiêu th à n h lập trường Đ ại học Đ ôn g Dương
Có th ể nói rằng, sự ra đời của trưòng
ĐHĐD g ắn liền vỏi tên tuổi của Paul Beau, T oàn quyền th ứ 13 của P h á p ở Đông Dương và quá trìn h hình th à n h trường đại học đầu tiên của xứ thuộc địa này cũng g ắ n liền với công cuộc cải cách giáo dục ở Đông Dương mà P au l Beau là người khởi xướng
Là một tro n g n h ữ n g Toàn quyền đặc
biệt q u a n tâ m đến sự nghiệp giáo dục đối
với người b ả n xứ, ngay từ khi đ ặ t chân đến Đông Dương, P a u l Beau đã vạch ra một chương trìn h h à n h dộng cho chính phủ, trong đó việc th à n h lập cứu trợ y tê
và tổ chức giáo dục công là n h ừ n g điểm
cơ bản
Thời kỳ P a u l Beau mới đến Đông Dương(1), giáo dục chỉ là một công việc hoàn toàn có tín h c h ất địa phương, trực thuộc các viên q u ả n lý h à n h chính của mỗi xứ tro n g toàn Liên bang Không có một sự hợp tác c h ặ t chẽ nào, không có một hướng chỉ đạo chung thông n h ấ t nào ở Bắc Kỳ, T ru n g Kỳ và ngay cả ở Cambodge, chỉ có h ai loại h ìn h giáo dục
d à n h cho người b ả n xứ' một loại gồm
ngày 15-10-1902.
8
Trang 2Vân đề thành lạp củ a Đại họ c D ó n g D ương. 9
giáo dục quốc gia tru y ề n th ô n g với các
trường dạy chủ H án tro n g các xứ của
người Việt N am và m ột loại k hác gồm
các trường của các ch ù a tro n g các xứ của
người Khơ-me Ngoài ra còn có các
trường Ph áp - bản xứ dạy tiế n g P h á p vói
n h ữ n g yếu tố giáo dục của phương tây
Song các trường n à y lại r ấ t k h a n hiếm
và ít học sinh, t r ừ N am Kỳ là nơi m à chữ
Hán đã bị bỏ h ẳ n , k hông d ù n g n ữ a và là
nơi mà các trư ờng P h á p - b ả n xứ đã
tương đối p h á t triển
Ngoài ra, một số trư ờ n g đào tạo đội
ngũ công chức, trí thức T ây học s ẵ n sàng
phục vụ, cộng tác với P h á p đã được
th à n h lập n h ằ m đáp ứng yêu cầu n h â n
lực phục vụ công cuộc k h a i th á c thuộc
địa: Trường dạy n g h ề H à Nội (Ecole
professionnelle de H anoi) do Phòng
Thương mại Hà Nội tổ chức n ă m 1898;
Trường Công chính (Ecole des Trauaux
Publics) đào tạo n h â n viên kỹ t h u ậ t công
chính th à n h lập n ă m 1902; Trường Y
khoa Dông Dương (Ecole de M édecine de
rin d o ch in e) - tiền th â n của Đại học Y
ngày nay cũng được t h à n h lập n ă m 1902;
Trường Y t ế thực h à n h b ả n xứ (Ecole )
ở N am Kỳ n h ằ m đào tạo y tá và nữ hộ
sinh.cho các làng xã N am Kỳ t h à n h lập
năm 1903; T rường học n g h ề ở S ài Gòn
(Ecole professionnelle de S a igon) mỏ năm
1904 n h ằm đào tạo công n h â n kỹ t h u ậ t
người bản xứ; T rường H ậ u bổ H à Nội
(.Ecole d'A d m in is tr a tio n de H anoi) để đào
tạo tri phủ, tri huyện, h u ấ n đạo, giáo th ụ
th à n h lập n ăm 1905 v.v
Trước tìn h h ìn h đó, P a u l B eau đã
kiên quyết tổ chức m ột cuộc cải cách có
phương p h á p và h o àn chỉnh, b ắ t đầu
bằng việc t h à n h lập sở Học ch ín h Đông
Dương (D irection de l'In stru c tio n
p u b liq u e de 1'Indochine), m ột tổ chức
“chịu trách n h iệm đưa ra m ột sự xung
động toàn th ể về sự nghiệp giáo dục trong toàn x ứ Đông Dương” và giao cho
H e n ri Gourdon làm Tổng Giám đốc
Ngay n ăm 1904, nhiều nghị định đã được ký, xác định những n ét lớn trong tổ chức giáo dục P h á p - b ả n xứ, chia giáo due ra làm hai bậc: giáo dục tiểu học
