Trong những năm qua, và cho đến thời điểm này (lãi suất cho vay thỏa thuận từ 14 – 17%/năm, lãi suất tiết kiệm trên 11%/năm, còn lãi suất cơ bản là 8%/năm), lãi suất cơ bản do NHNN công [r]
Trang 1MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ LÃI SUẤT CƠ BẢN
ThS PHẠM QUỐC VIỆT
1 Lãi suất cơ bản trên thế giới
Lãi suất cơ bản ở Canada và Mỹ (Prime rate hoặc Prime lending rate) là lãi
suất mà các ngân hàng thương mại lớn sử dụng để cho vay các khách hàng ưu
đãi, có độ tín nhiệm cao Lãi suất này được các tổ chức tín dụng tham khảo
trong việc tính toán lãi suất cho vay các tổ chức và cá
nhân trong nền kinh tế
Ở Mỹ, lãi suất cơ bản thường cao hơn 3 điểm phần trăm so với lãi suất
cho vay bù đắp dự trữ bắt buộc (federal funds rate1) Tạp chí Wall Street
Journal công bố theo định kỳ lãi suất cơ bản ở các nuớc (riêng ở Mỹ, lãi suất
này tính trên lãi suất cơ bản do 30 ngân hàng lớn nhất của Mỹ công bố)
Bảng 1: Các lãi suất cơ bản trên thế giới
Đơn vị tính: phần trăm
52 tuần qua
Nguồn: www.wsj.com (09/04/2010)
Trang 2Ở Malaysia, các ngân hàng sử
dụng thuật ngữ Base Lending Rate
(BLR) để chỉ lãi suất cơ bản Lãi
suất này được tính bằng chi phí huy
động vốn cộng với các chi phí quản
lý, và là như nhau đối với các ngân
hàng lớn Lãi suất cơ bản thường
xuyên được các ngân hàng điều
chỉnh, nhưng không là đối tượng
điều chỉnh của pháp luật Lãi suất cơ
bản hiện nay ở Malaysia là 5,8% (có
hiệu lực từ ngày 09/3/2010)2
Trong hoạt động tín dụng
ngân hàng trên thế giới, lãi suất cơ
bản thường được sử dụng làm cơ sở
để tính toán lãi suất thả nổi cho các
khoản vay ngắn hạn (như cho vay
qua thẻ tín dụng, cho vay thế chấp,
cho vay cá nhân…), theo đó lãi suất
cho vay bằng lãi suất cơ bản cộng
thêm một tỷ lệ lãi suất cố định,
tương ứng với rủi ro tín dụng
Như vậy, có thể rút ra một số
nhận xét quan trọng về lãi suất cơ
bản trên thế giới:
- Lãi suất cơ bản là cơ sở để
tính lãi suất cho vay, có thể là giá
vốn của khoản vay (trường hợp
Malaysia), hoặc lãi suất cho vay
khách hàng có rủi ro thấp nhất
(trường hợp Mỹ)
- Lãi suất cơ bản do từng ngân
hàng quy định, không là đối tượng
điều chỉnh trực tiếp3 của pháp luật
2 Lãi suất cơ bản ở Việt
Nam
Lãi suất cơ bản ở Việt Nam
xuất hiện lần đầu tiên trong Luật
Ngân hàng nhà nước (1997), theo
đó, “Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm
cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh”4 Tuy nhiên, mãi đến năm 2000, Ngân hàng nhà nước mới có quy định cụ thể về việc áp dụng lãi suất cơ bản,
cụ thể là:
- Ngân hàng nhà nước (NHNN) công bố lãi suất cơ bản trên
cơ sở tham khảo mức lãi suất cho vay thương mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các tổ chức tín dụng được lựa chọn theo quyết định của Thống đốc NHNN trong từng thời kỳ5
- Các ngân hàng thương mại (NHTM) chuyển từ việc áp dụng trần lãi suất cho vay sang cho vay theo lãi suất cơ bản cộng biên độ (cho vay ngắn hạn là 0,3%/tháng, cho vay trung dài hạn là 0,5%/tháng)6
Danh sách các tổ chức tín dụng được lựa chọn để cung cấp thông tin tham khảo cho NHNN về lãi suất cho vay ban đầu gồm 15 ngân hàng, trong đó có 4 NHTM nhà nước, 5 NHTM cổ phần đô thị, 2 NHTM cổ phần nông thôn, 2 ngân hàng liên doanh và 2 chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam7
Tuy nhiên, đến năm 2002, NHNN lại thay đổi cơ chế cho vay theo hướng không áp dụng lãi suất
