Phần đa các công ty đều nêu các nguyên tắc sử dụng quỹ lương như trong các văn bản quy định và hướng dẫn của nhà nước, bao gồm các nội dung cơ bản sau: (i) quỹ tiền lương được phân b[r]
Trang 1CƠ CHẾ TIỀN LƯƠNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG - THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ
ThS NGUYỄN THẾ PHONG
1 Bản chất tiền lương trong
nền
kinh tế thị trường
heo quan điểm cải cách tiền
này có ý nghĩa trong việc đánh giá mức lương tối thiểu cao hay thấp hơn so với nhu cầu tối thiểu cho việc tái tạo lại sức lương năm 1993 của nhà nước lao động cho người lao động và xác định
ta, tiền lương là giá cả sức lao động, được
hình thành qua thỏa thuận giữa người sử
dụng lao động và người lao động phù hợp
với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền
kinh thị trường Quan điểm này là sự đổi
mới về tư duy và nhận thức của nhà nước đối
với tiền lương, là cơ sở cho các chính sách
quản lý vĩ mô của nhà nước về lao động, tiền
lương và là một gợi ý quan trọng về mặt
khoa học đối với quản trị tiền lương trong
doanh nghiệp
Trên giác độ vi mô, để xác định
được bản chất tiền lương chúng ta cần làm
rõ vấn đề: có phải tiền lương là giá cả hàng
hóa sức lao động, là biểu hiện bằng tiền của
giá trị hàng hóa sức lao động? Phổ biến
hiện nay có 3 cách hiểu khác nhau về vấn
đề này:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng, giá
trị hàng hóa sức lao động được quyết định
một cách gián tiếp thông qua giá trị những
tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và
tái sản xuất ra sức lao động Quan điểm
rõ hơn chức năng xã hội của lương đối với cuộc sống của người lao động Tuy nhiên, quan niệm này không giúp các nhà quản trị Doanh nghiệp nội dung và phương pháp định lượng giá trị hàng hóa sức lao động
- Quan điểm thứ hai cho rằng, giá trị của hàng hóa sức lao động được đo lường bằng tổng hao phí sức lao động (cả về lượng và chất) mà người lao động bỏ ra để thực hiện công việc Quan điểm này gợi ý cho các chủ doanh nghiệp hai căn cứ tính
và trả lương: cần phải trả lương cao hơn cho người lao động có trình độ cao hơn (lao động phức tạp bằng bội số của lao động giản đơn) và lao động thực hiện các công việc khác nhau cần phải được trả lương khác nhau Quan điểm trên cổ súy cho phương pháp trả lương theo năng lực, trình
độ, thâm niên nghề nghiệp và tính chất công việc
- Quan điểm thứ ba cho rằng, giá trị của hàng hóa sức lao động thể hiện ở giá
45
Trang 2trị mà hàng hóa sức lao động đó tạo ra
trong một thời gian nhất định Như vậy,
tiền lương của người lao động được trả
phụ thuộc vào kết quả thực hiện công việc của
người lao động Quan điểm này là cơ sở cho
trường phái trả lương theo năng suất, chất
lượng và hiệu quả
Theo quan điểm của tác giả, tất cả
các quan điểm trên đều có cơ sở khoa học
và thực tiễn Tuy nhiên, mỗi quan điểm
mới chỉ nói tới một giá trị bộ phận của
giá trị tổng thể của hàng hóa sức lao
động
Theo tác giả, sức lao động được hiểu
là một yếu tố sản xuất và là hàng hóa Người
có nhu cầu về hàng hóa này là người sản
xuất Còn người cung cấp hàng hóa này là
người lao động Cũng như mọi hàng hóa và
dịch vụ khác, sức lao động được trao đổi
trên thị trường, gọi là thị trường lao động,
hay thị trường sức lao động Thị trường lao
động là nơi cung và cầu về sức lao động gặp
nhau
Giá cả của sức lao động là tiền
công thực tế mà người chủ doanh nghiệp
trả cho người lao động Như vậy, mức tiền
công chính là mức giá của sức lao động cụ