(ienseignem ent p rỉm a ire) và giáo dục bổ túc (enseignem ent com plém entairè) ơ
các trường tiểu học, ngoài thực hành tiến g P h á p và n h ữ n g kiến thức cơ bản cần th iế t khác, học sinh còn được tran g
bị th êm n h ữ n g k h á i niệm trìn h tự (les
notions d ’ordre) Mục đích của giáo dục
b ả n xứ là c h u ẩn bị đào tạo nên những
n h â n viên p h ụ tá cho các bậc tru n g bình tro n g hệ thông ngạch bậc h à n h chính và
b ắ t đ ầu tr a n g bị cho học sinh một nền văn hoá đích thực, nền văn hoá phương tây mới, vừa văn học lại vừa khoa học,
k h á c h ẳ n văn hoá tru y ền thống Trung Hoa h o àn toàn m an g tính chất văn học
N h ư n g trê n thực tế, số th a n h niên bản
xứ mong muôn được học tập theo kiểu
P h á p n h ư vậy vẫn còn r ấ t hiêm
T rong các trường dạy chữ Hán, phần lớn trẻ em vẫn tiếp tục được giảng dạy theo tru y ề n thống, một kiểu giảng dạy
đã lỗi thời, không ph ù hợp với yêu cầu mối X u ấ t p h á t từ ý muốn hiện đại hoá cách giảng dạy m à vẫn không bị đôi chọi với n h ữ n g ý tưởng và tình cảm của dân chúng, ngày 9-3-1906, Toàn quyển Paul Beau đã ký Nghị định th à n h lập Hội đồng H oàn th iệ n Giáo dục Bản xứ
(Conseil de P erfectionnem ent de I'E nseignem ent Indigene), n h ằ m tập hợp
t ấ t cả các n h â n v ậ t Ph áp và bản xứ ỏ tất
cả các nước của Đông Dương có k h ả năng đưa ra n h ữ ng ý kiến sáng suốt về lĩnh vực này Hội đồng đã họp phiên đầu tiên
Tap chi Khoa học Đ H Q G H N , K H X IỈ <£ N \ , ỉ XXJI, Sô 2, 2006
Trang 31 0 Đ à o Thị Diến
vào th án g 4 n ăm 1906 và ngav th án g
sau, dụ của vua T h à n h T h ái về tố chức
giáo dục b ả n xứ đã được nghị định của
Toàn quyền Đông Dương phê chuẩn
Việc giảng dạy h o àn to àn b ằ n g chữ Hán
đã bị xoá bỏ, và việc g iảng d ạy mới được
th à n h lập Ở cấp một, học sinh học cả
chừ Hán và chừ quốc ngữ; lên cấp hai chỉ
còn lại chữ H án, chữ quốc ngữ và một
phẩn tiếng P h á p không b ắ t buộc nhưng ở
cấp ba thì chừ H án, chừ quốc ngữ và
tiếng Ph áp đều b ắ t buộc n h ư n h au
Việc còn lại là phải t h à n h lập một tổ
chức thông n h á t cho hai loại h ìn h giảng
dạy này n h ằ m làm cho t h a n h niên có sự
lựa chọn Đó cũng là x u ấ t p h á t điểm của
ý tưởng th à n h lập m ột trư ờ n g đại học ở
Đông Dương, vừa để tiếp n h ậ n những
học sinh tốt nghiệp câp b a của hệ thông
giáo dục tru y ề n thông, vừa để tiếp nhận
n h ừ ng học sinh tốt nghiệp cấp ba của hệ
thông giáo dục P h á p - b ản xứ
Có th ể nói rằng, cuộc cải cách giáo
dục mà P au l Beau thực h iệ n đã đ ặ t nền
móng cho toàn bộ nền giáo dục ba cấp
của Ph áp ó Việt N am cho đến tậ n năm
1945
Hội đồng Hoàn th iệ n Giáo dục Bản
xử được th à n h lập theo Nghị định ngày
9-3-1906 có trác h n h iệm nghiên cứu
“nhữ ng điều kiện đê th à n h lập và hoạt
động của m ộ t trường đ ạ i học gồm các
m ôn g iả n g d ạ y ở bậc đ ạ i học d à n h cho
người bản x ứ và người ch â u Á”.
Tại phiên họp th ứ n h ấ t của Hội đồng
ngày 11-4-1906, tro n g bài d iễn văn khai
mạc, Paul Beau đã n h ấ n m ạn h :
“Người ta nói, từ “đ ạ i học ’ n ày có vẻ
ríhư là m ột th a m vọng, c ầ n p h ả i cho nó
m ột từ khác cùng n g hĩa với các trường ờ
các nước lăn cận, n h ấ t là T r u n g Quốc, đã
được th à n h lập từ lâu nay.