cơ bản cộng biên độ, mà cho phép các NHTM áp dụng lãi suất thỏa thuận với khách hàng Lãi suất cơ
Trang 3bản vẫn tiếp tục được duy trì, nhưng
chỉ để tham khảo và định hướng đối
với lãi suất thị trường8 Đến năm
2008, khi các dấu hiệu của khủng
hoảng tài chính thế giới đã rõ rệt, và
hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp trong nước lâm vào tình trạng
khó khăn, NHNN trở lại với cơ chế
điều hành lãi suất cho vay theo lãi
suất cơ bản, theo đó lãi suất kinh
doanh của NHTM (lần này bên cạnh
lãi suất cho vay, có bổ sung thêm lãi
suất huy động) không vượt quá
150% của lãi suất cơ bản do NHNN
công bố9 Danh sách các tổ chức tín
dụng được lựa chọn để cung cấp
thông tin cho NHNN lên đến 25
ngân hàng, trong đó có 20 NHTM cổ
phần, 2 ngân hàng liên doanh và 3
ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại
Việt Nam10 Cơ chế cho vay này
được thực hiện đến đầu năm 2010,
nhưng không có tác động tích cực
đối với thị trường tín dụng, nên đã
được điều chỉnh theo hướng áp dụng
lãi suất thỏa thuận đối với cho vay
tiêu dùng từ tháng 1/200911, và đối
với cho vay kinh doanh trung dài
hạn, từ tháng 2/201012 Và đến đầu
tháng 4/2010, NHNN lại quay trở về
với cơ chế điều hành lãi suất thỏa
thuận13
Một điều cần lưu ý, theo Bộ
Luật dân sự 2005, điều 476 có quy
định về lãi suất trong hợp đồng vay
tài sản trong xã hội như sau: “1 Lãi
suất vay do các bên thoả thuận
nhưng không được vượt quá 150%
của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng 2 Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ” Trong Bộ luật dân sự 2005, không có điều khoản nào loại trừ hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng ra khỏi phạm vi điều chỉnh của Bộ luật này14
Qua xem xét cơ chế điều hành lãi suất cho vay của NHNN từ khi có Luật NHNN cho đến nay, nổi lên một số vấn đề sau:
(1) Vì sao cơ chế điều hành lãi suất theo hướng lãi suất cơ bản cộng biên độ không đi vào thực tiễn tín dụng ngân hàng ở Việt Nam, trong khi lại tương đối phổ biến ở các nước khác?
(2) Việc các NHTM áp dụng lãi suất thỏa thuận với khách hàng,
mà trong nhiều trường hợp vượt quá mức quy định của Bộ luật dân sự phải chăng là hợp pháp?
Ở đây, chúng ta xem xét các vấn đề trên ở ý nghĩa kinh tế của lãi suất cơ bản Nếu theo thông lệ thế giới và theo các văn bản pháp quy hiện hành của NHNN thì lãi suất cơ bản là lãi suất cho vay khách hàng tốt nhất Nếu đã hiểu theo cách tiếp cận này, thì đương nhiên lãi suất cho vay của bất kỳ khách hàng nào khác
Trang 4của ngân hàng sẽ có lãi suất cao hơn
lãi suất cơ bản
Bên cạnh đó, nếu xét từ góc
độ chi phí, lãi suất cơ bản được tính
từ giá vốn, cộng thêm phần bù rủi ro
tín dụng của khách hàng tốt nhất và
lợi nhuận dự kiến của ngân hàng, tức
là lãi suất cơ bản > giá vốn Mặt
khác, do tất cả các khoản tiền gửi mà
NHTM nhận được từ khách hàng
đều phải chịu dự trữ bắt buộc (hiện
từ 1-3%, gửi tại NHNN) và dự trữ
tùy ý (để đảm bảo thanh toán cho
chính bản thân NHTM), nên giá vốn
= lãi suất huy động/(1 – tỷ lệ dự trữ),
suy ra lãi suất huy động < giá vốn
Kết hợp lại, ta có bất đẳng thức:
Lãi suất huy động < lãi suất cơ
bản < lãi suất cho vay
Trong những năm qua, và cho
đến thời điểm này (lãi suất cho vay
thỏa thuận từ 14 – 17%/năm, lãi suất
tiết kiệm trên 11%/năm, còn lãi suất
cơ bản là 8%/năm), lãi suất cơ bản
