THE ISSUES OF THE RENEWAL IN TEACHING AND STUDYING UNDER THE VIEW OF LABOR ECONOMICS. Dr.[r]
Trang 1TẠP CHỈ KHOA HỌC ĐHQGHN, KINH TỂ - LUẬT, T.XXII, sổ 1, 2006
MỘT SỐ VẤN Đ Ể VỀ Đ Ổ I MỚI GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬ P DƯỚI
GIÁC ĐỘ CỦA K IN H TỂ HỌC LAO Đ Ộ N G • • •
Đổi mới công tác giảng dạy và học tập
trong Đại học Quốc gia (ĐHQG) là một
quá tr ìn h đòi hỏi việc đổi mối của cả một
tập thể, hơn nữa của cả một hệ thông
Hệ th ô n g này bao gồm cả giảng viên,
sinh viên, các n h â n viên và các cấp lãnh
đạo cùng n h ữ n g cơ chế và định chế vốn
r ấ t quen với chúng ta từ trưốc đến nay
Bài viết này mong muôn được trao đổi
các q u a n điểm từ các bên th a m gia vào
quá trìn h này dưới giác độ của một môn
học mối, môn Kinh t ế học lao động
N hữ ng yêu cầu đỗi vói giảng viên:
G iảng viên ph ải là một h u ấ n luyện
viên hơn là một người hướng d ẫ n thực
thi công việc Từ trước đến nay chúng ta
thường chỉ dạy lý th u y ế t đơn th u ần ,
trong quá trìn h thực hiện chức năng
giảng dạy, do n hiều yếu tô" n h ư chế độ
làm việc, tiền lương, chất lượng đầu vào,
các giảng viên đã có nhiều người chỉ còn
là người giao nhiệm vụ học tập, các quy
định và quy trìn h đ á n h giá của một giáo
trìn h môn học đã được tập th ể bộ môn
lựa chọn Đến bây giờ ta chợt n h ậ n ra
c h ấ t lượng sinh viên r a trường không
đáp ứng với yêu cầu việc làm của họ, xã
hội n h ậ n th ấy h iện tượng "Ai biết làm
thì làm, ai không biết làm th ì đi dạy”, ta
lại chỉ chú trọng vào các nghiệp vụ công
việc cụ thể và mong muốn sinh viên làm
được n h ư mình, ửĩeo cái cách của mình
n TS, Khoa Kinh tế, Đại hoc Quốc gia Hà Nội.
T ạ Đức Khánh***
N h ậ n thức này là xa rời vói mục tiêu và phương châm đào tạo của (ĐHQG) P h ả i
th ấy rằ n g để làm các công việc cụ th ể theo chuyên ng àn h đào tạo, không chỉ biết thao tác th à n h thạo, đúng quy trìn h quy p h ạm mà hơn t h ế phải tạo ra một
kh ả n ă n g ứng phó công việc trong sự
th ay đổi và p h á t triển Không chỉ tạo và rèn luyện kỹ n ă n g cho sinh viên mà phải nâng cao tư duy chuyên nghiệp của mỗi môn học, ng àn h học Không phải h u ấ n luyện viên bóng đá nào cũng đều là những cầu th ủ x u ấ t sắc, với n h ữ n g kỹ
n ăng đi bóng, sú t bóng làm mê hoặc người xem; họ phải là ngưòi tạo ra những cầu th ủ giỏi như vậy, n hữ ng cầu
th ủ có n ă n g lực sáng tạo và một khả năng thích ứng cao
Trong quá trìn h h u ấ n luyện như thế, giảng viên phải th ấy tín h đa dạng và phức tạp của sinh viên C húng ta phải chấp n h ậ n còn n hữ ng lớp học quá đông, ở
đó, việc h u ấ n luyện luôn đi kèm vối công
tác q uản lý và sự tồn tạ i "h iê u ứ n g sô
đ ô n g " n ê n chỉ có th ể tập tr u n g vào hai
đầu - n h ữ n g sinh viên x u ấ t sắc có tác dụng lan toả, với ngoại ứ ng tích cực và
n hững sinh viên kém với ngoại ứng tiêu cực Tập tru n g vào rèn luyện k h ả năng
và phương pháp tự học của sinh viên theo quy trìn h đi từ "Biết, hiểu, vận dụng, cải tạo” trên cơ sở tạo ra môi trường cạnh tr a n h và n â n g cao tính cạnh
5 4
Trang 2M ột s ố vấn đề đổi mới giản g dạy và học tập 5 5
t r a n h trong lớp sinh viên Một bài giảng
th à n h công là một bài giảng đổi được một