" có thê k h ắ n g đ ịn h rằng ch ú n g ta
có thê chiếm h ữ u tại chỗ, ở S à i Gòn và ở
H à Nội, tát cả n h ữ n g yếu tô cần th iết đê
th ành lập ở Đ ông Dương m ột hoặc vài trung tâm g iả n g d ạ y bậc đại học bản x ứ
có khả năn g cạnh tra n h với tấ t cả nhữ ng
ai có thê th à n h lập ở chỗ khác nhữ ng trung tám n h ư thê\ n h ằ m th ử làm thoả
m ãn lòng k h á t khao chiếm lĩn h n h a nh đến th ế cái tin h th ầ n Viễn - Đ ông ”[2,
tr.2]
Lời nói đó chỉ rõ mục tiêu của trường
dự định th à n h lập
Cũng tại phiên họp này, sau nhiều cuộc tra n h lu ận , Hội đồng Hoàn thiện Giáo dục Bản xứ đã n h ấ t trí để nghị lên Toàn quyển m ột bản báo cáo nêu rõ:
“N gài củ n g đã tự m in h đ ề x u ấ t với Hội đong H oàn thiện Giáo dục B ả n xứ tầm quan trọng của việc thiết lập một trường Đại học ở Hà N ội và S à i Gòn Trường Đại học sẽ là m ột tru n g tăm
g iảng dạy giáo d ục bậc đại học, đ ỉn h cao học vấn ở Đ ông Dương của nhữ ng người được chúng ta bảo hộ, dừ họ đến từ các trường Pháp - bản x ứ hoặc các trường truyền thống được cải cách và nâng cao của đ ất nước họ K hông m uôn sao chép thê c h ế và chương trìn h của các trường Đại học tại P h á p , Đ ại học Đông Dương, trong kh i đ á p ứng các n h u cầu kin h t ế và
h àn h chính của thuộc địa trong các ban
kỹ th u ậ t, sẽ c ố g ắ n g hướng dẫn tin h thần khoa học và p h ư ơ n g p h á p học tập và nghiên cứu hiện đ ạ i cho nhữ ng người
xu ấ t sắc trong sô' n h ữ n g người được chúng ta bảo hộ và n h ữ n g người châu Á các nước lá ng giềng Trường Đ ại học sẽ
c ố găn g tạo nên ở Đ ông Dương m ột trung tàm văn hoá A u châu n h ư vậy sé đóng góp vào việc thúc đ ay sự p h á t triển tri thức của n h ữ n g người dân được chúng ta
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, K tìX H á NV, T.XXII, S ố2, 200Ố
Trang 4Vấn đề thành lập c ứ a D ại h ọ c Đ ổ n g D ương 1 1
bảo hộ và tă n g cường ả n h hưởng của
nước chúng ta tạ i Viễn Đ ông”[ 1, tr.807].
Đề nghị của Hội đồng Hoàn thiện
Giáo dục Bản xứ về việc th à n h lập
trường ĐHĐD đã được c h u ẩ n y bằng
Nghị định sô 1514a ngày 16-5-1906 do
Toàn quyền Đông Dương P a u l Beau ký
ban hành[3] Nghị định n à y có một tầm
quan trọng đặc biệt vì nó chính là văn
bản đ ặ t nền móng cho m ột trường Đại
học đầu tiên theo mô h ìn h của Ph áp tại
Đông Dương Mặc d ù mục đích đề ra khá
khiêm tôn, n h ằ m “đào tạo n h â n viên bản
x ứ cho các bộ m á y h à n h chính địa
phương hoặc các cơ q u a n chuyên môn
thuộc P hủ Toàn quyền Đ ông Dương”
n h ư n g trên thực tế, b ằ n g Nghị định ngày
16-5-1906, Toàn quyền B eau đã bộc lộ
k há nhiều th a m vọng: trư ờ n g ĐHĐD sẽ
trở th à n h cơ q u a n đào tạo và nghiên cứu
khoa học lớn ở Đông Dương, có th ể cạnh
tra n h với các trư ờ n g đại học của các nước
phương Đông, đặc b iệt là N h ậ t Bản
N hư vậy là, cho đến trước năm 1906
là năm Ph áp tiến h à n h cải cách giáo dục,
nền giáo dục ở Đông Dương vẫn chưa
thực sự đáp ứng được yêu cầu của công
cuộc khai th ác thuộc địa N hu cầu về
trìn h độ của đội n g ũ công chức là một
trong n hững lý do chính yếu k h iến chính
quyền thuộc địa p h ả i n g h ĩ đến việc xây
dựng một nền đại học tạ i chỗ
M ặ t khác, vào đ ầu t h ế kỷ XX, phong
trào giải phóng d â n tộc Việt Nam có
n h ữ n g chuyển b iến q u a n trọng Ngọn cờ
Cần Vương t h ấ t bại, dưới ả n h hường của
tư tưởng dân chủ tư sả n từ bên ngoài dội