thể Giá cả sức lao động tùy thuộc vào 5
nhân tố cơ bản: giá trị của năng lực lao
động của người lao động cụ thể (trình độ
chuyên môn nghiệp vụ); giá trị của công
việc cụ thể (tính chất công việc); giá trị
mà người lao động đó tạo ra (kết quả thực
hiện công việc); giá nhân công trên thị
trường do quan hệ cung - cầu lao động chi
46
phối
Kế thừa những khái niệm về tiền lương trên thế giới và các quan điểm về tiền lương của Việt Nam như đã phân tích ở trên, đặt trong điều kiện kinh tế và xã hội hiện nay của Việt Nam, tác giả xin đưa ra định nghĩa về tiền lương như sau:
“Tiền lương là giá cả của hàng hóa
sức lao động, biểu hiện bằng số
người sử dụng lao động trả cho
động được xác định dựa trên cơ sở
của người lao động (năng lực); giá
công việc cụ thể (tính chất công việc); giá trị
mà người lao động đó tạo ra (kết
hiện công việc); mức sàn của tiền
trường và quan hệ cung - cầu lao
thị trường được hai bên đồng thuận
kết trong hợp đồng lao động, phù
pháp luật về lao động - tiền lương hiện
hành”
2 Thực trạng cơ chế tiền lương
áp dụng trong các doanh nghiệp nhà
nước
Mức lương tối thiểu Theo Nghị định số 167/2007/NĐ-CP
Trang 3của Chính phủ, mức lương tối thiểu được quy định chung là 540.000đ Nhà nước cho phép các doanh nghiệp tự xây dựng mức lương tối thiểu của doanh nghiệp Nghị định
số 206/2004/NĐ-CP quy định hệ số điều chỉnh tăng thêm so với mức lương tối thiểu chung: hệ số điều chỉnh tăng thêm không quá hai lần so với mức lương tối thiểu chung với điều kiện là doanh nghiệp không được giảm các khoản nộp ngân sách Nhà
Trang 4nước và không được giảm lợi nhuận thực
hiện so với năm trước và mức tăng tiền
lương bình quân phải thấp hơn mức tăng
năng suất lao động Hàng năm, căn cứ vào
chỉ số trượt giá, tốc độ tăng trưởng kinh tế,
Nhà nước sẽ điều chỉnh hệ số mức lương tối
thiểu
Về mặt lý luận, khi xây dựng mức
tiền lương tối thiểu, Chính phủ (nói) đã tính
đến các yếu tố hình thành tiền lương tối
thiểu như: nhu cầu về tư liệu sinh hoạt tối
thiểu, về các dịch vụ ăn ở học hành của gia
đình người lao động; sự biến động của giá
cả hàng tiêu dùng; mức sống của dân cư
trong mỗi thời kỳ; chi phí cho việc tái sản
xuất sức lao động của người lao
động Nhưng trong thực tế, chưa bao giờ
tiền lương tối thiểu có thể bù đắp được hao
phí lao động xã hội, chưa đảm bảo tái sản
xuất và tái sản xuất mở rộng sức lao động
cho bản thân người lao động Mức lương tối
thiểu 540.000 đồng hiện nay đã quá lạc hậu
so với mức sống hiện nay và là hậu quả của
một tư duy thiếu cơ sở thực tế, không nhất
quán giữa lý luận và thực tiễn Thực tế cuộc
sống cho thấy, mức lương 540.000 đồng đối
với lao động giản đơn nhất chỉ đủ nuôi sống
ở mức tối thiểu chính người lao động với 5
giả định: họ không được quyền ốm
đau;
không có vợ (chồng), con cái;
phải có trách nhiệm với cha mẹ;
trong vùng không đắt đỏ; không
mướn nhà ở; đi bộ đến nơi làm
không được học hành nâng cao trình độ và
giải trí cải thiện đời sống tinh thần Ngay cả
Trang 5khi các doanh nghiệp và các công ty cổ phần thực hiện hệ số điều chỉnh tăng thêm ở mức cao nhất, thì mức lương tối thiểu thực tế 980.000 đồng cũng mới chỉ thỏa mãn được nhu cầu tối thiểu của người lao động với 4 giả định then chốt: cả hai vợ chồng cùng đi làm có mức lương tối thiểu như trên; chỉ có một con; không phải giúp đỡ bố mẹ; thuê nhà trọ rẻ tiền
Hạn chế thứ hai trong quy định của nhà nước về mức lương tối thiểu là quy định
về hệ số điều chỉnh mức lương tối thiểu Quy định về hệ số điều chỉnh không quá hai lần