giờ dạy của giảng viên lấy hai hay ba giờ
tự học của sinh viên; th ậm chí phải lôi
kéo được bạn bè, a n h chị em, cha mẹ
sinh viên quan tâ m đến n hững vấn đề
đ ặ t r a trê n lớp cho sinh viên Làm như
t h ế c h ú n g ta giúp sin h viên không chỉ là
người linh hội m à còn tự bảo vệ sự lựa
chọn, q u a n điểm của m ình với sinh viên
trường khác, với môi trường và học hỏi
được th êm từ bên ngoài
K h âu kiểm t r a đ á n h giá từ trước đến
nay thường chỉ được coi là công đoạn kết
th ú c của quá trìn h giảng dạy c ầ n phải
p h â n biệt giữa đ á n h giá tuyển sinh và
đ á n h giá trong q u á trìn h đào tạo Phải
biết cộng các p h ầ n việc th à n h tổng thể
n h ư n g cũng ph ải biết chia tổng thể
th à n h n h ữ n g p h ầ n việc, công đoạn cụ thể
để thường xuyên đưa việc đ án h giá trở
th à n h các điểm n ú t trong toàn bộ môn
học Từ trước đến n ay chúng ta chỉ chú
trọng vào vế th ứ n h ấ t của vấn đề Sinh
viên có th ể lấy học để thi n h ư n g giảng
viên th ì phải th ấ y thi là để học T rên cơ
sở này, từ khi ra đề thi, ngoài nội dung
thì cấu trú c và cách thức h oàn th à n h bài
thi là r ấ t q u an trọng Sinh viên cần được
khuyến khích tự học thông qua các đề thi
mở, cần sự vận d ụ n g và sáng tạo trong
giải q u y ết vấn đề m à đề thi đ ặ t r a hơn là
việc học thuộc một vài phương á n có sẵn
K huyến khích sinh viên khi làm bài, ở
n hững chỗ cần th iế t, có th ể sử dụng sơ đồ
hoặc nêu ra n h ữ n g giải định hợp lý, bài
thi sẽ được chấm theo lôgic hợp lý của
n hững giả định m à họ nêu ra Chính
trên cơ sở này cần t r á n h xu hướng trắc
nghiệm hoá đề thi P h ải th ấy rằ n g lập
được một bộ đề thi trắc nghiệm đòi hỏi nhiều công sức và sự th ậ n trọng N hững
đề thi dạng đúng, sai; lựa chọn; đa lựa chọn có th ể còn ít khuyến khích sự tự học, tín h sáng tạo trong nhiều môn khoa học xã hội, khi m à ở đó, bên cạnh n hững vấn đề thực chứng luôn tồn tại n h ữ n g quan điểm ch uẩn tắc, những chính sách
n h ấ t định Một đề th i tốt cũng cần có một độ rộng kiểm tra kiến thức n h ấ t định, phải tạo ra độ p h ân giải cao và không có đ ấ t cho sự không tru n g thực và việc học tủ của sinh viên, c ầ n n â n g cao
kh ả n ăn g tự kiểm tr a đ án h giá của sinh
viên qua công việc c ô n g k h a i đ á p á n
và đề cao n h ữ n g giải pháp độc đáo, sáng tạo của sinh viên Theo cách này, giảng viên cũng học được nhiều điều qua các kỳ thi như: chiêm nghiệm về phương pháp giảng dạy, đo lường p h ản ứng, tiếp n h ậ n
sự phong phú đa dạng và sức sán g tạo trong các lớp sinh viên Kết quả th i cũng được sử dụng để thi h à n h chính sách
"cạo gỉ" cho con th u y ền đào tạo n h ằm điều chỉnh h à n h vi, n âng cao tín h cạnh
tr a n h giữa các sinh viên trong quá trìn h đào tạo; tu y nhiên, cũng cần nhớ rằn g
"lớp học không nghiêm lỗi trước h ế t ở người thầy", người th ầy cần "nghiêm mà không ác"
Để thực thi một cách hoàn hảo trách nhiệm trên, chúng ta th ấy n h ữ ng hoạt động dạy học của giảng viên chính là những tìn h huống điển hình (case study) trước sinh viên ’Giảng viên phải ph ân tích cho sinh viên về mỗi vấn đề của bài giảng theo quá trìn h p h á t triể n tự nhiên của nó, chia ra theo các tìn h huống nhỏ