vào nước ta, đặc b iệt là từ T ru n g Quốc và
Nhật Bản, phong trào yêu nưỏc cfần
chuyển sang k h u y n h h ư ỏ n g mối Phong
trào đ ấ u t r a n h đòi can h t â n đ ấ t nước, mở
trường học, lập hội buôn, đưa th a n h niên
xuất dương cầu viện p h á t triể n m ạn h
mẽ Lúc này, giáo dục yêu nước đã hòa nhập tro n g p h o n g trà o yêu nưỏc, tiêu biểu là các p hong trào Đông du, Đông Kinh Nghĩa Thục, các trư ờng học duy tâ n
ở miền T ru n g (Dực T h a n h ở P h a n Thiết, Phước Bình, P h ú Lâm , Diên Phong ở
Q uảng N am v.v ) Các phong trào yêu nước đó đều m a n g n h ữ n g nội dung và mục đích cụ thể: học để làm cho dân giàu nước m ạn h , học để tìm k ế sách giành độc lập cho nước n h à Mặc dù bị thực dân
Ph áp đàn áp nên chỉ tồn tại trong thòi gian n g ắn n h ư n g các p hong trào đó đã thổi một luồng gió mới vào phong trào yêu nước, lôi cuốn đông đảo các tầ n g lớp
n h â n d ân th a m gia, đặc biệt là th a n h niên Các p hong trà o đó đã trở th à n h mối
đe dọa trực tiếp đối với chính quyền thực dân, thôi th ú c P h á p phải mỏ ĐHĐD nhằm n g ă n c h ặn phong trà o x u ấ t dương cầu viện của t h a n h niên, xóa bỏ ảnh hưởng của Đông Kinh nghĩa thục, tr a n h giành ả n h hưởng vối các trư ờ n g học duy
tâ n trong nước, tu y ê n tru y ền cho t h ế lực
và ảnh hưởng củ a P h á p ở Viễn Đông, quét sạch ả n h hư ở ng của T ru n g Hoa Tóm lại, ĐH Đ D ra đòi không chỉ nhằm mục tiêu đào tạo đội ngũ những người làm công tác n g h iên cứu khoa học giảng d ạy đi đôi với đào tạo viên chức phục vụ bộ m áy cai trị và bóc lột của
Ph áp ở Đông Dương, mà còn n h ằm giải quyết n h ữ n g v ấ n để chính trị cấp th iế t lúc bấy giờ và k h a i d ẫ n cho các thuộc địa biết đến n ề n v ă n m inh học th u ậ t của nước P h á p Sự t h à n h lập của ĐHĐD không đơn t h u ầ n chỉ là m ột sự kiện của nền giáo dục m à còn là m ột sự kiện có
ản h hưởng đ ến các mục tiêu chính trị, kinh t ế và v ă n hóa của P h á p ở Đông Dương nói chung và ở Việt Nam nói riêng
Tap c h i Khoa học Đ H Q G H N , KHXH & N V T.XX1I, S ố2 2006
Trang 51 2 Đ à o Thìị Diến
II Vân đề đào tạo của trường Đại học
Đông Dương
Trong khuôn khổ của cuộc Hội thảo
về 100 năm công tác nghiên cứu và đào
tạo ở Việt Nam, bản báo cáo này xin
được trìn h bày một số vấn đề cụ thể
thuộc lĩnh vực đào tạo của trường ĐHĐD
thòi kỳ đầu th à n h lập (1906-1908), đó là
vể nhiệm vụ đào tạo, đội ngủ giáo viên
và th à n h p h ần sinh viên của Trường
1 N hiệm vu đ à o tao
Nhiệm vụ đào tạo của ĐHĐD được
quy định r ấ t rõ trong các điều 1 và 3 của
Nghị định ngày 16-5-1906:
“Cơ sở đào tạo này có nhiệm vụ p h ổ
biến ở Viễn Đông, chủ yếu là thông qua
tiếng Pháp, n h ữ n g kiến thức về các
ngành khoa học và các phư ơng phá p
châu A u ” (điều 1).
“Trường Đ ại học có th ể kết hợp với
các cơ sở nghiên cứu và g iả n g dạy đã
hoặc sẽ được th à n h lập ờ thuộc đ ịa ,
như ng không được can thiệp vào quyền
tự trị của các cơ sở n à y ’ (điều 3).
Để thực hiện nhiệm vụ trên , trường
ĐHĐD được tổ chức vối 5 trường th à n h
viên:
+ Trường L u ậ t và H à n h chính gồm
ba khoa dự kiến được th à n h lập bởi Hội
đồng Hoàn thiện Giáo dục Bản xứ:
- Khoa th ứ n h ấ t đã có từ trưốc, đó
chính là Trường H ậu bổ Hà Nội được
th à n h lập theo Nghị định 20-6-1903, là
nơi đào tạo nên hệ thông q u a n lại cho bộ
máy hành chính người bản xứ Năm
1912, Trường H ậu bổ đổi tên th à n h
Trường Sĩ hoạn (Ecole des M andarins).