so với mức lương tối thiểu chung và với các ràng buộc điều kiện như Nghị định 206/2004/NĐ-CP là phi kinh tế Đây là quy định về “giá trần”, không cho phép doanh nghiệp trả lương theo đúng nguyên tắc thù lao lao động Mức trần về tiền lương tối thiểu
đã hạn chế tính chất thị trường và vai trò là công cụ cạnh tranh của lương trong nền kinh
tế thị trường
Tất cả các quy định trên của chính phủ dễ dẫn đến sự hiểu lầm rằng, lương là yếu tố chi phí (tổn phí), ảnh hưởng tới giá thành và do vậy, ảnh hưởng tới nghĩa vụ tài chính với xã hội của doanh nghiệp, chứ không phải là yếu tố đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực Quan điểm này vô hình chung ngầm giả định (hoặc khẳng định) lương chỉ là yếu tố đầu ra, thuộc lĩnh vực phân phối, thu nhập có trước, lương theo sau
Hệ thống thang bảng lương
Qua nghiên cứu hệ thống thang bảng
47
Trang 6lương của nhà nước trong các Nghị định
chính phủ và qua khảo sát thực tế, chúng tôi có
một số nhận xét:
- Hệ số lương trong thang lương lao
động trực tiếp sản xuất kinh doanh là hệ số
lương theo công việc Tuy nhiên, khi thiết
kế hệ số lương, các nhà chuyên môn không
nhất quán về tiêu thức, một số hệ số theo
tính chất ngành nghề tổng hợp (ví dụ: đối
với khối nông, lâm nghiệp), một số hệ số
lương theo tính chất công việc cụ thể (ví
dụ: đối với các ngành công nghiệp, dịch
vụ)
- Hệ số lương của viên chức chuyên
môn nghiệp vụ là hệ số lương theo bằng
cấp, thâm niên, hay còn gọi là hệ số lương
theo nhân viên, theo năng lực Việc trả
lương theo bằng cấp, thâm niên là đúng và
cần thiết, song không phân biệt theo tính
chất công việc và đánh giá không đúng
năng lực thực tế của nhân viên là bất cập
so với bản chất tiền lương trong nền kinh
tế thị trường Do đó, xảy ra tình trạng
“chạy theo bằng cấp” và “sống lâu lên lão
làng”
- Bội số lương trong hệ thống thang
bảng lương giữa cán bộ quản trị gia cấp cao
của doanh nghiệp và người lao động phổ
thông không có sự phân biệt (khoảng 5-8
lần); khoảng cách lương giữa những công
việc, chức danh đòi hỏi trình độ đào tạo cao
với lao động trình độ thấp không đáng kể
(khoảng từ 0,54 - 1,58) Điều đó có nghĩa
cơ chế lương nhà nước mang nặng tính chất
bình quân Trong khi đó, khoảng cách này
48
tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài rất lớn Đây chính là lợi thế của doanh nghiệp nước ngoài trong việc thu hút được nguồn nhân sự cấp cao và lao động có trình độ cao
- Mức chênh lệch giữa các bậc lương trong một hạng ngạch lương rất nhỏ Tăng lương một vài chục ngàn đồng trên một lần nâng lương (với thời hạn nâng lương từ 2-3 năm) trong điều kiện sống hiện nay không tạo được sự kích thích người lao động phấn đấu và trung thành Mức lương thấp, chênh lệch không nhiều
đã triệt tiêu động lực làm việc và phấn đấu của nhân viên
Đơn giá tiền lương Việc xây dựng đơn giá tiền lương trong các công ty được thực hiện theo khoản 1, khoản 2, điều 5 NĐ số 206/2004/NĐ-CP và các quy định tại Thông tư số 06/2005/TT-BLĐTBXH
Việc xây dựng đơn giá được quy định tại Thông tư số 06/2005/TT-BLĐTBXH rất cụ thể và chi tiết, song vô cùng phức tạp Theo tác giả, về mặt lý thuyết, xây dựng đơn giá nhằm mục đích xây dựng quỹ lương và làm căn cứ trả lương khoán sản phẩm hay khoán công lao động cho người lao động Với những quy định trong các Nghị định và Thông tư trên, thì mục đích của nhà nước khi quy định đơn giá tiền lương là khống chế quỹ lương và quản lý chặt theo chế độ quy định Vì mục đích trên nên việc tính toán theo hướng dẫn thực hiện của nhà nước quá phức tạp Việc