để sinh viên tự k h ám phá, đồng thòi đ ặ t
ra bài tập, tìn h huống cho sinh viên giải
Tạp ch i Khoa học Đ H Q G H N , Kinh tể- Luật, T.XXJI, 'S ổ i, 2006
Trang 35 6 Tạ Đức K hánh
quyết sau giờ lên lớp Vì đê thi sẽ là đề
mở n ên trong k h i k ế t lu ận về mỗi vấn đề
giảng viên cũng cần cho sinh viên biết
một ví dụ về đề th i khi liên q u an đến
p h ầ n được đề cập trong tiết giảng sao
cho mỗi sinh viên biết rằn g để làm được
đề th i họ p h ả i tư duy về v ấn đề và không
th ể chép được b ấ t cứ nội dung nào trong
giáo trìn h hoặc tro n g vở ghi bài Khi sinh
viên hiểu được rằng, chỉ riêng việc để
hoàn th à n h bài th i chí ít họ cần phải
hiểu bài và b iết vận dụng chứ không
ph ải là thuộc bài hoặc tr ả lòi thuộc lòng
n h ữ n g điều được đọc trong giáo trìn h
h ay nghe tr ê n lốp thì tự họ sẽ có được
một giờ học thực sự n ăn g động trong tư
duy Không n h ấ t th iế t sinh viên phải tự
m ình xây dự n g được bài giảng, dù cho họ
có được c h u ẩ n bị các câu hỏi trước giờ lên
lớp Điều q u a n trọng là họ phải có được
giải pháp của m ìn h trưốc n hữ ng câu hỏi
do giảng viên đ ặ t ra trê n lớp, có th ể là
thông qua b à n bạc, trao đổi ngay trong
giò giảng Việc tậ p tru n g vào bài giảng
của sinh viên k hông có nghĩa là lớp học
phải yên lặng, k hông một sự trao đối
Cần cảnh giác trước việc sinh viên trong
suốt giờ học chỉ chăm chăm vào việc
nghe không sót một lòi, ghi không sai
một lỗi vì đấy là m ột lóp học th ụ động
Một giò lên lóp phải thực sự là một
"sô diễn" của g iảng viên, cần có kịch bản
được c h u ẩn trưóc Kịch b ản này có thể
chỉ là n h ữ n g suy nghĩ, sắp d ặ t giảng
viên trước kh i lên lớp Kịch bản n ày cũng
cần phải có chỗ cho việc th ể hiện sự linh
hoạt, sáng tạo của giảng viên theo từng
diễn biến tr ê n lớp với những p h ả n ứng
khác n h a u từ ph ía các sinh viên Phải
nhớ rằ n g kh i sinh viên không tập tru n g
vào bài giảng thì lỗi trớc h ế t là ở ngươi giảng viên
Một giảng viên có thể giảng dở về một bài giảng hay nhưng cũng không
tr á n h khỏi trường hợp họ giảng hay về một bài giảng dở Điều này đ ặ t ra vân để
về giáo trìn h và chương trìn h của mỗi môn học th ậm chí của cả một ngành học Trong nhiều lĩnh vực đào tạo, chúng ta
là n h ững người đi sau so với t h ế giới
Nhưng lơi th ẻ c ủ a n g ư ờ i đ i s a u chỉ giúp chúng ta trá n h được n h ữ n g c h i p h í
c h ì m , có th êm kh ả năng lựa chọn m à
không cho phép tưốc bỏ quá trìn h học hỏi, nghiên cứu c ầ n sử dụng các giáo trìn h mà nhiều trường đại học tiên tiến trên t h ế giới đã coi như sách giáo khoa môn học n h ấ t là n hữ ng môn học chúng
ta hoàn toàn phải nhập ngoại từ sau ngày đổi mói cơ chế kinh tế Chúng ta không phải lo lắng về n h ữ n g b ấ t cập về nội dung do sự khác biệt về văn hoá, chính trị hay xã hội bởi dù sao đó vẫn chỉ
là giáo trìn h nền tảng, bên cạnh các giáo trìn h và tài liệu th a m khảo khác; hơn nữa chúng còn được các giảng viên có chuyên môn biên soạn lại qua bài giảng của họ Điều đáng nói ở đây là về phía các giảng viên và chương tr ìn h của các khoa, các ng àn h học của chúng ta Không th ể chấp n h ậ n được việc có những giảng viên chưa từng được đào tạo hoặc đào tạo lại, đảm n h ậ n việc dạy và tự soạn giáo trìn h cho một môn học mà từ trước đến nay chưa từng có trong hệ thống đào tạo của chúng ta Cũng không