- Khoa thứ hai có nhiệm vụ đào tạo
ra những th ư ký người bản xứ phục vụ
trong bộ máy chính quyền thuộc địa
- Khoa thứ ba hơi có tín h c h ất th ư ơ n g mại một chút, n h ằm đào tạo ra n h ữ n g
th ư ký người b ản xứ phục vụ tro n g
ng àn h t h u ế q u a n và thương chính
+ Trường Cao đẳng khoa học: gồm các ngành toán, v ật lý, hóa học và sinh vật Nhiệm vụ của trường là đào tạo những người làm công tác ng h iên cứu khoa học và n h ữ n g giáo viên t r u n g học hoặc cao đẳng sư phạm Trường phải được tra n g bị các phòng th í nghiệm và khoá học của n ă m th ứ n h ấ t thì k hông phải chỉ d à n h riêng cho sinh viên của trường này mà còn cho sinh viên của các trường khác n h ư trường Y, trường Xây dựng dân dụng
+ Trường Cao đẳng Y khoa: đây chính là Trường Y khoa Đông Dương được th à n h lập theo Nghị định ngày 8-1-
1902 như đã đề cập ở trên Cũng như Trường Hậu bổ Hà Nội, khi ĐHĐD ra đời, trường trở th à n h một trường th à n h viên trong mái n h à chung Đại học Đông Dương Nhiệm vụ của trường là đào tạo y
si và dược sì ph ụ tá (m édecins et
pharm aciens auxiliaires), h ạ n học 4 năm
về y tá và 3 năm về dược Trong trường
còn có lớp nữ hộ sinh b ản xứ (sages-
fem m es indines) học trong h ai năm, vào
học phải có b ằn g tiểu học
+ Trường Cao đẳng Xây dựng dân dụng có ba khoa dự kiến được th à n h lập:
- Cầu - Đưòng bộ, Đường sắt và Mỏ (thực chất là n h ữ n g n g à n h của trường Công chính được th à n h lập từ 22-2-1902)
- Điện khí thực h à n h (bao gồm cả ngành bưu điện và điện tín)
- Nông - Lâm - Vệ sinh dịch tễ
+ Trường Cao đẳng Văn chương: dạy ngôn ngữ và văn học cổ điển phương Đông, lịch sử và địa lý các nước Viễn
Tạp chí Khoa học D H Q G H N , KHXH & N V , T.XXỈI, S ố 2 2006
Trang 6V ấn đ ề thành lập cúa Đại họ c Đ ồ n g Dương. 1 3
Đông, lịch sử văn học Pháp và nước ngoài,
lịch sử triết học và lịch sử nghệ th u ật
Chương trình của các khoá học và các
trư ò n g do Hội đồng q u ản trị (Conseỉl
d A d m in istra tio n ) của Trường soạn thảo
với sự phê chuẩn của Toàn quyền
Nhìn chung, ĐHĐD được th à n h lập
trê n cơ sỏ một sô" trường đã được th àn h
lập trước đó và mở thêm một số ngành
đào tạo mới ĐHĐD hướng đến giảng dạy
cả các ngành khoa học cơ bản lẫn giáo
dục nghề nghiệp
2 Đôi ngủ g iá o viên
Theo chương trìn h khoá học 1907-
1908, đội ngũ n h ữ n g ngươi p h ụ trách
giảng dạy các môn học được quy định
n h ư sau [3]:
- Môn vật lý: do bác sĩ Audhuy,
T ru n g uý quân y, nguyên Điều ch ế viên
vật lý của Trường Y ở Bordeaux phụ
trách giảng dạy
- Môn hoá học đại cương: do Bloch,
Dược sĩ quân y, nguyên Điều ch ế viên
hoá học của Trường Cao đẳng Dược ở
Nancy p h ụ trách giảng dạy
- Môn hoá công nghiệp và kỹ nghệ: do
Barbotin, Giám đốc trường dạy nghề ỏ
Hà Nội, Kỹ SƯ về nghệ t h u ậ t và ch ế tạo
máy p h ụ trách giảng dạy
- Môn toán học, cơ khí và vũ tr ụ học:
do Rieus, Kỹ sư về nghệ t h u ậ t và ch ế tạo
máy, Giáo sư trường Giao thông - Công
chính p h ụ trách giảng dạy
- Môn động v ậ t học, thực v ậ t học và
địa c h ất học: do E b erh a rd t, T h an h tra
nông nghiệp, Tiến sĩ khoa học, nguyên
Điều chế viên thực v ậ t của Khoa khoa
học Trường Đại học Tông hợp ở Paris
phụ trách giảng dạy
- Môn sinh lý học và vệ sinh: do Dumas, Bác sĩ chính trong quân đội thuộc địa, Bác sĩ trưởng Q uân y viện ở
Hà Nội p h ụ trác h giảng dạy
- Môn ngôn ngữ và văn học Pháp: do Péri, th à n h viên trường Viễn đông Bác cổ
P h áp p h ụ trách giảng dạy
- Môn lịch sử so sán h triế t học: do E.Maitre, Giám đốc trường Viễn đông Bác cổ Pháp, th ạc sĩ triế t học phụ trách giảng dạy
- Môn pháp lu ậ t nước Pháp: do
D artiguenave, C hủ tịch Toà án dân sự
Hà Nội phụ trách giảng dạy
- Môn kinh t ế chính trị: do Delestré, Thẩm p h án th a y biện lý của Tổng kiểm
sá t trương Đông Dương phụ trách giảng dạy
• Môn pháp c h ế nền h à n h chính An- nam: do P rêtre, Q uản lý h à n h chính