do NHNN công bố thấp hơn lãi suất
huy động và lãi suất cho vay của các
NHTM, vì vậy, có thể suy đoán là lãi
suất cơ bản được công bố không theo
biến động lãi suất trên thị trường tín
dụng NHTM là tổ chức kinh doanh,
vì vậy, họ phải quan tâm đến chênh
lệch lãi suất được tạo ra từ hoạt động
kinh doanh tiền tệ Khi lãi suất cơ
bản cộng biên độ vẫn chưa đảm bảo
được chênh lệch lãi suất cần thiết so
với lãi suất huy động, các NHTM có
động cơ tìm kiếm thêm phần chênh
lệch lãi suất bổ sung như cho vay
vượt trần, thu các loại phí (phí thẩm định, phí quản lý tài sản, phí thu xếp tín dụng…), hoặc khách hàng phải
ký quỹ một phần tiền vay… và do đó làm méo mó lãi suất thị trường
Một mối nguy khác là, mặc
dù NHNN cho phép các NHTM áp dụng lãi suất thỏa thuận khi cho khách hàng vay vốn, nhưng trong các văn bản hiện hành, không có nội dung nào đề cập đến cho vay vượt trần quy định của Bộ luật dân sự Do
đó, khi các NHTM cho khách hàng vay trên cơ sở lãi suất thỏa thuận,
mà lãi suất này vượt 150% lãi suất
cơ bản do NHNN công bố, NHTM
có khả năng bị khách hàng kiện theo
Bộ luật dân sự; đồng thời hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng dễ bị tuyên bố vô hiệu, khi đó khách hàng chỉ trả lãi theo lãi suất được quy định tại Điều 476, Bộ luật dân sự, tức là bằng với lãi suất cơ bản do NHNN công bố Về vấn đề này, tác giả muốn lưu ý về lãi suất trần 150% lãi suất cơ bản Đối với hoạt động của NHTM, hoạt động cho vay bị hạn chế vì phải đảm bảo
an toàn cho tiền gửi của khách hàng Không phải khách hàng nào, nhu cầu vốn nào ngân hàng cũng cho vay, mà ngân hàng chỉ cho vay những khách hàng mà họ cho rằng
có thể kiểm soát được rủi ro tín dụng mà thôi Còn trong xã hội, việc cho vay tài sản có thể có lãi suất cao hơn, vì người cho vay có thể chấp nhận rủi ro tín dụng cao hơn (chẳng
Trang 5hạn trường hợp các công ty tài chính
cho vay trả góp, hoặc các cửa hiệu
cầm đồ) Điều này cho thấy, nếu
muốn hạn chế cho vay nặng lãi
trong xã hội thì không thể duy trì
mức lãi suất trần nói trên
3 Một số kiến nghị
Quan điểm của tác giả là vẫn
phải có quy định về lãi suất trần
trong Bộ Luật dân sự để tránh tệ cho
vay nặng lãi trong xã hội, đồng thời
các NHTM vẫn phải tuân thủ quy
định này trong hoạt động tín dụng
của mình Từ đó xin có hai kiến nghị
dưới đây:
Một là, lãi suất cơ bản cần
được tính toán theo sát mặt bằng lãi
suất thị trường Nếu Luật NHNN đã
giao cho NHNN nhiệm vụ tính toán
mức lãi suất cơ bản thì NHNN nên công khai nguồn số liệu tính toán Tuy nhiên, tốt hơn cả là giao nhiệm
vụ này cho Hiệp hội ngân hàng, vì đây không phải là công cụ của chính sách tiền tệ, mà chỉ là kết quả quan
hệ cung – cầu trên thị trường tín dụng mà thôi
Hai là, Quốc hội cần xem xét lại mức trần 150% của Bộ Luật dân
sự Cần phải có nghiên cứu khảo sát
các chủ thể có liên quan đến quan hệ vay mượn tài sản trong xã hội, bao gồm các chủ thể cho vay như NHTM, các công ty tài chính, các cửa hiệu cầm đồ, các chủ thể đi vay như cá nhân, doanh nghiệp… để điều chỉnh mức lãi suất trần cho phù hợp./
Trang 61 Fed fund rate là lãi suất mà các ngân hàng cho nhau vay để bù đắp thiếu hụt dự trữ bắt buộc trên cơ sở thương lượng, thời hạn vay chủ yếu là qua đêm
chính sách tiền tệ như thị trường mở, lãi suất tái chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc…, nhưng tác động này là không trực tiếp.