th ể chấp n h ậ n được n hữ ng chương trình cho một ngành đào tạo mới m à những
người th am gia soạn thảo, b à n bạc về nội
dung cụ thể lại chưa từng giảng dạy hoặc
Tạp chi Khoa học Đ H Q G H N Kinh tế - Luật, T.XXII, Số 1,2006
Trang 4M ột số vấn dé đổi mới gián g dạy và học tập
5 7
được đào tạo vê các môn học trong đó
T uy nhiên cũng không nên quá bi quan
n h ư một giảng viên của một trường đại
học xây dựng tâm sự rằng, rồi sẽ đến lúc
n h ữ n g giảng viên trong nước phải
nhường công việc giảng dạy cho những
việt kiều hay giáo sư nước ngoài vì
phương pháp và công nghệ xây dựng
hiện nay khác h ẳ n với n hữ ng gì các
giảng viên trong nước được đào tạo từ
các nưóc xã hội chủ nghĩa cũ
N hững vấn đề đ ặ t ra từ phía các câp
q u ản lý:
Việc đổi mới giảng dạy và học tập
theo phương pháp tiên tiến, hiện đại
không chỉ là th ay đổi h à n h vi, ứng xử
của giảng viên và sinh viên theo những
quy lu ậ t cạnh tr a n h thị trường mà còn
được đ ặ t trong môi trường quản lý của
các khoa, trường với n h ữ ng cơ chế n h ấ t
định Các cấp q u ản lý cơ sở này cần tạo
ra một h àn h lang thô n g th o án g cho hoạt
động đổi mới trong giảng dạy và học tập
theo phương p háp tiên tiến, hiện dại
Trưóc hết, cần th ấy rằ n g việc quản lý
việc giảng dạy và học tập lúc này là quản
lý n h ữ ng hoạt động cạnh t r a n h m ang
tính thị trường Đổi mói phương pháp
giảng dạy, học tập tạo ra n hững áp lực
m ạnh mẽ lên đội ngũ giảng viên và sinh
viên hiện nay, th ậ m chí làm đảo lộn một
vài th an g bậc giá trị trong đánh giá năng
lực, phẩm chất chính trị của giảng viên,
sinh viên, c ầ n sửa đối hoặc tạo ra môi
trường cạnh t r a n h cho các ho ạt động
giảng dạy và học tậ p theo phương pháp
tiên tiên, hiện đại T ập tr u n g hơn cho
việc quản lý c h ấ t lượng th ay cho việc
quản lý chỉ hướng vào sô' lượng n h ư trước
đây Giảng viên p h ả i tự chịu trách
nhiệm n hiều hơn trong việc giảng dạy và đánh giá sinh viên của mình Một số' quy định về giảng dạy, học tậ p và đ á n h giá sinh viên vôn chỉ tập tr u n g vào việc ngăn chặn tiêu cực nay cần được điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu p h á t triẻ n và hoàn th iện n hữ ng m ặt tích cực của phương pháp giảng dạy và học tập tiên tiến, hiện đại
Điều th ứ hai cần th ấ y là b ấ t kỳ một
sự đổi mới nào cũng hàm chứa yếu tô' rủi
ro Làm việc có đúng, có sai Làm nhiều, sai nhiều đó là quy lu ậ t thốn g kê Việc
đ ánh giá hiệu quả công việc giữa các giảng viên vói n h a u thông qua hệ thông
tự đánh giá lẫn n h a u thông qua sô" phiếu bầu trong nhiều trường hợp đã không còn trở nên thích hợp vối quá trìn h chuyển đổi Có lẽ nguyên tắc "mèo trắng, mèo đen" cần được chú ý hơn trong đánh giá năng lực và phẩm c h ấ t giảng viên hiện nay c ầ n tập tru n g k h u y ê n khích những sán g tạo, sán g kiến trong việc đổi mối phương pháp giảng dạy, học tập theo hướụg mỏ rộng hơn, độ lượng hơn với