h ạn g n h ấ t của Sở quản lý các công việc dân sự, p h ụ tá Thông sứ Bắc Kỳ phụ trách giảng dạy
- Môn giáo dục học đại cương: do Gourdon, Tổng Giám đốc Học chính Đông Dương p h ụ trách giảng dạy
- Môn lịch sử đại cương và địa lý đại cương: do Russier, Trưởng ban Thư ký của Sở Học chính Đông Dương, Tiến sĩ khoa học phụ trác h giảng dạy
- Môn lịch sử Đông Dương và Viễn đông: do Maybon, Giám đốc trường Pavie,
p hụ trách giảng dạy tại trường Viễn đông Bác cô Pháp, p h ụ trách giảng dạy
- Môn giáo dục thực h à n h và tổ chức trường học: do Mus, Giám đốc trường Normale d’I n s titu te u rs Hà Nội phụ trách giảng dạy
Các lớp thực h à n h về v ật lý do bác sĩ Audhuy phụ trách, về hoá học đại cương
Tạp chi Khoa học ĐHQGHN, KHXH & NV, T.XXII, S ố2, 2006
Trang 714 Đ à o T hi Diến
do Bloch phụ trách, về hoá công nghiệp
do Barbotin phụ trách và về khoa học tự
nhiên do E b e rh a rd t phụ trách
Qua bảng p h â n công trê n người ta dễ
dàng n h ậ n thấy:
- Chỉ có ba trong sô' năm trường đã
được định hình các môn học, đó là các
trường Cao đẳng Văn chương, trường
Cao đẳng khoa học và trường L u ậ t và
Hành chính Còn lại hai trường là trường
Cao đẳng Y khoa và trường Cao đẳng
Xây dựng d ân dụng thì vẫn còn ở ngoài
tổ chức mới
- Giảng viên là n h ữ n g người được
chọn trong t ấ t cả các công sở h à n h chính
ở Đông Dương, không phải là các chuyên
gia có chất lượng hay các giảng viên, giáo
sư thực sự ở bậc đại học C hính vì h ầu
hết giảng viên là các cởng chức nên các
giờ học của các trường thuộc ĐHĐD đã
được tổ chức vào buổi tối, từ 5 giờ đến 10
giờ, nhằm tr á n h làm đảo lộn giò làm việc
của các công sở N hững môn cần làm thí
nghiệm thì học vào sáng th ứ năm h àn g
tuần
3 Thành p h ầ n sin h viên
Các điều kiện đổi với sinh viên muôn
theo học tại trường ĐHĐD được quy định
rõ trong Nghị định sô' 1514a ngày 16-5-
1906:
“K hông m ột sin h viên nào xu ấ t th ân
từ m ột trong nă m nước thuộc x ứ Đông
Dương được phép theo học tại trường đại
học nếu không có bằng tốt nghiệp giáo
dục bổ túc bản x ứ (diplôm e de fin
complémentaire indigene) hoặc m ột văn
bằng bản x ứ tương đương (tú tài, cử
nhân và tạm thời là â m sinh, tôn sinh ).
N h ữ n g người nước ngoài, theo biện
phá p quá độ, cả các thuộc d â n và dân
bảo hộ của nước P háp, sẽ được nhận vào học tại trường Đại học tuỳ theo trìn h độ tương đương được quy đ ịn h hoặc sau một
kỳ thi vào trường” (điều 4).
“T rừ sự cho phép đặc biệt, mỗi sinh viên chỉ được g h i tên vào m ột trường, như ng m ột s ố môn học chung cho hai hoặc nhiều trường sẽ được lập1’ (điều 5).
Ngoài n h ữ n g điều kiện chung cho tấ t
cả n hữ ng người muôn được ghi tên vào học tại trường ĐHĐD (đơn yêu cầu ghi đầy đủ tên tuổi, địa chỉ, công việc đang làm, các văn bằng đại học đã đ ạ t được, khoa định ghi d an h và các môn định theo học), nội quy của Trường còn quy định các điều kiện ưu tiên cho những người đã có bằng tốt nghiệp trường Chasseloup-Lauba hoặc đã có b ằn g tốt nghiệp bổ túc, n h ữ n g ngươi đã có chứng chỉ của hệ giáo dục bản xứ như cử n h â n hay tú tài sẽ được n h ậ n nếu họ chứng tỏ
có đủ khả n ăn g về tiếng Ph áp và cuối cùng là n h ữ n g người không có b ấ t cứ một loại văn b ằn g nào cũng được n h ậ n nếu có
ý kiến ủ n g hộ của Hội đồng Hoàn thiện
Perfectionnem ent de lyUniưersité){3) Các
điều khoản về quyền lợi và nghĩa vụ của sinh viên chính thức và dự bị trong việc
th am gia các môn học lý th u y ế t và các môn thực h à n h hoặc đọc sách tại thư viện đều được quy định rõ trong bản nội quy của Trưòng[3]
Cuối th á n g 11-1907, trường ĐHĐD
đã tổ chức lễ khai giảng đầu tiên với sự
có m ặt của 94 sinh viên mới, 62 sinh viên
dự th ín h và 37 sinh viên năm th ứ n h ấ t
trường Y sẽ th am dự một số giờ học của
môn khoa học của Trường, tổng cộng
(3) Conseil de Perfectionnement de 1'Université được
thành lập theo Nghị định ngày 8-5-1907 của Toàn quyền Đông Dương.