Trang 7phức tạp hóa vấn đề đơn giản chỉ làm khó
khăn cho bộ phận nghiệp vụ vốn còn non
yếu và gây khó hiểu và nghi ngờ cho người
lao động
Nguồn hình thành và sử dụng
quỹ lương
Trong quy chế lương của các công ty
đều quy định: nguồn hình thành quỹ lương
doanh nghiệp gồm 4 nguồn, (i) quỹ tiền
lương theo đơn giá; (ii) quỹ tiền lương bổ
sung theo quy định của pháp luật; (iii) quỹ
tiền lương từ các hoạt động sản xuất kinh
doanh khác ngoài đơn giá tiền lương; (iv)
quỹ tiền lương dự phòng năm trước chuyển
sang
Phần đa các công ty đều nêu các
nguyên tắc sử dụng quỹ lương như trong
các văn bản quy định và hướng dẫn của
nhà nước, bao gồm các nội dung cơ bản
sau: (i) quỹ tiền lương được phân bổ cho
từng bộ phận, khối lao động; (ii) phần quỹ
lương được trả trực tiếp cho người lao
động ít nhất bằng 76% - 80% tổng quỹ
lương; (iii) quỹ khen thưởng từ quỹ lương
đối với lao động có năng suất, chất lượng
cao, có thành tích trong công tác tối đa
không quá 10% tổng quỹ lương; (iv) quỹ
khuyến khích người lao động có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao, tay nghề giỏi tối
đa không quá 2% tổng quỹ lương; (v) quỹ
dự phòng cho năm sau tối đa không quá
12%
Việc trích một phần quỹ lương để
làm quỹ khen thưởng và khuyến khích là vi
phạm nguyên tắc do chính Nhà nước nêu ra
là “Quỹ lương được phân phối trực tiếp cho người lao động, không sử dụng vào mục đích khác” Về mặt khoa học, tiền khen thưởng và khuyến khích phải được trích từ lợi nhuận hoặc phần giá trị tạo thêm do sáng kiến, cải tiến và tiết kiệm, nên việc trích một phần quỹ lương xây dựng quỹ khen thưởng là vi phạm nguyên tắc thù lao theo lao động
Dự phòng lương là trách nhiệm của người sử dụng lao động chứ không phải của người làm thuê Việc trích quỹ dự phòng từ quỹ lương của người lao động là một trong những bất hợp lý Như vậy, phần 76-80% lương trả hàng tháng cho người lao động mới chỉ là phần tạm ứng Phần còn lại phải quyết toán cho người lao động theo mức độ hòan thành công việc cả năm của họ mới thực sự là tôn trọng nguyên tắc thù lao theo lao động và nguyên tắc do nhà nước ban hành
Cơ chế nâng hạ lương Các công ty thực hiện cơ chế nâng lương như hướng dẫn của Nhà nước Căn cứ
để nâng bậc lương đối với lao động trực tiếp sản xuất, kinh doanh là tiêu chuẩn cấp bậc
kỹ thuật ứng với công việc đảm nhận; đối với viên chức chuyên môn, nghiệp vụ, thừa hành, phục vụ là tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ viên chức và thâm niên làm việc trong doanh nghiệp
Điều kiện xét để nâng bậc lương hằng năm: thường xuyên hoàn thành công việc được giao về số lượng, chất lượng theo hợp đồng lao động đã ký kết; không
49
Trang 8trong thời gian thi hành kỷ luật lao động
theo quy định của Bộ luật Lao động và nội
quy lao động của doanh nghiệp; đối với
viên chức chuyên môn, nghiệp vụ có thời
gian giữ bậc lương hiện hưởng tại doanh
nghiệp ít nhất 2 năm (đủ 24 tháng) đối với
các ngạch có hệ số mức lương khởi điểm
(bậc 1) thấp hơn 1,8, có ít nhất 3 năm (đủ
36 tháng) đối với các ngạch có hệ số mức
lương khởi điểm (bậc 1) từ 2,34 trở lên; đối
với công nhân viên trực tiếp sản xuất, kinh
doanh đạt kết quả thi nâng bậc theo tiêu
chuẩn cấp bậc kỹ thuật ứng với công việc
đảm nhận
Các trường hợp được nâng bậc
lương sớm, rút ngắn thời hạn nâng bậc
lương: nếu người lao động đoạt giải tại các
cuộc thi chuyên môn, kỹ thuật cấp quốc
gia hoặc quốc tế do doanh nghiệp cử tham