n hữ ng mạo hiểm từ n h ữ n g cong việc này khi phải đương đầu với n h ữ n g cách suy nghĩ, thói quen làm việc cũ Một sán g kiến, đổi mới trong giảng dạy, học tập có
th ể chỉ thích hợp trong n g ắ n h ạ n mà không thích hợp trong dài h ạ n , n hư ng đứng về phía giảng viên, do h ạ n ch ế về thông tin, về tầm n h ìn còn h ạ n hẹp thì
đó là điều r ấ t có th ể xảy ra Các cấp lãn h đạo bên trê n phải k h uyến khích và có hướng sử dụng tốt n h ấ t n h ữ n g sáng kiến, đôi mới này, bởi vì chính họ trong công việc của m ình cũng lại cần cấp lãnh đạo cao hớn lắng nghe và t h ấ u hiểu
Tạp chí Khoa học Đ H Q G H N , Kinh tế- Luật, T.XXII sỏ7 2006
Trang 55 8 Tạ Đ ức Khánh
Đổi mối g iảng dạy và học tập theo
hướng tiên tiến, hiện đại ở đại học quốc
gia cũng có n g h ĩa là đào tạo đỉnh cao
(theo cách nói của th ể thao Việt Nam),
quá trìn h n à y t ấ t yếu bồi t ụ nên n h ữ n g
giảng viên x u ấ t sắc trổng con m ắt của
đồng nghiệp và của sinh viên Mỗi giảng
viên khi ở tr o n g hoàn cảnh cạnh t r a n h
này cần được định hướng theo cách hình
th àn h n h ữ n g "sản p h ẩ m ” p h â n biệt,
"thương hiệu" p h â n biệt Đến các trường
đại học lốn ở M ỹ ta thường th ấy hai hoặc
ba giảng viên giảng dạy cùng một môn
học theo n h ữ n g giáo trìn h khác n h au
đều được đồng nghiệp và sinh viên trong
trường đ á n h giá r ấ t caọ
Quản lý m ột đội ngũ giảng viên trong
điều kiện các nguyên lý của kinh t ế thị
trường đã trở th à n h nguyên tắc chỉ đạo
cho các h à n h vi, cách ứng xử của giảng
viên chúng ta luôn nhớ rằ n g khi q uản lý
hoạt động lao động của từ hai người trở
lên thì luôn tồn tại k h ả n ă n g trong đó có
một n g ư ờ i ă n th eo Cùng đào tạo ra
những sinh viên ra trường với đầy đủ
tiêu ch uẩn chuyên môn, chính trị thì đó
là sản p h ẩ m của nhiều công đoạn, quá
trình, trong đó mỗi giảng viên chỉ là
những người chịu trách nhiệm của từng
công đoạn n h ư n g lại là người th a m gia
hưởng lợi n h ư n hau Trong một học kỳ,
hay một n ă m học, sinh viên phải học
nhiều môn học khác n h a u với nhiều cách
tiếp cận m an g tín h đặc th ù riêng; tuy
nhiên, họ cũng r ấ t dễ dàng n h ậ n th ấ y sự
khác biệt và mức độ tiên tiến trong
phương p h áp giảng dạy của người giảng
viên và n h a n h chóng thích ứng vối nó
Có sinh viên có mẹ là giảng viên trong
khoa đã tâ m sự vói mẹ rằng: "trong giò
giáo viên X, chúng con có được cuốn vở ghi đẹp và sạch như vở chính tả của học sinh lớp hai(!)" Trong điểu kiện n h ư vậy sinh viên sẽ ở trong tìn h trạ n g giông như một chiếc m áy bay bị m ất tốc độ trên
không và theo n g u y ê n tắ c g ia tố c trong đầu tư v ố n n h ả n lự c , thì họ sẽ trở nên
chán n ả n trong học tập không chỉ một môn học đó mà còn cả quá trìn h học tập
về sau Tuy nhiên, cũng phải n h ậ n th ấy rừng, xét theo hiệu quả đổi mới của toàn trường hay toàn ĐHQG thì không chỉ giảng viên kém, trách nhiệm th ấ p ăn theo giảng viên giỏi, năng động, sán g tạo
mà còn có quá tìn h ngược lại, nếu không
có cơ chế q uản lý sẽ bị xâm hại, thương hiệu của cả trường, cả ĐHQG bị xói mòn Khắc phục tìn h trạ n g này, vai trò cấp quản lý bộ môn cần được th ay đổi triệt
để khỏi tư duy bao cấp, chỉ huy trước đây Trong một vài khoa, quyền lực quản