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN KtìX H & NV, T.XXll, Số2 2006
Trang 8Vân đ ề thành lập cùa Đại họ c Đ ỏ n g Dương 1 5
gồm 193 sinh viên Trong năm học đầu
tiên này, một sô" viên chức các Sở chuyên
môn tuy không theo học chính thức
n hư ng cũng được phép th am gia các giờ
thực h àn h tại các trường thuộc ĐHĐD(4)
Vì nhiều lý do, con sô' sinh viên mới
ngày càng giảm dần, từ 94 còn 68 (tháng
12-1907), sau Tết Nguyên đán còn lại 46
và cho đến cuối năm học, sô" sinh viên
chính thức chỉ còn lại 41 ngưòi Số' sinh
viên này có các th à n h p h ần như sau:
Thành phần sinh viên Đại học Đông Dương trong
- Các cơ quan trực thuộc Phủ
Toàn quyén
1
các cơ quan tư nhân
3
(4) Có hai viên chức thuộc sở Nông Lâm Thương mại
Đòng Dương được phép tham gia các giờ thực hành tại
các trường thuộc Đại học Đỏng Dương: Bùi Văn Thuận,
nhân viên chính ngạch hang hai và Nguyễn Như Phan,
phụ tá thư ký hạng hai được phép theo các môn Hoá
hoc đại cương, Hoa công nghiệp, Thực vật và Động vật
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (TTLTQG I), phông Phủ
Toàn quyền Đỏng Dương ựonds du Gouvemement
general de rindochine - 6 6 /), hổ sơ: 2819.
Trong năm học đầu tiên, 41 sinh viên chính thức của trường đã chứng tỏ rằng
họ có th ể tốt nghiệp và vượt qua kỳ thi với kết quả tốt để bước sang năm học thứ hai Ngay cuối n ă m học, 39 sinh viên mới
đã yêu cầu được ghi tên đăng ký theo học Sau 1 năm hoạt động, th án g 11-
1908, trường đã có 41 sinh viên năm thứ hai và một khôi lượng sinh viên ít hơn
ch u ẩn bị vào năm thứ nhất, chưa kê sô" sinh viên dự thính
4 Cơ sở vá t c h ấ t của trường Đai hoc Đ ông Dương
Một vấn đề cần phải nêu lên, đó là cơ
sở v ật chất, một điều kiện quan trọng cần phải có để đảm bảo cho sự hoạt động của b ất cứ một tổ chức nào ớ đây có thể nói rằng, trường ĐHĐD được sắp đặt trong một điều kiện h ết sức tiết kiệm Các lớp học và th ư viện được bố* trí tại một góc trong dinh thự cũ của viên Toàn quyền ở k h u nhượng địa (sau này trở
th à n h Bảo tàng trường Viễn đông Bác cổ) Vào th án g 6-1908, th ư viện trường ĐHĐD với hơn một nghìn cuốn sách do các cơ quan chuyên môn n h ư mỏ, nông nghiệp và một sô" cơ quan khác biếu tặng
đã mở cửa cho sinh viên đến tr a cứu Các phòng thí nghiệm hoá, v ật lý và các môn khoa học tự n h iên cũng b ắ t đầu được xây dựng để chào đón năm học tiếp theo, năm học 1908
Nhằm mục đích “đào tạo nhă n viẽn
bản x ứ cho các bộ m áy h à n h chính địa phương hoặc các cơ quan chuyên môn thuộc P hủ Toàn quyền Đỏng Dương” nên
các khoản chi tiêu cho hoạt động của các khoá học và các trường thuộc trường ĐHĐD đều do n g ân sách của các cơ quan
h à n h chính địa phương và ngân sách
Tạp chi Khoa học ĐHQGHN KHXH á NV, T.XXII, S ố2, 2006
Trang 91 8 Đ à o Thị Diến
động dư luận Paul Beau đã bị triệu hồi
vể Pháp và thay vào đó là Klobukowski
Nguyên là con rê của P au l Bert, đổi với
Klobukowski không có sự e ngại nào để
thi h à n h chính sách chống tự do
Klobukowski tiếp tục cho p h á t triển giáo
dục cấp 1 và 2 Nhưng Klobukowski cũng
bày tỏ hy vọng sớm th à n h lập một nền
giáo dục đại học Theo Klobukowski, cần
phải chò đợi để Đông Dương có một
trường Đại học với điều kiện cần th iết là
phải có sự tiến bộ chung về học tập, vì sự
tiến bộ này sẽ đào tạo nên n hững học
sinh có chất lượng tốt, sẵn sàng tiếp
nhận một nền giáo dục đại học của Pháp
5 Đ án h g iá ch u n g
Tuy nhiên, cần phải có sự đánh giá
công bằng đôi vỏi một khởi xướng rấ t
nh an h như t h ế của Toàn quyền Beau và
những người Pháp có tâm với giáo dục
Họ đã mong muôn th ả n h lặp một cơ
quan đào tạo và nghiên cứu lớn và đã có
những cô' gắng đáng tr â n trọng, dù nó
bao hàm cả động cơ chính trị Mặc dù