dự; đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua toàn
quốc thì được xét nâng bậc lương sớm
Việc nâng bậc lương sớm, rút ngắn thời
hạn nâng bậc lương cụ thể cho người lao
động do doanh nghiệp quyết định sau khi
tham khảo ý kiến Ban chấp hành công
đoàn cơ sở Trường hợp kéo dài thời hạn
xét nâng bậc lương nếu người lao động bị
kỷ luật lao động
Về mặt lý thuyết, việc nâng bậc lương
phải căn cứ vào 2 yếu tố:
- Thứ nhất, yếu tố thâm niên nghề
nghiệp (tức là người có thâm niên tay nghề
cao hơn sẽ được trả lương cao hơn)
- Thứ hai, yếu tố về năng suất, chất
lượng của lao động (tức là người có năng
suất lao động cao sẽ được hưởng lương cao hơn)
Trên thực tế, các công ty thực hiện việc nâng bậc lương chủ yếu theo yếu tố thâm niên công tác chứ không phải thâm niên nghề nghiệp, tức là người lao động có thâm niên công tác càng cao thì được hưởng mức lương càng cao Do vậy, cơ chế nâng lương chưa thực sự khuyến khích người lao động học tập, rèn luyện nâng cao trình độ tay nghề, nhất là đối với lực lượng lao động trẻ
Hạn chế thứ hai của cơ chế này là thiếu cơ chế hạ bậc lương đối với người lao động không đủ tiêu chuẩn năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ
Những hạn chế của cơ chế tiền lương hiện hành
Từ kết quả khảo sát thực trạng cơ chế tiền lương trong các doanh nghiệp nhà nước so với bản chất tiền lương trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta thấy cơ chế tiền lương hiện hành có một số hạn chế sau:
Hệ thống thang bảng lương nhà nước là
hệ thống lương theo bằng cấp và thâm niên là chủ yếu
Hệ thống lương nhà nước là hệ thống lương theo mô hình lương thấp, không bảo
đảm tái sản xuất lao động cho người lao động và gia đình họ
Hệ thống lương nhà nước mang nặng tính bình quân, không tạo được động lực cho
người lao động yên tâm, phấn đấu và trung thành
50
Trang 9Cơ chế lương nhà nước là cơ chế
lương cứng, hạn chế tính tự chủ về vấn đề
lương, nhân sự của doanh nghiệp
Cơ chế lương nhà nước hạn chế tính
thích ứng của hệ thống lương doanh nghiệp
với cơ chế thị trường
2 Đổi mới cơ chế tiền lương
trong các doanh nghiệp nhà nước
Bên cạnh việc áp dụng hệ thống
thang bảng lương nhà nước, các doanh
nghiệp được nhà nước cho phép xây dựng
và áp dụng Thang bảng lương
doanh
nghiệp Đây được coi là nội dung trong yếu
của đổi mới cơ chế tiền lương trong doanh
nghiệp
Hệ thống thang bảng lương này bao
gồm 2 hệ thống: hệ thống lương theo công
việc và hệ thống hệ số đánh giá đóng góp
Tùy từng công ty mà tên gọi được sử dụng
khác nhau Có công ty gọi hệ số lương do
danh nghiệp xây dựng là hệ số lương doanh
nghiệp hoặc là hệ số lương công việc Có
công ty gọi hệ số đóng góp là hệ số đánh giá
thành tích, hệ số đánh giá kết quả thực hiện
công việc
Tất cả các công ty khi xây dựng hệ số
lương theo công việc đều vận dụng hướng
dẫn của nhà nước tại công văn số 4320/
LĐTBXH-TL ngày 29-12-1998 Do áp
dụng rập khuôn theo hướng dẫn của nhà
nước nên hệ thống này bộc lộ một số tiến bộ
và hạn chế sau:
Khi đánh giá công việc các doanh
nghiệp không dựa vào kết quả của phân
tích công việc, cụ thể là không dựa vào hệ
thống bản mô tả công việc và bản tiêu chuẩn công việc nên hệ số lương theo công việc được xây dựng thiếu sức thuyết phục
Nhìn vào tiêu chí đánh giá người ta tưởng là tiêu chí đánh giá công việc, nhưng khi nhìn vào bảng hướng dẫn tính điểm người ta khẳng định: doanh nghiệp vẫn đánh giá nhân viên theo bằng cấp