lý của chủ nhiệm bộ môn ]à r ấ t lớn, nhưng lại được h ìn h th à n h theo cơ chế bầu phổ thông đầu phieu khiến cho nhiều bộ môn có ít giảng viên, để được bầu lại chủ nhiệm bộ môn chỉ cần tra n h
th ủ mọt h ay h a i phiếu bầu là đủ duy trì đặc quyền đặc lợi cho một nhóm, th o á t ly khỏi lợi ích của quá trìn h đào tạo giảng dạy chung đang cần những đổi mới có tính cách mạng, ỏ những hoàn cảnh như vậy có lẽ nên có cơ chê chỉ định hay bổ nhiệm các chủ nhiệm bộ môn từ chủ
•nhiệm khoa, hiệu trưởng hoặc hội đồng khoa học
Trong quá trìn h chuyển đổi hiện nay của chúng ta, vai trò của các cấp lãnh đạo cơ sở có tính chất quyết định Kết hờp được cực nam và cực bắc trong một
n am châm và sử dụng được từ trường
Tạp chí Khoa học Đ H Q G H N Kinh tế- Luật T.XXJI, Số I 2006
Trang 6M ột số vấn dé dổi mới giáng dạy và học tập 5 9
của chúng là công việc khó k h ăn nhưng
m ang tính cách m ạn g trong n h ậ n thức
Kết hợp được một đội ngũ giảng viên
chuyên nghiệp có sắc th ái riêng, thậm
chí đổì nghịch n h a u trong nội dung và
phương pháp, chỉ có th ể có ở n hữ ng nơi
m à cấp lãnh đạo khoa, trường thường
xuyên quan tâm và giải quyết vấn đề này
theo một bản sắc riêng, một văn hoá riêng
Trên đây chỉ là n hữ ng suy nghĩ có
tín h cha't cá n h â n khi bàn lu ận về một số
k h ía cạnh của đổi mới giảng dạy và học
tậ p theo phương pháp tiên tiến hiện đại dưới giác độ của những nguyên lý về
k in h t ế học lao động N hữ ng vấn đê đặt
r a về phía giảng viên, giáo trìn h , về cơ
c h ế q u ản lý đào tạo cần được sự th am gia
b à n lu ận nhiều hơn và sâu sắc hơn của
n h ữ n g ai q uan tâm đến việc n ân g cao
c h ấ t lượng đào tạo hiện n a y để mục tiêu
n g a n g tầm khu vực và t h ế giới nh an h chóng đ ạ t được trong tương lai gần
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ehrenberg, Ronald G., Modern Labor Economics, Edition 7th Macmillan, 2001.
2 George J.Borjas., Labor Economics, The M’c Graw-Hill Company INC New York, 2000.
VNU JOURNAL OF SCIENCE, ECONOMICS-LAW, T.XXII, N01 2006
THE ISSUES OF THE RENEWAL IN TEACHING AND STUDYING UNDER
THE VIEW OF LABOR ECONOMICS
Dr T a D ue K h a n h
Faculty o f Economics, Vietnam N ational University, Hanoi
U nder the view of Labor Economics, the p ap er sets out new requires for all p arts joining this process: lecturers and a d m in istra to rs.If teaching stu d e n t is seen as tra in in g a football player,the lecturer shall r a t h e r be a coach th a n a n intro d u cto r.lt
m ean s th a t the teach er m u st teach stu d e n ts how to gain thoughtful skills, creative
an d adaptịve abilities.To be successful, th e renew al should not only lean on the process of introducting 'teaching bu t also on t h a t of p rep arin g papers a n d examining
th e resu lt of studying.O n the other hand, th e renew al needs the a tten tio n of
a d m in istrato rs who could re-organize the s tru c tu re to be more suitable a n d effective
It is the m an a g em en t of the a d m in istrato rs of U n iv ersity a n d D e p a rtm e n t t h a t helps to
c re a t the group of professional teachers
Tạp chí Khoa học Đ H Q G H N , Kỉnh tể - Luật, T.XXỈỈ, S ố 1,2006