trường ĐHĐD đã phải đóng cửa sau một năm hoạt động vì mục đích cũng như chương trìn h đào tạo của nó chưa phù hợp với điều kiện thực t ế lúc đó song trên thực tế, n h ữ n g sinh viên được trường ĐHĐD đào tạo dù chỉ trong một năm học củng đã không ngừng đem lại nhiều kết quả đáng khích lệ Nhiểu sinh viên của Trường đã tiếp thu được n h ừ n g khái niệm vững chắc cần th iế t cho nghề nghiệp của họ, sự ham thích thực sự đôì vói khoa học, và n h ấ t là về phương pháp giảng dạy, phương pháp mà sau này đã được p h á t hiện trong r ấ t nhiêu sách giáo khoa phổ biến khoa học tập hợp về sau CỈO một vài người trong sô' họ soạn ra [5] Thực t ế trong vòng 10 năm sau, từ giừa 1907 đên 1917, nền giáo dục bậc câp 2, cả giáo dục b ản xứ lẫn giáo dục Pháp ở Đông Dương đã p h á t triển r ấ t tôt, chuẩn bị cho n h ững sinh viên theo được giáo dục cấp 3, là bậc giáo dục thực
sự cao, tạo điểu kiện vững chắc cho sự hồi sinh của trường ĐHĐD vào năm 1917
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Công báo Đỏng Dương thuộc Pháp («Journal offlciel de rỉndochm c fra,liaise - JOIFj,
11-6-1906
Direction de rinstruction Publique - c Mus, Directeur de l’Ecole supérieure de
Pédagogie de rUniversité Indochinoise, “La Premiere Université ỉndochinoise”, Hanoi,
Imprimerie G Taupin & Cie, 1927
Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại Pháp ở Aix-en Provence (Centre des Archives d'Outre
Mer - CAOM), Phông Phủ Toàn quyền Đông Dương (fonds du Gouvernement general de ưlndochine - GGI), hồ sơ 48.042.
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I - Hà Nội, Phông Phủ Toàn quyền Đông Dương
Trần Van Thông, (Đốc học, Directeur des cours à 1’Ecole des Hậu bổ), “Ảu học Quốc ngữ
Tân t h ư , Hà Nội - Hải Phòng, Imprimerie d’Extreme-Orienc, 1908 Sách gồm 2 phần:
phần I có 3 tập: tập 1 (Toán pháp); tập 2 (Địa dư); tập 3 (Cách trí-Vệ sinh); phần II: Cai trị - Lễ pháp - Phong tục
Tạp ( Khoa học D H Q G H N K H X ti & NV, T.XXỊỊ, S ố2, 2006
Trang 10Vấn đ ể th àn h lập c ù a Đ ại h ọ c Đ ỏ n g Dương. 1 9
VNU JOURNAL OF SCIENCE, s o c SCI., HUMAN, T.XXII, N02, 2006
T H E I S S U E O F T R A IN I N G BY T H E I N D O C H I N E S E U N IV E R S IT Y
IN IT S EA R LY Y E A R S (1906-1908)
Dr Dao Thi Dien
National Archives Sciences I, Hanoi
By studying th e archives t h a t a re now preserved in the C en ter of N ational Archives No.l in Hanoi a n d th e overseas archives center in Aix-en provence (in the South of F'rance) and h av e not been publicized, the Report tries to describe the process of establishing th e Indochinese University in 1906 un d er the first education reform
in itiated by P au l Beau, the Governor-General of Indochina a t t h a t time The Report describes th e in itia l organizational stru ctu re of the U niversity as well as its curriculum , th e co ntingent of teachers and stu d e n ts in the early phase The role of
G overnor-G eneral P a u l Beau in th e foundation of th e U niversity is also confirmed in the Report
Besides, th e R eport provides th e exact information related to the first academic
y ear of 1907-1908 of the Indochinese University with specific statistics about its
n u m b er of s tu d e n ts as well as its facilities
Based on scientific analysis, th e Report explains a n u m b er of m ain reasons th a t gave rise to th e closure of the University after only one y ear of operation These reasons were m ainly prom pted from the training problem:
- T h e cu rricu lu m didn’t respond to the practical situation
- M ost of th e teach ers were not professional university professors b u t high-level civil se rv a n ts w orking in th e civil service
- T h e academ ic level of its stu d e n ts didn’t live up to th e req u ire m e n ts of higher education
In addition, th e unfavorable political landscape of th e country a t t h a t time also caused th e first u n iv ersity in Indochina to tem porarily suspend its operation Despite its sh o rt existence, this well-known University provided encouraging results of the first education reform lau n ch ed by P au l Beau and created firm conditions for its revival in 1917
Tap chi K lioa liọc Đ H Q G H N KHXH & NV, T.XXJI, So 2, 2006