Việc gợi ý một bảng phân điểm chỉ theo tiêu chí “trình độ” là bất cập so với các quy định về 2 nhóm tiêu chí khi đánh giá công việc là “mức độ phức tạp” và “mức độ trách nhiệm”
Hệ thống hệ số đánh giá đóng góp,
hoặc hệ số đáng giá kết quả thực
việc
Các doanh nghiệp vận dụng công văn 4320/LĐTBXH-TL ngày 29-12-1998 xây dựng hệ số hoàn thành công việc một cách đơn giản hơn như sau: Hệ số mức độ hoàn thành được chia làm 3 mức: hoàn thành tốt, hệ số 1,2 (riêng Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng phải hoàn thành kế hoạch lợi nhuận mới được áp dụng hệ số 1,2); hoàn thành, hệ số 1,0; chưa hoàn thành,
hệ số 0,7
Việc sử dụng phương pháp định lượng để đánh giá thành tích hay mức độ đóng góp của nhân viên vào thành tích chung làm căn cứ để trả lương thưởng và bình xét thi đua là một tư duy khoa học và tiến bộ Nhờ phương pháp này mà việc trả lương đã gắn tiền lương với năng suất, chất lượng và hiệu quả công tác; hạn chế tính bình quân chủ nghĩa, giảm đáng kể
51
Trang 10những bất bình và khiếu nại của người lao
động
Tuy nhiên, việc nhóm số điểm để
giảm bớt số bậc cho đơn giản (A, B,C) lại
không khắc phục được tính bình quân chủ
nghĩa Việc không cụ thể hóa các tiêu chí
chung để lượng hóa tối đa, công tác thống
kê, ghi chép đại khái và việc tổ chức thực
hiện đánh giá không nghiêm túc làm cho
công việc đánh giá ở nhiều doanh nghiệp trở
nên nặng nề hoặc là mang nặng tính hình
thức
3 Một số kiến nghị nhằm đổi
mới cơ chế tiền lương trong
các doanh nghiệp
Một, để các doanh nghiệp thực sự đổi
mới cơ chế lương thích ứng với cơ chế lương thị
trường, nhà nước chỉ nên quản lý vấn đề nhân
sự và tiền lương bằng các công cụ quản lý vĩ
mô Các doanh nghiệp phải thực sự được
quyền tự chủ trong vấn đề lao động và tiền
lương Nếu không, mọi ý định “đổi mới” chỉ
mang ý nghĩa hình thức
Hai, khi đã được tự chủ nhân sự và
tiền lương, các doanh nghiệp phải tạo ra
được động cơ và động lực đổi mới Lực
lượng tạo động lực đổi mới trước hết là
ban lãnh đạo công ty, tiếp đến các nhà
quản trị và nhân viên trong bậc quản trị
cấp trung
Ba, cần phải đào tạo đội ngũ tham
gia dự án đổi mới cơ chế lương Các kỹ năng
cần đào tạo bao gồm: kỹ năng phân tích
công việc, kỹ năng đánh giá nhân viên, kỹ
năng định giá trị công việc, kỹ năng xây
dựng thang bậc lương, kỹ năng xác định định mức khoán; kiến thức và kỹ năng xây dựng phương pháp trả lương hiện đại; đặc biệt là đào tạo kiến thức, kỹ năng và nghệ thuật tổ chức thực hiện dự án cho tất cả các cấp quản trị và cán bộ công đoàn trong doanh nghiệp
Bốn, trong quá trình thực hiện dự
án, các công ty có thể sử dụng sự trợ giúp của các cơ sở đào tạo và chuyên gia tư vấn trong toàn bộ hay một số phần trong quá trình thực hiện dự án Phương án trên không chỉ giúp công ty có được sản phẩm khách quan, có sức thuyết phục hơn mà còn
là một cơ hội đào tạo nghiệp vụ quản trị nguồn nhân lực và quản trị tiền lương cho các cấp quản trị công ty, nhất là với phòng nhân sự
Năm, phải có sự chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cơ bản cho việc thực hiện dự
án Ngoài các điều kiện về tư tưởng, tổ chức và nhân lực thực hiện dự án, các công
ty cần sắp xếp bố trí thời gian tương xứng
và chuẩn bị nguồn lực tài chính phục vụ dự án
Sáu, không thể có ngay một cơ chế hoàn chỉnh và tối ưu Do vậy, cần quán triệt quan điểm: vừa làm, vừa học, hoàn thiện dần từng bước cơ chế lương
Bảy, không thể có một cơ chế lương giống nhau và hiệu quả như nhau cho các công ty khác nhau, thậm trí cho từng bộ phận
và đối tượng lao động khác nhau trong một công ty
52